



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTTKT & TMĐT 🙠🙠🙠🕮🙢🙢🙢 BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về hội nghị Paris (1968 – 1973) và Hiệp định Paris 1973 về
chấm dứt chiến tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam. Rút ra nhận xét. Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thắm Lớp học phần :231HCMI013111 Nhóm thực hiện : Nhóm 06 Hà Nội, tháng 9 năm 2023
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 6
1.1. Tình hình thế giới.....................................................................................................5 1.1.1
Chiến tranh Việt Nam và sự căng thẳng quốc tế:.............................................5 1.1.2.
Cuộc đua vũ trang và động thái quân sự:.........................................................6 1.1.3.
Phong trào hòa bình và phản đối chiến tranh:.................................................6
1.2. Tình hình trong nước..................................................................................................7
1.3. Yêu cầu đặt ra.............................................................................................................9
II: HỘI NGHỊ PARIS (1968-1973)......................................................................................9
2.1. Diễn biến hội nghị.......................................................................................................9
2.1.1. Thời gian và địa điểm tổ chức hội nghị................................................................9
2.1.2. Các bên tham gia Hội nghị..................................................................................10
2.1.3. Quá trình đàm phán............................................................................................11
2.2. Khó khăn và thách thức...........................................................................................14
2.2.1: Sự bất đồng giữa các bên về điều kiện hiệp định...............................................15
2.2.2. Sự can thiệp của các quốc gia khác và sự phân cực trong cuộc chiến..............16
2.3. Kết quả và ý nghĩa....................................................................................................17
III: HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẶP LẠI HÒA
BÌNH Ở VIỆT NAM...........................................................................................................18
3.1. Nội dung toàn văn.....................................................................................................18
3.2. Nội dung cơ bản........................................................................................................26
IV: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM NGOẠI GIAO.......................................26
4.1. Ý nghĩa lịch sử...........................................................................................................26
4.2. Bài học kinh nghiệm về ngoại giao..........................................................................27
KẾT LUẬN..........................................................................................................................28 LỜI MỞ ĐẦU
Thập kỷ 1960 và 1970 đã chứng kiến một trong những sự kiện lớn nhất trong lịch sử
hiện đại của Việt Nam - Hội nghị Paris và Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh.
Trong suốt mười ba năm của cuộc chiến này, Việt Nam đã trở thành biểu tượng của
sự đối đầu giữa hai ảnh hưởng lớn trên thế giới - Hoa Kỳ và Liên Xô. Cuộc chiến tranh này
không chỉ gây ra những thay đổi chính trị, xã hội và văn hóa sâu sắc ở Việt Nam mà còn tác
động đến cả hai quốc gia lớn này và toàn cầu. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris năm 1973
đã đánh dấu sự cố gắng mạnh mẽ để đưa ra giải pháp cho cuộc chiến tranh ác liệt tại Đông
Nam Á. Trong phần thảo luận này, chúng ta sẽ đi sâu vào việc tìm hiểu về nguyên nhân, diễn
biến, và hậu quả của Hội nghị Paris, cùng với những điểm chính của Hiệp định Paris 1973.
Chúng ta cũng sẽ xem xét những tác động của cuộc hòa giải này đến Việt Nam và khu vực
Đông Nam Á, cũng như vai trò quan trọng của các bên tham gia trong quá trình này.
Cuộc hội nghị và Hiệp định Paris không chỉ là một phần quan trọng trong lịch sử Việt
Nam mà còn là một bài học quý báu về ngoại giao, chính trị và hòa bình thế giới. Chúng ta
hãy cùng nhau khám phá chi tiết của những sự kiện này để hiểu rõ hơn về tầm ảnh hưởng
của chúng và những bài học mà chúng ta có thể rút ra từ chúng.
I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC THỀM HỘI NGHỊ PARIS 1.1. Tình hình thế giới
Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa ta và Mỹ hết sức
phức tạp. Sự đối đầu giữa hai hệ thống xã hội trên thế giới, giữa hai thái cực Liên Xô và Mỹ
rất sâu sắc và toàn diện, thể hiện ở cuộc chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí hạt nhân. Nhân
dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhiều giới chính trị, kinh tế, xã hội ở các nước đế
quốc lo ngại chiến tranh khu vực phát triển thành chiến tranh thế giới. Do đó dư luận rộng
rãi trên thế giới một mặt ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của Nhân dân Việt Nam chống đế
quốc Mỹ xâm lược, mặt khác mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng để giải
quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hòa bình. Trong khi đó, phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế cũng như hệ thống xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu thuẫn bất đồng.
1.1.1 Chiến tranh Việt Nam và sự căng thẳng quốc tế:
Cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đặc biệt sau sự tăng cường tham gia của Mỹ từ năm
1965, đã đẩy tình hình thế giới vào một giai đoạn căng thẳng. Mỹ và các đồng minh châu Á
của họ đã đối đầu trực tiếp với Việt Cộng và Việt Nam Bắc, trong khi Liên Xô và Trung
Quốc hỗ trợ Việt Nam Bắc. Cuộc chiến tranh tại Việt Nam trở thành một biểu tượng của
chiến tranh Lạnh và gây chia rẽ trong cộng đồng quốc tế.
Tăng cường tham gia của Mỹ: Vào năm 1965, Mỹ đã tăng cường tham gia vào cuộc
chiến tranh tại Việt Nam sau vụ tấn công Bãi biển Vũng Tàu và trong bối cảnh sự gia
tăng của lực lượng Cộng sản miền Nam, hay còn gọi là Việt Cộng. Sự tăng cường này
bắt đầu với việc triển khai quân đội và không kích quân sự.
Liên Xô và Trung Quốc: Trong khi Mỹ và các đồng minh của họ ủng hộ chính phủ
Nam Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc đã hỗ trợ mạnh mẽ cho Việt Nam Bắc và
Việt Cộng. Liên Xô cung cấp vũ khí và hỗ trợ kỹ thuật, trong khi Trung Quốc cung
cấp lực lượng tình báo và quân sự cho phía Bắc.
Chia rẽ trong cộng đồng quốc tế: Cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã gây ra sự chia rẽ
lớn trong cộng đồng quốc tế. Một số quốc gia, như Liên minh Quân đội Quốc tế (gồm
Mỹ và các đồng minh), ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam, trong khi những nước khác,
đặc biệt là trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ Việt Nam Bắc và Việt Cộng.
