Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2023
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: THM-LN( PLT09A)
ĐỀ TÀI
:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo.
hiện nay. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp- dân tộc- Chủ nghĩa xã
hội” của giáo hội phật giáo Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn :
TS. Trần Thị Thu Hường
Sinh viên thực hiện
:
Nguyễn Khánh Ly
Lớp :
F14B
Mã sinh viên :
F14-144
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .......................................................... 2
NỘI DUNG ........................................................................................................... 3
Phần 1. Phần lý luận .......................................................................................... 3
chủ nghĩa xã hội ................................................................................................. 3
1.1. Bản chất của tôn giáo ........................................................................... 3
1.2. Nguồn gốc của tôn giáo ........................................................................ 3
1.3. Tính chất của tôn giáo .......................................................................... 4
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
........................................................................................................................ 5
xã hội .............................................................................................................. 5
3. Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà 5
nước Việt Nam hiện nay ................................................................................. 5
3.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam ............................................................. 5
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn .. 6
giáo hiện nay ............................................................................................... 6
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân ............................................... 7
1. Liên hệ thực tiễn: Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt . 7
Nam hiện nay .................................................................................................. 7
1.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam 7
hiện nay ....................................................................................................... 7
1.2. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa hội” của
................................................................................................................... 10
giáo hội phật giáo Việt Nam ...................................................................... 10
1.3. Nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo ......................................... 11
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 14
1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống những năm đầu tiên của một thiên niên kỉ mới thiên niên
kỉ thứ 3, khi mà xã hội loài người đã có những bước tiến vô cùng to lớn trong tất
cả mọi mặt: Kinh tế, chính trị, khoa học thuật và nghệ thuật,song song một
bộ phận không thể thiếu được, bởi nó chính là một bộ phận cấu thành nên thượng
tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở của một hội, đó chính là “tôn giáo”. Tôn giáo -
một hiện tượng hội phức tạp, chỉ thể giải thích một cách khách quan
khoa học dựa trên những quan niệm của nền tảng Triết học duy vật về lịch sử,
cũng như nhận thức duy vật khoa học. Phật giáo một trong những tôn giáo quan
trọng được du nhập vào Việt Nam trất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ III trước
Công nguyên luôn những giá trị quan trọng cần được tiếp thu kế thừa để
xây dựng lối sống nhân văn đạo hạnh cho người dân Việt Nam. Ngay từ khi
thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam, việc tôn trọng bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng từ trước đến nay. Ngay
từ Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất (tháng 11/1981) Giáo hội
Phật giáo Việt Nam lựa chọn phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã
hội” để định hướng cho mọi hoạt động của mình. Chính vì thế mà mỗi người dân
chúng ta cần phải những sự hiểu biết thấu đáo chính xác về tôn giáo để
không bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tôn giáo vào những mục đích xấu.
Bắt đầu với lý do mong muốn nghiên cứu sâu hơn về những giá trị và ảnh hưởng
của vấn đề, thông qua kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập bộ môn
Chủ Nghĩa Hội Khoa Học, sinh viên quyết định chọn đề tài: Quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo
trong đời sống hội Việt Nam hiện nay. Ý nghĩa của khẩu hiệu: Đạo pháp-
dân tộc- Chủ nghĩa xã hội của giáo hội phật giáo Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tôn giáo một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến động của
hoàn cảnh lịch sử xã hội. Cũng từ đó, chúng ta còn biết một cách khái quát rằng,
tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa hội. Vậy, trong quá
trình xây dựng đó, tôn giáo còn tồn tại là do những nguyên nhân cụ thể là gì.
Việt Nam một quốc gia đa tôn giáo đang chiều hướng phát triển trên phạm
vi cả nước. Trước tình hình đổi mới đất nước như hiện nay, đgóp phần xây dựng
đất nước, chúng ta cần phải thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà
nước, Đảng về vấn đề tôn giáo, hiểu rõ hơn về tôn giáo trong quá tình xây dựng
xã hội chủ nghĩa.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa luận : Bài nghiên cứu sự khái quát về quan điểm toàn diện và sự
xem xét, giúp sinh viên hiểu được bản chất, nguồn gốc, tính chất nguyên tắc
của tôn giáo theo quan điểm của Mác -Lenin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, chính sách của Nhà nước trong thời kỳ đấy.
Ý nghĩa thực tiễn : Nắm vững và biết vận dụng nhiều quan điếm, chính sách tôn
giáo của Đảng nhà nước ta trong quá trình học tập, công tác, nâng cao cái nhìn
dúng đắn về tôn giáo cũng như việc thực hiện các hành động về tôn giáo, đề xuất
những chính sách về tôn giáo một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện
nay.
NỘI DUNG
Phần 1. Phần lý luận
1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá đ
lên chủ nghĩa xã hội
1.1. Bản chất của tôn giáo
Theo Ph. Ăng nghen: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo
vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc
sống hàng ngày của họ, chỉ sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế
đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế..” Chủ nghĩa Mác Lênin coi
tín ngưỡng, tôn giáo một hình thái ý thức hội phản ánh một cách hoang
đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những
sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí.
Tôn giáo một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã
khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con
người”. Tôn giáo một thực thể khách quan của loài người nhưng lại một thực
thể nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện.
Về mặt nội dung, nội dung bản của tôn giáo niềm tin (hay tín ngưỡng) tác
động lên các nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị tính
tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy
được thể hiện bằng những nghi thức, những skiêng kỵ…Tuy nhiên, tôn giáo
cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lý của
xã hội.
1.2. Nguồn gốc của tôn giáo
1.2.1. Nguồn gốc kinh tế hội của tôn giáo: toàn bộ những nguyên nhân
gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan
hệ giữa con người với con người. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: Tôn
giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với t
nhiên một nguồn gốc hội của tôn giáo. Mối quan hệ giữa người người:
Có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển hội và ách
áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.
