



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTTKT & TMĐT BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự ra đời đường lối
đổi mới của Đảng năm 1986 Nhóm thực hiện: 01 Lớp học phần: 242_HCMI0131_19 Tên học phần:
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Nguyễn Thị Lan Phương Hà Nội, 2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN Nhóm STT Ghi Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ trưởng chú đánh giá 1 Đỗ Thị Phương Anh 22D300007 PowerPoint 2 Lê Thị Quỳnh Anh
22D300010 - Nội dung Lời mở đầu + Kết luận - Word
3 Nguyễn Như Phương Anh 22D140011 Nội dung III.1 4 Nguyễn Thị Ngọc Anh 22D300014 Nội dung I.2 5 Phạm Hoàng Anh 22D140017 Nội dung I.1 6 Tạ Vân Anh 22D140019 Thuyết trình 7 Trần Nam Anh 22D140020 Nội dung III.3 8 Trần Thị Vân Anh 22D210027 Nội dung III.2 9 Ngô Hồng Ánh 22D140023 PowerPoint 10 Nguyễn Thị Hồng Ánh 22D300020 Nội dung II.1 (Nhóm trưởng) 11 Trần Thị Ngọc Ánh 22D140024 Nội dung II.2 12 Triệu Thị Ngọc Bảo 22D300023 Thuyết trình
13 Nguyễn Thị Phương Anh 22D201003 Nội dung II.3 2 MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
MỤC LỤC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
I. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG
NĂM 1986 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1. Tình hình trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2. Tình hình thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
II. ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI
BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (1986) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1. Khái quát về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2. Nội dung đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
2.1. Đổi mới về kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
2.2. Đổi mới về chính sách xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
2.3. Đổi mới về chính sách đối ngoại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.4. Đổi mới về xây dựng Đảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
3. Tác động của đường lối đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
3.1. Tác động về kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
3.2. Tác động về xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
3.3. Tác động về chính trị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
3.4. Tác động về đối ngoại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
III. NHẬN XÉT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1. Nhận xét chung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2. Những mặt hạn chế của đường lối đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.1. Hạn chế về kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.2. Hạn chế về xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3. Hạn chế về đối ngoại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3. Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22 3 LỜI MỞ ĐẦU
Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI năm 1986 là bước
ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong lịch sử phát triển đất nước. Mô
hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đó đã không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển
trong bối cảnh đất nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn về kinh tế và xã hội.
Sau chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua giai đoạn phục hồi nhưng vẫn tồn tại
những hạn chế nghiêm trọng, như tình trạng trì trệ trong sản xuất, thiếu hụt hàng hóa thiết
yếu, và đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, yêu cầu hội nhập với thế
giới và sự phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Để giải quyết những vấn đề này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được sự
cần thiết phải đổi mới, chuyển hướng chiến lược phát triển. Đường lối đổi mới được hình
thành từ một sự đánh giá sâu sắc về thực tiễn và những yếu tố tác động từ bên ngoài. Việc
tìm ra một mô hình kinh tế mới, linh hoạt và phù hợp hơn với xu thế phát triển toàn cầu đã
trở thành mục tiêu quan trọng trong việc đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, tạo tiền đề
cho sự phát triển trong những năm tiếp theo.
Bài thảo luận này, nhóm 1 sẽ làm rõ những nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của
đường lối đổi mới của Đảng năm 1986, cùng với những nội dung đổi mới, từ đó đưa ra
những nhận xét chung về đường lối này. 4
I. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG NĂM 1986
1. Tình hình trong nước
Bước vào thập niên 1980, Việt Nam phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế
- xã hội trầm trọng. Những khó khăn chồng chất không chỉ bộc lộ những hạn chế trong mô
hình quản lý tập trung bao cấp và cơ chế quản lý kinh tế cũ mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách
phải tìm ra một hướng đi mới để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ.
Một trong những vấn đề cấp bách nhất là nền kinh tế lâm vào khủng hoảng kéo dài.
Sản xuất đình trệ, hiệu quả thấp, năng suất lao động không đáp ứng được nhu cầu phát triển.
Cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp khiến các nguồn lực không được sử dụng hiệu quả, dẫn
đến tình trạng lãng phí và tụt lùi trong mọi lĩnh vực. Hệ thống phân phối kém hiệu quả
khiến hàng hóa khan hiếm, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Trong bối cảnh đó, lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng trở thành những mặt
hàng hiếm hoi, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người dân, nạn đói xảy ra ở nhiều
nơi đặc biệt ở miền Trung lại thêm thiên tai, mất mùa nên dẫn đến kỳ giáp hạt 1988. Hệ quả
là nền kinh tế rơi vào vòng xoáy lạm phát phi mã tăng từ 300% năm 1985 lên hơn 774%
năm 1986. Đồng tiền mất giá nhanh chóng, tiền lương thực tế giảm sút nghiêm trọng, đời
sống của cán bộ, công nhân viên chức cũng như người dân lao động đều bị ảnh hưởng nặng
nề. Hình thức tem phiếu, vốn dĩ được duy trì để đảm bảo phân phối hàng hóa, trở nên bất
cập khi cung không đủ cầu. Sự dao động về tư tưởng chính trị, giảm sút niềm tin vào con
đường xã hội chủ nghĩa ngày càng lan rộng.