Các cuộc biểu tình và phản đối: Cả Mỹ và nhiều nước khác đã chứng kiến nhiều cuộc
biểu tình và phản đối lớn chống cuộc chiến tranh. Các cuộc biểu tình này đã diễn ra ở
nhiều thành phố lớn và tại các trường đại học. Những người tham gia vào phong trào
phản chiến tranh thường đòi hỏi chấm dứt chiến tranh và rút quân Mỹ khỏi Việt Nam.
Tóm lại, trong giai đoạn từ 1965 đến 1968, trước khi diễn ra Hội nghị Paris, cuộc
chiến tranh tại Việt Nam đã đẩy tình hình thế giới vào một giai đoạn căng thẳng và chia
rẽ. Sự gia nhập của Mỹ và sự tham gia của các quốc gia khác đã biến cuộc chiến này
thành một biểu tượng của chiến tranh Lạnh và tạo ra nhiều tác động quốc tế.
1.1.2. Cuộc đua vũ trang và động thái quân sự:
Trong bối cảnh chiến tranh Lạnh, cả Mỹ và Liên Xô tiếp tục tham gia vào cuộc đua vũ
trang và tăng cường sự hiện diện quân sự của họ trên khắp thế giới. Cả hai phe tiến hành thử
nghiệm vũ khí hạt nhân và phát triển vũ khí quân sự cường độ cao, tạo ra một tình hình đầy rủi ro.
Thử nghiệm vũ khí hạt nhân: Trong giai đoạn này, cả Mỹ và Liên Xô tiếp tục thử
nghiệm và phát triển vũ khí hạt nhân. Cả hai phe thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm hạt
nhân trên lục địa và trên biển, tạo ra một sự căng thẳng rất lớn và lo ngại về sự lan
truyền của vũ khí hạt nhân.
Cuộc đua vũ khí truyền thống: Cuộc đua vũ trang cũng bao gồm phát triển và triển
khai các vũ khí truyền thống như tên lửa, máy bay chiến đấu, và tàu chiến. Cả hai phe
đã đầu tư lớn vào việc phát triển và cải tiến các loại vũ khí này, tạo ra sự cạnh tranh về quyền lực quân sự.
Tóm lại, trước Hội nghị Paris, cuộc đua vũ trang và động thái quân sự của Mỹ và
Liên Xô diễn ra trong bối cảnh căng thẳng của chiến tranh Lạnh. Cuộc đua này tạo ra một
tình hình đầy rủi ro và tăng cường căng thẳng quốc tế, đặc biệt là trong việc phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân.
1.1.3. Phong trào hòa bình và phản đối chiến tranh:
Khắp nơi trên thế giới, có sự gia tăng của phong trào hòa bình và phản đối chiến
tranh. Các cuộc biểu tình và cuộc thảo luận về hòa bình đã diễn ra trên khắp các quốc
gia, đặc biệt là tại các trường đại học và trong giới trẻ. Những biểu tình và sự phản
đối này thúc đẩy nhiều người trên khắp thế giới cùng đặt câu hỏi về tính hợp lý của
cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Cuộc biểu tình và phản đối: Khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia tham
gia vào chiến tranh và trong các quốc gia phương Tây, đã xảy ra nhiều cuộc biểu tình
lớn và cuộc thảo luận về hòa bình. Những người tham gia vào cuộc biểu tình thường
ra đường để đòi hỏi chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và thúc đẩy hòa bình.
Phong trào hòa bình của giới trẻ: Giới trẻ đóng một vai trò quan trọng trong phong
trào hòa bình. Tại các trường đại học và trong giới trẻ, sinh viên và học sinh đã tổ
chức cuộc biểu tình và thảo luận về hòa bình. Những phong trào này thường có tính
chất tình nguyện và mang tính sáng tạo.
Cuộc thảo luận và hội thảo về hòa bình: Ngoài các cuộc biểu tình, các cuộc thảo luận
và hội thảo về hòa bình đã diễn ra trên khắp thế giới. Những cuộc thảo luận này đã
giúp nâng cao nhận thức về hậu quả của chiến tranh và tạo điều kiện cho sự đối thoại
về cách thúc đẩy hòa bình và ngăn chặn chiến tranh.
Tác động quốc tế: Phong trào hòa bình đã có tác động quốc tế, khiến nhiều quốc gia
và lãnh đạo thế giới phải chấp nhận những thách thức đòi hỏi họ phải hòa giải và tìm
kiếm giải pháp hòa bình.
Tóm lại, phong trào hòa bình và phản đối chiến tranh trong giai đoạn trước Hội
nghị Paris là một phản ứng mạnh mẽ trên toàn cầu đối với cuộc chiến tranh tại Việt
Nam và các xung đột quốc tế. Nó đã tạo ra áp lực quốc tế và đã thúc đẩy các cuộc
đàm phán hòa bình và chấm dứt chiến tranh.
Tóm lại, trước khi diễn ra Hội nghị Paris, tình hình thế giới đang trong giai đoạn căng
thẳng với cuộc chiến tranh Việt Nam là một trong những yếu tố chính tạo ra căng thẳng và
phản đối quốc tế. Phong trào hòa bình và cuộc đua vũ trang đang xác định hình ảnh của thế
giới và tạo nên một bối cảnh rất phức tạp. 1.2. Tình hình trong nước a) Ở miền Nam
Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã ào ạt đưa quân Mỹ và quân các nước chư
hầu vào miền Nam tiến hành cuộc “Chiến tranh cục bộ” với quy mô lớn đã làm tương quan
lực lượng trở nên bất lợi cho ta.
Vào đầu mùa khô 1965-1966, bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã huy động 70 vạn quân, trong đó
có gần 20 vạn quân Mỹ, mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất vào ba hướng chính:
Tây Nguyên, đồng bằng Khu V và miền Đông Nam Bộ, bao gồm cả vùng ngoại thành Sài
Gòn. Mục tiêu của cuộc tấn công này là “tìm diệt” quân giải phóng, giành lại quyền chủ
động chiến trường, “bình định” các vùng nông thôn, đồng bằng quan trọng trong địa bàn nói trên.