1.2.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Trước hết, lịch sử nhận thức của con
người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận
thức tự nhiên cảm tính. Như vậy, tôn giáo chỉthể ra đời khi con người đã đạt
tới một trình độ nhận thức nhất định. Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Thực chất nguồn gốc nhận
thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến thành cái không còn
nội dung khách quan, không còn s“thế gian”, nghĩa cái siêu nhiên thần
thánh.
1.2.3. Nguồn gốc tâm của tôn giáo: Các nhà kinh điển của chnghĩa Mác
Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm của tôn giáo do ảnh hưởng của
trạng thái tâm tiêu cực và tích cực. C. Mác đã nói, tôn giáo là trái tim của thế
giới không có trái tim, ng giống như tinh thần của trạng thái xã hội không
có tinh thần.
1.3. Tính chất của tôn giáo
1.3.1. Tính lịch sử của tôn giáo: Tôn giáo không phải xuất hiện cùng một lúc với
con người. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người
đạt tới mức độ nhất định.Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng giai đoạn
của lịch sử, tôn giáo sbiến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị hội
của thời đại đó.
1.3.2. Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần
của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động tính nhân văn, nhân đạo,
hướng thiện. Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc ảo, song phản ánh khát vọng
của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
1.3.3. Tính chính trị của tôn giáo: Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã
hội đã phân chia giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ
lợi ích của mình. Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ,
phái nhiều khi cũng mang tính chính trị. Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ,
thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần nắm vững các nguyên tắc bản sau: Thứ
nhất cần phải quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo, bởi
vì: ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với
đời sống hội không như nhau. Thứ hai là khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu
cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo hội củ, xây dựng xã hội
mới. điều đó nói lên rằng: muốn thay đổi ý thức hội, trước hết cần phải thay
đổi bản thân tồn tại hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tưởng con
người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Thứ ba tôn trọng, đảm bảo
quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.
Quyền y không chỉ thể hiện về mặt pháp còn được thực hiện trên thực tiễn
một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các Đảng. Các tôn giáo hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Thứ tư là cần phân biệt 2
mặt nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo lợi dụng tính ngưỡng tôn giáo. Mọi biểu
hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
3. Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, N
nước Việt Nam hiện nay
3.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ
thị, tranh chấp và xung đột. Hai là, các tôn giáo Việt Nam chủ yếu thờ Thượng
đế linh nhân người nước ngoài. Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những
nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng
của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa
dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Đặc điểm thứ 4, trong lịch sử cận, hiện
đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm mọi cách lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để
xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng.
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo
hiện nay
Hoạt động tôn giáo công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng
cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng bảo vệ vững chắc Một là, tín
ngưỡng, tôn giáo nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa hội ở nước ta. Hai là, Nhà
nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối
xử do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo công tác
vận động quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền,
nghĩa vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bốn là, công tác tôn giáo trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động tôn giáo phải
tuân thủ Hiến pháp pháp luật; không được lợi dụng dụng tôn giáo để tuyên
truyền đạo, hoạt động tín dđoan, không được ép buộc người dân theo đạo.
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1. Liên hệ thực tiễn: Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt
Nam hiện nay
Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã mối quan hệ mật thiết với tưởng,
tinh thần dân tộc và đã sự biến đổi cho phù hợp với đặc điểm dân người
Việt, làm cho Phật giáo Việt Nam có những đặc trưng riêng. Hơn 2.000 năm tồn
tại ở quốc gia, Phật giáo luôn những giá trị quan trọng cần được tiếp thu và kế
thừa để xây dựng lối sống nhân văn và đạo hạnh cho người dân Việt Nam.
1.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam
hiện nay
1. Phật giáo góp phần củng cố, duy trì các phong tục, tập quán của người Việt
Nam
Đối với con người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng của
Phật giáo là khá rõ nét trong một số phong tục tập quán phổ biến của người Việt.
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng hầu hết các tôn giáo được truyền đi bằng con
đường chính trị, được áp đặt bằng lực, bằng chiến tranh hoặc làm công cụ cho
các thế lực m lược. Ngược lại đã hai mươi sáu thế kỉ qua trên bước đường
truyền bá khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ để lại một vết máu do xung đột,
điều đó xuất phát tbản chất từ bi hỷ xả, vị tha của đạo Phật. Trong tâm thức của
người dân Việt Nam, chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi thờ Thần, thờ
Mẫu, thờ các vị anh hùng dân tộc. Trước khi đạo Phật vào Việt Nam thì dân tộc
ta đã tín ngưỡng thờ Mẫu. Ngày ấy, dân Việt đã thờ ba mẹ sáng tạo ra
muôn vật: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải. Trong tâm linh
của dân Việt cổ, ba vị này sáng tạo ra ba địa bàn hoàn chỉnh của đất nước:
vùng trời, vùng đất (kể cả rừng núi), vùng biển (kể cả sông ngòi). Bên cạnh tín
ngưỡng thờ ba bà mẹ, dân tộc ta còn tục lệ thờ các vị thần nông nghiệp, các v
thần về hiện tượng tự nhiên..Tất cả việc thờ cúng này mang ý nghĩa duy vật thô
sơ. GS. Trần Quốc Vượng đã đánh giá: “Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam sự
thờ thần (tha lực siêu nhiên) mà con người cúng và cầu để nhờ vả và “Phù hộ độ
trì” thì Phật hay Quan Âm cũng trở thành một loại thần Phật Điện; tính tâm linh
Ấn Độ nhường bước cho tính tình cảm Việt Nam (hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam
nặng nề về nh cảm hơn giáo lý, giới luật, đoàn thể tôn giáo), sự suy tưởng nội
tâm (Thiền định) nhường bước cho sự “van vái, co kéo” Thần, Phật xuống gần
“cõi người ta” để “cứu khổ, cứu nạn” cho đời”. Như vậy, thể thấy, Phật giáo
đã và đang góp phần rất lớn vào việc củng cố, duy trì phong tục ththần một
giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Hay nói cách khác,
Phật giáo đã đang góp phần vào việc duy trì, chuyển tải đạo lý uống nước nhớ
nguồn của dân tộc Việt.
