MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG..................................................................................................................2
1. HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ......................................................................2
1.1. Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế..................................................................2
1.2. Vai trò của hệ thống tiền tệ quốc tế.................................................................2
1.3. Bộ phận cấu thành của hệ thống tiền tệ quốc tế.............................................2
1.4. Tiêu chí phân loại của hệ thống tiền tệ quốc tế...............................................3
2. HỆ THỐNG SONG BẢN VỊ THỜI KỲ TRƯỚC 1875........................................3
2.1. Khái niệm.......................................................................................................3
2.2. chế xác định tỷ giá....................................................................................4
2.3. Ưu điểm..........................................................................................................4
2.4. Nhược điểm....................................................................................................4
2.5. Nguyên nhân sụp đổ:.....................................................................................5
3. HỆ THỐNG BẢN VỊ VÀNG CỔ ĐIỂN GIAI ĐOẠN 1875-1914.....................5
3.1. Khái niệm :.....................................................................................................5
3.2. chế xác định tỷ giá....................................................................................5
3.3 Ưu điểm hạn chế của chế độ bản vị vàng cổ điển......................................6
3.4. Nguyên nhân sụp đổ chế độ bản vị vàng cổ điển.........................................7
4. GIAI ĐOẠN GIỮA HAI THẾ CHIẾN (1914-1944).............................................8
4.1. Thế chiến thứ 1 bùng nổ...................................................................................8
4.2. Kết thúc thế chiến thứ I....................................................................................9
5. HỆ THỐNG BRETTON WOODS (1944-1971)..................................................10
5.1. do ra đời.....................................................................................................10
5.2. Đặc điểm của hệ thống tiền tệ của Brettob Woods.......................................13
5.3. Hạn chế của hệ thống tiền tệ BWS................................................................13
5.4. Sự sụp đổ của Bretton Woods........................................................................15
6. HỆ THỐNG TIỀN TỆ HIỆN NAY.....................................................................16
6.1 Một số chỉ tiêu đo lường sự ổn định của tiền tệ.............................................16
6.2. Tình hình hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay................................................18
KẾT LUẬN................................................................................................................20
Trong thời kỳ hội nhập phát triển nhanh chóng như hiện nay, hệ thống tiền tệ quốc
tế đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán bức tranh tài chính toàn cầu. Từ việc
thương mại quốc tế đến đầu tài chính quản rủi ro nền kinh tế, tiền tệ không chỉ
một phương tiện trao đổi còn yếu tố quyết định sự ổn định phát triển của mỗi
quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế không chỉ
đưa ta góc nhìn về các nền kinh tế tương tác với nhau còn đo ờng được những thách
thức hội tài chính quốc tế mang lại.
Các quốc gia trên thế giới đã cùng đi tới những thỏa thuận, những quy ước chung về
giao dịch thương mại toàn cầu tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế. Trước những thách
thức như biến đổi khí hậu, đại dịch toàn cầu, sự biến động trong thị trường tài chính,
làm thế nào hệ thống tiền tquốc tế thể thích ứng đóng góp vào sự ổn định toàn cầu
những câu hỏi đầy thách thức, nhưng cũng động lực cho nghiên cứu của chúng ta.
Việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế giúp hiểu hơn phần nào môi trường tài chính
quốc tế - một điều kiện không ththiếu để thực hiện phát triển quan hkinh tế quốc tế.
để hiểu thêm về các hệ thống tiền tệ quốc tế trong lịch sử và nguyên nhân sụp
đổ. Chính vậy, nhóm chúng em đã chọn đtài “Hệ thống tiền tệ quốc tế”.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, nhóm 7 xin chân thành cảm ơn Linh
Đan đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn chúng em. Trong quá trình làm đề tài,
với kiến thức còn hạn chế, ắt sẽ gặp sai sót khó tránh, mong nhận được những ý kiến góp
ý từ cô.
1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm
Hệ thống tiền tệ quốc tế (International Monetary System - IMS) là tập hợp các quy
tắc, thể lệ, định chế điều chỉnh các quan hệ tài chính tiền tệ giữa các quốc gia, nhằm
bảo đảm thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế, bảo đảm sự ổn định phát triển các
quan hệ kinh tế quốc tế nói chung.
1.2. Chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế các chức năng chính sau đây:
- Các quốc gia thành viên trên cơ sở thống nhất với nhau các cách thức để điều
chỉnh quan hệ tài chính tiền tệ nhằm đảm bảo ổn định, thông suốt trong c giao dịch tài
chính tiền tệ từ đó tạo điều kiện để ổn định phát triển các hoạt động kinh tế nói chung.
- Một hệ thống tiền tệ khi hoạt động hiệu quả sẽ tác dụng hạn chế tối đa
những khủng hoảng về tài chính tiền tthể xảy ra, đồng thời khả năng giúp c
quốc gia thành viên trong việc điều chỉnh những mất cân bằng trong cán cân thanh toán
quốc tế của chúng.
1.3. Vai trò của hệ thống tiền tệ quốc tế
Ảnh hưởng đến thương mại đầu quốc tế: Thương mại đầu quốc tế là
quá trình các nhà đầu nước ngoài đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước
tiếp nhận đầu để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
nhằm thu lợi nhuận hoặc để đạt được mục tiêu kinh tế - hội nhất định. vậy hệ thống
tiền tệ ảnh hưởng tương đối đến quá trình ra quyết định đầu tư.
Ảnh hưởng đến sự phân bổ các nguồn tài nguyên trên thế giới: Các nước thường
xuất khẩu các nguồn tài nguyên có lợi thế so sánh để thu ngoại tệ về phục vụ phát triển
kinh tế. Theo thuyết đầu quốc tế, các nhà đầu nước ngoài luôn đi tìm các nguồn
lực trong nước khan hiếm đđầu tư, tiết kiệm chi phí trong nước. Chính phủ các nước
giàu về tài nguyên sẽ tạo lập hệ thống chính sách, môi trường đầu hấp dẫn để thu
hút đầu nước ngoài, bổ sung sự khan hiếm về nguồn vốn trong nước, đưa các nguồn tài
nguyên trở thành của cải đphục vụ tăng trưởng phát triển.
Hệ thống tiền tệ quốc tế chỉ vai trò của chính phủ các định chế tài chính quốc
tế trong việc xác định tỷ giá khi chúng không được phép vận động theo các thế lực thị
trường.
1.4 Tiêu chí phân loại hệ thống tiền tệ quốc tế
hai tiêu chí phân loại của hệ thống tiền tệ quốc tế:
-Theo mức độ linh hoạt của tỷ giá: Chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi linh
hoạt, chế độ tỷ giá thả nổi quản lý, chế độ tỷ giá cố định nhưng điều chỉnh, chế độ
tỷ giá cố định, tuy nhiên được linh hoạt trong phạm vi một biên độ, chế độ tỷ giá
trườn, chế độ hai loại tỷ giá.
-Theo đặc điểm của dự trữ ngoại hối quốc tế: bản vị hàng hóa (pure commodity
standards), bản vị tiền giấy (pure fiat standards), bản vị kết hợp (mixed standards).
1.5. Chế độ tỷ giá
Chế độ tỷ giá của quốc gia là tập hợp quy tắc thể chế của một quốc gia nhằm
xác định tỷ giá giữa nội tệ và ngoại tệ.
4 loại chế độ tỷ giá chính: Tỷ giá cố định, tỷ giá neo cố định, tỷ giá thả nổi
hoàn toàn, tỷ giá thả nổi quản lý.
1.5.1. Đặc điểm của chế độ tỷ giá
-Chế độ tỷ giá cố định: Ngân hàng trung ương ấn định mức tỷ giá ngang giá
chịu trách nhiệm duy trì tỷ giá cđịnh thông qua việc sử dụng công cụ can thiệp trực tiếp
vào thị trường như mua bán ngoại ttrên thị trường ngoại hối, can thiệp gián tiếp thông
qua cính sách lãi suất, chính sách quản ngoại hối…
Ưu điểm: Độ tin cậy tối đa, khống chế lạm phát
Nhược điểm: Mất quyền kiểm soát tiền tệ, dễ dàng bị tác động bởi tình hình
kinh tế của các quốc gia khác.
-Chế độ tỷ giá neo cố định: Giá trị nội tệ neo cố định theo một hoặc một nhóm
ngoại tệ theo cách dao động trong biên độ nhất định, điều chỉnh định theo biến số tham
chiếu, xoay quanh tỷ giá trung tâm. Chế độ này biến động cùng chiều với ngoại tệ neo
vào.
Ưu điểm: Độ tin cậy của chế dộ tỷ gái quyết định tính ổn định hệ thống, dễ
theo dõi biến động tỷ giá, thể duy trì lãi suất thấp giảm lạm phát.
Nhược điểm: Dễ bị tấn công tiền tệ hoặc lây nhiễm khủng hoảng tài chính,
cần nhiều dự trữ quốc tế.
-Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do biến động
theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối không bất cứ sự can thiệp nào của
ngân hàng trung ương.
Ưu điểm: Khử các số kinh tế dễ hơn, khó bị lây khủng hoảng tiền tệ,
không cần nhiều dự trữ quốc tế.
Nhược điểm: Biến động tỷ giá liên tục mức cao, nhất trong ngắn hạn.
-Chế độ tỷ giá thả nổi quản lý: Ngân hàng trung ương can thiệp tích cực trên thị
trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng mục tiêu nhất định tuy
nhiên không cam kết sẽ duy trì một mức tỷ giá cố định nào hoặc biên độ dao động xung
quanh tỷ giá trung tâm. Phần nào giúp giảm tác hại của các sốc kinh tế, duy trì nền
kinh tế ổn định sức cạnh tranh.
Ưu điểm: Khử các số kinh tế dễ hơn, khó bị lây khủng hoảng tiền tệ,
thể duy trì nền kinh tế ổn định sức cạnh tranh nếu chế dộ tỷ giá có độ
tin cậy cao.
Nhược điểm: chế can thiệp thị trường thiếu minh bạch, cần duy trì mức
dự trữ quốc tế cao.
1.5.2 Căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá
Các mục tiêu chọn chế độ tỷ giá
Ổn định tỷ giá
Giá trị của đồng tiền nên
cố định với các đồng tiền
khác nhằm tạo lợi nhuận
cho các giao dịch thương
mại tài chính quốc tế.
Hội nhập tài chính quốc tế
Quốc gia cần giảm dần tiến
tới xóa bỏ các rào cản đối với
dòng lưu chuyển tiền tệ
vốn, qua đó tạo môi trường
thuận lợi cho hoạt động đầu
tài trợ.