Hình 1: Hình thức tem phiếu trở nên bất cập khi cung không đủ cầu 5
Không chỉ đối mặt với những khó khăn nội tại, Việt Nam còn phải chống chọi với
các biện pháp bao vây, cấm vận từ các thế lực thù địch, đứng đầu là Mỹ và các nước phương
Tây. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt tạo ra những
thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặt khác cũng tạo ra
tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng. Trên nhiều lĩnh vực,
nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khá nghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính
trị bị xơ cứng, kém hiệu quả. Hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng nhiều
khi chỉ mang tính hình thức. Tính độc lập, chủ động của Nhà nước bị vi phạm, hiệu lực
quản lý của bộ máy nhà nước bị hạn chế. Kinh tế - xã hội thiếu năng động. Quyền làm chủ
của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất. Chính sách cấm vận của
Mỹ và những rào cản thương mại đã khiến đất nước bị cô lập trên nhiều phương diện từ
kinh tế, chính trị cho đến ngoại giao.
Trong khi đó, viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, vốn là nguồn lực quan trọng
cho sự phát triển, dần suy giảm do những biến động trong quan hệ quốc tế. Chiến tranh kết
thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần và chuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá
thị trường quốc tế. Các thế lực phản động quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt
Cách mạng Việt Nam. Chiến tranh bùng nổ ở hai đầu biên giới, Mỹ tiến hành cuộc bao vây,
cấm vận nước ta ngày càng khắc nghiệt. Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khó
khăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên trường quốc tế.
Trước thực trạng đó, yêu cầu đổi mới trở thành một vấn đề mang tính sống còn.
Đảng đã đề ra nhiều quyết sách quan trọng, phải kể tới như: Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư
Trung ương khóa IV (1981) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, Nghị quyết Trung ương
8 khóa V (1985) về giá – lương – tiền và các nghị quyết 25, 26 của Chính phủ nhằm cải
thiện cơ chế quản lý kinh tế. Tuy nhiên những chính sách này không làm thay đổi được
hoàn toàn cục diện kinh tế xã hội. Những bất cập của mô hình kinh tế cũ, sự bế tắc trong
quản lý xã hội cùng với những áp lực từ bên ngoài đã đặt ra bài toán cần có một đường lối
mới để phát triển. Đó chính là bối cảnh tình hình trong nước dẫn đến Đại hội VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam năm 1986, nơi những quyết sách quan trọng đã được thông qua, mở ra
giai đoạn đổi mới toàn diện, đưa đất nước bước vào con đường phát triển theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Tình hình thế giới
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới tại Đại hội VI năm
1986, tình hình thế giới có nhiều biến động quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam:
Một là cuộc khủng hoảng của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Cuối thập
niên 1970 và đầu thập niên 1980, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung gặp nhiều khó 6
khăn tại các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô và Đông Âu đối mặt với tình trạng trì trệ kinh
tế, quản lý kém hiệu quả và thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng. Điều này tạo áp lực lớn lên
các nước áp dụng mô hình tương tự, trong đó có Việt Nam.
Hai là chính sách cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu. Từ năm 1985, Liên Xô dưới sự lãnh
đạo của Mikhail Gorbachev thực hiện chính sách cải tổ (Perestroika) và công khai hóa
(Glasnost). Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng tiến hành cải cách. Điều này cho thấy
yêu cầu đổi mới để thích nghi với tình hình thực tế là tất yếu.
Ba là thế giới bước vào xu thế đối thoại, hòa bình. Sau giai đoạn Chiến tranh Lạnh
căng thẳng, quan hệ giữa các nước lớn có dấu hiệu cải thiện. Xu hướng hội nhập và hợp tác
kinh tế trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các quốc gia, kể cả các nước xã hội
chủ nghĩa. Các quốc gia như Trung Quốc (với chính sách cải cách từ năm 1978), Hàn Quốc,
Singapore… đã đạt được những thành tựu kinh tế lớn nhờ áp dụng mô hình kinh tế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Đây là những bài học thực tiễn quan trọng để Việt Nam
nghiên cứu và điều chỉnh chính sách.
Bốn là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường. Các nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, đặc biệt là Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu, đạt được những thành tựu kinh tế vượt bậc.