2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến phương thức ứng xử, triết lý quan điểm
sốngcủa người Việt Nam
Hơn 2.000 năm tồn tại ở Việt Nam, Phật giáo đã góp phần hình thành những giá
trị, chuẩn mực trong lối sống của người Việt Nam. Những quan niệm ở hiền gặp
lành, gieo gió gặp bão, nhân nào quả ấy, đời cha ăn mặn, đời con khát nước, cha
mẹ hiền lành để đức cho con của người Việt đã thể hiện rõ tính nhân sinh của đạo
Phật. Những câu chuyện cổ tích như “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm
đốt”… luôn hình ảnh ông Bụt hiện lên giúp đỡ người hiền lành khi học gặp
khó khăn. Kết thúc có hậu của các câu chuyện, người hiền tất sẽ gặp lành, còn kẻ
ác không tránh được quả báo, khuyên con người sống nhân ái, yêu thương, giúp
đỡ mọi người khi gặp khó khăn. Những u chuyện đó mang hồn Việt nhưng thấp
thoáng trong đó tinh thần của Phật giáo. Như vậy thì bản chất từ, bi, hỷ, xả
trong tư tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng mọi
tầng lớp nhân dân vào con đường thiện nghiệp tư dưỡng đạo đức vì dân vì nước.
Có tác giả đã nhận xét: cái sống đời đời trong đạo đức Phật giáo là từ bi cứu khổ
cứu nạn. vượt thời gian, không gian, bởi nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì
nhân bản “làm điều lành”, “hướng về điều lành” hoặc ít nhất “đừng làm ác”,
“đừng hướng về cái ác”. Cách thức giao tiếp, ứng xcủa người Việt Nam cũng
chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quan niệm của Phật giáo. Trong Bát chính đạo của
nhà Phật, chính ngữ (giữ cho lời nói được đúng mực), đó chính một trong
các điều kiện để con người thể ứng xphợp với tha nhân. Trong nhiều kinh
điển của nhà Phật có nhắc đến việc chúng sinh phải nói lời hòa nhã, nói lời tử tế,
không nói lời cay độc, không nói lời giả dối, không nói tâng bốc hay mạt sát.
Trong giao tiếp với người khác, Đức Phật dạy rằng, không được đề cao thái quá
cũng không được hạ thấp tận cùng. Những quan niệm này của Phật giáo đã
ảnh hưởng nhất định đến cách thức ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam. Dân
gian Việt Nam có câu: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng
nhau”. Ngoài ra, những quy định về cách ứng xử trong Lục độ, Lục hoà của nhà
Phật không chỉ ý nghĩa đối với cuộc sống của tăng đoàn, còn ý nghĩa
rất lớn trong xây dựng một thế ứng xử hoà hợp, tương thân trong một cộng đồng,
một hội, một quốc gia toàn nhân loại. Những chuẩn mực này ít nhiều đều
đã ảnh hưởng đến cách thức ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam hiện nay.
Về ứng xử, giao tiếp trong gia đình, Phật giáo luôn đề cao sự hoà thuận và trách
nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ. Đức Phật dạy rằng, vợ chồng phải thương
yêu, chung thuỷ với nhau. Chất keo gắn bó giữa vợ chồng không phải chỉ có chữ
tình còn chữ nghĩa. Đồng thời, Phật giáo cũng đề cao sự hiếu thuận của
con cái với ông bà, cha mẹ thông qua thực việc hiện Tứ ân. Người Việt luôn nhớ
đến công lao của cha mẹ. Đạo Phật “Đạo Tâm”, khuyến khích con người
luôn hướng vào bên trong tìm tới cái tâm thiện, diệt trừ cái tâm ác, sống một cuộc
đời an lạc, thanh tao.
3. Ảnh hưởng của Phật giáo trong cách thức lao động sản xuất và tổ chức
sốngcủa người Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Phật giáo thực sự đã chung tay với
hội, với các cấp chính quyền trong việc góp phần xoá đói giảm nghèo, kiến tạo
công bằng hội. Những việc làm thiết thực, cụ thể giàu lòng nhân ái của Phật
giáo góp phần khắc phục một phần sự tha hóa, bù đắp cho con người trên phương
diện hiện thực. Phật giáo đã tạo niềm tin và tác động sâu sắc đến lối kinh doanh
triết kinh doanh của người Việt Nam. Với lợi nhuận thu được trong kinh
doanh, nhiều người đã thực hiện nhiều biện pháp phúc lợi hội. Ngoài ra, với
tư duy sắc sảo, nhạy bén, tại một số địa phương đã gắn kết được du lịch tâm linh
Phật giáo trong hoạt động du lịch. Hình thức kinh doanh này đã góp phần tạo nên
thu nhập cho người dân đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu về tinh thần cho người
dân do sức ép của quá trình phát triển kinh tế thị trường hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, khi hiểu đạo Phật, bà con cũng hiểu được truyền thống của đạo Phật
lịch sử dân tộc đó “Phật giáo đồng hành cùng dân tộc” nên nhân dân tinh
thần xây dựng cùng với chính quyền các cấp thực hiện tốt các chủ trương, chính
sách của Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội địa phương.
1.2. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của
giáo hội phật giáo Việt Nam
Giáo hội Phật giáo Việt Nam lựa chọn phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ
nghĩa xã hội” để định hướng cho mọi hoạt động của mình.
Đạo: Triết thuyết của Phật giáo cùng quảng bác vi diệu, ứng dụng của
có muôn vàn pháp môn nhưng tất cả đều hướng tới nhằm đạt mục đích tối hậu là
giác ngộ được chân hạnh phúc, giải thoát khỏi khổ đau. Trong kinh Tăng nhất chi
bộ III, Đức Phật đã khẳng định: “Ví nhước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng
vậy, này Pahàrada, Pháp Luật của ta chỉ một vị vị giải thoát”. “Pháp
Luật” ở đây tức “Đạo”. Như vậy, với Phật giáo, “Đạo” chỉ một mục tiêu duy
nhất tối hậu là: “Giải thoát”.