Độc lập về tiền tệ
Quốc gia thể thực thi các
chính sách tài chính tiền tệ
để xử các vấn đề kinh tế
nội bộ quốc gia không bị
lệ thuộc vào tình hình kinh
tế nước khác.
Theo định luật bộ ba bất khả thi (IMPOSSIBLE TRINITY): một giả thuyết cho
rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định,
chính sách tiền tệ độc lập tự do lưu chuyển vốn. Quốc gia chỉ thể thực hiện tối đa
hai trong 3 chính sách.
-Chế độ tỷ giá cố định
Giữ được tỷ giá cố định
Tạo môi trường kinh tế nhất quán, tính an toàn cao => Tăng khả năng lưu
chuyển hàng hóa, vốn, lao động thuận lợi => Thúc đẩy thương mại, đầu
quốc tế, thúc đẩy hợp tác quốc tế.
Nếu thực hiện chế dộ tỷ giá cố định mềm, neo vào 1 ngoại thay rổ ngoại tệ thì
một nước rất khó được sự độc lập về tiền tệ.
-Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Dễ thực thi chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, không xảy ra tình trạng lây
lan khủng hoảng tiền tệ => Độc lập tiền tệ.
Giá cả diễn biến theo tín hiệu thị trường, giúp di chuyển nguồn lực từ nơi
hiệu quả cao đến nơi hiệu quả thấp => Tăng hội nhập kinh tế
Giá cả biến đổi thường xuyên, liên tục => Rất khó để ổn định giá cả
-Chế độ tỷ giá thả nổi quản lý
Chính phủ được tự do lựa chọn các cách kiểm soát tiền tệ => Độc lập tiền tệ
ổn định tỷ giá.
Chính phủ chỉ thể can thiệp để sửa những lỗi sai của thị trường, nếu can
thiệp một cách tùy tiện rất khó để có được sự hội nhập với quốc gia đối tác
khác.
=> Tùy vào tình hình, chính sách của mỗi quốc gia lựa chọn cho phù hợp.
2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
2.1. Hệ thống bản vị vàng (1876 1914)
Cách đây 300 năm, vào thời các Pharaoh, vàng đã được sử dụng làm phương tiện
thanh toán lưu trữ. Đế chế Hy Lạp La đã sử dụng tiền vàng cho đến khi mở
rộng thương mại vào thế kỷ 19. Khi thương mại tăng lên, một hệ thống kế toán chính
thức cho thương mại quốc tế ngày càng trở nên cần thiết. Mặt khác, mỗi quốc gia đặt giá
trị danh nghĩa của đồng tiền của mình theo giá trị của vàng tuân thủ các quy tắc trò
chơi đã được thiết lập. Bản vị vàng một hệ thống tiền tệ quốc tế được công nhận châu
Âu từ những năm 1870. Hoa Kỳ ớc đến sau không công nhận hệ thống này cho
đến năm 1879.
Hệ thống này được tạo ra để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán vàng các
loại tiền tệ dựa trên vàng để tỷ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ được cố định. Các quốc
gia muốn tiêu tiền phải dựa vào lượng vàng họ có. Chế độ bản vị vàng vẫn được duy trì
cho đến khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, khi thương mại giữa các quốc gia bị đình chỉ
sự di chuyển tự do của vàng không thể. nhiều nước đã hoãn việc sử dụng bản vị
vàng trong thương mại.
2.1.1. Khái niệm
Bản vị vàng (Gold Standard) một hệ thống tiền tệ trong đó giá trị đồng tiền của
một quốc gia được xác định dựa trên một lượng vàng nhất định. Theo chế độ bản vị vàng,
các quốc gia đồng ý đổi tiền giấy của mình lấy một lượng vàng nhất định. Các quốc gia
sử dụng chế độ bản vị vàng đặt ra một mức giá cố định cho vàng giao dịch vàng
mức giá cố định đó. Giá cđịnh được sử dụng để xác định giá trị của một loại tiền tệ.
Hệ thống bản vị vàng còn được gọi chế độ bản vị tiền vàng, kim bản vị. Tuy
nhiên, hiện nay không quốc gia nào sử dụng hệ thống bản vị vàng. Anh đã ngừng sử
dụng chế độ này vào năm 1931, Hoa Kỳ cũng làm theo vào năm 1933, từ bỏ tàn
của hệ thống bản vị vàng vào năm 1973. Bản vị vàng được thay thế hoàn toàn bằng tiền
pháp định (hoặc Tiền Fiat). Đây loại tiền tệ được phát hành, quản công nhận hợp
pháp bởi chính phủ của một quốc gia tại quốc gia đó. dụ, đồng tiền đấu thầu hợp pháp
của Việt Nam Đồng Việt Nam (viết tắt VNĐ), đồng tiền đấu thầu hợp pháp của Hoa
Kỳ USD (đô la), hay đồng tiền đấu thầu hợp pháp của Anh Đồng bảng Anh (viết tắt
GBP).
2.1.2. Đặc trưng các nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng
a. Đặc trưng của chế độ bản vị vàng
Trong quá trình phát triển, hệ thống bản vị vàng được chia làm 3 hình thức của 3
chế độ khác nhau. Cụ thể gồm: Bản vị tiền tệ vàng, bản vị vàng thỏi, bản vị hối đoái
vàng.
Các nước được tự do xuất nhập khẩu cũng như buôn bán vàng với nhau.
Tất cả các nước đều áp dụng chế độ bản vị vàng cho đồng tiền của mình. Mỗi
quốc gia sẽ những quy định riêng vviệc chuyển đổi giá trị đồng tiền quốc gia
thành vàng. Điều này nghĩa thể chuyển đổi tiền thành vàng không bị
giới hạn. vậy, mỗi quốc gia phải dự trữ đủ vàng để bảo đảm thanh toán, chuyển
đổi khi nhu cầu.
Ngân hàng trung ương phải luôn duy trì lượng vàng dự trữ ổn định so với lượng
vàng phát hành.
Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia được dựa trên tỷ lệ cố định giữa bản
vị vàng của các đồng tiền. Người ta giả định rằng mỗi quốc gia đặt giá trđồng
tiền của mình bằng vàng hoặc chính phủ đặt giá vàng bằng đồng tiền của mình và
quốc gia đó sẵn sàng mua bán vàng không bị hạn chế mức giá họ đặt
ra. Tỷ giá hối đoái giữa c đồng tiền quốc gia được xác định bằng vàng. dụ,
đồng bảng Anh được gắn với vàng mức 6 bảng/ounce, trong khi giá của đồng
franc Pháp 30 franc/ounce. Do đó, tỷ giá hối đoái giữa bảng Anh đồng franc
Pháp 1 bảng Anh, tương đương với 5 franc. ()
Lạm phát vẫn thể xảy ra nếu giá hàng hóa tăng, tốc độ sản xuất vàng cao
hơn tốc độ sản xuất hàng hóa dịch vụ, dẫn đến cung tiền tăng nhanh hơn lượng
vàng thực tế.
Tiền xu do ngân hàng trung ương phát hành sẽ được hỗ trợ bằng vàng.
b. Các nguyên tắc bản của chế đbản vị vàng
Tỷ giá của các đồng tiền được xác định bởi một khối lượng vàng nhất định. Hay
nói một cách khác mỗi chính phủ n định giá vàng theo đồng tiền quốc gia, đồng thời sẵn
sàng không hạn chế mua bán vàng tại mức giá cố định. dụ, tại Mỹ, giá 1 troy ounce
vàng nguyên chất (480grains) là $20.67, do đó, sở đúc tiền của Mỹ sẵn sàng không
hạn chế mua vàng vào bán vàng ra mức giá này
Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc ngang giá
vàng. Tức thông qua giá vàng được ấn định tính bằng các đồng tiền này.
Ngân hàng Trung ương luôn phải duy trì một ợng vàng dự trữ trong mối quan hệ
trực tiếp với số tiền phát hành. Tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành được “đảm bảo
bằng vàng 100%” tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Chế độ bản vị
vàng đã hạn chế sự năng động của Ngân hàng Trung ương trong việc điều tiết ợng tiền
lưu thông.
Vàng thể được xuất khẩu hay nhập khẩu không hạn chế, được tự do mua bán
trên thị trường thế giới.
2.1.3. chế xác định tỷ giá:
Hệ thống bản vị vàng một chế c định tỷ giá vàng dựa trên trọng ợng
vàng giá trị tiền tệ. Cụ thể, hệ thống này sử dụng một đơn vị đo ờng lượng vàng
tương đương với một đơn vị tiền tệ nhất định, dụ như đô la Mỹ. Tỷ giá vàng được tính
bằng cách chia giá trị của một đơn vị tiền tệ cho số lượng vàng tương đương với nó.
dụ: Trong trường hợp nếu giá vàng là 1.500 đô la Mỹ mỗi ounce tỷ giá đô la
Mỹ/đô la Úc 1,3, thì tỷ giá vàng/đô la Úc sẽ 1.500/1,3 = 1.153,85 đô la Úc mỗi
ounce.
2.1.4. chế vận hành hệ thống bản vị vàng:
Chế độ bản vị vàng giữa các năm 1880 - 1914 một hệ thống đơn giản, phù hợp
với nhận thức thực tiễn thanh toán quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó. đã góp phần
ổn định thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời này. Tuy nhiên, sang đầu
thế kỉ XX, khi quan hệ thương mại đầu tăng mạnh, mặt khác, các quốc gia đều
xu hướng bội chi ngân sách bằng cách in thêm tiền (lạm phát), số lượng ng dự trữ trên
thực tế không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán, hệ thống bản vị vàng tỏ ra không còn phù
họp bị sụp đổ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.
2.1.5. Ưu điểm nhược điểm:
a. Ưu điểm
-Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Với việc loại bỏ hoàn toàn các rào cản thương mại
đối với vàng các biện pháp kiểm soát trao đổi lưu thông hiếm khi được thực thi
không sự mất giá hoặc tăng giá giữa các loại tiền tệ của các cường quốc thế giới, thế
giới đã đảm bảo được nguồn dự trữ ngoại hối ổn định, từ đó thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng thương mại đầu quốc tế.
-Hạn chế lạm phát: Để giảm nguy lạm phát, khi giá trị tiền tđược quy định bởi
vàng, chính phủ sẽ bị hạn chế quyền in thêm tiền.
-Giá cả không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi biến động thị trường: Tỷ giá hối đoái cố
định theo tiêu chuẩn vàng sẽ làm giảm nguy biến động giá cả hàng a xuất khẩu,
nhập khẩu giữa các ớc thúc đẩy thương mại quốc tế.
