Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH ----&&---- ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu về quá trình phá rào trong lĩnh vực công nghiệp được thể hiện
trong tác phẩm "Phá rào trong đêm trước đổi mới" của tác giả Đặng
Phong. Rút ra nhận xét. Nhóm thực hiện : 04 Lớp học phần : 241_HCMI0131_01
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thắm Học phần :
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Hà Nội-10/2024
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 04 STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ Ý THỨC LÀM VIỆC NHÓM 1 Bùi Đức Long Thuyết trình 2 Đỗ Thành Long Làm PowerPoint 3 Phạm Hữu Lương Thuyết trình 4 Nguyễn Thị Phương Ly Làm PowerPoint 5 Đoàn Thị Hồng Mai
Làm word, mở đầu, kết luận 6 Trịnh Thị Ngọc Mai Nội dung 1.2.2 7 Bùi Nguyệt Minh Nội dung 1.1 8 Lê Văn Tài Minh Nội dung 2.2.2 9 Vũ Quang Minh Nội dung 2.2.1 10 Phạm Vũ Nam Nội dung 2.2.4 11 Đinh Quỳnh Như Nội dung 3.1 12 Đinh Cao Nguyên Nội dung 1.2.4 13 Nguyễn Mai Nguyên Nội dung 3.2 14 Ngô Thị Yến Nhi Nội dung 2.1 15 Nguyễn Hoàng Nhi Nội dung 2.2.3 16 Nguyễn Thị Yến Nhi Nội dung 1.2.3 17 Trần Thị Cẩm Nhung Nội dung 1.2.1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Buổi 1: Thảo luận về đề cương bài thảo luận Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 21h30 ngày 17/09/2024 Thành viên tham gia: 17/17.
Thành viên vắng mặt: 0/17. 1. Nội dung công việc:
● Nhóm trưởng đưa ra đề cương bài thảo luận.
● Các thành viên cùng nhau phân tích đề tài, nêu ý kiến và thống nhất đề cương.
2. Đánh giá chung: Các thành viên tham gia đầy đủ, đóng góp nhiệt tình cho đề cương bài thảo luận.
Buổi họp kết thúc vào lúc 22h30 cùng ngày.
Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2024 Nhóm trưởng Long Bùi Đức Long
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Buổi 2: Chỉnh sửa, bổ sung nội dung cho bài thảo luận Địa điểm: Google Meet.
Thời gian: 21h30 ngày 24/09/2024. Thành viên tham gia: 17/17
Thành viên vắng mặt: 0/17 1. Nội dung công việc:
● Nhóm trưởng đưa ra góp ý về bài làm của các thành viên trong nhóm.
● Các thành viên nêu ý kiến và thống nhất về những thay đổi để phù hợp hơn với đề tài
● Nhóm trưởng bổ sung nội dung cho bài thảo luận.
● Các thành viên chỉnh sửa nội dung, nhận nhiệm vụ mới mà nhóm trưởng đã phân công.
2. Đánh giá chung: Các thành viên tham gia đóng góp nhiệt tình cho bài thảo luận,
nhóm sửa đổi, bổ sung nội dung sao cho phù hợp với đề tài thảo luận.
Buổi họp kết thúc vào lúc 22h15 cùng ngày.