Pháp: Đặt trong mối quan hệ với “Đạo”, Pháp được hiểu lời nói, hành động,
phương pháp cách thức phù hợp để đưa Đạo (chân lý) đến với đời, với Phật
tử và chúng sinh. Nếu phạm trù “Đạo” là bất biến, là không thay đổi, thì pháp
yếu tố thể thay đổi, tức là tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên hội, trình độ,
nhận thức của người tiếp nhận đạo sdụng các phương pháp, cách thức truyền
đạo cho phù hợp và hiệu quả.
Dân tộc: Chọn Dân tộc (thậm chí làm vế trung tâm) trong phương châm, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam còn muốn khẳng định: Phật giáo luôn luôn gắn bó, đồng
hành với đất nước Việt Nam và con người Việt Nam. lịch sử dân tộc đã chứng
minh điều này: Hiếm một tôn giáo nào lại gắn bó mật thiết với người Việt, đất
Việt như Phật giáo. Trong mọi lúc thịnh suy của quốc gia ta luôn thấy sự cùng
chung vai gánh vác của Phật giáo, và vì thế, so sánh lịch sử của dân tộc và lịch s
Phật giáo Việt Nam, ta thấy có một sự đồng điệu đến lạ kì: khi nước nhà độc lập
thì Phật giáo cũng hưng thịnh, khi Tổ quốc lâm nguy thì Phật giáo cùng chịu
chung số phận suy tàn.
Chủ nghĩa hội: Xây dựng hội hội chủ nghĩa mục tiêu hướng tới,
tưởng của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mục tiêu của sự nghiệp xây dựng xã hội hội chủ
nghĩa Việt Nam rất ràng, đó một hội: Dân giàu, nước mạnh, hội dân
chủ, công bằng và văn minh. Đặt mệnh đề y trong phương châm hoạt động của
Giáo hội, Phật giáo Việt Nam một lần nữa muốn khẳng định, tinh thần ‘nhập thế”,
“khế khế cơluôn luôn được theo đuổi và thực hiện một cách triệt để của mình.
Đó là, không chỉ luôn đồng hành, gắn bó, mà Phật giáo luôn luôn kề vai sát cánh
với dân tộc, với nhân dân trong bất kể thời kỳ nào, giai đoạn phát triển nào của
đất nước, miễn làm cho nhân dân được sống trong hòa bình an lạc, quốc thái
dân an.
Như vậy, phương châm “Đạo pháp Dân tộc Chủ nghĩa hội” Giáo hội
Phật giáo Việt Nam đề ra có 3 thành tố, những thành tố ấy đã hòa quyện, gắn bó
với nhau để tạo thành một khối thống nhất không thể tách rời. Đó là sự kết hợp
hài hòa lợi ích giữa tôn giáo (Phật giáo) với lợi ích của dân tộc, của nhân n Việt
Nam. Dân tộc Đạo pháp, tinh thần đoàn kết dân tộc Phật giáo, góp
phần to lớn vào việc hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam.
1.3. Nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo
Tiếp cận với vấn đề tôn giáo qua các môn học Chủ nghĩa hội khoa học, sinh
viên cảm thấy kiến thức về vấn đề này vô cùng đa dạng và gắn liền với đời sống
hội của con người, với dòng chảy lịch scủa các dân tộc, quốc gia. Các dân
tộc, tôn giáo chính đáng đều mang những gtrị văn hóa gắn với đặc trưng của
dân tộc, tôn giáo đó. Hiện nay, xuất hiện không ít đối tượng xấu loan truyền thông
tin tiêu cực, bóp méo sự thật, “đổi trắng, thay đen”, xuyên tạc vấn đề dân tộc và
tôn giáo, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của một bộ phận người dân. Do
vậy, lớp trẻ của sinh viên trách nhiệm thúc đẩy phát triển đời sống hội hài
hòa trên cơ sở tôn trọng, tiếp nối, trao truyền và phát huy giá trị, bản sắc đa dạng
của các dân tộc tôn giáo. Tự tìm hiểu qua sách báo, tài liệu, nắm bắt nhanh các
thông tin cập nhật vnhững xu hướng, những biến đổi của tôn giáo hiện nay. Trên
cơ sở đó có thái độ chủ động, bình tĩnh, sáng suốt, tự tin trong ứng xử với những
thay đổi của tôn giáo. Đủ tỉnh táo, minh mẫn phân biệt skhác nhau giữa tín
ngưỡng, tôn giáo với tín dị đoan kịp thời ngăn chặn sự lợi dụng tôn giáo
của các thế lực phản động trong và ngoài nước cho những mục tiêu chính trị đen
tối. Nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo nhiệm vụ
công tác tôn giáo trong tình hình mới, quán triệt các chính sách, pháp luật của
Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo.
KẾT LUẬN
Các quan điểm về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo
chủ nghĩa Mác - Lênin đã khắc họa ràng tầm quan trọng của tôn giáo. Việc
chung sống hoà bình bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân
bản của con người xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín
ngưỡng, tôn giáo Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không
mâu thuẫn. thể nói, các nước Chủ nghĩa hội chưa bao giờ chống lại tôn
giáo chỉ thực hiện các chính sách để chống lại những kẻ lợi dụng tôn giáo
nhằm vào các mục đích xấu. Chỉ có quán triệt sâu sắc toàn diện nội dung quan
điểm trên đông thời vận dụng linh hoạt, khoa học vào thực tiễn thì ta mới có thể
đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, m phạm đến an ninh
Quốc gia, bảo vệ vững chắc an ninh Quốc gia trên lĩnh vực tôn giáo. Vấn đề tôn
giáo trên thế giới hiện nay vẫn đang là một vấn đề nóng, không chỉ riêng đối với
Chủ nghĩa xã hội hay bất kì thời đại nào. Chính vì thế việc giải quyết các vấn đề
về tôn giáo cần phải được đặt ra như một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có những
phương pháp giải quyết đúng đắn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Học viện ngân hàng (2023), Bài tập môn Chủ nghĩa hội khoa học, lưu
hành nội bộ, Hà Nội.
