













Preview text:
Mục lục
I. MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 3
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 3
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 4
5. Ý nghĩa Lý luận và thực tiễn của đề tài .................................................................. 5
II. NỘI DUNG ............................................................................................................ 5
Phần 1: Phần lý luận ................................................................................................... 5
1.1 Nội dung cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin ..................................... 5
1.2 Phân tích quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ............................................................................ 8
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân ...................................................... 10
1.1 Vấn đề dòng người nhập cư vào Châu Âu hiện nay ........................................... 10
1.2 Quan điểm cá nhân về vấn đề dân tộc hiện nay ................................................ 12
III. KẾT LUẬN ......................................................................................................... 13
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 13 I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ quyền quốc gia là xu thế toàn cầu, mỗi quốc
gia dù lớn hay nhỏ đều đang nỗ lực khẳng định giá trị dân tộc của mình. Các đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội cũng đã và đang vận động, thay đổi và phát triển. Đối
với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, dân tộc là nhân tố cốt lõi quyết định
vận mệnh đất nước, là nền móng phát triển của quốc gia, dân tộc càng đoàn kết thì
quốc gia sẽ vững mạnh. Ngoài ra, Nhập cư đã trở thành một vấn đề khó kiểm soát,
buộc các nước EU phải phản ứng ở cấp độ liên minh và quốc gia. EU chưa đề xuất
Chính sách nhập cư chung, do các quốc gia thành viên còn nhiều khác biệt về vấn
đề phúc lợi Các lợi ích và mục tiêu của chính sách này. Nhập cư là một vấn đề
nóng ở Các nước EU, đặc biệt trong giai đoạn gần đây, tình hình một số nước như
Bosnia và Herzegovina ... đều khiến áp lực nhập cư của các nước thành viên EU gia tăng.
Chính vì lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài của bài viết này là: “Quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam về việc giải quyết vấn đề dân tộc. Liên hệ với vấn đề dòng người nhập
cư ở Châu Âu hiện nay”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Bài luận này tập trung vào hai mục tiêu chính sau:
Thứ nhất, Nắm được quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề
dân tộc; Và làm rõ chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về việc giải quyết
vấn đề dân tộc và liên hệ với vấn đề dân tộc thế giới hiện nay.
Thứ hai, nghiên cứu về nhập cư ở Liên minh Châu Âu từ đó hiểu được các
thực trạng của nó, nắm được cơ bản các chính sách của EU về vấn đề này. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu cương lĩnh của chủ nghĩa Mác – Lênin; hệ thống hóa và làm rõ hơn
những chính sách cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ở
Việt Nam hiện nay. Đồng thời, liên hệ và Phân tích thực trạng và tác động của vấn
nạn nhập cư ở Châu Âu hiện nay và một số chính sách vấn đề đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân
tộc và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về việc giải quyết vấn đề dân
tộc. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của bài luận này còn về vấn nạn nhập cư tại Châu Âu Phạm vi nghiên cứu:
+Không gian: Việt Nam, phạm vi địa lý của Liên minh Châu Âu
+Thời gian: Việt Nam trong quá khứ, hiện tại; Liên minh Châu Âu giai đoạn
sau khủng hoảng nhập cư ở EU
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của bài luận này dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
về vấn đề dân tộc và các chính sách đã có của nhà nước để giải quyết các vấn đề
dân tộc. Cùng với đó là cơ sở lý luận của quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm Liên minh Châu Âu về vấn đề nhập cư. Phương pháp nghiên cứu:
Các đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và phương pháp luận lịch sử. Điều tiếp theo là sự vận dụng và kết hợp
các phương pháp khác như: khái quát hóa, trừu tượng hóa, lịch sử và logic, phân
tích và tổng hợp, thống kê để làm rõ vấn đề. Xử lý tài liệu và đánh giá, phân tích
và rút ra kết luận khoa học về bản chất, đặc điểm của vấn đề. liên hệ với các tài
liệu cũ như sách, tạp chí, bài báo nghiên cứu, số liệu thống kê chính thức và một
số nguồn thông tin đáng tin cậy trên Internet.