Quân, dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
của Mỹ và tay sai, đánh thắng quân chiến đấu Mỹ ở Nhi Thành (5/1965), Vạn Tường
(8/1965), Plâyme (11/1965),... Đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965- 1966
và 1966-1967, làm thất bại kế hoạch “tìm diệt” và “bình định” nhằm giành quyền chủ động
trên chiến trường của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Phong trào đấu tranh chính trị vẫn tiếp tục phát triển với mức độ ngày càng quyết liệt ở
hầu khắp các thành thị miền Nam, nhất là ở Huế và Đà Nẵng, với các khẩu hiệu đòi lật đổ
chính phủ bù nhìn tay sai Mỹ, đòi Mỹ cút khỏi Việt Nam.
Kết hợp với những thắng lợi về quân sự và chính trị, 28/1/1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban
Chấp hành Trung Ương Đảng khóa III đã quyết định mở một trận ngoại giao nhằm tranh thủ
sự ủng hộ quốc tế, bè bạn, mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ.
Với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ phá sản. Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại
miền Bắc, thực hiện hội nghị đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà (ngày 13/5/1968), và sau đó với đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 25/1/1969).
Từ phiên họp đầu tiên (ngày 13/5/1968) đến khi đạt được dự thảo Hiệp định Pari về Việt
Nam (tháng 10/1972), Hội nghị bốn bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Chính phủ
cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) ở Pari đã trải qua 202
phiên họp chung công khai và 24 cuộc tiếp xúc riêng trong thời gian 4 năm 9 tháng.
Sau nhiều cuộc tiếp xúc, lập trường hai bên rất khác nhau, mâu thuẫn nhau: Việt Nam đòi
Mỹ và đồng minh rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, đòi tôn trọng các quyền dân tộc cơ
bản và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Ngược lại, Mỹ đòi miền Bắc rút quân và từ
chối ký dự thảo Hiệp định dù đã thỏa thuận (10/1972). b) Ở miền Bắc
Tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ tháng
11/1968, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn hạn nhằm khắc
phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường lực lượng cho miền Nam.
Trong chiến đấu, quân, dân miền Bắc đã bắn rơi 3200 máy bay, bắn cháy 140 tàu chiến
của địch. Nhiệm vụ chi viện tiền tuyến được hoàn thành xuất sắc, góp phần cùng quân, dân
miền Nam đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ (1965-1968). Chỉ tính
riêng trong năm 1967, đã có hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ được tổ chức biên chế thành từ
trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật bổ sung cho các chiến trường Trị Thiên,
Khu V, Tây Nguyên, Nam bộ, nâng tổng số quân giải phóng miền Nam lên 200.000 quân
chủ lực và 57.000 quân địa phương không kể đến lực lượng dân quân, du kích, tự vệ.
Từ năm 1969 đến năm 1972, tình hình khôi phục kinh tế và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
xã hội có nhiều chuyển biến tốt đẹp trên nhiều mặt. Trong nông nghiệp, năm 1969 diện tích
các loại đất trồng đều vượt năm 1968. Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp bị địch đánh
phá được khôi phục, sửa chữa. Hệ thống giao thông, cầu phà, bến bãi được khẩn trương khôi
phục và xây dựng thêm. Giáo dục, y tế có bước phát triển thêm so với trước.
Trong 9 tháng chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, quân dân miền Bắc đã
bình tĩnh, sáng tạo, vừa sản xuất vừa chiến đấu; nhất là trong 12 ngày đêm cuối năm 1972,
lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại của
Mỹ. Riêng trong 12 ngày đêm (Từ ngày 18 đến ngày 30/12/1972) đánh trả cuộc tập kích
chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng, quân và dân miền Bắc đã
bắn rơi 84 máy bay, trong đó có 34 máy bay B.52 và 5 máy bay F.111A, bắt 43 giặc lái.
Ngày 15/1/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động phá hoại miền Bắc và
trở lại bàn đàm phán ở Paris. 1.3. Yêu cầu đặt ra
a) Tình hình trên đã đặt ra yêu cầu cho Đảng ta trong việc xác định quyết tâm và đề ra
đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhằm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải
phóng miền Nam, thống nhất Đất nước.
b) Đảng ta nhận định Mỹ buộc phải Mỹ hóa cuộc chiến tranh vì chúng đang ở thế bị
động về chiến lược mặc dù Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân vào đánh và
An Nghiệp miền Bắc nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn.
c) Ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất
nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cũng như thủ đoạn đàm phán Hòa Bình và hiệu của Mỹ
d) Xây dựng hậu phương trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, giữ
vững thế chiến lược tiến công đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ (1965-1968):
Đảng kịp thời xác định chủ trương nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc cho phù hợp
với yêu cầu mới trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh: Một là, kịp thời chuyển
hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến tranh; Hai là, tăng cường
lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả nước có chiến tranh; Ba
là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường
miền Nam; Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới
Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và phương tiện chiến
tranh hiện đại và miền Nam, đồng thời tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa
khô 1965-1966 và 1966-1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình
định” vào “Đất thánh Việt Cộng”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, diễn ra đồng loạt
trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược
của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (Tết
Mậu Thân) đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, là một đòn tiến
công chiến lược đánh tận hang ổ của kẻ thù. Đây là trận chiến có bước ngoặt, khởi
đầu quá trình đi đến thất bại hoàn toàn của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” của Mỹ phá sản, buộc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với Việt
Nam tại hội nghị Paris từ 13/5/1968
II: HỘI NGHỊ PARIS (1968-1973)
2.1. Diễn biến hội nghị
2.1.1. Thời gian và địa điểm tổ chức hội nghị a) Thời gian
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một chủ trương táo bạo và
sáng tạo của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ. Đây là trận
chiến lược có tính bước ngoặt, khởi đầu quá trình đi đến thất bại hoàn toàn của Mỹ và ngụy
quyền Sài Gòn. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ phá sản, Mỹ buộc phải
chấp nhận đàm phán với Việt Nam tại hội nghị Paris từ ngày 13/5/1968.