2. Minh Chính (2019), “Phương châm “Đạo pháp Dân tộc Chủ nghĩa
hội”, Báo điện tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
3. REDSVN (2019), “Ảnh hưởng của phật giáo trong hội Việt Nam hiện
nay”, Báo điện tử redsvn.net.
4. Trung tá, ThS. Nguyễn Ngọc Hương (2021), “Những điểm nổi bật về tôn
giáo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương.
5. TS. Nguyễn Trọng Tuấn (2015), “Vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội theo tinh thần của Đại hội XIPGS”, Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Lytuong.net (2021), “Tôn giáo là gì? Bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức
năng của tôn giáo”, Báo điện tử Lý tưởng.

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: THM-LN( PLT09A) ĐỀ TÀI :
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo.
Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam
hiện nay. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp- dân tộc- Chủ nghĩa xã
hội” của giáo hội phật giáo Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn : TS. Trần Thị Thu Hường
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Khánh Ly Lớp : F14B
Mã sinh viên : F14-144
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .......................................................... 2
NỘI DUNG ........................................................................................................... 3
Phần 1. Phần lý luận .......................................................................................... 3
chủ nghĩa xã hội ................................................................................................. 3
1.1. Bản chất của tôn giáo ........................................................................... 3
1.2. Nguồn gốc của tôn giáo ........................................................................ 3
1.3. Tính chất của tôn giáo .......................................................................... 4
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
........................................................................................................................ 5
xã hội .............................................................................................................. 5
3. Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà 5
nước Việt Nam hiện nay ................................................................................. 5
3.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam ............................................................. 5
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn .. 6
giáo hiện nay ............................................................................................... 6
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân ............................................... 7
1. Liên hệ thực tiễn: Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt . 7
Nam hiện nay .................................................................................................. 7
1.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam 7
hiện nay ....................................................................................................... 7
1.2. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của
................................................................................................................... 10
giáo hội phật giáo Việt Nam ...................................................................... 10
1.3. Nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo ......................................... 11
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 14
1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống những năm đầu tiên của một thiên niên kỉ mới là thiên niên
kỉ thứ 3, khi mà xã hội loài người đã có những bước tiến vô cùng to lớn trong tất
cả mọi mặt: Kinh tế, chính trị, khoa học kĩ thuật và nghệ thuật,song song là một
bộ phận không thể thiếu được, bởi nó chính là một bộ phận cấu thành nên thượng
tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở của một xã hội, đó chính là “tôn giáo”. Tôn giáo -
một hiện tượng xã hội phức tạp, chỉ có thể giải thích nó một cách khách quan
khoa học dựa trên những quan niệm của nền tảng Triết học duy vật về lịch sử,
cũng như nhận thức duy vật khoa học. Phật giáo là một trong những tôn giáo quan
trọng được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ III trước
Công nguyên luôn có những giá trị quan trọng cần được tiếp thu và kế thừa để
xây dựng lối sống nhân văn và đạo hạnh cho người dân Việt Nam. Ngay từ khi
thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam, việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng từ trước đến nay. Ngay
từ Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất (tháng 11/1981) Giáo hội
Phật giáo Việt Nam lựa chọn phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã
hội” để định hướng cho mọi hoạt động của mình. Chính vì thế mà mỗi người dân
chúng ta cần phải có những sự hiểu biết thấu đáo và chính xác về tôn giáo để
không bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tôn giáo vào những mục đích xấu.
Bắt đầu với lý do mong muốn nghiên cứu sâu hơn về những giá trị và ảnh hưởng
của vấn đề, thông qua kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập bộ môn
Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, sinh viên quyết định chọn đề tài: “Quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo
trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay. Ý nghĩa của khẩu hiệu: Đạo pháp-
dân tộc- Chủ nghĩa xã hội của giáo hội phật giáo Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến động của
hoàn cảnh lịch sử xã hội. Cũng từ đó, chúng ta còn biết một cách khái quát rằng,
tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vậy, trong quá
trình xây dựng đó, tôn giáo còn tồn tại là do những nguyên nhân cụ thể là gì.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và đang có chiều hướng phát triển trên phạm
vi cả nước. Trước tình hình đổi mới đất nước như hiện nay, để góp phần xây dựng
đất nước, chúng ta cần phải thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà
nước, Đảng về vấn đề tôn giáo, hiểu rõ hơn về tôn giáo trong quá tình xây dựng xã hội chủ nghĩa.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận : Bài nghiên cứu là sự khái quát về quan điểm toàn diện và sự
xem xét, giúp sinh viên hiểu được bản chất, nguồn gốc, tính chất và nguyên tắc
của tôn giáo theo quan điểm của Mác -Lenin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, chính sách của Nhà nước trong thời kỳ đấy.
Ý nghĩa thực tiễn : Nắm vững và biết vận dụng nhiều quan điếm, chính sách tôn
giáo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình học tập, công tác, nâng cao cái nhìn
dúng đắn về tôn giáo cũng như việc thực hiện các hành động về tôn giáo, đề xuất
những chính sách về tôn giáo một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay. NỘI DUNG
Phần 1. Phần lý luận
1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
1.1. Bản chất của tôn giáo
Theo Ph. Ăng nghen: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo –
vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc
sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế
đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế..” Chủ nghĩa Mác – Lênin coi
tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang
đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những
sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí.
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã
khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con
người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực
thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện.
Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác
động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính
tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy
được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…Tuy nhiên, tôn giáo
cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lý của xã hội.