5. Ý nghĩa Lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: làm rõ được quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn
đề dân tộc và các chính sách đã có của nhà nước để giải quyết các vấn đề dân tộc.
Và từ những phân tích, đánh giá thực trạng nhập cư ở Liên minh Châu Âu luận
văn sẽ cho thấy thành công và hạn chế của EU trong việc đưa ra và thực hiện các
giải pháp nhằm hạn chế người nhập cư vào EU.
Ý nghĩa thực tiễn: Từ những phân tích và nghiên cứu sẽ giúp chúng ta nhận
thức rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng của vấn đề dân tộc đến một quốc gia, những
chính sách của Đảng, và nhà nước đã giúp giải quyết vấn đề dân tộc như thế nào.
Đồng thời chúng ta cũng hiểu được những nhức nhối mà vấn nạn nhập cư gây ra. II. NỘI DUNG
Phần 1: Phần lý luận
1.1 Nội dung cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Nội dung “Cương lĩnh dân tộc” thể hiện trên 3 vấn đề sau:
Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân
tộc. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả
Bộ tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ cao hay thấp đều có nghĩa vụ và
quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp
bức bóc lột dân tộc khác.
Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải
được pháp luật bảo vệ như nhau; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển
kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc do lịch sử để lại.
Trên phạm vi giữa các quốc gia – dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa
các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn
với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc
lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế.
Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân
tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.
Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh
của dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát
triển của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành một quốc
gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc; quyền tự nguyện liên hiệp lại với
các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ
xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển quốc gia – dân tộc.
Khi giải quyết quyền tự quyết của các dân tộc cần đứng vững trên lập trường
của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trào đấu tranh tiến bộ phù hợp với lợi
ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên quyết đấu tranh
chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài “dân
tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại
Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin: Nó phản ánh bản
chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp
giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc có
đủ sức mạnh để giành thắng lợi.
Nó quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét,
cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời, nó là
yếu tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân và các đân tộc bị áp bức chiến
thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động trong các
dân tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả 3 nội
dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể.
Tóm lại: “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin (của Đảng Cộng
sản) là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; là
cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Liên hệ với vấn đề dân tộc hiện nay trên thế giới:
Vấn đề nổi trội trong quan hệ dân tộc trên thế giới đương đại là vấn đề giải
phóng dân tộc. Trong quan hệ giữa các quốc gia ngày nay, tuy chế độ thực dân cũ
đã cáo chung, nhưng chế độ thực dân mới với những biến tướng vô cùng phức tạp
vẫn đang tồn tại, là công cụ để ràng buộc các nước yếu thế lệ thuộc vào các nước
có thế lực hơn vì lợi ích của các nước này. Vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc là
cuộc đấu tranh rất lâu dài, gian khổ và đầy khó khăn.
Chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ luôn là vấn đề phức tạp, nhất là giữ
vững chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn, bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển và hải
đảo. Chủ quyền dân tộc chẳng những chỉ là chủ quyền lãnh thổ mà còn bao gồm
tính độc lập và chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại.
Vấn đề xây dựng và củng cố sự thống nhất trong đa dạng dân tộc của một
quốc thổ toàn vẹn là mối quan tâm lớn trong vấn đề dân tộc của thế giới đương
đại, nhằm ổn định xã hội, tạo tiền đề lớn nhất cho sự tồn tại và phát triển của quốc
gia - dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố an
ninh, quốc phòng, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Có những quốc gia dân
tộc đang tiềm ẩn nguy cơ xung đột tộc người, ly khai dân tộc và chia cắt quốc thổ,
do chưa giải quyết thỏa đáng vấn đề bình đẳng dân tộc, bao gồm quan hệ bình
đẳng lợi ích giữa các dân tộc - tộc người trong điều kiện đa dân tộc, vấn đề người
di cư, nhập cư và vấn đề công dân, quốc tịch...