Hội nghị Paris có thời gian đàm phán dài nhất trên thế giới, 4 năm 8 tháng 16 ngày -
bắt đầu ngày 13/5/1968 và Hiệp định được ký ngày 27/01/1973. Quá trình Hội nghị gồm 201
phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1000
cuộc phỏng vấn và nhiều phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới. Thời
gian đàm phán ký kết hiệp định Paris kéo dài đến gần 5 năm do nhiều nguyên nhân chính trị,
bối cảnh lịch sử phức tạp và diễn biến khó lường của chiến trường. b) Địa điểm
Hội nghị Paris là cuộc đấu tranh ngoại giao gian khổ, dài nhất và khó khăn nhất của
nhân dân Việt Nam. Ngay từ việc tìm địa điểm họp hội nghị cũng mất thời gian. Mỹ đề nghị
Vientiane, Tokyo, sau đó Bangkok... Việt Nam thì chọn Phnompenh, Warsaw... nhưng
không thống nhất được với nhau. Cuối cùng chúng ta đề xuất Paris và Mỹ đã chấp thuận.
Paris có vị trí đặc biệt, là trung tâm về chính trị, văn hóa, kinh tế của phương Tây. Khi ta
chọn Paris, Pháp rất hoan nghênh, hứa sẽ tạo mọi điều kiện để Hội nghị diễn ra tốt đẹp, đặc
biệt là bảo đảm an ninh cho các đoàn.
Paris là trung tâm báo chí không chỉ của châu Âu mà của cả thế giới. Không ở đâu có
khả năng tập hợp dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, nơi có thể ví là đầu
não của thông tin thế giới lúc bấy giờ. Pháp có nền báo chí lớn, trong đó nhiều báo chí có
cảm tình với Việt Nam. Điều này đã giúp Việt Nam tận dụng được Paris như là một đầu não
thông tin quốc tế để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tranh thủ dư luận của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.
2.1.2. Các bên tham gia Hội nghị
Ngày 13-5-1968, Hội nghị Paris diễn ra giữa hai bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(VNDCCH) và Hoa Kỳ. Phái đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do
Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị làm
Cố vấn. Trong thời kỳ đầu của cuộc đàm phán lập trường của Mỹ là: cần có sự tham gia của
phái đoàn Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn
pháo hay tên lửa vào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Phía Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) phản đối những đòi hỏi đó và đòi Mỹ chấm dứt không
điều kiện việc ném bom và để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
(MTDTGPMNVN) tham gia hội đàm.
Tháng 1/1969, Mỹ phải chấp nhận cuộc đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa tại Paris, có sự tham gia của bốn bên tham chiến để giải quyết vấn đề miền
Nam Việt Nam; Hội nghị bốn bên gồm đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, làm Trưởng đoàn; Hoa Kỳ
với Henry Kissinger dẫn đầu và Việt Nam cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) đại diện là ông Nguyễn Văn Lắm. 2.1.3. Quá trình đàm phán a) Giai đoạn 1968-1972
Từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam, thế chân
thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Việt Nam một lần nữa
trải qua cuộc chiến tranh trường kỳ, bền bỉ chống Mỹ để đi tới việc ký kết Hiệp định Pari, ngày 27 tháng 1 năm 1973 *Năm 1968:
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân Việt Nam ở
miền Nam, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn phải tuyên bố đơn phương ngừng
đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử
người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pari.
Ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại
diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với Mỹ việc Mỹ chấm dứt không
điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện.Tuy nhiên phải mất 30 ngày, hai bên mới thỏa thuận,
thống nhất được địa điểm họp ở Paris theo sáng kiến của Việt Nam.
Ngày 13-5-1968, Hội nghị Paris giữa 2 bên khai mạc. Do lập trường cương quyết của
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mỹ buộc phải ngồi nói chuyện chính thức với Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và từ tháng 6-1969 là Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Hội nghị hai bên ở Pari sau nhiều phiên họp trong năm 1968 vẫn không giải quyết
được vấn đề cơ bản, nhưng đã mở đầu cho một thời kỳ Việt Nam tiến công trực diện Mỹ về
ngoại giao trên bàn hội nghị. Trong quá trình đấu tranh đó, phái đoàn Việt Nam luôn khẳng
định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt
Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam,
hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ; đòi Mỹ rút quân và chư hầu ra khỏi Việt
Nam; chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam; từ bỏ ngụy
quân Sài Gòn; đáp ứng lập trường của Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. *Năm 1969:
Ngày 18-1-1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pari về Việt Nam khai mạc tại
phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Pari. Bốn đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn
đã bản việc chuẩn bị cho phiên họp toàn thể lần thứ nhất. Lập trường bốn bên, mà thực chất
là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các
cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương
lượng. Ngày 25-1-1969, khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị bốn bên về
Việt Nam ở Pari mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”.
Trong quá trình đàm phán, ngày 8-5-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam đưa ra giải pháp hoà bình Mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam. Đây là giải
pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị bốn bên.
Ngày 6/6, Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ngày 8/6, Mỹ tuyên bố bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam từ tháng 7-1969.
Ngày 12/6, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam
tham dự phiên họp đầu tiên tại Hội nghị với tư cách là những người đại diện Chính phủ Cách
mạng lâm thời, thay thế Mặt trận.
Ngay trong tháng 6/1969, Tổng thống Mỹ Nixon công bố đợt rút quân đầu tiên. Trong
tháng 8/1969, bắt đầu các cuộc gặp riêng giữa ông Xuân Thủy và Cố vấn An ninh quốc gia
Mỹ Kissinger, chủ yếu là để thăm dò sơ bộ. *Năm 1970:
Ngày 21/2, diễn ra cuộc gặp riêng đầu tiên giữa ông Lê Đức Thọ - ông Xuân Thủy và ông Kissinger tại Paris.
Ngày 14/9, đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt
Nam đưa ra tuyên bố “8 điểm” về giải pháp cho vấn đề Việt Nam.
Ngày 17/9, tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris, Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đưa ra giải pháp “8 điểm - nói rõ thêm” về một giải
pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, trong đó có việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng một
thời hạn, thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền nam Việt Nam không có Thiệu - Kỳ - Khiêm.
Ngày 18/10, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra “Đề nghị 5 điểm” mà không đòi quân
miền bắc rút khỏi miền nam Việt Nam.