1.2. Nguồn gốc của tôn giáo
1.2.1. Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo: Là toàn bộ những nguyên nhân
gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan
hệ giữa con người với con người. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: Tôn
giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự
nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Mối quan hệ giữa người và người:
Có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách
áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.
1.2.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Trước hết, lịch sử nhận thức của con
người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận
thức tự nhiên cảm tính. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt
tới một trình độ nhận thức nhất định. Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Thực chất nguồn gốc nhận
thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn
nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh.
1.2.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo là do ảnh hưởng của
trạng thái tâm lí tiêu cực và tích cực. C. Mác đã nói, tôn giáo là trái tim của thế
giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái xã hội không có tinh thần.
1.3. Tính chất của tôn giáo
1.3.1. Tính lịch sử của tôn giáo: Tôn giáo không phải xuất hiện cùng một lúc với
con người. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người
đạt tới mức độ nhất định.Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng giai đoạn
của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó.
1.3.2. Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần
của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động có tính nhân văn, nhân đạo,
hướng thiện. Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng
của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
1.3.3. Tính chính trị của tôn giáo: Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã
hội đã phân chia giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ
lợi ích của mình. Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ,
phái nhiều khi cũng mang tính chính trị. Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ,
thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần nắm vững các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ
nhất là cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo, bởi
vì: ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với
đời sống xã hội không như nhau. Thứ hai là khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu
cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội củ, xây dựng xã hội
mới. điều đó nói lên rằng: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay
đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con
người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Thứ ba là tôn trọng, đảm bảo
quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.
Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn
một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các Đảng. Các tôn giáo hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Thứ tư là cần phân biệt 2
mặt nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tính ngưỡng tôn giáo. Mọi biểu
hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
3. Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nước Việt Nam hiện nay
3.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ
thị, tranh chấp và xung đột. Hai là, các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng
đế và linh nhân là người nước ngoài. Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những
nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng
của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa
dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Đặc điểm thứ 4, trong lịch sử cận, hiện
đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm mọi cách lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để
xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng.
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo hiện nay
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng
cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Một là, tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai là, Nhà
nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối
xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác
vận động quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự
nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền,
nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động tôn giáo phải
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng dụng tôn giáo để tuyên
truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo.
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1. Liên hệ thực tiễn: Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã có mối quan hệ mật thiết với tư tưởng,
tinh thần dân tộc và đã có sự biến đổi cho phù hợp với đặc điểm cư dân người
Việt, làm cho Phật giáo Việt Nam có những đặc trưng riêng. Hơn 2.000 năm tồn
tại ở quốc gia, Phật giáo luôn có những giá trị quan trọng cần được tiếp thu và kế
thừa để xây dựng lối sống nhân văn và đạo hạnh cho người dân Việt Nam.
1.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
1. Phật giáo góp phần củng cố, duy trì các phong tục, tập quán của người Việt Nam
Đối với con người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng của
Phật giáo là khá rõ nét trong một số phong tục tập quán phổ biến của người Việt.
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng hầu hết các tôn giáo được truyền đi bằng con
đường chính trị, được áp đặt bằng vũ lực, bằng chiến tranh hoặc làm công cụ cho
các thế lực xâm lược. Ngược lại đã hai mươi sáu thế kỉ qua trên bước đường
truyền bá khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ để lại một vết máu do xung đột,
điều đó xuất phát từ bản chất từ bi hỷ xả, vị tha của đạo Phật. Trong tâm thức của
người dân Việt Nam, chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi thờ Thần, thờ
Mẫu, thờ các vị anh hùng dân tộc. Trước khi đạo Phật vào Việt Nam thì dân tộc
ta đã có tín ngưỡng thờ Mẫu. Ngày ấy, cư dân Việt đã thờ ba bà mẹ sáng tạo ra
muôn vật: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải. Trong tâm linh
của cư dân Việt cổ, ba vị này sáng tạo ra ba địa bàn hoàn chỉnh của đất nước:
vùng trời, vùng đất (kể cả rừng núi), vùng biển (kể cả sông ngòi). Bên cạnh tín
ngưỡng thờ ba bà mẹ, dân tộc ta còn có tục lệ thờ các vị thần nông nghiệp, các vị
thần về hiện tượng tự nhiên..Tất cả việc thờ cúng này mang ý nghĩa duy vật thô
sơ. GS. Trần Quốc Vượng đã đánh giá: “Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam là sự
thờ thần (tha lực siêu nhiên) mà con người cúng và cầu để nhờ vả và “Phù hộ độ
trì” thì Phật hay Quan Âm cũng trở thành một loại thần Phật Điện; tính tâm linh
Ấn Độ nhường bước cho tính tình cảm Việt Nam (hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam
nặng nề về tình cảm hơn là giáo lý, giới luật, đoàn thể tôn giáo), sự suy tưởng nội
tâm (Thiền định) nhường bước cho sự “van vái, co kéo” Thần, Phật xuống gần
“cõi người ta” để “cứu khổ, cứu nạn” cho đời”. Như vậy, có thể thấy, Phật giáo
đã và đang góp phần rất lớn vào việc củng cố, duy trì phong tục thờ thần – một
giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Hay nói cách khác,
Phật giáo đã và đang góp phần vào việc duy trì, chuyển tải đạo lý uống nước nhớ
nguồn của dân tộc Việt.
2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến phương thức ứng xử, triết lý quan điểm
sốngcủa người Việt Nam
Hơn 2.000 năm tồn tại ở Việt Nam, Phật giáo đã góp phần hình thành những giá
trị, chuẩn mực trong lối sống của người Việt Nam. Những quan niệm ở hiền gặp
lành, gieo gió gặp bão, nhân nào quả ấy, đời cha ăn mặn, đời con khát nước, cha
mẹ hiền lành để đức cho con của người Việt đã thể hiện rõ tính nhân sinh của đạo
Phật. Những câu chuyện cổ tích như “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm
đốt”… luôn có hình ảnh ông Bụt hiện lên giúp đỡ người hiền lành khi học gặp
khó khăn. Kết thúc có hậu của các câu chuyện, người hiền tất sẽ gặp lành, còn kẻ
ác không tránh được quả báo, khuyên con người sống nhân ái, yêu thương, giúp
đỡ mọi người khi gặp khó khăn. Những câu chuyện đó mang hồn Việt nhưng thấp
thoáng trong đó là tinh thần của Phật giáo. Như vậy thì bản chất từ, bi, hỷ, xả
trong tư tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng mọi
tầng lớp nhân dân vào con đường thiện nghiệp tư dưỡng đạo đức vì dân vì nước.