Những cải cách theo hướng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp nhiều nước đang phát
triển vươn lên mạnh mẽ, tạo ra sức ép khiến Việt Nam cần có sự điều chỉnh chính sách để
không bị tụt hậu. Cuộc cách mạng Khoa học công nghệ đã diễn ra một cách mạnh mẽ xuất
hiện hình thái kinh tế mới của thời đại công nghệ thông tin là kinh tế tri thức, điểm nổi bật
là cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão đặc biệt ở các nước tư bản
chủ nghĩa. Đồng thời, các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn
để chống đói nghèo lạc hậu, chống sự xâm lược để bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc.
Như vậy tình hình thế giới cuối thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam, buộc
Đảng phải đề ra đường lối đổi mới để thích ứng với thực tiễn. Các xu hướng cải tổ ở Liên
Xô, Trung Quốc, sự phát triển của kinh tế thị trường, áp lực hội nhập và cuộc cách mạng
khoa học công nghệ là những yếu tố quan trọng dẫn đến quyết định đổi mới toàn diện của
Đảng, tạo tiền đề cho những bước phát triển của đất nước trong hơn ba thập kỷ sau đó. “Đối
với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn. Yêu cầu
đó vừa là đòi hỏi bên trong của nước ta, vừa phù hợp với xu thế của thời đại...” (TBT Trường
Chinh, Đại hội Đảng bộ Hà Nội lần thứ 10 - 10.1986) 7
II. ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI ĐẠI
HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (1986)
1. Khái quát về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Thời gian: Từ 15 đến 18-12-1986.
Địa điểm: Thủ đô Hà Nội.
Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.109.613.
Số lượng tham dự Đại hội: 1129 đại biểu.
Tổng bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nguyễn Văn Linh.
Ban Chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội: 124 uỷ viên.
Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên.
Nhiệm vụ chính: Thực hiện đổi mới đất nước (khởi xướng đưa đất nước tiến hành công cuộc đổi mới).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp từ ngày 15 đến 18-12-1986, tại
Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu, thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong cả
nước, trong số đó có 925 đại biểu của 40 tỉnh, thành, đặc khu; 172 đại biểu các đảng bộ trực
thuộc Trung ương; 153 đại biểu nữ; 115 đại biểu các dân tộc thiểu số;50 đại biểu là Anh
hùng lực lượng vũ trang và Anh hùng lao động; 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản
xuất;... Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 124 uỷ viên chính thức. Bộ Chính trị gồm 13
uỷ viên chính thức và một uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đồng chí Trường
Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao nhiệm vụ Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội VI là Đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã họp 12 lần để bàn và quyết định các vấn đề
trọng đại của Đảng và Nhà nước ta, trong đó chủ yếu là tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế sang kinh doanh XHCN; đổi mới quản lý Nhà nước, đổi mới công tác tổ
chức và cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác quần chúng của Đảng.
Đại hội “khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần
cách mạng và khoa học”. Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hoá sinh hoạt chính trị của
Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội. Đại hội đã hoàn toàn
nhất trí với những kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về đánh giá tình hình, tổng kết
kinh nghiệm, xác định mục tiêu và phương hướng chính sách nhằm đưa sự nghiệp cách
mạng nước ta tiếp tục tiến lên. 8
Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội đã nghiêm khắc nêu
ra rằng nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm,
khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đại hội nhận định trong
những năm 1976-1980, trên thực tế ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi
chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội
chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong những năm
1981-1985, Đảng chưa cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên
quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã
hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân
phối, lưu thông, đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, xã hội, trong đấu
tranh tư tưởng, văn hoá, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc
của kẻ thù. “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn,
về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện”.
Trên cơ sở thực tiễn cách mạng của 10 năm vừa qua, Đại hội nêu lên bốn bài học
kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng:
• Phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
• Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
• Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.
• Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh
đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi
mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ta. Thành công của Đại hội đã mở ra một bước ngoặt có ý
nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới. 2. Nội dung đổi mới
2.1. Đổi mới về kinh tế
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt
có tính lịch sử về đổi mới tư duy kinh tế. Đại hội khẳng định những quan điểm và đường
lối đổi mới về kinh tế như sau:
Thứ nhất, về đổi mới cơ cấu kinh tế, dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo
cơ cấu hợp lý, có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, chính sách
đó cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp 9
trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng của các
thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Đại
hội xác định rõ các thành phần kinh tế á nước ta là: kinh tế xã hội chủ nghĩa (bao gồm khu
vực quốc doanh và khu vực tập thể); kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân
cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh
tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình thức cao là công ty hợp doanh; kinh tế tự
nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số á Tây Nguyên và các vùng núi cao khác.
Thứ hai, cùng với chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đại hội VI còn chủ trương
bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện cho được ba
chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Ba
chương trình đó là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường đầu của thời kỳ quá độ.