Ngày 10/12, tại phiên họp toàn thể lần thứ 94 Hội nghị Paris, bà Nguyễn Thị Bình đưa ra
“Tuyên bố 3 điểm” về ngừng bắn và yêu cầu quân Mỹ rút khỏi miền nam vào ngày 31/7/1971. *Năm 1971:
Ngày 31/5, tại cuộc gặp riêng với Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa Xuân Thủy, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” 7 điểm, đòi
tách riêng vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ định bàn cả hai.
Để tăng sức ép với Mỹ và hỗ trợ đấu tranh quân sự và chính trị, ngày 26/6, trong cuộc
gặp riêng ông Lê Đức Thọ - ông Kissinger, phía Việt Nam đưa ra “Sáng kiến hòa bình 9
điểm” tập trung vào việc đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 1/7, trong phiên họp thứ 119 của Hội nghị 4 bên, bà Nguyễn Thị Bình trình bày
“Sáng kiến mới gồm 7 điểm, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền nam Việt Nam”. Đề
nghị 7 điểm là đề nghị quan trọng thứ hai (sau đề nghị 10 điểm tháng 5/1969) được đưa ra
tại bàn đàm phán; được dư luận rộng rãi đồng tình và chính giới Mỹ quan tâm. Sáng kiến “9
điểm” và “7 điểm” gần như có cùng một nội dung là đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân và
lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu.
Ngày 16/8, ông Kissinger đưa ra “Đề nghị 8 điểm”. Về cơ bản, Mỹ vẫn giữ lập
trường cũ: không muốn giải quyết toàn bộ mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự để lấy được tù binh về.
Trong thời gian này, trên chiến trường cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách
giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực
cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên
bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch
Đường 9 – Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong năm 1971; các chiến dịch
tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ.
trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - Ngụy bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến
lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.
=> Những năm 1968 - 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến
trường cũng như tại bàn đàm phán. Đàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận
được thất bại của chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, nhất là sau thắng lợi của ta ở đường
9 Nam Lào và trong chiến dịch Đông Xuân 1971 - 1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn. b) Giai đoạn 1972-1973 *Năm 1972
Ngày 2/2, để tăng sức ép với Mỹ và phối hợp với các hoạt động quân sự đang được
chuẩn bị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam ra tuyên bố “2 điểm
nói rõ thêm” trong giải pháp 7 điểm ngày 01/7/1971.
Thứ nhất, nếu Hoa Kỳ xác định được thời hạn rút quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh
khỏi MNVN thì thời điểm rút hết quân sẽ là thời điểm bắt đầu trao trả tù binh của hai
bên (nghĩa là không cần chờ đến khi Hiệp định Paris được ký kết).
Thứ hai, không yêu cầu thay đổi chế độ hiện hữu ở miền Nam Việt Nam mà chỉ yêu
cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay.
Tuy nhiên, trong sự lạc quan vào kết quả của chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”,
ngày 24-3-1972, trong phiên họp thứ 147, phái đoàn Hoa Kỳ phá hoại Hội nghị Paris bằng
hành động đơn phương ngừng đàm phán vô thời hạn.
Ngày 30/3, Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Quảng trị ra Mệnh lệnh số 1,
chính thức phát động tiến công Xuân – Hè năm 1972 tại địa phương, đánh địch trên 5 mặt
trận lớn từ Trị Thiên đến đồng bằng Cửu Long. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của
chính quyền Nixon thất bại một bước nghiêm trọng. Thắng lợi của đợt tấn công chiến lược
xuân - hè 1972 đã phục vụ tích cực cho đấu tranh chính trị và ngoại giao, và nhất là đưa đàm
phán Paris đi vào thực chất từ tháng 7/1972.
Tháng 7-1972, sự lên án mạnh mẽ của dư luận, cùng những thiệt hại nặng nề sau cuộc
tổng tiến công Xuân – Hè của Quân Giải Phóng, Hoa Kỳ buộc phải trở lại bàn đàm phán tại
Paris sau 10 tuần ngưng đàm phán.
Ngày 13/7, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể 4 bên ở Paris. Từ tháng 7 đến
tháng 9/1972, đã diễn ra 4 cuộc gặp riêng, Việt Nam đã lần lượt đưa ra 3 đề nghị, Mỹ đưa 4
đề nghị. Việt Nam muốn có một hình thức chính quyền liên hiệp; Mỹ muốn giữ chính quyền
Sài Gòn, giải quyết vấn đề nội bộ miền nam trong khuôn khổ chế độ chính quyền Sài Gòn.
Tại phiên họp ngày 8/10 - Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự
quyết của nhân dân miền nam”. Sức mạnh tấn công, tháo gỡ bế tắc của bản dự thảo Hiệp
định 8/10 là ở chỗ tạm gác nhiều vấn đề chính trị nội bộ miền nam, “giải quyết theo 2 bước”,
không đòi xóa chính quyền Sài Gòn và gạt Thiệu.
Ngay trong chiều 9/10, phía Mỹ đưa ra một phản đề nghị dưới dạng dự thảo hiệp
định, trong đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu. Tuy nhiên,
cuộc đàm phán vẫn diễn ra gay gắt và kéo dài. Ngày 20/10, 2 bên đạt được thỏa thuận cuối
cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra là
Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền nam Việt Nam.
Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật
lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo.Ngay sau khi ông
Nixon trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, phía Mỹ lại nêu ra nhiều trở ngại để trì hoãn việc ký
Hiệp định. Tuy nhiên dưới sức ép của dư luận quốc tế, đợt đàm phán mới bắt đầu từ ngày
20/11. Ngay phiên đầu tiên, Mỹ đã đòi sửa 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày
20/10/1972, tức là hầu hết các chương của Hiệp định bao gồm nhiều vấn đề thực chất. Phía
Việt Nam phê phán gay gắt các đề nghị của Mỹ, phiên họp ngày 12-13/12 gặp bế tắc.