Có tác giả đã nhận xét: cái sống đời đời trong đạo đức Phật giáo là từ bi cứu khổ
cứu nạn. Nó vượt thời gian, không gian, bởi nó nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì
nhân bản “làm điều lành”, “hướng về điều lành” hoặc ít nhất “đừng làm ác”,
“đừng hướng về cái ác”. Cách thức giao tiếp, ứng xử của người Việt Nam cũng
chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quan niệm của Phật giáo. Trong Bát chính đạo của
nhà Phật, có chính ngữ (giữ cho lời nói được đúng mực), đó chính là một trong
các điều kiện để con người có thể ứng xử phù hợp với tha nhân. Trong nhiều kinh
điển của nhà Phật có nhắc đến việc chúng sinh phải nói lời hòa nhã, nói lời tử tế,
không nói lời cay độc, không nói lời giả dối, không nói tâng bốc hay mạt sát.
Trong giao tiếp với người khác, Đức Phật dạy rằng, không được đề cao thái quá
cũng không được hạ thấp tận cùng. Những quan niệm này của Phật giáo đã có
ảnh hưởng nhất định đến cách thức ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam. Dân
gian Việt Nam có câu: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng
nhau”. Ngoài ra, những quy định về cách ứng xử trong Lục độ, Lục hoà của nhà
Phật không chỉ có ý nghĩa đối với cuộc sống của tăng đoàn, mà còn có ý nghĩa
rất lớn trong xây dựng một thế ứng xử hoà hợp, tương thân trong một cộng đồng,
một xã hội, một quốc gia và toàn nhân loại. Những chuẩn mực này ít nhiều đều
đã có ảnh hưởng đến cách thức ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam hiện nay.
Về ứng xử, giao tiếp trong gia đình, Phật giáo luôn đề cao sự hoà thuận và trách
nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ. Đức Phật dạy rằng, vợ chồng phải thương
yêu, chung thuỷ với nhau. Chất keo gắn bó giữa vợ chồng không phải chỉ có chữ
tình mà còn có chữ nghĩa. Đồng thời, Phật giáo cũng đề cao sự hiếu thuận của
con cái với ông bà, cha mẹ thông qua thực việc hiện Tứ ân. Người Việt luôn nhớ
đến công lao của cha mẹ. Đạo Phật là “Đạo Tâm”, nó khuyến khích con người
luôn hướng vào bên trong tìm tới cái tâm thiện, diệt trừ cái tâm ác, sống một cuộc đời an lạc, thanh tao.
3. Ảnh hưởng của Phật giáo trong cách thức lao động sản xuất và tổ chức
sốngcủa người Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Phật giáo thực sự đã chung tay với
xã hội, với các cấp chính quyền trong việc góp phần xoá đói giảm nghèo, kiến tạo
công bằng xã hội. Những việc làm thiết thực, cụ thể giàu lòng nhân ái của Phật
giáo góp phần khắc phục một phần sự tha hóa, bù đắp cho con người trên phương
diện hiện thực. Phật giáo đã tạo niềm tin và tác động sâu sắc đến lối kinh doanh
và triết lý kinh doanh của người Việt Nam. Với lợi nhuận thu được trong kinh
doanh, nhiều người đã thực hiện nhiều biện pháp phúc lợi xã hội. Ngoài ra, với
tư duy sắc sảo, nhạy bén, tại một số địa phương đã gắn kết được du lịch tâm linh
Phật giáo trong hoạt động du lịch. Hình thức kinh doanh này đã góp phần tạo nên
thu nhập cho người dân đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu về tinh thần cho người
dân do sức ép của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, khi hiểu đạo Phật, bà con cũng hiểu được truyền thống của đạo Phật và
lịch sử dân tộc đó là “Phật giáo đồng hành cùng dân tộc” nên nhân dân có tinh
thần xây dựng cùng với chính quyền các cấp thực hiện tốt các chủ trương, chính
sách của Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội địa phương.
1.2. Ý nghĩa của khẩu hiệu: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của
giáo hội phật giáo Việt Nam
Giáo hội Phật giáo Việt Nam lựa chọn phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ
nghĩa xã hội” để định hướng cho mọi hoạt động của mình.
Đạo: Triết thuyết của Phật giáo vô cùng quảng bác và vi diệu, ứng dụng của nó
có muôn vàn pháp môn nhưng tất cả đều hướng tới nhằm đạt mục đích tối hậu là
giác ngộ được chân hạnh phúc, giải thoát khỏi khổ đau. Trong kinh Tăng nhất chi
bộ III, Đức Phật đã khẳng định: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng
vậy, này Pahàrada, Pháp và Luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”. “Pháp và
Luật” ở đây tức là “Đạo”. Như vậy, với Phật giáo, “Đạo” chỉ có một mục tiêu duy
nhất tối hậu là: “Giải thoát”.
Pháp: Đặt trong mối quan hệ với “Đạo”, Pháp được hiểu là lời nói, hành động,
phương pháp và cách thức phù hợp để đưa Đạo (chân lý) đến với đời, với Phật
tử và chúng sinh. Nếu phạm trù “Đạo” là bất biến, là không thay đổi, thì pháp là
yếu tố có thể thay đổi, tức là tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên – xã hội, trình độ,
nhận thức của người tiếp nhận đạo mà sử dụng các phương pháp, cách thức truyền
đạo cho phù hợp và hiệu quả.