Thứ ba, thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với
những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ tư, về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI cho rằng, việc bố trí lại cơ cấu
kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: Cơ
chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay đã không tạo được động lực phát
triển mà còn gây suy yếu nền kinh tế; kìm hãm sản xuất; làm giảm năng suất, chất lượng,
hiệu quả; gây rối loạn trong phân phối lưu thông và nảy sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực
trong xã hội. Phong cách quản lý quan liêu mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Vì
vậy, “Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã khẳng định là xóa bỏ tập trung quan
liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát
triển của nền kinh tế”. Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá
theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, chú trọng tính kế hoạch; sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các
đơn vị sản xuất có quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh, tự chủ về tài chính; sử dụng tốt các
đòn bẩy kinh tế… để từ đó giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông.
2.2. Đổi mới về chính sách xã hội
Đại hội đại biểu lần thứ VI thể hiện bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng về
chính sách xã hội, đã đặt đúng vị trí, tầm quan trọng của chính sách xã hội trong phát triển
đất nước. Chính sách xã hội được coi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách
của Đảng và Nhà nước, là động lực to lớn, phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân 10
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy yếu tố con người, phục vụ con người làm mục tiêu cao cả.
Về cấu trúc nội dung của chính sách xã hội: Báo cáo Đại hội VI năm 1986 trình bày
đầy đủ nhất, toàn diện nhất các phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của chính sách xã hội trong
một cấu trúc gồm năm nội dung sau:
a. Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Giải pháp thực hiện là cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) miễn phí,
chủ yếu là vòng tránh thai; tăng cường công tác tuyên truyền vận động, tập trung vào những
người trong độ tuổi sinh đẻ; có chế độ khen thưởng và phạt với người thực hiện KHHGĐ
và người vi phạm chính sách.
Báo cáo chính trị năm 1986 xác định rõ quan điểm coi kế hoạch hóa dân số, kế hoạch
hóa gia đình là điều kiện tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người và thực hiện các mục
tiêu kinh tế - xã hội. Do vậy, mục tiêu cụ thể của chính sách dân số và kế hoạch hóa gia
đình được đặt ra vào năm 1986 là phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1990 xuống 1,7%.
Duy trì mô hình gia đình ít con: Báo cáo năm 1986 đặt ra mục đích làm thay đổi tâm
lý, tập quán của nhân dân, nhất là nam nữ thanh niên đối với việc kế hoạch hóa gia đình,
chủ yếu để giảm tỷ lệ tăng dân số, tạo điều kiện tăng thu nhập mà chưa đặt ra vấn đề cân bằng giới tính khi sinh.
b. Bảo đảm an toàn xã hội, trật tự, kỷ cương trong đời sống xã hội
Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tế; bảo đảm an toàn xã hội,
nhanh chóng khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực hiện
sống và làm việc theo pháp luật. Nghiêm trị các phần tử làm ăn phi pháp.
c. Bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân
Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng công tác y tế và thể dục thể thao, nhất là
ở cơ sở, đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo vệ sức khỏe của nhân dân.
d. Chính sách bảo trợ xã hội
Thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến
sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng, công nhân, viên chức về hưu;
xây dựng và thực hiện từng bước chính sách bảo trợ xã hội xã hội chủ nghĩa đối với toàn
dân theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Đối với công nhân, viên chức, có chế độ tiền lương hợp lý, phúc lợi xã hội cần thiết
để bảo đảm đời sống vật chất và văn hoá cho người lao động và gia đình. 11
Đối với nông dân, giải quyết tốt quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ đóng góp cho
đất nước. Rà soát lại các chính sách có liên quan đến nông dân, bãi bỏ những chính sách không đúng.
Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho
các khả năng sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng. Tăng cường đầu tư và có chính sách cụ
thể về các mặt kinh tế - xã hội để phát huy khả năng của miền núi về xây dựng kinh tế, văn
hoá và chăm lo đời sống của đồng bào các dân tộc.
e. Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa
Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt nam sinh sống ở nước ngoài xây dựng khối
đoàn kết cộng đồng vừa hoà nhập vào xã hội, vừa liên hệ mật thiết, gắn bó với quê hương,
góp phần ngày càng nhiều vào công cuộc xây dựng đất nước.
Giáo dục: nâng cao chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có văn hoá, có kỹ
thuật, có kỷ luật và giàu tính sáng tạo, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân
công lao động của xã hội.