-Theo chế độ bản vị vàng, c nhà đầu gần như được bảo hiểm trước rủi ro tiền
tệ, dòng vốn tự do chảy nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, giúp khuyến khích sự phân
công lao động kinh tế quốc tế, tăng phúc lợi cho công việc.
-Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán hoạt động hiệu quả: Sự mất cân đối trong
cán cân thanh toán của quốc gia sẽ tự động điều chỉnh về mức cân bằng.
-Hệ thống bản vị vàng cũng tạo ra ít xung đột hơn giữa các quốc gia.
b. Nhược điểm
-Nguồn vàng hạn: Cung tiền của một quốc gia phụ thuộc vào lượng vàng chảy
vào ra khỏi quốc gia đó, và cung tiền của các quốc gia áp dụng chế độ bản vị vàng phụ
thuộc vào tốc độ khai thác vàng. những quốc gia khan hiếm vàng, nguồn cung vàng
hạn chế thể cản trở sự phát triển kinh tế. Bản vị vàng thể dẫn đến sự mất cân bằng
giữa các nước tham gia. Các quốc gia sản xuất vàng sẽ lợi thế hơn các quốc gia không
sản xuất kim loại quý. Theo một số nhà kinh tế, bản vị vàng thể góp phần gây ra suy
thoái hạn chế khả năng tăng cung tiền của chính phủ, một công cụ hầu hết c
ngân hàng trung ương sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sử dụng vàng 100% để
lưu thông kinh tế không sử dụng tiền giấy hoặc tiền kim loại thể ngăn ngừa lạm
phát. Tuy nhiên, lượng vàng hạn trữ lượng vàng của trái đất đang dần cạn kiệt
khiến chính sách này cực kỳ khó thực hiện trên thực tế. vậy, sẽ không thđảm bảo
hoạt động kinh tế trên toàn thế giới.
-Mất cân bằng giữa các quốc gia: Khả năng tài nguyên khai thác vàng mỗi quốc
gia khác nhau dẫn đến sự chênh lệch. Lượng cung tiền của một quốc gia sẽ phụ thuộc vào
lượng vàng di chuyển vào hoặc ra khỏi quốc gia đó cung tiền của các quốc gia sử dụng
hệ thống bản vị vàng sẽ phụ thuộc vào tốc độ khai thác vàng. Các quốc gia khan hiếm
vàng sẽ bị hạn chế nguồn cung vàng, điều này thể kìm hãm sự phát triển kinh tế. Các
nước sản xuất vàng sẽ lợi thế hơn các nước không sản xuất kim loại quý. Những phát
hiện mới về các mỏ vàng thể xuất hiện bất ngờ, làm tăng cung ứng tiền lạm phát
đột biến.
-Cản trở sự phục hồi kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng: Trong khủng hoảng kinh
tế, chính chế độ bản vị vàng trở thành cái kìm hãm chính phủ ngân hàng Trung Ương
trong việc tìm ra chính sách để ngăn chặn khủng hoảng. Chế độ bản vị vàng cản trở khả
năng tăng cung tiền của chính phủ một công cụ nhiều ngân hàng trung ương sử
dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chế độ bản vị vàng đã không thể đối phó với một
cuộc suy thoái lớn hoặc giảm phát. Ngoài ra, nếu cán cân thanh toán của quốc gia bị thâm
hụt hoặc thay đổi thường xuyên do phụ thuộc vào lãi suất, giá cả thu nhập thì điều này
dễ dẫn đến thất nghiệp, lạm phát hoặc trì trệ.
2.1.6. Nguyên nhân sụp đổ của chế độ bản vị vàng
Vàng cuộc khủng hoảng kinh tế lớn:
Từ năm 1879, Mỹ đã áp dụng chính sách bản vị vàng lúc đó đồng USD rất
mạnh mẽ kinh tế phát triển tốt. Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm đảo
lộn mọi thứ dẫn đến sự sụp đổ của chính sách này. Khi đó, Hoa Kỳ c nước châu
Âu đã tạm ngừng chính sách bản vị vàng để đủ tiền chi trả cho chiến tranh.
Sau chiến tranh, các quốc gia nhận ra rằng việc ràng buộc tiền tệ với vàng thể
gây hại cho nền kinh tế thế giới. Năm 1919, các quốc gia bao gồm cả Hoa Kỳ đã nhanh
chóng quay trở lại chính sách bản vị vàng đã được điều chỉnh sau chiến tranh. Tuy nhiên,
chính sách này đã gây ra tình trạng giảm phát thất nghiệp lan rộng trong nền kinh tế
thế giới.
Năm 1929, xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế lớn các nước bắt đầu từ bỏ chính
sách bản vị vàng vào những năm 1930. Tại Mỹ, chính sách này đã gây khó khăn cho
chính phủ Cục Dự trữ Liên bang trong việc kiểm soát cuộc khủng hoảng.
Trong suốt 4 năm, chính phủ Hoa Kỳ đã cố gắng tìm cách để dừng cuộc khủng
hoảng không thành công. Năm 1931, Vương quốc Anh đã từ bỏ chính sách bản vị
vàng chỉ đến ngày 5 tháng 6 năm 1933, khi tổng thống Franklin D Roosevelt nhậm
chức, chính sách này mới được bãi bỏ hoàn toàn.
Sau khi bản vị vàng bị bãi bỏ, chính phủ Mỹ Cục Dự trữ Liên bang đã thể áp dụng
các chính sách tài khóa hợp để kết thúc cuộc khủng hoảng kinh tế lớn đó.
Thỏa thuận Bretton Woods năm 1944:
Điều đáng chú ý thỏa thuận Bretton Woods năm 1944 đã được kết đthiết lập một
hệ thống tiền tệ mới giải quyết vấn đề của chính sách bản vị vàng. Hệ thống bản vị
vàng đã bị lãng quên cho đến khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc vào năm
1944. Tại hội nghị Bretton Woods, Mỹ, Anh, Canada, Úc, Nhật Bản các nước Tây Âu
đã họp để thảo luận về c vấn đề thanh toán quốc tế sau chiến tranh. Ba vấn đề chính
được đưa ra việc thành lập Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế tái thiết lập hệ
thống bản vị vàng với tỷ lệ 35 USD cho một ounce vàng. Điều này nhằm duy trì sự ổn
định cho đồng USD.
Chế độ bản vị vàng sụp đổ chính thức:
Tuy nhiên, hệ thống bản vị vàng đã chính thức sụp đổ. Một trong những nguyên
nhân chính do tỷ lệ chuyển đổi cố định không sự liên kết hữu giữa cung cầu
của vàng hàng hóa. Vào năm 1960, Hoa Kỳ đã tích tr19,4 tỷ đô la vàng, trong đó
1,6 tỷ đô la trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tuy nhiên, khi nền kinh tế Mỹ phát triển, người
dân Mỹ đã mua nhiều hàng hóa nhập khẩu thanh toán bằng đô la. Điều này dẫn đến
thâm hụt cán cân thanh toán lớn các nước khác lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ không đủ
vàng để đảm bảo giá trị của đồng USD.
Vào những năm 1970, kho dự trữ vàng của Hoa Kỳ tiếp tục giảm do chính sách
kinh tế của Tổng thống Nixon gây ra lạm phát làm suy yếu nền kinh tế. Khi Nixon
điều chỉnh tỷ giá đồng USD không cho phép Fed mua lại USD bằng vàng, hệ thống
bản vị vàng trở nên nghĩa.
Cuối cùng, vào năm 1971, những khó khăn trong việc áp dụng chính sách kinh
tế, Tổng thống Richard Nixon đã quyết định rút khỏi hệ thống Bretton Woods cho
đồng USD tự do lưu thông không còn neo đồng USD vào vàng. Điều này giúp cho
việc áp dụng chính sách linh hoạt hơn.
Việc Mỹ chấm dứt việc sử dụng vàng làm tiền tệ vào năm 1971 có thể nguyên
nhân từ việc chế độ bản vị vàng đã cản trở việc in tiền để chi trả cho chiến tranh, đặc biệt
Chiến tranh Việt Nam. Đồng Yên Nhật giảm giá so với đồng USD khiến hàng a của
Nhật trở nên rẻ hơn hàng Mỹ, gây ra sự suy thoái trong nền kinh tế Mỹ.
Sau đó, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định định giá vàng lên mức 42,22 USD/ounce
vào năm 1973 hoàn toàn tách khỏi vàng vào năm 1976. Từ đó, giá vàng đã tăng chóng
mặt lên mức 124,84 USD/ounce. Trong khoảng thời gian từ năm 1971 đến nay, giá vàng
đã liên tục tăng chỉ ít khi giảm, đã đạt mốc 2000 USD/ounce, tăng gấp 57 lần so với
năm 1971.
Sau khi bãi bỏ chế độ bản vị vàng, c quốc gia bắt đầu in thêm tiền của mình, dẫn
đến tình trạng lạm phát nhưng cũng đồng thời tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, không
quốc gia nào trên thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng nữa. Thay vào đó, hầu hết các quốc
gia áp dụng tiền pháp định - tức tiền tệ do chính phủ phát hành được sử dụng để
thanh toán thuế nhận các khoản trợ cấp từ chính phủ.
2.3. Hệ thống tiền tệ quốc tế hậu BWS.
2.3.1.Tạo quyền rút vốn đặt biệt.
2.3.1.1 Lịch sử
Quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs (Special Drawing Rights) là đơn vị tiền tệ
qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Năm 1969, SDRs được Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đặt ra theo đề nghị của 10 nước
gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Đức. Khi được ra
đời, SDRs tài sản dự trữ tính chất quốc tế với mục đích bổ sung cho tài sản dự trữ
của các quốc gia thành viên. Ngay thời điểm này, hệ thống tỷ giá hối đoái cố định trong
khuôn khổ Hiệp ước Bretton Woods đang tồn tại nên các nước tham gia hiệp ước để
nhằm duy trì tỷ giá hối đoái thì các nước thành viên phải đảm bảo dự trữ vàng hoặc tiền
tệ mạnh để thể sử dụng mua vào nội tệ khi cần thiết. Với nhu cầu mrộng thương
mại tài chính quốc tế một cách ạt, đến lúc đó nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng
USD của các quốc gia trnên không đủ đáp ứng. Chính thế, SDRs ra đời cung cấp cho
các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để thể duy trì tỷ giá hối đoái của đồng
nội tệ. IMF nhận tiền đóng góp (tương ứng quyền biểu quyết) sử dụng nguồn đóng
góp đó cùng với các tài trkhẩn cấp đặc biệt với mục đích cho các nước thành viên
vay, nhằm ổn định cung cầu tiền tệ, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán ngắn hạn. IMF sẽ
xem xét quyết định số tiền cụ thcăn cứ vào tình hình kinh tế của quốc gia mỗi quốc
gia phải đóng góp trước ngày 01/04/1978, cứ 5 năm một lần, IMF sẽ xem xét lại s
tiền mỗi nước thành viên phải đóng góp bao nhiêu, từ ngày 01/04/1978 trở đi, việc
xem xét này được thực hiện 3 năm một lần.