Những vấn đề nảy sinh trong nội bộ một quốc gia dân tộc luôn gắn liền với
bối cảnh quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc. Do sự gắn liền quan hệ lợi
ích trong toàn cầu hóa và tác động của quan hệ dân tộc xuyên biên giới và xuyên
quốc gia nên không ít vấn đề ban đầu thuộc về nội bộ của một nước, song vì lý do
này hoặc lý do khác, đã vượt qua biên giới và phạm vi quốc gia dưới những hình
thức khác nhau, trở thành vấn đề có sự can dự của thể chế quốc tế hoặc một số
nước khác trong hay ngoài khu vực và phụ thuộc vào sự phân chia “miếng bánh
lợi ích” của những nước này. Xu thế đó đòi hỏi phải xử lý mối quan hệ giữa chủ
quyền quốc gia với quan hệ quốc tế trong điều kiện mới khi quan hệ quốc tế chịu
những ràng buộc của nhiều phía.
1.2 Phân tích quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt
Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc thể hiện ở các nội dung:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng
thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp
nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh -quốc phòng
trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các
vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng
nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát
huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế -xã hội các vùng dân tộcvà miền núi, trước
hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai
thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững
môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các
dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ
của các địa phương trong cả nước.
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toàn bộhệ thống chính trị”
Chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:
Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát
triển giữa các dân tộc. Chính sách dân tộc góp phần nâng cao tính tích cực chính
trị của công dân; nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về tầm
quan trọng của vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, thống nhất mục tiêu chung là
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Về kinh tế, nội dung, nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc là
các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế -xã hội miền núi, vùng đồng bào các
dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng
cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc. Thực hiện các nội dung kinh tế
thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số,
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về văn hóa: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc. Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người, phát triển
ngôn ngữ, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân
dân các dân tộc. Đào tạo cán bộ văn hóa, xây dựng môi trường, thiết chế văn hóa
phù hợp với điều kiện của các tộc người trong quốc gia đa dân tộc. Đấu tranh
chống tệ nạn xã hội, chống diễn biến hòa bình trên mặt trận tư tưởng-văn hóa ở nước ta hiện nay.
Về xã hội: thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Từng bước thực hiện bình đẳng xã hội, công bằng thông
qua việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế -xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân
số, y tế, giáo dục trên cơ sở chú ý đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tộc.
Về an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở đảm
bảo ổn định chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng
cường quan hệ quân dân, tạo thế trận quốc phòng toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc sinh sống.
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1.1 Vấn đề dòng người nhập cư vào Châu Âu hiện nay
Cuộc khủng hoảng nhập cư gần đây tiếp tục nóng lên trên các diễn đàn châu
Âu, hàng nghìn người nhập cư tại Bosnia và Herzegovina đang phải sống dưới
màn trời chiếu đất do hỏa hoạn tại các trại tị nạn. Đồng thời, các nước thuộc Liên
minh châu Âu (EU) vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về hiệp ước nhập cư mới.
G. Boren, đại diện Cấp cao về Chính sách Đối ngoại và An ninh của EU, cho
biết ở Bosnia và Herzegovina, có khoảng 3.000 người nhập cư không có nơi nào
để sống và tiếp cận các dịch vụ cơ bản trong mùa đông lạnh giá. Theo Tổ chức Di
cư Quốc tế, sau khi trại tị nạn Lipa bị cháy, Bosnia và Herzegovina đã thành lập
các khu định cư tạm thời cho người di cư, tuy nhiên do bất đồng giữa chính quyền
và người dân địa phương nên không thể đưa vào sử dụng. Liên minh châu Âu cảnh
báo rằng nếu điều kiện sống của những người nhập cư Bosnia và Herzegovina
không được cải thiện càng sớm càng tốt, họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ xảy ra
một cuộc khủng hoảng nhân đạo.