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2024 Nhóm trưởng Long Bùi Đức Long MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
I. Giới thiệu chung về tác giả và tác phẩm.........................................................................2
1.1. Giới thiệu về tác giả Đặng Phong................................................................................2
1.2. Giới thiệu về tác phẩm “Phá rào trong đêm trước đổi mới”........................................4
1.2.1. Bối cảnh ra đời của tác phẩm...................................................................................4
1.2.2. Làm rõ một số khái niệm liên quan đến phá rào.......................................................7
1.2.3. Tình hình ngành công nghiệp của Việt Nam trước khi tiến hành đổi mới................8
1.2.4. Yêu cầu đặt ra đối với ngành công nghiệp lúc bấy giờ...........................................10
II. Quá trình phá rào trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam..........................................12
2.1. Khái quát quá trình “phá rào” trong lĩnh vực công nghiệp trước đổi mới (trước 1986)
.........................................................................................................................................12
2.2. Một số doanh nghiệp/ công ty/ đơn vị tiêu biểu về quá tình phá rào.........................14
2.2.1. Nhà máy dệt lụa Nam Định....................................................................................14
2.2.2. Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội....................................................................................18
2.2.3. Xí nghiệp đánh cá Côn Đảo-Vũng Tàu..................................................................21
2.2.4. Seaprodex - Công ty Xuất khẩu Thủy sản..............................................................23
III. Nhận xét và kinh nghiệm rút ra..................................................................................27
3.1. Nhận xét....................................................................................................................27
3.1.1. Điều kiện và ưu điểm làm nên thành công của phá rào..........................................27
3.1.2. Hạn chế của quá trình phá rào................................................................................31
3.2. Kinh nghiệm và vận dụng liên hệ với một doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp
hiện nay............................................................................................................................32
KẾT LUẬN......................................................................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................35 MỞ ĐẦU
Sau khi miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo nước
ta đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Song dưới tình hình thực tiễn của bối cảnh trong
và ngoài nước, mô hình kinh tế tập trung bao cấp đã trở thành rào cản, trói buộc nền kinh
tế nước ta không thể phát triển, vô vàn khó khăn bắt đầu từ đây. Nhận thức được những
hạn chế và sai lầm ấy, Đảng đã tiến hành công cuộc đổi mới. Tuy vẫn là một nước nông
nghiệp còn đang nghèo, nhưng kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã vươn
lên trở thành nước có mức thu nhập trung bình, vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế -
xã hội, nghèo đói, lạc hậu và kém phát triển.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1970-1986 gặp nhiều khó khăn và trì
trệ đó, tác phẩm “Phá rào trong đêm trước đổi mới” của tác giả Đặng Phong đã ghi lại
những nỗ lực và sáng kiến táo bạo của các nhà lãnh đạo và doanh nghiệp trong việc vượt
qua các rào cản thể chế để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp. Cuốn sách không chỉ là
một tài liệu lịch sử quý giá mà còn là một minh chứng sống động cho tinh thần đổi mới
và sáng tạo của người Việt Nam trong thời kỳ đầy thử thách. Qua việc nghiên cứu quá
trình “phá rào” trong lĩnh vực công nghiệp, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những khó
khăn, thách thức cũng như những bài học quý báu từ giai đoạn này.
Tác phẩm đã mô tả chi tiết những câu chuyện về các doanh nghiệp và cá nhân dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để tìm ra những con đường mới, những giải pháp
sáng tạo nhằm vượt qua các rào cản về chính sách và thể chế. Những nỗ lực này không
chỉ giúp giải quyết các vấn đề cấp bách của nền kinh tế mà còn mở ra con đường cho
những cải cách sâu rộng hơn trong tương lai. Tác giảm Đặng Phong đã khéo léo lồng
ghép những câu chuyện cá nhân với bối cảnh lịch sử, tạo nên một bức tranh toàn cảnh về
quá trình đổi mới đầy gian nan nhưng cũng rất đáng tự hào của Việt Nam. Vì vậy, nhóm
04 chúng em đã tìm hiểu về quá trình từng bước phá rào trong lĩnh vực công nghiệp ở
Việt Nam trong tác phẩm ‘Phá rào trong đêm trước đổi mới’ của tác giả Đặng Phong.
Qua đó liên hệ với một số doanh nghiệp tiêu biểu về quá trình “ phá rào “ và từ đó chúng
em rút ra được những bài học quý giá. 1
I. Giới thiệu chung về tác giả và tác phẩm
1.1. Giới thiệu về tác giả Đặng Phong a. Tiểu sử
Tác giả Đặng Phong: sinh ngày 4/11/1937, tại làng Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Nội.
Sau một thời gian bệnh nặng, tác giả Đặng Phong qua đời vào ngày 20 tháng 8 năm 2010.
Ông được mệnh danh là “pho sử sống” về thời kỳ đổi mới ở Việt Nam; là tác giả của
nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam, đặc biệt ông đã dày công
nghiên cứu về thời kỳ bao cấp, về chặng đường đầu của sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt
Nam, về tư duy kinh tế và những cuộc “phá rào” về kinh tế trong khoảng thời gian 15
năm sau ngày thống nhất đất nước.
Năm 1960, ông tốt nghiệp ngành lịch sử tại Đại học Hà Nội. Năm 1964, tốt nghiệp
ngành Kinh tế kế hoạch, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và năm 1991, tốt nghiệp Học
viện Kinh tế Địa Trung Hải tại Pháp.
Gia đình: Anh trai của tác giả Đặng Phong tên là Đặng Vũ còn con gái của ông là Đặng Lê Chi.