2.3.1.2 Tại sao xuất hiện SDRs
Trước đây khi các quốc gia thành viên còn tham gia vào khuôn khổ hệ thống
Bretton Woods, để duy trì lãi suất của mình, các quốc gia thành viên cần phải lượng
dự trữ chính thức vàng do chính phủ hoặc ngân hàng trung ương nắm giữ c ngoại
tệ được chấp nhận rộng rãi trong thanh toán, ngoại tệ dùng để mua nội tệ khi cần thiết
nhằm duy trì tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, nguồn cung cấp hai loại tài sản dự trữ chính
vàng đô la Mỹ không đủ để đáp ng sự phát triển thương mại quốc tế tài chính
ngay lúc này. Đồng thời, ngay khi đó, Hoa Kỳ một chính sách tiền tệ tương đối thận
trọng không muốn lượng đô la Mỹ gia tăng trong lưu thông. Nếu tiếp tục, sẽ xuất hiện
những lo ngại rằng đồng đô la Mỹ sẽ trở thành tài sản dự trữ quốc tế kém hấp dẫn. Chính
vậy, cộng đồng quốc tế dưới sự bảo trợ của IMF đã quyết định tạo ra một định dạng tài
sản dự trữ quốc tế. Đối với các ớc đang phát triển, SDRs được coi khá hấp dẫn bởi
đây được xem như một kênh cấp tín dụng với chi phí thấp thông qua việc vay mượn,
mua bán SDRs để bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước hoặc đổi lấy “ngoại tệ tự do sử
dụng” nhằm xây dựng dự trữ ngoại hối nhà nước. Bên cạnh đó, SDRs còn được dùng như
một đơn vị quy ước định danh để c định giá trị hàng hóa,tài sản, thu nhập, dịch vụ, chi
phí,…
2.3.1.3 Sử dụng
SDRs thể được dùng trong quan hệ n dụng giữa các nước thành viên IMF
cũng như trong thanh toán cán cân thương mại giữa các quốc gia. Khi giải ngân, tùy tình
huống thì SDR thể quy đổi ra một loại tiền tệ mạnh nào đó như Euro, Đô la Mỹ hoặc
Yên Nhật,…
SDRs cũng được sử dụng trong một số thỏa thuận, công ước quốc tế như Công
ước Warsaw về trách nhiệm vật chất của các hãng hàng không đối với hành khách, hàng
hóa chuyên chở, hành lý; sử dụng để tính toán viễn thông quốc tế, cước bưu chính theo
thỏa thuận giữa các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới, Liên minh Viễn
thông Quốc tế.
Tuy nhiên, các nước thành viên không thể tiêu dùng SDRs như các loại tiền tệ
trong lưu thông khác chỉ đơn vị qui ước, được sử dụng để tính toán chứ không
thực sự tồn tại trong lưu thông.
2.3.1.4 Định nghĩa
- Từ 1969 đến tháng 06/1974, SDRs được định nghĩa bằng giá trị của USD USD
xác định theo giá trị so với vàng
- Từ tháng 7/1974 đến nay, SDRs được định nghĩa theo các điều kiện của một rổ
tiền tệ
(bao gồm các loại tiền tệ chính được sử dụng trong thương mại tài chính quốc
tế) do chế độ tỷ giá hối đoái cđịnh sụp đổ vào năm 1973
- Từ 7/1974 đến 31/12/1980: Rổ tiền tệ bao gồm 16 loại tiền mỗi loại chiếm tỷ
trọng từ 1% trở lên trong thương mại quốc tế.
- Từ 1981 đến 1999: Các loại tiền ttrong rổ gồm mác Đức, frăng Pháp, bảng Anh,
yên Nhật, đô la Mỹ.
- Từ 1999 đến 2016: rổ tiền tệ gồm euro, bảng Anh, yên Nhật, đô la Mỹ.
- Từ 1/10/2016 đến hiện nay: rổ tiền tgồm euro, bảng Anh, yên Nhật, đô la Mỹ
nhân dân tệ.
2.3.2 Hiệp ước Smithsonian
Tháng 12/1971, 10 quốc gia dẫn đầu vkinh tế đã họp tại Washington D.C đi
đến thỏa thuận, với tên gọi “Hiệp Ước Smithsonia”:
(1) Hoa Kỳ chấp nhận phá giá đồng Đô la lên 38 USD/ounce vàng (8,57%) các
thành viên khác chấp nhận định lại giá đồng tiền so với Đô la Mỹ từ 7,4% đối với
Canada đến 16,9% đối với Nhật Bản;
(2) Biên độ dao động được mở rộng từ 1% hiện tại lên 2,25% thể dao động
tối đa đến mức 4,5% so với USD.
Vào quý 2/1972, hệ thống tiền tệ mới đi vào hoạt động. cán cân thanh toán Hoa
Kỳ tiếp tục thâm hụt nên Đồng Đô la Mỹ tiếp tục suy. Chế độ chuyển đổi Đô la ra vàng
vẫn hiệu lục nhưng ảnh hưởng rất ít trên thực tế. Trên thực tế, giá vàng trên thị trường
London vào 8/1972 70 USD/ounce vàng
Do sức ép của thị trường nhiều nước đã thả nổi tỷ giá hối đoái vào năm 1973, trên
thực tế hiệp ước Smithsonian đã nhanh chóng lỗi thời đòi hỏi phải thực thi một chính
sách tiền tệ hiệu quả hơn.
2.3.3 Hiệp ước Jamaica 1976
Tháng 11/1975, các nước công nghiệp đã nhóm họp tại Rambouillet để thỏa thuận
sửa đổi các điều khoản của IMF với mục đích hợp pháp hoa hoạt động cho chế độ tỷ giá
thả nổi. Tại Kingston, c nước thành viên đã chính thức công bố hợp pháp hoá hoạt
động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Ngoài ra, để kết thúc sứ mệnh của giá vàng chính thức,
Hội nghị đề ra mục tiêu tăng ờng vị thế của SDR trong dự trữ quốc tế công bố chính
thức SDR trở thành tài sản dự trữ quốc tế chính.
Sửa đổi lần Thứ 2 các điều khoản của IMF:
Sửa đổi lần Thứ 2 các điều khoản của IMF hiệu lực vào tháng 4/1978, quy định
cho IMF sử dụng biện pháp “giám t chặt chẽ” các chính ch tỷ giá của các nước thành
viên chính thức cho phép các thành viên quyền quyết định rộng rãi trong việc lựa chọn
chế độ tỷ giá của mình.
Điều 4 của Sửa đổi lần Thứ 2 đã định nghĩa về quyền hạn trách nhiệm của c
thành viên, bao gồm: Mỗi thành viên phải nghĩa vụ thông báo cho IMFvề chế độ tỷ giá
của mình; được tự do lựa chọn chế độ tỷ giá theo ý muốn như chế độ tỷ giá cố định với
SDR hay cố định với bất cứ đồng tiền nào khác; chế độ tỷ giá thả nổi tập thể; hoặc bất cứ
chế độ tỷ giá nào quốc gia chọn; chỉ một điều các thành viên không được làm,
đó không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng.
Ngoài những các thành viên được làm, sửa đổi lần Thứ 2 cũng đưa ra định
nghĩa về vai trò của IMF người trông nom Hệ thống tiền tệ quốc tế nhằm đảm bảo cho
Hệ thống hoạt động một cách hiệu quả. Cụ thể, IMF vai trò: Tiến hành giám sát chặt
chẽ các chính sách tỷ giá của các thành viên, thể áp dụng các nguyên tắc cụ thể để
chỉ dẫn tất cả các nước thành viên phù hợp với chính sách tỷ giá nước thành viên đã
chọn. Các thành viên trách nhiệm cung cấp cho IMF những thông tin cần thiết đgiám
sát khi được yêu cầu thì phụ đạo cùng IMFvề chính sách tỷ giá của mình. Những chỉ
dẫn ban đầu của IMF bao gồm 3 nguyên tắc chính sau đây:
a/ Mỗi thành viên phải tránh lợi dụng tỷ giá hay Hệ thống tiền tệ quốc tế để ngăn
cản quá trình điều chỉnh tích cực của cán cân thanh toán, hoặc để kiếm lợi từ vị thế
cạnh tranh không chính đáng so với c thành viên khác.
b/ Mỗi thành viên cần can thiệp lên thị trường ngoại hối khi thấy cẩn thiết phải
khôi phục lại trật tự, nếu không thị trường thể tạm thời ngừng giao dịch.
c/ Các thành viên phải nh tới lợi ích của các quốc gia khác liên quan khi tiến
hành can thiệp, bao gồm cả quốc gia đồng tiền sử dụng vào can thiệp.
Đáng chú ý là, bên cạnh c nguyên tắc chỉ dẫn nêu trên, IMF thực sự không được
trao quyền trừng phạt những quốc gia không tuân thủ các nguyên tắc này. Như vậy
ràng là, sửa đổi lần Thứ 2 các Điều khoản của IMF về bản chỉ sự thừa nhận chính
thúc điểm chấm hết cho Hệ thống Bretton Woods thôi.
2.3.4. Hệ thống tiền tệ châu Âu EMS
2.3.4.1 Quá trình
Hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) một thỏa thuận tỉ giá hối đoái thể điều
chỉnh được thiết lập vào năm 1979 để thúc đẩy hợp tác chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn
giữa các thành viên của Cộng đồng châu Âu.
Năm 1986 sự mở rộng của hệ thống tiền tchâu Âu diễn ra khi Tây Đức gia nhập
hệ thống mở đường cho việc tăng cường hợp tác tài chính tiền ttrong khu vực châu
Âu .