Dân tộc: Chọn Dân tộc (thậm chí làm vế trung tâm) trong phương châm, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam còn muốn khẳng định: Phật giáo luôn luôn gắn bó, đồng
hành với đất nước Việt Nam và con người Việt Nam. Và lịch sử dân tộc đã chứng
minh điều này: Hiếm có một tôn giáo nào lại gắn bó mật thiết với người Việt, đất
Việt như Phật giáo. Trong mọi lúc thịnh suy của quốc gia ta luôn thấy sự cùng
chung vai gánh vác của Phật giáo, và vì thế, so sánh lịch sử của dân tộc và lịch sử
Phật giáo Việt Nam, ta thấy có một sự đồng điệu đến lạ kì: khi nước nhà độc lập
thì Phật giáo cũng hưng thịnh, khi Tổ quốc lâm nguy thì Phật giáo cùng chịu chung số phận suy tàn.
Chủ nghĩa xã hội: Xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa là mục tiêu hướng tới, là
lý tưởng của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mục tiêu của sự nghiệp xây dựng xã hội Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam rất rõ ràng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng và văn minh. Đặt mệnh đề này trong phương châm hoạt động của
Giáo hội, Phật giáo Việt Nam một lần nữa muốn khẳng định, tinh thần ‘nhập thế”,
“khế lí khế cơ” luôn luôn được theo đuổi và thực hiện một cách triệt để của mình.
Đó là, không chỉ luôn đồng hành, gắn bó, mà Phật giáo luôn luôn kề vai sát cánh
với dân tộc, với nhân dân trong bất kể thời kỳ nào, giai đoạn phát triển nào của
đất nước, miễn là làm cho nhân dân được sống trong hòa bình và an lạc, quốc thái dân an.
Như vậy, phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” mà Giáo hội
Phật giáo Việt Nam đề ra có 3 thành tố, những thành tố ấy đã hòa quyện, gắn bó
với nhau để tạo thành một khối thống nhất không thể tách rời. Đó là sự kết hợp
hài hòa lợi ích giữa tôn giáo (Phật giáo) với lợi ích của dân tộc, của nhân dân Việt
Nam. Vì Dân tộc và Đạo pháp, vì tinh thần đoàn kết dân tộc và Phật giáo, góp
phần to lớn vào việc hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam.
1.3. Nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo
Tiếp cận với vấn đề tôn giáo qua các môn học Chủ nghĩa xã hội khoa học, sinh
viên cảm thấy kiến thức về vấn đề này vô cùng đa dạng và gắn liền với đời sống
xã hội của con người, với dòng chảy lịch sử của các dân tộc, quốc gia. Các dân
tộc, tôn giáo chính đáng đều mang những giá trị văn hóa gắn với đặc trưng của
dân tộc, tôn giáo đó. Hiện nay, xuất hiện không ít đối tượng xấu loan truyền thông
tin tiêu cực, bóp méo sự thật, “đổi trắng, thay đen”, xuyên tạc vấn đề dân tộc và
tôn giáo, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của một bộ phận người dân. Do
vậy, lớp trẻ của sinh viên có trách nhiệm thúc đẩy phát triển đời sống xã hội hài
hòa trên cơ sở tôn trọng, tiếp nối, trao truyền và phát huy giá trị, bản sắc đa dạng
của các dân tộc và tôn giáo. Tự tìm hiểu qua sách báo, tài liệu, nắm bắt nhanh các
thông tin cập nhật về những xu hướng, những biến đổi của tôn giáo hiện nay. Trên
cơ sở đó có thái độ chủ động, bình tĩnh, sáng suốt, tự tin trong ứng xử với những
thay đổi của tôn giáo. Đủ tỉnh táo, minh mẫn phân biệt sự khác nhau giữa tín
ngưỡng, tôn giáo với mê tín dị đoan và kịp thời ngăn chặn sự lợi dụng tôn giáo
của các thế lực phản động trong và ngoài nước cho những mục tiêu chính trị đen
tối. Nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo và nhiệm vụ
công tác tôn giáo trong tình hình mới, quán triệt các chính sách, pháp luật của
Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo. KẾT LUẬN
Các quan điểm về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo
chủ nghĩa Mác - Lênin đã khắc họa rõ ràng tầm quan trọng của tôn giáo. Việc
chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân
bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không
mâu thuẫn. Có thể nói, các nước Chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ chống lại tôn
giáo mà chỉ thực hiện các chính sách để chống lại những kẻ lợi dụng tôn giáo
nhằm vào các mục đích xấu. Chỉ có quán triệt sâu sắc và toàn diện nội dung quan
điểm trên đông thời vận dụng linh hoạt, khoa học vào thực tiễn thì ta mới có thể
đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, xâm phạm đến an ninh
Quốc gia, bảo vệ vững chắc an ninh Quốc gia trên lĩnh vực tôn giáo. Vấn đề tôn
giáo trên thế giới hiện nay vẫn đang là một vấn đề nóng, không chỉ riêng đối với
Chủ nghĩa xã hội hay bất kì thời đại nào. Chính vì thế việc giải quyết các vấn đề
về tôn giáo cần phải được đặt ra như một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có những
phương pháp giải quyết đúng đắn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Học viện ngân hàng (2023), Bài tập môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, lưu hành nội bộ, Hà Nội. 2.
Minh Chính (2019), “Phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã
hội”, Báo điện tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 3.
REDSVN (2019), “Ảnh hưởng của phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện
nay”, Báo điện tử redsvn.net. 4.
Trung tá, ThS. Nguyễn Ngọc Hương (2021), “Những điểm nổi bật về tôn
giáo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương. 5.
TS. Nguyễn Trọng Tuấn (2015), “Vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của Đại hội XIPGS”, Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam. 6.
Lytuong.net (2021), “Tôn giáo là gì? Bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức
năng của tôn giáo”, Báo điện tử Lý tưởng.