2.3. Đổi mới về chính sách đối ngoại
Đảng ta luôn chỉ rõ bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng, không một chút lơi
lỏng. Trong công cuộc đổi mới, cùng với quá trình đổi mới tư duy về kinh tế - xã hội mang
tính chất sáng tạo, cách mạng và khoa học, Đảng cũng luôn chăm lo xây dựng và từng bước
đổi mới hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Chính sách trong lĩnh
vực quân sự, quốc phòng, an ninh được đổi mới nhằm đáp ứng kịp thời với những đổi mới
trên các lĩnh vực khác nhau. Định hướng cho sự phát triển đất nước theo con đường xã hội
chủ nghĩa “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng,quyết tâm đem hết tinh thần
và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích
cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Mục đích: Tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia, “Toàn dân xây dựng đất nước và
bảo vệ Tổ quốc”, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước. Đề cao cảnh giác, tăng cường
Quốc phòng an ninh, chủ động trong mọi tình huống.
Nội dung: Bảo vệ Tổ quốc. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong
thời kỳ mới. Xây dựng, củng cố chiến lược quân sự, quốc phòng, phải luôn nắm vững
nguyên tắc chiến lược, có tinh thần đổi mới, linh hoạt, sáng tạo, luôn nắm chắc sự biến
động của các tình huống đất nước, đặc biệt tình huống xâm lược vũ trang có giới hạn và 12
chiến tranh hiện đại nếu xảy ra để xây dựng chiến lược Quân sự, Quốc phòng phù hợp với
thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại ngày nay.
2.4. Đổi mới về xây dựng Đảng
Xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt là nhân tố quan trọng quyết định sự phát
triển của cách mạng nước ta. Muốn sự nghiệp cách mạng của đất nước ngày càng đi lên thì
phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng để phù hợp với các giai đoạn cách mạng khác nhau.
Muốn đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trước hết cần phải đổi mới các yếu tố:
- Đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế; tăng cường công tác nghiên cứu lý
luận và thực tiễn, đút kết kinh nghiệm nhằm phục vụ thiết thực việc đổi mới tư duy, cụ thể
hóa kịp thời, đúng đắn các nghị quyết của Đảng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế - xã hội. Về tư duy kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã xác định coi việc phát triển kinh tế
là nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị. Hơn hết, Đại hội VI chủ
trương kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới,
áp dụng biện pháp kích thích sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ tình trạng chia cắt thị trường.
- Đổi mới phong cách làm việc, công tác tổ chức, giáo dục chính trị tư tưởng; xây
dựng độ ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới như là bồi dưỡng các cán bộ
có phẩm chất tốt và khả năng lãnh đạo thông qua đào tạo, học tập và các hoạt động thực tiễn.
- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ
vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
- Đổi mới công tác cán bộ, muốn làm tốt điều này, quan trọng hơn hết là phải biết
dựa vào nhân dân vì nhân dân sẽ tiến cử với Đảng những người có đủ đức, đủ tài mà Đảng
chưa nhìn rõ. Cũng chính nhân dân sẽ giúp Đảng phát hiện những người không xứng đáng
một cách chính xác. Dân chủ hóa công tác cán bộ là cách làm đúng đắn mà Đảng cần thực hiện.
- Giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Cụ thể là thực hiện nghiêm
túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của
các cấp ấy. Đẩy mạnh phê bình và tự phê bình đúng với ý nghĩa là quy luật phát triển của
Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và ý thức trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân
- Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trên cơ
sở hệ tư tưởng Mác – Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng. Chăm lo giữ gìn sự đoàn
kết trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở đó, tăng cường sự đoàn kết trong toàn
Đảng. Giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng. 13
- Nâng cao chất lượng Đảng viên và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Kiên
quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách Đảng viên, tăng cường công tác
giáo dục và công tác kiểm tra của Đảng. Đảng viên phải có những suy nghĩ và hành động
vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì lợi ích của cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, địa vị
tư lợi, chủ nghĩa cục bộ, địa phương, chống tham nhũng, đặc quyền đặc lợi. Những cán bộ,
Đảng viên không chăm lo lợi ích của nhân dân mà chỉ thu vén cho lợi ích cá nhân của mình
thì không xứng đáng đứng trong hàng ngũ Đảng.
- Ngoài ra Đảng cần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực
hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.
3. Tác động của đường lối đổi mới
3.1. Tác động về kinh tế
Đường lối đổi mới năm 1986 đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh
tế Việt Nam. Nổi bật nhất là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của các
thành phần kinh tế đa dạng, đặc biệt là kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, GDP
của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,34%/năm
trong giai đoạn 1991-2011. Quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần so với năm 1990 và
gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000. Đổi mới cũng giúp kiểm soát lạm phát hiệu quả, từ mức
lạm phát siêu cao 774% năm 1986 đã giảm xuống mức ổn định vào những năm sau đó. Về
thu hút đầu tư nước ngoài, từ năm 1988, Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài,
thu hút mạnh mẽ vốn FDI. Giai đoạn 2006-2010, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ
USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Nông nghiệp cũng là một trong những lĩnh vực được
hưởng lợi lớn từ đổi mới. Chính sách “khoán 10” đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất, đưa
Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới vào năm 1989.