Năm 1990, việc tăng lãi suất áp lực tài chính đã gây ra các biến động tỷ giá
sự suy giảm kinh tế do đó hệ thống tiền tchâu Âu đối mặt với cuộc khủng hoảng tài
chính lớn được gọi cuộc khủng hoảng sự điều chỉnh.
các nước thành viên EMS ít khi chịu phối hợp các chính sách kinh tế với nhau,
EMS đã phải trải qua nhiều biến động. Tháng 12/1991 các nước thành viên EU đã nhóm
họp tại Maastricht (Hà Lan) để hiệp ước Maastricht. Theo đó, EU sẽ ấn định tỷ giá hối

Preview text:

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG..................................................................................................................2
1. HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ......................................................................2
1.1. Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế..................................................................2
1.2. Vai trò của hệ thống tiền tệ quốc tế.................................................................2
1.3. Bộ phận cấu thành của hệ thống tiền tệ quốc tế.............................................2
1.4. Tiêu chí phân loại của hệ thống tiền tệ quốc tế...............................................3
2. HỆ THỐNG SONG BẢN VỊ THỜI KỲ TRƯỚC 1875........................................3
2.1. Khái niệm.......................................................................................................3
2.2. Cơ chế xác định tỷ giá....................................................................................4
2.3. Ưu điểm..........................................................................................................4
2.4. Nhược điểm....................................................................................................4
2.5. Nguyên nhân sụp đổ:.....................................................................................5
3. HỆ THỐNG BẢN VỊ VÀNG CỔ ĐIỂN GIAI ĐOẠN 1875-1914.....................5
3.1. Khái niệm :.....................................................................................................5
3.2. Cơ chế xác định tỷ giá....................................................................................5
3.3 Ưu điểm và hạn chế của chế độ bản vị vàng cổ điển......................................6
3.4. Nguyên nhân sụp đổ chế độ bản vị vàng cổ điển.........................................7
4. GIAI ĐOẠN GIỮA HAI THẾ CHIẾN (1914-1944).............................................8
4.1. Thế chiến thứ 1 bùng nổ...................................................................................8
4.2. Kết thúc thế chiến thứ I....................................................................................9
5. HỆ THỐNG BRETTON WOODS (1944-1971)..................................................10
5.1. Lý do ra đời.....................................................................................................10
5.2. Đặc điểm của hệ thống tiền tệ của Brettob Woods.......................................13
5.3. Hạn chế của hệ thống tiền tệ BWS................................................................13
5.4. Sự sụp đổ của Bretton Woods........................................................................15
6. HỆ THỐNG TIỀN TỆ HIỆN NAY.....................................................................16
6.1 Một số chỉ tiêu đo lường sự ổn định của tiền tệ.............................................16
6.2. Tình hình hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay................................................18
KẾT LUẬN................................................................................................................20 LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ hội nhập và phát triển nhanh chóng như hiện nay, hệ thống tiền tệ quốc
tế đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán bức tranh tài chính toàn cầu. Từ việc
thương mại quốc tế đến đầu tư tài chính và quản lý rủi ro nền kinh tế, tiền tệ không chỉ là
một phương tiện trao đổi mà còn là yếu tố quyết định sự ổn định và phát triển của mỗi
quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế không chỉ
đưa ta góc nhìn về các nền kinh tế tương tác với nhau mà còn đo lường được những thách
thức và cơ hội mà tài chính quốc tế mang lại.
Các quốc gia trên thế giới đã cùng đi tới những thỏa thuận, những quy ước chung về
giao dịch thương mại toàn cầu và tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế. Trước những thách
thức như biến đổi khí hậu, đại dịch toàn cầu, và sự biến động trong thị trường tài chính,
làm thế nào hệ thống tiền tệ quốc tế có thể thích ứng và đóng góp vào sự ổn định toàn cầu
là những câu hỏi đầy thách thức, nhưng cũng là động lực cho nghiên cứu của chúng ta.
Việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế giúp hiểu rõ hơn phần nào môi trường tài chính
quốc tế - một điều kiện không thể thiếu để thực hiện và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế.
Và để hiểu rõ thêm về các hệ thống tiền tệ quốc tế trong lịch sử và nguyên nhân sụp
đổ. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Hệ thống tiền tệ quốc tế”.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, nhóm 7 xin chân thành cảm ơn cô Võ Lê Linh
Đan đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn chúng em. Trong quá trình làm đề tài,
với kiến thức còn hạn chế, ắt sẽ gặp sai sót khó tránh, mong nhận được những ý kiến góp ý từ cô.
1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ 1.1. Khái niệm
Hệ thống tiền tệ quốc tế (International Monetary System - IMS) là tập hợp các quy
tắc, thể lệ, định chế điều chỉnh các quan hệ tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia, nhằm
bảo đảm thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế, bảo đảm sự ổn định và phát triển các
quan hệ kinh tế quốc tế nói chung.
1.2. Chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế có các chức năng chính sau đây:
- Các quốc gia thành viên trên cơ sở thống nhất với nhau các cách thức để điều
chỉnh quan hệ tài chính tiền tệ nhằm đảm bảo ổn định, thông suốt trong các giao dịch tài
chính tiền tệ từ đó tạo điều kiện để ổn định và phát triển các hoạt động kinh tế nói chung.
- Một hệ thống tiền tệ khi hoạt động có hiệu quả sẽ có tác dụng hạn chế tối đa
những khủng hoảng về tài chính tiền tệ có thể xảy ra, đồng thời có khả năng giúp các
quốc gia thành viên trong việc điều chỉnh những mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của chúng.
1.3. Vai trò của hệ thống tiền tệ quốc tế
Ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư quốc tế: Thương mại và đầu tư quốc tế là
quá trình các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước
tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
nhằm thu lợi nhuận hoặc để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Vì vậy hệ thống
tiền tệ ảnh hưởng tương đối đến quá trình ra quyết định đầu tư.
Ảnh hưởng đến sự phân bổ các nguồn tài nguyên trên thế giới: Các nước thường
xuất khẩu các nguồn tài nguyên có lợi thế so sánh để thu ngoại tệ về phục vụ phát triển
kinh tế. Theo lý thuyết đầu tư quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài luôn đi tìm các nguồn
lực mà trong nước khan hiếm để đầu tư, tiết kiệm chi phí trong nước. Chính phủ các nước
giàu có về tài nguyên sẽ tạo lập hệ thống chính sách, môi trường đầu tư hấp dẫn để thu
hút đầu tư nước ngoài, bổ sung sự khan hiếm về nguồn vốn trong nước, đưa các nguồn tài
nguyên trở thành của cải để phục vụ tăng trưởng và phát triển.
Hệ thống tiền tệ quốc tế chỉ rõ vai trò của chính phủ và các định chế tài chính quốc
tế trong việc xác định tỷ giá khi chúng không được phép vận động theo các thế lực thị trường.
1.4 Tiêu chí phân loại hệ thống tiền tệ quốc tế
Có hai tiêu chí phân loại của hệ thống tiền tệ quốc tế:
-Theo mức độ linh hoạt của tỷ giá: Chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi linh
hoạt, chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, chế độ tỷ giá cố định nhưng có điều chỉnh, chế độ
tỷ giá cố định, tuy nhiên được linh hoạt trong phạm vi một biên độ, chế độ tỷ giá bò
trườn, chế độ hai loại tỷ giá.
-Theo đặc điểm của dự trữ ngoại hối quốc tế: bản vị hàng hóa (pure commodity
standards), bản vị tiền giấy (pure fiat standards), bản vị kết hợp (mixed standards).
1.5. Chế độ tỷ giá
Chế độ tỷ giá của quốc gia là tập hợp quy tắc và thể chế của một quốc gia nhằm
xác định tỷ giá giữa nội tệ và ngoại tệ.
Có 4 loại chế độ tỷ giá chính: Tỷ giá cố định, tỷ giá neo cố định, tỷ giá thả nổi
hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có quản lý.
1.5.1. Đặc điểm của chế độ tỷ giá
-Chế độ tỷ giá cố định: Ngân hàng trung ương ấn định mức tỷ giá ngang giá và
chịu trách nhiệm duy trì tỷ giá cố định thông qua việc sử dụng công cụ can thiệp trực tiếp
vào thị trường như mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, can thiệp gián tiếp thông
qua cính sách lãi suất, chính sách quản lý ngoại hối…
 Ưu điểm: Độ tin cậy tối đa, khống chế lạm phát
 Nhược điểm: Mất quyền kiểm soát tiền tệ, dễ dàng bị tác động bởi tình hình
kinh tế của các quốc gia khác.
-Chế độ tỷ giá neo cố định: Giá trị nội tệ neo cố định theo một hoặc một nhóm
ngoại tệ theo cách dao động trong biên độ nhất định, điều chỉnh định kì theo biến số tham
chiếu, xoay quanh tỷ giá trung tâm. Chế độ này biến động cùng chiều với ngoại tệ nó neo vào.
 Ưu điểm: Độ tin cậy của chế dộ tỷ gái quyết định tính ổn định hệ thống, dễ
theo dõi biến động tỷ giá, có thể duy trì lãi suất thấp và giảm lạm phát.
 Nhược điểm: Dễ bị tấn công tiền tệ hoặc lây nhiễm khủng hoảng tài chính,
cần nhiều dự trữ quốc tế.
-Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do biến động
theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của ngân hàng trung ương.
 Ưu điểm: Khử các cú số kinh tế dễ hơn, khó bị lây khủng hoảng tiền tệ,
không cần nhiều dự trữ quốc tế.
 Nhược điểm: Biến động tỷ giá liên tục ở mức cao, nhất là trong ngắn hạn.
-Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý: Ngân hàng trung ương can thiệp tích cực trên thị
trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng mục tiêu nhất định tuy
nhiên không cam kết sẽ duy trì một mức tỷ giá cố định nào hoặc biên độ dao động xung
quanh tỷ giá trung tâm. Phần nào giúp giảm tác hại của các cú sốc kinh tế, duy trì nền
kinh tế ổn định và có sức cạnh tranh.
 Ưu điểm: Khử các cú số kinh tế dễ hơn, khó bị lây khủng hoảng tiền tệ, có
thể duy trì nền kinh tế ổn định và có sức cạnh tranh nếu chế dộ tỷ giá có độ tin cậy cao.
 Nhược điểm: Cơ chế can thiệp thị trường thiếu minh bạch, cần duy trì mức dự trữ quốc tế cao.
1.5.2 Căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá
Các mục tiêu chọn chế độ tỷ giá Ổn định tỷ giá
Hội nhập tài chính quốc tế
Độc lập về tiền tệ
Giá trị của đồng tiền nên Quốc gia cần giảm dần tiến Quốc gia có thể thực thi các
cố định với các đồng tiền tới xóa bỏ các rào cản đối với chính sách tài chính tiền tệ
khác nhằm tạo lợi nhuận dòng lưu chuyển tiền tệ và để xử lý các vấn đề kinh tế
cho các giao dịch thương vốn, qua đó tạo môi trường nội bộ quốc gia mà không bị
mại và tài chính quốc tế.
thuận lợi cho hoạt động đầu lệ thuộc vào tình hình kinh tư và tài trợ. tế nước khác.