Ngày 18/12, chính quyền Nixon tổ chức chiến dịch đánh phá bằng máy bay chiến
lược B52 với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh không quân ở miền bắc Việt
Nam nhằm gây tổn thất lớn nhất có thể, ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận điều kiện
của Mỹ tại bàn đàm phán Paris. Quân và dân Việt Nam kiên quyết giáng trả, đập tan cuộc
tập kích bằng không quân chiến lược 12 ngày đêm của Mỹ, làm nên chiến thắng lịch sử
“Điện Biên Phủ trên không”. Bị thất bại nặng nề, ngày 30/12, Mỹ buộc phải đơn phương
tuyên bố ngừng ném bom miền bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. * Năm 1973
Ngày 8/1, vòng đàm phán cuối cùng diễn ra tại Paris. Ngày 13/1, các bên hoàn thành
văn bản của Hiệp định; những đợt gặp riêng giữa ông Lê Đức Thọ - ông Xuân Thủy và ông
Kissinger kết thúc. Ngày 23/1, Mỹ chấp nhận ký Hiệp định Paris không điều kiện; ông Lê
Đức Thọ và ông Kissinger tiến hành ký tắt Hiệp định và 4 nghị định thư.
Ngày 27/1, đại diện 4 bên dự Hội nghị Paris là ông Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa), bà Nguyễn Thị Bình (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
nam Việt Nam), ông W. Rogers (Mỹ) và ông Nguyễn Văn Lắm (chính quyền Sài Gòn) đã
chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; và 4
nghị định thư liên quan.
Ngày 28/1, ngừng bắn trên toàn miền nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành.
2.2. Khó khăn và thách thức
2.2.1: Sự bất đồng giữa các bên về điều kiện hiệp định
Ngày 8-5-1969, nhằm khẳng định vai trò của MTDTGP miền Nam Việt Nam, đập tan
chiến thuật đàm phán hai phe của Hoa Kỳ, Trưởng phái đoàn MTDTGPMNVN, ông Trần
Bửu Kiếm công bố giải pháp hòa bình 10 điểm, trong đó nêu rõ các giải pháp cho hòa bình
bằng việc rút quân đội của Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, tiến hành tổng tuyển cử, trao đổi
tù binh, miền Nam Việt Nam lập chính sách ngoại giao hòa bình trung lập; lập quan hệ ngoại
giao cả với Mỹ, nhận viện trợ kinh tế kỹ thuật của mọi quốc gia không kèm theo điều kiện
chính trị ràng buộc.Tuy nhiên, Ngày 14-5-1969, Nixon đưa ra “Đề nghị tám điểm” cho vấn
đề Việt Nam với hai nội dung chính: Một là, triệt thoái các lực lượng không phải của miền
Nam Việt Nam ra khỏi Nam Việt Nam; Hai là, tạo những phương thức mới để cho mỗi đoàn
thể quan trọng có dịp tham gia vào đời sống chính trị quốc gia.
=> Chỉ với nội dung thứ nhất, đã có thể thấy rất rõ sẽ không thể có hòa bình ở Việt Nam khi
Hoa Kỳ vẫn khăng khăng đòi có 2 quốc gia riêng biệt ở Việt Nam. Cũng như sẽ còn rất lâu
quân đội Hoa Kỳ mới rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Ngày 17/9/1970, tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris, Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đưa ra giải pháp “8 điểm - nói rõ thêm” về một
giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, trong đó có việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng
một thời hạn, thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền nam Việt Nam không có Thiệu -
Kỳ - Khiêm. Ngày 18/10, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra “Đề nghị 5 điểm” mà không đòi
quân miền bắc rút khỏi miền nam Việt Nam. Ngày 10/12, tại phiên họp toàn thể lần thứ 94
Hội nghị Paris, bà Nguyễn Thị Bình đưa ra “Tuyên bố 3 điểm” về ngừng bắn và yêu cầu
quân Mỹ rút khỏi miền nam vào ngày 31/7/1971.
Ngày 31/5 1971, tại cuộc gặp riêng với Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa Xuân Thủy, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” 7
điểm, đòi tách riêng vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ định bàn cả
hai. Ngày 26/6, trong cuộc gặp riêng ông Lê Đức Thọ - ông Kissinger, phía Việt Nam đưa ra
“Sáng kiến hòa bình 9 điểm” tập trung vào việc đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 1/7/1971, trong phiên họp thứ 119 của Hội nghị 4 bên, bà Nguyễn Thị Bình
trình bày “Sáng kiến mới gồm 7 điểm, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền nam Việt
Nam”. Sáng kiến “9 điểm” và “7 điểm” gần như có cùng một nội dung là đòi Mỹ định thời
hạn rút hết quân và lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu. Ngày 16/8/1971, ông
Kissinger đưa ra “Đề nghị 8 điểm”.
=> Về cơ bản, Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: không muốn giải quyết toàn bộ mà chỉ muốn giải
quyết vấn đề quân sự để lấy được tù binh về.
Ngày 2/2/1972, để tăng sức ép với Mỹ và phối hợp với các hoạt động quân sự đang
được chuẩn bị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam ra tuyên bố “2
điểm nói rõ thêm” trong giải pháp 7 điểm ngày 01/7/197
Ngày 24/3, Mỹ đơn phương tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô thời hạn.
Từ tháng 7 đến tháng 9/1972, đã diễn ra 4 cuộc gặp riêng, Việt Nam đã lần lượt đưa ra
3 đề nghị, Mỹ đưa 4 đề nghị. Việt Nam muốn có một hình thức chính quyền liên hiệp; Mỹ
muốn giữ chính quyền Sài Gòn, giải quyết vấn đề nội bộ miền nam trong khuôn khổ chế độ chính quyền Sài Gòn.
Ngay phiên đầu tiên của đợt đàm phán diễn ra từ ngày 20/11/1972, Mỹ đã đòi sửa 69
điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày 20/10/1972, tức là hầu hết các chương của Hiệp định
bao gồm nhiều vấn đề thực chất. Ta phê phán gay gắt các đề nghị của Mỹ, khẳng định những
vấn đề nguyên tắc không thể sửa đổi như tên CPCMLTCHMNVN, vùng kiểm soát của mỗi
bên, vấn đề quân miền Bắc...
2.2.2. Sự can thiệp của các quốc gia khác và sự phân cực trong cuộc chiến
Trong đàm phán hội nghị Paris, quyền lợi của các bên tham gia có nhiều mâu thuẫn và gây tranh cãi.