Tình hình ở Bosnia và Herzegovina chỉ là một phần của bức tranh đen tối
hơn về nhập cư châu Âu. Trong những năm qua, cuộc chiến ở Syria đã kéo theo
dòng người tị nạn, xung đột và đói nghèo ở nhiều quốc gia ở Trung Đông và châu
Phi đã gây ra cuộc khủng hoảng nhập cư nghiêm trọng ở lục địa cổ châu Âu. Gánh
nặng tiếp tục đổ lên vai các nước “tuyến đầu” như Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ý. Bộ
Nội vụ Tây Ban Nha cho biết số lượng người nhập cư bất hợp pháp đến quần đảo
Canary của nước này vào năm 2020 gấp 8 lần so với năm 2019. Điều này đã làm
quá tải các trại tị nạn ở Canary, khiến chính phủ Tây Ban Nha phải chịu áp lực lớn
ở các nước liên quan đến vấn đề nhập cư.
Theo Cơ quan Bảo vệ Biên giới châu Âu (Frontex), số lượng người nhập cư
bất hợp pháp vào châu Âu đã giảm trong năm 2020, nhưng tình trạng đáng lo ngại
về việc người nhập cư thay đổi lộ trình di chuyển khiến việc kiểm soát người nhập
cư bất hợp pháp ngày càng khó khăn và vất vả hơn. Nhiều nước EU tăng cường
quản lý biên giới khiến số lượng người nhập cư chọn con đường Đông và Tây Địa
Trung Hải đến EU giảm. Tuy nhiên, những người nhập cư bất hợp pháp từ Thế
giới Cũ đã vào Liên minh châu Âu qua Tây Phi, trung tâm Địa Trung Hải và tây
Balkan để tìm đường đến Miền đất hứa. Tương ứng, vào năm 2020, số lượng người
lựa chọn các tuyến đường qua khu vực trung tâm Địa Trung Hải và quần đảo
Canary đã tăng lên đáng kể.
Kể từ khi cuộc khủng hoảng nhập cư bùng nổ, Liên minh châu Âu đã thực
hiện một số biện pháp nghiêm khắc, và đã hạn chế phần nào dòng người nhập cư
bất hợp pháp. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng, do thiếu nhất quán nên giải pháp
mà EU đưa ra không mang lại kết quả như mong đợi. Trong một nỗ lực gần đây,
vào tháng 9 năm 2020, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đề xuất một hiệp ước nhập cư
mới và đề xuất bãi bỏ hạn ngạch nhập cư, đây là vấn đề gây tranh cãi giữa các
quốc gia. Cộng đồng châu Âu hy vọng rằng hiệp ước mới sẽ giúp loại bỏ những
khác biệt dai dẳng và tìm ra giải pháp cho vấn đề nhập cư đã gây khó khăn cho
các thế hệ lãnh đạo EU. Với tư cách là chủ tịch luân phiên của EU trong sáu tháng
cuối năm 2020, Đức đã đặt mục tiêu đạt được thỏa thuận về hiệp ước nhập cư mới
trước cuối năm ngoái. Tuy nhiên, cho đến nay, tiến độ này bị đình trệ. Y. Johnson,
Ủy viên Nội vụ Châu Âu, cho rằng trong bối cảnh của dịch Covid-19, các cuộc
thảo luận sẽ khó đạt được kết quả thực chất nếu không có các cuộc đàm phán trực tiếp.
Cuộc khủng hoảng nhập cư ở châu Âu tuy đã lắng xuống nhưng vẫn tiếp tục
gây đau thương, kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng từ mất đoàn kết nội bộ đến
các rủi ro về an ninh, kinh tế và xã hội. Các nhà phân tích cho rằng, để giải quyết
triệt để cuộc khủng hoảng, EU cần thống nhất chính sách nhập cư và tị nạn, đồng
thời giải quyết tận gốc căn nguyên của vấn đề, đó là tình trạng nghèo đói và xung
đột ở Trung Quốc, Đông Phi và châu Phi, đồng thời hồi hương người di cư; xác
định tình hình ở bắc Phi để giải quyết xung đột sắc tộc và phân biệt đối xử, giải
quyết chiến tranh và bạo lực.
1.2 Quan điểm cá nhân về vấn đề dân tộc hiện nay
Chủ đề dân tộc được thảo luận và đề cập không chỉ ở Việt Nam mà còn trên
toàn thế giới. Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc của dân tộc Việt Nam là
“truyền thống đoàn kết lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Không phân
biệt thiểu số hay đa số, trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, nếp
sống khác nhau, nhưng đều có chung truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái.