Theo định luật bộ ba bất khả thi (IMPOSSIBLE TRINITY): Là một giả thuyết cho
rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định,
chính sách tiền tệ độc lập và tự do lưu chuyển vốn. Quốc gia chỉ có thể thực hiện tối đa hai trong 3 chính sách.
-Chế độ tỷ giá cố định 
Giữ được tỷ giá cố định 
Tạo môi trường kinh tế nhất quán, tính an toàn cao => Tăng khả năng lưu
chuyển hàng hóa, vốn, lao động thuận lợi => Thúc đẩy thương mại, đầu tư
quốc tế, thúc đẩy hợp tác quốc tế. 
Nếu thực hiện chế dộ tỷ giá cố định mềm, neo vào 1 ngoại tệ hay rổ ngoại tệ thì
một nước rất khó có được sự độc lập về tiền tệ.
-Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn 
Dễ thực thi chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, không xảy ra tình trạng lây
lan khủng hoảng tiền tệ => Độc lập tiền tệ. 
Giá cả diễn biến theo tín hiệu thị trường, giúp di chuyển nguồn lực từ nơi có
hiệu quả cao đến nơi có hiệu quả thấp => Tăng hội nhập kinh tế 
Giá cả biến đổi thường xuyên, liên tục => Rất khó để ổn định giá cả
-Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý 
Chính phủ được tự do lựa chọn các cách kiểm soát tiền tệ => Độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá. 
Chính phủ chỉ có thể can thiệp để sửa những lỗi sai của thị trường, nếu can
thiệp một cách tùy tiện rất khó để có được sự hội nhập với quốc gia đối tác khác.
=> Tùy vào tình hình, chính sách của mỗi quốc gia mà lựa chọn cho phù hợp.
2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
2.1. Hệ thống bản vị vàng (1876 – 1914)
Cách đây 300 năm, vào thời các Pharaoh, vàng đã được sử dụng làm phương tiện
thanh toán và lưu trữ. Đế chế Hy Lạp và La Mã đã sử dụng tiền vàng cho đến khi mở
rộng thương mại vào thế kỷ 19. Khi thương mại tăng lên, một hệ thống kế toán chính
thức cho thương mại quốc tế ngày càng trở nên cần thiết. Mặt khác, mỗi quốc gia đặt giá
trị danh nghĩa của đồng tiền của mình theo giá trị của vàng và tuân thủ các quy tắc trò
chơi đã được thiết lập. Bản vị vàng là một hệ thống tiền tệ quốc tế được công nhận ở châu
Âu từ những năm 1870. Hoa Kỳ là nước đến sau và không công nhận hệ thống này cho đến năm 1879.
Hệ thống này được tạo ra để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán vàng và các
loại tiền tệ dựa trên vàng để tỷ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ được cố định. Các quốc
gia muốn tiêu tiền phải dựa vào lượng vàng họ có. Chế độ bản vị vàng vẫn được duy trì
cho đến khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, khi thương mại giữa các quốc gia bị đình chỉ và
sự di chuyển tự do của vàng là không thể. Và nhiều nước đã hoãn việc sử dụng bản vị vàng trong thương mại. 2.1.1. Khái niệm
Bản vị vàng (Gold Standard) là một hệ thống tiền tệ trong đó giá trị đồng tiền của
một quốc gia được xác định dựa trên một lượng vàng nhất định. Theo chế độ bản vị vàng,
các quốc gia đồng ý đổi tiền giấy của mình lấy một lượng vàng nhất định. Các quốc gia
sử dụng chế độ bản vị vàng đặt ra một mức giá cố định cho vàng và giao dịch vàng ở
mức giá cố định đó. Giá cố định được sử dụng để xác định giá trị của một loại tiền tệ.
Hệ thống bản vị vàng còn được gọi là chế độ bản vị tiền vàng, kim bản vị. Tuy
nhiên, hiện nay không có quốc gia nào sử dụng hệ thống bản vị vàng. Anh đã ngừng sử
dụng chế độ này vào năm 1931, và Hoa Kỳ cũng làm theo vào năm 1933, và từ bỏ tàn dư
của hệ thống bản vị vàng vào năm 1973. Bản vị vàng được thay thế hoàn toàn bằng tiền
pháp định (hoặc Tiền Fiat). Đây là loại tiền tệ được phát hành, quản lý và công nhận hợp
pháp bởi chính phủ của một quốc gia tại quốc gia đó. Ví dụ, đồng tiền đấu thầu hợp pháp
của Việt Nam là Đồng Việt Nam (viết tắt là VNĐ), đồng tiền đấu thầu hợp pháp của Hoa
Kỳ là USD (đô la), hay đồng tiền đấu thầu hợp pháp của Anh là Đồng bảng Anh (viết tắt là GBP).
2.1.2. Đặc trưng và các nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng
a. Đặc trưng của chế độ bản vị vàng
Trong quá trình phát triển, hệ thống bản vị vàng được chia làm 3 hình thức của 3
chế độ khác nhau. Cụ thể gồm: Bản vị tiền tệ vàng, bản vị vàng thỏi, bản vị hối đoái vàng. 
Các nước được tự do xuất nhập khẩu cũng như buôn bán vàng với nhau. 
Tất cả các nước đều áp dụng chế độ bản vị vàng cho đồng tiền của mình. Mỗi
quốc gia sẽ có những quy định riêng về việc chuyển đổi giá trị đồng tiền quốc gia
thành vàng. Điều này có nghĩa là có thể chuyển đổi tiền thành vàng mà không bị
giới hạn. Vì vậy, mỗi quốc gia phải dự trữ đủ vàng để bảo đảm thanh toán, chuyển đổi khi có nhu cầu. 
Ngân hàng trung ương phải luôn duy trì lượng vàng dự trữ ổn định so với lượng vàng phát hành. 
Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia được dựa trên tỷ lệ cố định giữa bản
vị vàng của các đồng tiền. Người ta giả định rằng mỗi quốc gia đặt giá trị đồng
tiền của mình bằng vàng hoặc chính phủ đặt giá vàng bằng đồng tiền của mình và
quốc gia đó sẵn sàng mua và bán vàng mà không bị hạn chế ở mức giá mà họ đặt
ra. Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia được xác định bằng vàng. Ví dụ,
đồng bảng Anh được gắn với vàng ở mức 6 bảng/ounce, trong khi giá của đồng
franc Pháp là 30 franc/ounce. Do đó, tỷ giá hối đoái giữa bảng Anh và đồng franc
Pháp là 1 bảng Anh, tương đương với 5 franc. () 
Lạm phát vẫn có thể xảy ra nếu giá hàng hóa tăng, tốc độ sản xuất vàng cao
hơn tốc độ sản xuất hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến cung tiền tăng nhanh hơn lượng vàng thực tế. 
Tiền xu do ngân hàng trung ương phát hành sẽ được hỗ trợ bằng vàng.
b. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng
Tỷ giá của các đồng tiền được xác định bởi một khối lượng vàng nhất định. Hay
nói một cách khác mỗi chính phủ ấn định giá vàng theo đồng tiền quốc gia, đồng thời sẵn
sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá cố định. Ví dụ, tại Mỹ, giá 1 troy ounce
vàng nguyên chất (480grains) là $20.67, do đó, sở đúc tiền của Mỹ sẵn sàng và không
hạn chế mua vàng vào và bán vàng ra ở mức giá này
Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc ngang giá
vàng. Tức là thông qua giá vàng được ấn định tính bằng các đồng tiền này.
Ngân hàng Trung ương luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ
trực tiếp với số tiền phát hành. Tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành được “đảm bảo
bằng vàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Chế độ bản vị
vàng đã hạn chế sự năng động của Ngân hàng Trung ương trong việc điều tiết lượng tiền lưu thông.
Vàng có thể được xuất khẩu hay nhập khẩu không hạn chế, được tự do mua bán
trên thị trường thế giới.
2.1.3. Cơ chế xác định tỷ giá:
Hệ thống bản vị vàng là một cơ chế xác định tỷ giá vàng dựa trên trọng lượng
vàng và giá trị tiền tệ. Cụ thể, hệ thống này sử dụng một đơn vị đo lường là lượng vàng
tương đương với một đơn vị tiền tệ nhất định, ví dụ như đô la Mỹ. Tỷ giá vàng được tính
bằng cách chia giá trị của một đơn vị tiền tệ cho số lượng vàng tương đương với nó.
Ví dụ: Trong trường hợp nếu giá vàng là 1.500 đô la Mỹ mỗi ounce và tỷ giá đô la
Mỹ/đô la Úc là 1,3, thì tỷ giá vàng/đô la Úc sẽ là 1.500/1,3 = 1.153,85 đô la Úc mỗi ounce.
2.1.4. Cơ chế vận hành hệ thống bản vị vàng:
Chế độ bản vị vàng giữa các năm 1880 - 1914 là một hệ thống đơn giản, phù hợp
với nhận thức và thực tiễn thanh toán và quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó. Nó đã góp phần
ổn định và thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời kì này. Tuy nhiên, sang đầu
thế kỉ XX, khi quan hệ thương mại và đầu tư tăng mạnh, mặt khác, các quốc gia đều có
xu hướng bội chi ngân sách bằng cách in thêm tiền (lạm phát), số lượng vàng dự trữ trên
thực tế không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán, hệ thống bản vị vàng tỏ ra không còn phù
họp và bị sụp đổ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.
2.1.5. Ưu điểm và nhược điểm: a. Ưu điểm
-Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Với việc loại bỏ hoàn toàn các rào cản thương mại
đối với vàng và các biện pháp kiểm soát trao đổi và lưu thông hiếm khi được thực thi và
không có sự mất giá hoặc tăng giá giữa các loại tiền tệ của các cường quốc thế giới, thế
giới đã đảm bảo được nguồn dự trữ ngoại hối ổn định, từ đó thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng thương mại và đầu tư quốc tế.
-Hạn chế lạm phát: Để giảm nguy cơ lạm phát, khi giá trị tiền tệ được quy định bởi
vàng, chính phủ sẽ bị hạn chế quyền in thêm tiền.
-Giá cả không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi biến động thị trường: Tỷ giá hối đoái cố
định theo tiêu chuẩn vàng sẽ làm giảm nguy cơ biến động giá cả hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu giữa các nước và thúc đẩy thương mại quốc tế.
-Theo chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được bảo hiểm trước rủi ro tiền
tệ, dòng vốn tự do chảy nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, giúp khuyến khích sự phân
công lao động và kinh tế quốc tế, tăng phúc lợi cho công việc.
-Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán hoạt động hiệu quả: Sự mất cân đối trong
cán cân thanh toán của quốc gia sẽ tự động điều chỉnh về mức cân bằng.