3.2. Tác động về xã hội
Sự phát triển kinh tế từ đổi mới đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân.
Thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể, trong đó GDP theo giá thực tế năm 2010
đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ hơn 58%
vào năm 1993 xuống chỉ còn khoảng 10% vào năm 2010. Đổi mới cũng giúp mở rộng và
nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục và y tế. Tỷ lệ người biết chữ đạt trên 94% vào năm
2010, hệ thống y tế ngày càng được mở rộng, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế
hơn. Cơ cấu xã hội cũng có sự chuyển dịch tích cực, với sự hình thành và phát triển của các
tầng lớp xã hội mới, đặc biệt là tầng lớp doanh nhân và người lao động trong các ngành 14
công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng đặt ra thách thức về chênh
lệch giàu nghèo và an sinh xã hội.
3.3. Tác động về chính trị
Về mặt chính trị, đổi mới giúp củng cố và duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, tạo
nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định
vai trò lãnh đạo của mình, đồng thời thúc đẩy cải cách hành chính và hoàn thiện hệ thống
pháp luật. Chính sách đối ngoại được mở rộng theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa,
góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam thiết lập quan hệ
ngoại giao với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Những cải cách này không chỉ tạo động
lực cho sự phát triển kinh tế mà còn giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới. Hệ
thống pháp luật và bộ máy nhà nước được cải cách, hướng tới xây dựng một nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho mọi công dân.
3.4. Tác động về đối ngoại
Một trong những thành tựu nổi bật của đổi mới là mở rộng quan hệ đối ngoại. Đảng
và Nhà nước xác định rõ đường lối đối ngoại là “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ
quốc tế, lấy nguyên tắc độc lập, tự chủ làm nền tảng. Việt Nam từng bước phá thế bao vây
cấm vận, mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới.
Năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), mở ra thời kỳ hội nhập khu vực sâu rộng. Năm 2007, Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu bước ngoặt lớn trong
hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc
gia, mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức khu vực.
Sự mở rộng đối ngoại không chỉ giúp Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận
các thị trường lớn mà còn nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Đồng
thời, Việt Nam cũng thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng với các quốc gia láng giềng và
đối tác chiến lược, góp phần đảm bảo hòa bình, ổn định và phát triển lâu dài.
Tổng thể, đường lối đổi mới năm 1986 đã mang lại những thành tựu to lớn, toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị. Những thành tựu này không chỉ góp phần đưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định và phát triển mà còn tạo nền tảng vững chắc cho
công cuộc hội nhập quốc tế sâu rộng. Đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo
trong đường lối lãnh đạo của Đảng, đưa Việt Nam từng bước phát triển bền vững và nâng
cao vị thế trên trường quốc tế. 15 III. NHẬN XÉT 1. Nhận xét chung
Đường lối đổi mới được đề ra tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện
một bước ngoặt quan trọng trong tư duy lãnh đạo, đánh dấu sự chuyển biến từ mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Quyết
định này xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn, khi mô hình cũ bộc lộ những hạn
chế nghiêm trọng, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài.
Một trong những điểm đáng chú ý của đường lối đổi mới là tinh thần cầu thị, dũng
cảm nhìn nhận sai lầm và đề ra giải pháp khắc phục. Báo cáo chính trị tại Đại hội VI khẳng
định: “Những sai lầm trong nhận thức và tổ chức thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội đã làm chậm quá trình phát triển kinh tế, gây ra tình trạng trì trệ kéo dài” (Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ VI, 1986). Việc Đảng chính thức thừa nhận những bất cập của cơ chế
bao cấp, từ đó chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường, thể hiện tư duy đổi mới sâu sắc,
lấy thực tiễn làm cơ sở hoạch định chính sách.
Mặc dù tiếp thu cơ chế thị trường, Đảng vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, coi Nhà nước là chủ thể định hướng và điều tiết nền kinh tế. Văn kiện Đại hội VI
nhấn mạnh: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là tìm ra những
hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đó” (Văn kiện Đại hội VI,
1986). Điều này phản ánh cách tiếp cận thận trọng, linh hoạt của Đảng, vừa tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế phát triển, vừa duy trì vai trò lãnh đạo của Nhà nước nhằm bảo
đảm sự phát triển bền vững, hài hòa.