Trong lịch sử Việt Nam, ít có xung đột sắc tộc gay gắt hay quan hệ bang giao căng
thẳng, mặc dù trong nhiều thời kỳ bị xâm lược, đô hộ, kẻ thù thực hiện chính sách
“chia để trị”, gây thù hận. Tuy nhiên, thời gian qua việc giải quyết các vấn đề dân
tộc vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tiếp tục khắc phục, cần xây dựng và thực
hiện chính sách, pháp luật về dân tộc thiểu số. Quan hệ dân tộc đang phát triển
trên quy mô lớn ở mọi nơi, mọi lúc, không phụ thuộc vào thời gian và không gian,
hệ thống chính trị xã hội và trình độ phát triển khác nhau, từ các nước phát triển
đến các nước đang phát triển. Sự phát triển không cân đối là căn nguyên của sự
phân chia thế giới, gây áp lực và xáo trộn cho nhiều quốc gia. Thêm vào đó Làn
sóng nhập cư tự do đã mang lại những hậu quả tiêu cực cho cả các nước phát triển
và đang phát triển, đồng thời làm sâu sắc thêm mâu thuẫn sắc tộc ở các nước này.
Xung đột sắc tộc ở một số quốc gia thuộc thế giới thứ ba đã cướp đi sinh mạng
của hàng triệu người và đẩy các quốc gia này vào cảnh đói nghèo, bất ổn xã hội,
bệnh tật, lạc hậu, nợ nần và ngày càng gia tăng mức độ lệ thuộc vào nước. Sự trỗi
dậy của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đã tạo điều kiện và mang lại tai họa cho
người dân. Điều này thực sự ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về mọi mặt, mọi lĩnh vực của quốc gia. III. KẾT LUẬN
Bằng việc tiếp thu và phát huy quan điểm dân tộc cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, Đảng và Nhà nước ta đã khái quát được đặc điểm, tình hình dân tộc của
Việt Nam hiện nay, đưa ra quan điểm về các vấn đề dân tộc, hoạch định chính sách
phát triển phù hợp với thời đại và điều kiện cụ thể và đưa ra các chính sách phù
hợp. Mặc dù là một đất nước với đa dạng các dân tộc nhưng tuyệt nhiên không có
dân tộc nào bị bỏ rơi, các dân tộc vẫn luôn đoàn kết với nhau tạo thành một khối
đại đoàn kết cống hiến và chung tay góp sức phát triển đất nước. Ngoài ra, vấn
nạn về nhập cư của thế giới đang trở nên ngày càng nghiêm trọng, đã được minh
chứng ở trong bài luận này. Để giải quyết dứt điểm tình trạng nhập cư hiện nay,
cần có giải pháp sâu sắc hơn.
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã hội Khoa Học – Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
( ngày sử dụng: 16/12/2021)
2. Vấn đề dân tộc đang nổi cộm - GS - TS. Vũ Văn Hiền
Link:https://vov.vn/vov-binh-luan/van-de-dan-toc-dang-noi-com-
127762.vov (thời gian truy cập: 21:00 ngày 17/12/2021)
3. Vấn đề di cư vẫn nhức nhối - được viết vào thứ 5, ngày 18-02-2021 bởi nhà báo Hữu Khanh
Link: https://nhandan.vn/tin-tuc-the-gioi/van-de-di-cu-van-nhuc-nhoi-
635716/ ( ngày truy cập: 18/12/2021)
4. Những biến động chính trị-xã hội với vấn đề dân tộc của thế giới hiện nay – Ngày
viết 23/07/2018 - theo Tạp chí Cộng sản Link:
https://baocantho.com.vn/nhung-bien-dong-chinh-tri-xa-hoi-voivan-de-
dan-toc-cua-the-gioi-hien-nay--a100328.html ( ngày truy cập: 18/12/2021)
5. GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI NHẬP CƯ Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU - LÊ THỊ KIM OANH – viết năm 2018
Link:https://gass.edu.vn/ConvertIMG/Uploads/pdfdoan/2018_11/Luanvan_L
eThiKimOanh.pdf ( ngày truy cập: 19/12/2021)