-Hệ thống bản vị vàng cũng tạo ra ít xung đột hơn giữa các quốc gia.
b. Nhược điểm
-Nguồn vàng có hạn: Cung tiền của một quốc gia phụ thuộc vào lượng vàng chảy
vào và ra khỏi quốc gia đó, và cung tiền của các quốc gia áp dụng chế độ bản vị vàng phụ
thuộc vào tốc độ khai thác vàng. Ở những quốc gia khan hiếm vàng, nguồn cung vàng
hạn chế có thể cản trở sự phát triển kinh tế. Bản vị vàng có thể dẫn đến sự mất cân bằng
giữa các nước tham gia. Các quốc gia sản xuất vàng sẽ có lợi thế hơn các quốc gia không
sản xuất kim loại quý. Theo một số nhà kinh tế, bản vị vàng có thể góp phần gây ra suy
thoái vì nó hạn chế khả năng tăng cung tiền của chính phủ, một công cụ mà hầu hết các
ngân hàng trung ương sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sử dụng vàng 100% để
lưu thông kinh tế mà không sử dụng tiền giấy hoặc tiền kim loại có thể ngăn ngừa lạm
phát. Tuy nhiên, lượng vàng có hạn và trữ lượng vàng của trái đất đang dần cạn kiệt
khiến chính sách này cực kỳ khó thực hiện trên thực tế. Vì vậy, sẽ không thể đảm bảo
hoạt động kinh tế trên toàn thế giới.
-Mất cân bằng giữa các quốc gia: Khả năng và tài nguyên khai thác vàng mỗi quốc
gia khác nhau dẫn đến sự chênh lệch. Lượng cung tiền của một quốc gia sẽ phụ thuộc vào
lượng vàng di chuyển vào hoặc ra khỏi quốc gia đó và cung tiền của các quốc gia sử dụng
hệ thống bản vị vàng sẽ phụ thuộc vào tốc độ khai thác vàng. Các quốc gia khan hiếm
vàng sẽ bị hạn chế nguồn cung vàng, điều này có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế. Các
nước sản xuất vàng sẽ có lợi thế hơn các nước không sản xuất kim loại quý. Những phát
hiện mới về các mỏ vàng có thể xuất hiện bất ngờ, làm tăng cung ứng tiền và lạm phát đột biến.
-Cản trở sự phục hồi kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng: Trong khủng hoảng kinh
tế, chính chế độ bản vị vàng trở thành cái kìm hãm chính phủ và ngân hàng Trung Ương
trong việc tìm ra chính sách để ngăn chặn khủng hoảng. Chế độ bản vị vàng cản trở khả
năng tăng cung tiền của chính phủ – một công cụ mà nhiều ngân hàng trung ương sử
dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chế độ bản vị vàng đã không thể đối phó với một
cuộc suy thoái lớn hoặc giảm phát. Ngoài ra, nếu cán cân thanh toán của quốc gia bị thâm
hụt hoặc thay đổi thường xuyên do phụ thuộc vào lãi suất, giá cả và thu nhập thì điều này
dễ dẫn đến thất nghiệp, lạm phát hoặc trì trệ.
2.1.6. Nguyên nhân sụp đổ của chế độ bản vị vàng
Vàng và cuộc khủng hoảng kinh tế lớn:
Từ năm 1879, Mỹ đã áp dụng chính sách bản vị vàng và lúc đó đồng USD rất
mạnh mẽ và kinh tế phát triển tốt. Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm đảo
lộn mọi thứ và dẫn đến sự sụp đổ của chính sách này. Khi đó, Hoa Kỳ và các nước châu
Âu đã tạm ngừng chính sách bản vị vàng để có đủ tiền chi trả cho chiến tranh.
Sau chiến tranh, các quốc gia nhận ra rằng việc ràng buộc tiền tệ với vàng có thể
gây hại cho nền kinh tế thế giới. Năm 1919, các quốc gia bao gồm cả Hoa Kỳ đã nhanh
chóng quay trở lại chính sách bản vị vàng đã được điều chỉnh sau chiến tranh. Tuy nhiên,
chính sách này đã gây ra tình trạng giảm phát và thất nghiệp lan rộng trong nền kinh tế thế giới.
Năm 1929, xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế lớn và các nước bắt đầu từ bỏ chính
sách bản vị vàng vào những năm 1930. Tại Mỹ, chính sách này đã gây khó khăn cho
chính phủ và Cục Dự trữ Liên bang trong việc kiểm soát cuộc khủng hoảng.
Trong suốt 4 năm, chính phủ Hoa Kỳ đã cố gắng tìm cách để dừng cuộc khủng
hoảng mà không thành công. Năm 1931, Vương quốc Anh đã từ bỏ chính sách bản vị
vàng và chỉ đến ngày 5 tháng 6 năm 1933, khi tổng thống Franklin D Roosevelt nhậm
chức, chính sách này mới được bãi bỏ hoàn toàn.
Sau khi bản vị vàng bị bãi bỏ, chính phủ Mỹ và Cục Dự trữ Liên bang đã có thể áp dụng
các chính sách tài khóa hợp lý để kết thúc cuộc khủng hoảng kinh tế lớn đó. 
Thỏa thuận Bretton Woods năm 1944:
Điều đáng chú ý là thỏa thuận Bretton Woods năm 1944 đã được ký kết để thiết lập một
hệ thống tiền tệ mới và giải quyết vấn đề của chính sách bản vị vàng. Hệ thống bản vị
vàng đã bị lãng quên cho đến khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc vào năm
1944. Tại hội nghị Bretton Woods, Mỹ, Anh, Canada, Úc, Nhật Bản và các nước Tây Âu
đã họp để thảo luận về các vấn đề thanh toán quốc tế sau chiến tranh. Ba vấn đề chính
được đưa ra là việc thành lập Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và tái thiết lập hệ
thống bản vị vàng với tỷ lệ 35 USD cho một ounce vàng. Điều này nhằm duy trì sự ổn định cho đồng USD. 
Chế độ bản vị vàng sụp đổ chính thức:
Tuy nhiên, hệ thống bản vị vàng đã chính thức sụp đổ. Một trong những nguyên
nhân chính là do tỷ lệ chuyển đổi cố định không có sự liên kết hữu cơ giữa cung và cầu
của vàng và hàng hóa. Vào năm 1960, Hoa Kỳ đã tích trữ 19,4 tỷ đô la vàng, trong đó có
1,6 tỷ đô la trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tuy nhiên, khi nền kinh tế Mỹ phát triển, người
dân Mỹ đã mua nhiều hàng hóa nhập khẩu và thanh toán bằng đô la. Điều này dẫn đến
thâm hụt cán cân thanh toán lớn và các nước khác lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ không có đủ
vàng để đảm bảo giá trị của đồng USD.
Vào những năm 1970, kho dự trữ vàng của Hoa Kỳ tiếp tục giảm do chính sách
kinh tế của Tổng thống Nixon gây ra lạm phát và làm suy yếu nền kinh tế. Khi Nixon
điều chỉnh tỷ giá đồng USD và không cho phép Fed mua lại USD bằng vàng, hệ thống
bản vị vàng trở nên vô nghĩa.
Cuối cùng, vào năm 1971, vì những khó khăn trong việc áp dụng chính sách kinh
tế, Tổng thống Richard Nixon đã quyết định rút khỏi hệ thống Bretton Woods và cho
đồng USD tự do lưu thông mà không còn neo đồng USD vào vàng. Điều này giúp cho
việc áp dụng chính sách linh hoạt hơn.
Việc Mỹ chấm dứt việc sử dụng vàng làm tiền tệ vào năm 1971 có thể có nguyên
nhân từ việc chế độ bản vị vàng đã cản trở việc in tiền để chi trả cho chiến tranh, đặc biệt
là Chiến tranh Việt Nam. Đồng Yên Nhật giảm giá so với đồng USD khiến hàng hóa của
Nhật trở nên rẻ hơn hàng Mỹ, gây ra sự suy thoái trong nền kinh tế Mỹ.
Sau đó, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định định giá vàng lên mức 42,22 USD/ounce
vào năm 1973 và hoàn toàn tách khỏi vàng vào năm 1976. Từ đó, giá vàng đã tăng chóng
mặt lên mức 124,84 USD/ounce. Trong khoảng thời gian từ năm 1971 đến nay, giá vàng
đã liên tục tăng và chỉ ít khi giảm, và đã đạt mốc 2000 USD/ounce, tăng gấp 57 lần so với năm 1971.
Sau khi bãi bỏ chế độ bản vị vàng, các quốc gia bắt đầu in thêm tiền của mình, dẫn
đến tình trạng lạm phát nhưng cũng đồng thời tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, không có
quốc gia nào trên thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng nữa. Thay vào đó, hầu hết các quốc
gia áp dụng tiền pháp định - tức là tiền tệ do chính phủ phát hành và được sử dụng để
thanh toán thuế và nhận các khoản trợ cấp từ chính phủ.
2.3. Hệ thống tiền tệ quốc tế hậu BWS.
2.3.1.Tạo quyền rút vốn đặt biệt. 2.3.1.1 Lịch sử
Quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs (Special Drawing Rights) là đơn vị tiền tệ
qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Năm 1969, SDRs được Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đặt ra theo đề nghị của 10 nước
gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Đức. Khi được ra
đời, SDRs là tài sản dự trữ có tính chất quốc tế với mục đích bổ sung cho tài sản dự trữ
của các quốc gia thành viên. Ngay thời điểm này, hệ thống tỷ giá hối đoái cố định trong
khuôn khổ Hiệp ước Bretton Woods đang tồn tại nên các nước tham gia hiệp ước để
nhằm duy trì tỷ giá hối đoái thì các nước thành viên phải đảm bảo dự trữ vàng hoặc tiền
tệ mạnh để có thể sử dụng nó mua vào nội tệ khi cần thiết. Với nhu cầu mở rộng thương
mại và tài chính quốc tế một cách ồ ạt, đến lúc đó nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và
USD của các quốc gia trở nên không đủ đáp ứng. Chính vì thế, SDRs ra đời cung cấp cho
các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối đoái của đồng
nội tệ. IMF nhận tiền đóng góp (tương ứng là quyền biểu quyết) và sử dụng nguồn đóng
góp đó và cùng với các tài trợ khẩn cấp đặc biệt với mục đích cho các nước thành viên
vay, nhằm ổn định cung cầu tiền tệ, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán ngắn hạn. IMF sẽ
xem xét quyết định số tiền cụ thể căn cứ vào tình hình kinh tế của quốc gia mà mỗi quốc
gia phải đóng góp và trước ngày 01/04/1978, cứ 5 năm một lần, IMF sẽ xem xét lại số
tiền mà mỗi nước thành viên phải đóng góp là bao nhiêu, từ ngày 01/04/1978 trở đi, việc
xem xét này được thực hiện 3 năm một lần.