Bên cạnh đó, đường lối đổi mới tại Đại hội VI ưu tiên cải cách kinh tế trước, trong
khi chính trị vẫn giữ sự ổn định với mô hình một đảng lãnh đạo. Đây là một quyết sách
quan trọng nhằm đảm bảo trật tự xã hội trong giai đoạn chuyển đổi, tránh những biến động
lớn có thể gây mất kiểm soát. Chính sách “khoán 10” trong nông nghiệp (1988) là một minh
chứng rõ ràng cho hiệu quả của cách tiếp cận này, khi tạo ra bước đột phá, giúp Việt Nam
từ một nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Đường lối đổi mới đã mang lại những thay đổi sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời
sống. Về kinh tế, chính sách khoán sản phẩm giúp Việt Nam từ một nước thiếu lương thực
trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát
triển. Tuy nhiên, giai đoạn đầu cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tình trạng lạm phát cao
và những bất ổn trong quản lý kinh tế.
Về xã hội, đời sống nhân dân từng bước cải thiện nhờ sản xuất phát triển và các
chính sách an sinh xã hội. Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể, khu vực tư nhân phát triển mạnh, 16
tạo ra nhiều việc làm. Dù vậy, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt, đặc biệt giữa thành
thị và nông thôn, do sự chênh lệch về cơ hội phát triển.
Về đối ngoại, chính sách mở cửa giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng bị cô lập, mở
rộng quan hệ với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Việc bình thường hóa quan hệ với
Trung Quốc, gia nhập ASEAN và tham gia các tổ chức tài chính quốc tế tạo điều kiện thuận
lợi cho hội nhập kinh tế toàn cầu, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Nhìn chung, đường lối đổi mới tại Đại hội VI thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư
duy lãnh đạo của Đảng, đánh dấu bước chuyển từ mô hình kinh tế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dù còn nhiều hạn chế, đường lối đổi mới năm 1986
vẫn là bước đi tất yếu và quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển của Việt Nam trong những
thập kỷ sau. Qua các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, những bất cập của giai đoạn đầu đã từng
bước được khắc phục, giúp nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn, đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao. Đây là một minh chứng cho thấy đổi mới là một quá trình liên tục, đòi
hỏi sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế.
2. Những mặt hạn chế của đường lối đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã
đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong công cuộc phát triển đất nước. Đường lối đổi mới
được thông qua tại đại hội này tập trung vào việc chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, Việt
Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện, và
đất nước dần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quá trình đổi mới cũng gặp không ít khó khăn
và tồn tại nhiều hạn chế, cả về nhận thức, cơ chế chính sách, cũng như tác động xã hội.
2.1. Hạn chế về kinh tế
Đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu bước chuyển lịch sử trong công cuộc phát
triển đất nước. Tuy nhiên, quá trình này cũng gặp phải nhiều khó khăn và hạn chế về mặt
kinh tế. Trước hết, nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế thị trường là một trong những thách
thức lớn. Mặc dù Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng trong giai đoạn đầu, nhiều
nhà lãnh đạo vẫn mang nặng tư tưởng bao cấp cũ, lo ngại rằng việc áp dụng cơ chế thị
trường sẽ làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều này dẫn đến việc một số chính sách
được ban hành mang tính nửa vời, thiếu rõ ràng và nhất quán.
Bên cạnh đó, sự yếu kém trong quản lý nhà nước là một vấn đề nghiêm trọng. Quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi 17
sự thay đổi mạnh mẽ về cách thức quản lý. Tuy nhiên, bộ máy quản lý nhà nước vẫn còn
thiếu kinh nghiệm và năng lực điều hành. Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB),
Việt Nam vào những năm 1990 đối mặt với tình trạng chồng chéo trong quản lý, các cơ
quan quản lý nhà nước vận hành theo cơ chế cũ, gây cản trở cho các hoạt động kinh tế.
Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ cũng là một hạn chế lớn trong quá trình đổi mới.
Nhiều chính sách được ban hành nhưng thiếu sự nhất quán và đồng bộ trong thực thi, khiến
cho môi trường kinh doanh trở nên phức tạp và không minh bạch. Các thủ tục hành chính
phức tạp gây khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân và có vốn
đầu tư nước ngoài. Theo Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới năm
2020, Việt Nam xếp hạng 70/190 quốc gia về mức độ thuận lợi trong kinh doanh, cho thấy
vẫn còn nhiều rào cản cần được cải thiện.
Một vấn đề quan trọng khác là nguồn lực phát triển chưa được khai thác hiệu quả.
Dân số trẻ và dồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, thiếu sự đào tạo bài bản.
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn phổ biến, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền
núi. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Việt Nam trong
năm 2020 lên tới 7,1%, cao hơn mức trung bình của khu vực.
2.2. Hạn chế về xã hội
Trong quá trình đổi mới, những bất cập về mặt xã hội đã và đang trở thành một trong
những thách thức lớn mà Việt Nam cần giải quyết. Một trong những vấn đề nghiêm trọng
là sự gia tăng bất bình đẳng xã hội. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng sự
phân phối thu nhập không đều đã tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các
tầng lớp dân cư. Theo Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc (UNDP) năm 2019, hệ số Gini của Việt Nam đạt khoảng 0,373, cho thấy mức độ
chênh lệch thu nhập đáng kể.