Quan điểm của quan chức Hoa Kỳ và phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi mới bước
vào đàm phán rất xa nhau, gần như trái ngược hoàn toàn. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu
cầu Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam và chấm dứt dính líu về quân sự. Trong khi đó phía Mỹ yêu
cầu ngược lại, khẳng định vai trò là rất cần thiết nhằm duy trì sự ổn định ở miền Nam. Rất
nhiều lần đàm phán phải dừng lại vì hai bên không thống nhất quan điểm ở nội dung mấu chốt này.
Lúc đầu đàm phán chỉ gồm phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, nhưng sau
đó mở rộng ra 4 bên với thêm hiện diện của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền
Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa.
Việc các bên luôn bảo lưu quan điểm của mình, cố gắng giành được ưu thế cho bên mình
dù chỉ là việc lựa chọn chiếc bàn đàm phán phù hợp và gây ra tranh cãi xung quanh chiếc
bàn, dẫn đến việc đàm phán chỉ có thể định đoạt bằng kết quả trên chiến trường. Điều này
khiến đàm phán kéo dài đến 5 năm. Giai đoạn 1968-1972:
Trong giai đoạn này, thế và lực của các bên trên chiến trường là ngang nhau và chưa
có bên nào có thể dứt điểm bên kia bằng quân sự. Trên mặt trận ngoại giao, cuộc đàm phán
diễn ra rất phức tạp do các bên chưa thực sự cần nhượng bộ.
Trong suốt thời kỳ này, các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Các cuộc
họp chính thức chỉ mở màn, tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được
rồi kết thúc mà không giải quyết được bất cứ vấn đề cốt lõi nào. Chỉ có cuộc tiếp xúc bí mật
của cố vấn đặc biệt là Lê Đức Thọ và TS. Henry Kissinger, cố vấn của Tổng thống HK-
Richard Nixon, là đi vào thực chất nhưng không đi đến thỏa hiệp. Giai đoạn 1972-1973:
Lúc này, cục diện chiến trường đang nghiêng về phía có lợi cho Việt Nam và tạo điều
kiện cho Cách mạng Việt Nam phát triển vững chắc sau này nhưng thắng lợi đó chưa thực sự căn bản.
Cuộc đàm phán đã nhiều lần bị trì hoãn và lâm vào bế tắc do những lần lật lọng từ bên phía Hoa Kỳ, ví dụ như:
Tin tưởng vào việc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bị cô lập, Hoa Kỳ đơn phương
tuyên bố ngừng đàm phán vô thời hạn. Đàm phán lâm vào bế tắc.
Trước ngày ký 22/10/1972, Ních Xơn tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền
Bắc từ vĩ tuyến 20. Vậy mà sau đó, lúc chờ bản hiệp định chỉ còn chữ ký để thành hiện thực
thì nhà Trắng lại ngang ngược phản lại những điều đã giao ước. Kissinger bỏ chuyến bay
đến Hà Nội, thông báo trì hoãn ngày ký kết và ngừng bắn với lý do Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký.
Ngày 04/11, Nixon tái trúng cử tổng thống Hoa Kỳ. Ngay sau đó, Hoa Kỳ đã trở mặt đòi
chỉnh sửa lại hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương của dự thảo hiệp định.
Quá trình đàm phán phải tạm ngừng. Để tăng thêm sức mạnh trên bàn đàm phán, ngày
18/02, Nixon cho máy bay chiến lược B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mở đầu chiến dịch
mang mật danh “Cuộc hành quân Linebacker II” kéo dài 12 ngày đêm.
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó vẫn là một nước rất nhỏ, lại đối đầu với cường
quốc về kinh tế, quân sự và cực kỳ lọc lõi trong ngoại giao. Để đi đến thắng lợi cuối cùng
của hiệp định Paris đòi hỏi khoảng thời gian, chuẩn bị kỹ lưỡng để có thể chiến thắng trên cả
hai mặt trận là quân sự và ngoại giao. 2.3. Kết quả và ý nghĩa Kết quả:
Hội nghị Pari thắng lợi là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quan
dân hai miền Nam, Bắc. Đấu tranh ngoại giao phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và
chính trị trong nước, gây tiếng vang mạnh mẽ, rộng lớn trên thế giới.
Ngày 27/1/1973 hội nghị Pari thông qua việc ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (Bản hiệp định gồm 9 chương, 23 điều), góp phần làm
thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng trên chiến trường miền Nam. Mỹ phải rút
quân và chấm dứt chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam, tạo điều kiện cho nhân dân
Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Hiệp định được ký kết sau gần 5 năm đàm phán (1968-1973).Tham gia lễ ký có đại
diện của Việt Nam Dân chủ cộng hòa là Bộ trưởng ngoại giao Vũ Duy Trinh, đại diện của
Mỹ là Ngoại trưởng William P.Rogers, đại diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam
Việt Nam là Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình và đại diện cho chính quyền Sài Gòn,
Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn Văn Lắm. Ý nghĩa:
Kéo dài 4 năm, 8 tháng, trải qua 201 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa
Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27/1/1973, mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, phát
huy cao độ nghệ thuật ngoại giao Việt Nam, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đấu tranh
giải phóng, thống nhất đất nước.
Hiệp định Paris 1973 đánh dấu sự chấm dứt chính thức cuộc chiến tranh Việt Nam,
kết thúc cuộc xung đột kéo dài hàng chục năm giữa Việt Nam Bắc và Việt Nam Nam, với sự
can thiệp của các bên liên quan như Hoa Kỳ và các quốc gia khác.
Hiệp định Paris 1973 đã tạo điều kiện để đặt nền móng cho việc tái thiết và phục hồi
hòa bình ở Việt Nam sau chiến tranh. Mở ra cơ hội cho việc trở lại cuộc sống bình thường,
khôi phục nền kinh tế, và bắt đầu quá trình hàn gắn và đoàn kết quốc gia.
Hiệp định Paris 1973 đã quy định các điều kiện chiến tranh bao gồm việc rút quân,
giải tỏa và trao trả tù binh, xác định đường biên giới giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam,
và cam kết không sử dụng sức mạnh quân sự hoặc thực hiện các hành động quân sự khác nhau.
Định hướng đến giải quyết chính trị: Hiệp định Paris 1973 cũng khuyến khích việc
giải quyết các vấn đề chính trị thông qua đàm phán hòa bình. Nó đặt nền tảng cho cuộc đàm
phán tiếp theo giữa các bên liên quan để giải quyết các vấn đề chính trị, bao gồm cả việc tái thống nhất đất nước.
Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng
hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên
toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị
Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống
trị và can thiệp của nước ngoài.
III: HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẶP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM 3.1. Nội dung toàn văn HIỆP ĐỊNH
VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH,
LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM
Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam,
Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng
các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền
Nam Việt Nam, góp phần củng cố hòa bình ở châu Á và thế giới.
Đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: CHƯƠNG I
CÁC QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM
Điều 1. Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm một nghìn chín trăm năm mươi tư
về Việt Nam đã công nhận. CHƯƠNG II
CHẤM DỨT CHIẾN SỰ - RÚT QUÂN
Điều 2. Một cuộc ngưng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ hai
mươi bốn giờ (giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng Giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba.
Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống
lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên
biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hoa Kỳ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy
tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi
Hiệp định này có hiệu lực.
Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn.
Điều 3. Các bên cam kết giữ vững ngưng bắn, bảo đảm hòa bình lâu dài và vững chắc.
Bắt đầu từ khi ngưng bắn:
a. Các lực lượng của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa Kỳ và
của Việt Nam Cộng hòa sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế
hoạch rút quân, BLHQS bốn bên trong Điều 16 sẽ quy định những thể thức.
b. Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình.
BLHQS hai bên nói trong Điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát, và những thể thức trú quân.
c. Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng
không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn
công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:
Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;
Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.
Điều 4. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Điều 5. Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc
rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân
sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình
định, vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước khác đã nói ở
Điều 3 (a). Cố vấn của các nước nói trên trong tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng
cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó.
Điều 6. Việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các
nước ngoài khác đã nói ở Điều 3 (a) sẽ hoàn thành trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này.
Điều 7. Từ khi thực hiện ngưng bắn cho đến khi thành lập chính phủ nói ở Điều 9 (b) và
Điều 14 của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền
Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Hai bên miền Nam Việt Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng
cụ chiến tranh đã bị phá hủy, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngưng bắn, trên
cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của BLHQS hai bên miền
Nam Việt Nam và UBQTKS&GS. CHƯƠNG III
VIỆC TRAO TRẢ NHÂN VIÊN QUÂN SỰ BỊ BẮT,
THƯỜNG DÂN NƯỚC NGOÀI BỊ BẮT VÀ NHÂN VIÊN
DÂN SỰ VIỆT NAM BỊ BẮT VÀ GIAM GIỮ Điều 8.
a. Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài
của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn
thành việc rút quân nói trong Điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những
nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký Hiệp định này.
b. Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và
thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và
bảo quản mồ mả của những người bị chết, nhằm tạo điều kiện dễ dàng trong việc cất
bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức
những người còn coi là mất tích trong chiến đấu.
c. Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt
Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của
Điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy
năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó
trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau
khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để
giải quyết các vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngưng bắn có hiệu lực. CHƯƠNG IV
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT
CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM
Điều 9. Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng
những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:
a. Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm
và phải được tất cả các nước tôn trọng.
b. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt
Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.
c. Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào
đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.
Điều 10. Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngưng bắn và giữ vững hòa
bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh
mọi xung đột bằng vũ lực.
Điều 11. Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:
Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù
và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;
Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự
do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. Điều 12.
a. Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần
hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành
lập Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang
nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia Hòa
giải và Hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về
việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp
định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và sẽ làm hết
sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngưng bắn có hiệu
lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập, dân chủ.
b. Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền
Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo
đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng
tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9 (b) và quy định thủ tục và thể thức
của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu
ra do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thỏa thuận. Hội đồng
Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử
địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Điều 13. Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền
Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng
lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh.
Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số
quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.
Điều 14. Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền
Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính
trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ
thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự
sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau
tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam trong Điều 9 (b). CHƯƠNG V
VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ
QUAN HỆ GIỮA MIỀN BẮC VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM. Điều
15. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương
pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam,
không bên nào cũng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài.
Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam thỏa thuận.
Trong khi chờ đợi thống nhất:
a. Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến thứ mười bảy chỉ là tạm thời và không
phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định của đoạn 6 của
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève năm một nghìn chín trăm năm mươi tư.
b. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời.
c. Miền Bắc và miền Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình
thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi
lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.
d. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào
hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội,
cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm một
nghìn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam quy định. CHƯƠNG VI
CÁC BÊN LIÊN HỢP QUÂN SỰ, ỦY BAN QUỐC TẾ
KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT, HỘI NGHỊ QUỐC TẾ Điều 16.
a. Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập
BLHQS bốn bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong
việc thực hiện các điều khoản sau đây cỉa Hiệp định này:
Đoạn đầu của Điều 2 về việc thực hiện ngưng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;
Điều 3 (a) về việc ngưng bắn của lực lượng Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;
Điều 3 (c) về việc ngưng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;
Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội của
các nước ngoài khác đã nói ở Điều 3 (a);
Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của
các nước ngoài khác đã nói ở Điều 3 (a);
Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường
dân nước ngoài của các bên bị bắt;
Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự
của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu.
b. BLHQS bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề
bất đồng sẽ chuyển co UBTKS&GS.
b. BLHQS bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký Hiệp định này và chấm dứt
hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày, sau khi việc rút quân của Hòa Kỳ và quân
của các nước ngoài khác đã nói ở Điều 3 (a) và việc trao trả nhân viên quân sự của
các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành.
b. Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và
chi phí của BHQS bốn bên. Điều 17.
a. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập BLHQS hai bên có
nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động cảu hai bên miền Nam Việt Nam trong
việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này:
Đoạn đầu của Điều 2 về việc thực hiện ngưng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam,
sau khi BLHQS bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
Điều 3 (b) về việc ngưng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;
Điều 3 (c) về việc ngưng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi
BLHQS bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
Điều 7 về việc không đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả những điều
khoản khác của điều này;
Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam;
Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm.
b. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho UBQTKS&GS.
b. Sau khi Hiệp định này được ký kết, BLHQS hai bên sẽ thỏa thuận ngay những biện
pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngưng bắn và giữ gìn hòa bình ở miền Nam Việt Nam. Điều 18.