2.3.1.2 Tại sao xuất hiện SDRs
Trước đây khi các quốc gia thành viên còn tham gia vào khuôn khổ hệ thống
Bretton Woods, để duy trì lãi suất của mình, các quốc gia thành viên cần phải có lượng
dự trữ chính thức là vàng do chính phủ hoặc ngân hàng trung ương nắm giữ và các ngoại
tệ được chấp nhận rộng rãi trong thanh toán, là ngoại tệ dùng để mua nội tệ khi cần thiết
nhằm duy trì tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, nguồn cung cấp hai loại tài sản dự trữ chính là
vàng và đô la Mỹ không đủ để đáp ứng sự phát triển thương mại quốc tế và tài chính
ngay lúc này. Đồng thời, ngay khi đó, Hoa Kỳ có một chính sách tiền tệ tương đối thận
trọng và không muốn lượng đô la Mỹ gia tăng trong lưu thông. Nếu tiếp tục, sẽ xuất hiện
những lo ngại rằng đồng đô la Mỹ sẽ trở thành tài sản dự trữ quốc tế kém hấp dẫn. Chính
vì vậy, cộng đồng quốc tế dưới sự bảo trợ của IMF đã quyết định tạo ra một định dạng tài
sản dự trữ quốc tế. Đối với các nước đang phát triển, SDRs được coi là khá hấp dẫn bởi
đây được xem như là một kênh cấp tín dụng với chi phí thấp thông qua việc vay mượn,
mua bán SDRs để bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước hoặc đổi lấy “ngoại tệ tự do sử
dụng” nhằm xây dựng dự trữ ngoại hối nhà nước. Bên cạnh đó, SDRs còn được dùng như
một đơn vị quy ước định danh để xác định giá trị hàng hóa,tài sản, thu nhập, dịch vụ, chi phí,… 2.3.1.3 Sử dụng
SDRs có thể được dùng trong quan hệ tín dụng giữa các nước thành viên IMF
cũng như trong thanh toán cán cân thương mại giữa các quốc gia. Khi giải ngân, tùy tình
huống thì SDR có thể quy đổi ra một loại tiền tệ mạnh nào đó như Euro, Đô la Mỹ hoặc Yên Nhật,…
SDRs cũng được sử dụng trong một số thỏa thuận, công ước quốc tế như Công
ước Warsaw về trách nhiệm vật chất của các hãng hàng không đối với hành khách, hàng
hóa chuyên chở, hành lý; sử dụng để tính toán viễn thông quốc tế, cước bưu chính theo
thỏa thuận giữa các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới, Liên minh Viễn thông Quốc tế.
Tuy nhiên, các nước thành viên không thể tiêu dùng SDRs như các loại tiền tệ
trong lưu thông khác vì nó chỉ là đơn vị qui ước, được sử dụng để tính toán chứ không
thực sự tồn tại trong lưu thông. 2.3.1.4 Định nghĩa -
Từ 1969 đến tháng 06/1974, SDRs được định nghĩa bằng giá trị của USD và USD
xác định theo giá trị so với vàng -
Từ tháng 7/1974 đến nay, SDRs được định nghĩa theo các điều kiện của một rổ tiền tệ
(bao gồm các loại tiền tệ chính được sử dụng trong thương mại và tài chính quốc
tế) do chế độ tỷ giá hối đoái cố định sụp đổ vào năm 1973 -
Từ 7/1974 đến 31/12/1980: Rổ tiền tệ bao gồm 16 loại tiền mà mỗi loại chiếm tỷ
trọng từ 1% trở lên trong thương mại quốc tế. -
Từ 1981 đến 1999: Các loại tiền tệ trong rổ gồm mác Đức, frăng Pháp, bảng Anh, yên Nhật, đô la Mỹ. -
Từ 1999 đến 2016: rổ tiền tệ gồm euro, bảng Anh, yên Nhật, đô la Mỹ. -
Từ 1/10/2016 đến hiện nay: rổ tiền tệ gồm euro, bảng Anh, yên Nhật, đô la Mỹ và nhân dân tệ.
2.3.2 Hiệp ước Smithsonian
Tháng 12/1971, 10 quốc gia dẫn đầu về kinh tế đã họp tại Washington D.C và đi
đến thỏa thuận, với tên gọi “Hiệp Ước Smithsonia”:
(1) Hoa Kỳ chấp nhận phá giá đồng Đô la lên 38 USD/ounce vàng (8,57%) và các
thành viên khác chấp nhận định lại giá đồng tiền so với Đô la Mỹ từ 7,4% đối với
Canada đến 16,9% đối với Nhật Bản;
(2) Biên độ dao động được mở rộng từ 1% hiện tại lên 2,25% và có thể dao động
tối đa đến mức 4,5% so với USD.
Vào quý 2/1972, hệ thống tiền tệ mới đi vào hoạt động. Vì cán cân thanh toán Hoa
Kỳ tiếp tục thâm hụt nên Đồng Đô la Mỹ tiếp tục suy. Chế độ chuyển đổi Đô la ra vàng
vẫn có hiệu lục nhưng ảnh hưởng rất ít trên thực tế. Trên thực tế, giá vàng trên thị trường
London vào 8/1972 là 70 USD/ounce vàng
Do sức ép của thị trường nhiều nước đã thả nổi tỷ giá hối đoái vào năm 1973, trên
thực tế hiệp ước Smithsonian đã nhanh chóng lỗi thời và đòi hỏi phải thực thi một chính
sách tiền tệ có hiệu quả hơn.
2.3.3 Hiệp ước Jamaica 1976
Tháng 11/1975, các nước công nghiệp đã nhóm họp tại Rambouillet để thỏa thuận
sửa đổi các điều khoản của IMF với mục đích hợp pháp hoa hoạt động cho chế độ tỷ giá
thả nổi. Tại Kingston, các nước thành viên đã chính thức công bố hợp pháp hoá hoạt
động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Ngoài ra, để kết thúc sứ mệnh của giá vàng chính thức,
Hội nghị đề ra mục tiêu tăng cường vị thế của SDR trong dự trữ quốc tế và công bố chính
thức SDR trở thành tài sản dự trữ quốc tế chính.
Sửa đổi lần Thứ 2 các điều khoản của IMF:
Sửa đổi lần Thứ 2 các điều khoản của IMF có hiệu lực vào tháng 4/1978, quy định
cho IMF sử dụng biện pháp “giám sát chặt chẽ” các chính sách tỷ giá của các nước thành
viên và chính thức cho phép các thành viên quyền quyết định rộng rãi trong việc lựa chọn
chế độ tỷ giá của mình.
Điều 4 của Sửa đổi lần Thứ 2 đã định nghĩa về quyền hạn và trách nhiệm của các
thành viên, bao gồm: Mỗi thành viên phải có nghĩa vụ thông báo cho IMFvề chế độ tỷ giá
của mình; được tự do lựa chọn chế độ tỷ giá theo ý muốn như chế độ tỷ giá cố định với
SDR hay cố định với bất cứ đồng tiền nào khác; chế độ tỷ giá thả nổi tập thể; hoặc bất cứ
chế độ tỷ giá nào mà quốc gia chọn; chỉ có một điều mà các thành viên không được làm,
đó là không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng.
Ngoài những gì mà các thành viên được làm, sửa đổi lần Thứ 2 cũng đưa ra định
nghĩa về vai trò của IMF là người trông nom Hệ thống tiền tệ quốc tế nhằm đảm bảo cho
Hệ thống hoạt động một cách hiệu quả. Cụ thể, IMF có vai trò: Tiến hành giám sát chặt
chẽ các chính sách tỷ giá của các thành viên, và có thể áp dụng các nguyên tắc cụ thể để
chỉ dẫn tất cả các nước thành viên phù hợp với chính sách tỷ giá mà nước thành viên đã
chọn. Các thành viên có trách nhiệm cung cấp cho IMF những thông tin cần thiết để giám
sát và khi được yêu cầu thì phụ đạo cùng IMFvề chính sách tỷ giá của mình. Những chỉ
dẫn ban đầu của IMF bao gồm 3 nguyên tắc chính sau đây:
a/ Mỗi thành viên phải tránh lợi dụng tỷ giá hay Hệ thống tiền tệ quốc tế để ngăn
cản quá trình điều chỉnh tích cực của cán cân thanh toán, hoặc để kiếm lợi từ vị thế
cạnh tranh không chính đáng so với các thành viên khác.
b/ Mỗi thành viên cần can thiệp lên thị trường ngoại hối khi thấy cẩn thiết phải
khôi phục lại trật tự, nếu không thị trường có thể tạm thời ngừng giao dịch.
c/ Các thành viên phải tính tới lợi ích của các quốc gia khác có liên quan khi tiến
hành can thiệp, bao gồm cả quốc gia có đồng tiền sử dụng vào can thiệp.
Đáng chú ý là, bên cạnh các nguyên tắc chỉ dẫn nêu trên, IMF thực sự không được
trao quyền trừng phạt những quốc gia không tuân thủ các nguyên tắc này. Như vậy rõ
ràng là, sửa đổi lần Thứ 2 các Điều khoản của IMF về cơ bản chỉ là sự thừa nhận chính
thúc điểm chấm hết cho Hệ thống Bretton Woods mà thôi.
2.3.4. Hệ thống tiền tệ châu Âu EMS 2.3.4.1 Quá trình
Hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) là một thỏa thuận tỉ giá hối đoái có thể điều
chỉnh được thiết lập vào năm 1979 để thúc đẩy hợp tác chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn
giữa các thành viên của Cộng đồng châu Âu.
Năm 1986 sự mở rộng của hệ thống tiền tệ châu Âu diễn ra khi Tây Đức gia nhập
hệ thống mở đường cho việc tăng cường hợp tác tài chính và tiền tệ trong khu vực châu Âu .
Năm 1990, việc tăng lãi suất và áp lực tài chính đã gây ra các biến động tỷ giá và
sự suy giảm kinh tế do đó hệ thống tiền tệ châu Âu đối mặt với cuộc khủng hoảng tài
chính lớn được gọi là cuộc khủng hoảng sự điều chỉnh.
Vì các nước thành viên EMS ít khi chịu phối hợp các chính sách kinh tế với nhau,
EMS đã phải trải qua nhiều biến động. Tháng 12/1991 các nước thành viên EU đã nhóm
họp tại Maastricht (Hà Lan) để kí hiệp ước Maastricht. Theo đó, EU sẽ ấn định tỷ giá hối