Tham nhũng, tiêu cực cũng là một hạn chế nổi cộm. Trong quá trình chuyển đổi cơ
chế kinh tế, những kẽ hở trong quản lý đã tạo điều kiện cho tham nhũng, lãng phí và lợi ích
nhóm phát triển. Theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc
tế (Transparency International) năm 2020, Việt Nam xếp hạng 104/180 quốc gia, với số
điểm 36/100, phản ánh tình trạng tham nhũng vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa cũng đặt ra nhiều thách thức. Quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra sự giao thoa văn hóa, nhưng cũng đồng thời
dẫn đến sự mai một của các giá trị truyền thống. Hiện tượng chạy theo lối sống thực dụng,
xa rời những giá trị tốt đẹp của dân tộc ngày càng trở nên phổ biến.
Đồng thời, vấn đề đô thị hóa tự phát cũng gây ra nhiều hệ lụy. Quá trình đô thị hóa
diễn ra nhanh chóng nhưng thiếu quy hoạch hợp lý đã dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, 18
gây áp lực lớn lên hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm
2020, tỷ lệ dân số đô thị của Việt Nam đạt khoảng 37,7%, nhưng hệ thống hạ tầng chưa đáp
ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao.
2.3. Hạn chế về đối ngoại
Trong quá trình đổi mới, lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam cũng gặp phải nhiều thách
thức cần giải quyết. Trước hết, năng lực hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế. Mặc dù Việt
Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2007 và tham gia nhiều
hiệp định thương mại tự do (FTA), nhưng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn còn
thấp. Theo Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới
(WEF) năm 2019, Việt Nam xếp hạng 67/141 quốc gia, cho thấy còn nhiều điểm cần cải thiện.
Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ,
EU đặt ra nguy cơ về an ninh kinh tế khi các thị trường này biến động. Trong năm 2020,
đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Sự thiếu đa dạng hóa trong các đối tác
thương mại là một vấn đề cần được khắc phục.
3. Bài học kinh nghiệm
Từ sau Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng sự nghiệp đổi
mới toàn diện nhằm khắc phục khó khăn, khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 35 năm thực hiện, quá trình đổi mới đã thu
được những thành tựu rất quan trọng, để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc.
Đầu tiên, về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị luôn được
triển khai quyết liệt, đồng bộ, thường xuyên và toàn diện trên tất cả các mặt: chính trị, tư
tưởng, đạo đức, tổ chức. Đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức
chiến đấu của mình, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ và hệ thống chính trị.
Bên cạnh đó, Đảng chú trọng củng cố, nâng cao hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đặc biệt, công tác cán bộ được xác
định là “then chốt của then chốt”, đảm bảo tiêu chí về phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ, đồng thời yêu cầu cao hơn về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Thứ hai, một bài học quan trọng được rút ra là Đảng và Nhà nước luôn quán triệt
sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân. Việc thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng” giúp tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tạo điều
kiện cho nhân dân phát huy vai trò trung tâm trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ 19
đất nước. Đặc biệt, việc lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu đã trở
thành kim chỉ nam quan trọng trong mọi quyết sách của Đảng và Nhà nước.
Thứ ba, thực tế cho thấy, thành công của công cuộc đổi mới có được nhờ quyết tâm
chính trị cao, hành động quyết liệt, sáng tạo và linh hoạt của Đảng. Đảng luôn coi trọng
phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đồng
thời kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Công tác tổng kết, đánh giá, nghiên cứu lý
luận và thực tiễn được thực hiện nghiêm túc nhằm đưa ra những quyết sách đúng đắn, tạo
ra những đột phá chiến lược trong phát triển đất nước.
Thứ tư, việc xây dựng đồng bộ thể chế phát triển được xác định là nhiệm vụ quan
trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Đảng đã chú trọng cân bằng giữa
đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa
phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng - an ninh. Cùng với đó, cơ chế
kiểm soát quyền lực được hoàn thiện để bảo đảm sự minh bạch, công bằng, khắc phục
những hạn chế trong bộ máy quản lý, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.
Cuối cùng, bài học về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đảng đã thể hiện sự chủ
động trong nghiên cứu, dự báo tình hình, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ.
Việc kiên trì bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc song song với giữ gìn môi trường hòa bình,
ổn định đã giúp đất nước hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu mà vẫn đảm bảo được lợi
ích quốc gia, dân tộc. Đồng thời, Đảng cũng đẩy mạnh phát huy sức mạnh tổng hợp của đất
nước và sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn ổn định chính trị và an ninh quốc gia.
Những bài học kinh nghiệm trên đã góp phần quan trọng vào thành công của quá
trình đổi mới ở Việt Nam, là kim chỉ nam để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước đi lên, thực
hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới. 20