Hình 1: Tác giả Đặng Phong (1937-2010) b. Sự nghiệp
Sử gia kinh tế Đặng Phong là giáo sư mời của một loạt các trường đại học danh giá
trên thế giới bao gồm: Đại học Aix En Provence năm 2007; Đại học Cambridge năm
2005; ĐHQG Monterey Bay năm 1997; Đại học Macquarie, Sydney, năm 1996 và năm
2000; ĐHQG Australia (ANU) năm 1994; Đại học Irvine, California năm 1994; Đại học
Paris 7 các năm 1991, 1992, 1993. 2
Ngoài ra, ông còn là Chuyên gia mời của Viện Nghiên cứu CNXH, Bắc Kinh,
Trung Quốc năm 2008; Viện Hàn lâm khoa học Cuba năm 2007; Ngân hàng Desjardin
Montreal, Canada năm 1994; Chủ tịch Tiểu ban Kinh tế tại Euro Viet III, Amsterdam, năm 1997.
Ở trong nước, ông làm việc tại Viện Kinh tế Việt Nam với công việc biên khảo lịch
sử kinh tế ; chủ nhiệm chương trình "65 năm kinh tế Việt Nam 1945 – 2010"; chủ nhiệm
các đề tài cấp bộ Biên niên kinh tế Việt Nam năm 2008-2009, Từ đổi mới đến tư duy
kinh tế, 2005–2006, Những mũi đột phá trong Kinh tế Việt Nam, 2003–2004; ủy viên
Hội đồng Khoa học; Trưởng phòng Lịch sử Kinh tế. Ông còn từng là Phó Tổng Biên tập
Tạp chí Thị trường & Giá cả trong những năm 1983–1995
Năm 1991, Đặng Phong tốt nghiệp khóa đào tạo nâng cao, Học viện Kinh tế Địa Trung Hải tại Pháp.
Tác giả Đặng Phong được ví là "cuốn từ điển sống" về kinh tế Việt Nam bởi với hơn
40 năm nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt và là tác giả của hơn 30 công trình, tác phẩm đặc
biệt là viết về thời kỳ bao cấp, kinh tế Việt Nam thời hậu tái thống nhất cũng như những
cuộc "phá rào" nhằm thoát khỏi ràng buộc của thời đó và giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi Mới.
Mười năm cuối đời, GS Đặng Phong để dành viết sách với đề tài về phát triển kinh tế
dưới thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt biệt là thời kỳ đổi mới. Đó là cuộc cách
mạng về kinh tế triệt để, nhằm thay đổi phương thức phát triển của Việt Nam. Trước khi
qua đời, ông vẫn còn ấp ủ một ước nguyện cùng với giới nghiên cứu kinh tế của Việt
Nam, trong đó đặc biệt những người nghiên cứu lịch sử kinh tế làm một bộ sách về lịch
sử kinh tế và lịch sử tư tưởng kinh tế của Việt Nam. Dù công việc chỉ mới bắt đầu, nhưng
ông cũng để lại những ý tưởng lớn lao, toàn bộ khung đề cương cho bộ sách này. c. Tác phẩm
Với hơn 40 năm nghiên cứu, một số công trình nghiên cứu của Đặng Phong đã được
xuất bản dưới dạng sách in, số khác vẫn còn được lưu giữ.
- So sánh đổi mới kinh tế Việt Nam và cải cách kinh tế Trung Quốc (cùng nhiều tác giả, xuất bản 2003)
- Long An - mũi đột phá vào kinh tế thị trường (Cùng Ngọc Thanh, xuất bản 2006)
- Những bước đột phá của An Giang trên con đường đổi mới kinh tế (xuất bản 2006)
- Lịch sử kinh tế Việt Nam 1955-1975 (xuất bản 2005) 3
- Kinh tế miền Nam 1954-1975 (xuất bản 2004)
- Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 1963-2003 (xuất bản 2003),
- Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-1954 (xuất bản 2002)
- 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam (xuất bản 1991)
- Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam (xuất bản 1970)
- Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 (xuất bản 2008)
- Những cuộc phá rào trong kinh tế Việt Nam (xuất bản 2009)
Ngoài ra GS Đặng Phong còn nhiều công trình đang nghiên cứu, dự định xuất bản
như: Lịch sử 1.000 năm Thăng Long qua một con đường (Đường Lê Duẩn), Tư duy kinh tế Việt Nam 1990-2005,…
Nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Phương đánh giá những nghiên cứu
của GS Đặng Phong như sau: “Đối với giới nghiên cứu kinh tế, chỉ riêng việc chấp nhận
một đối tượng nghiên cứu phức tạp và gai góc như vậy đã là điều đáng nể. Và không chỉ
như vậy. Với tác phong khoa học nghiêm túc, tác giả đã dày công đào bới đến ngọn
nguồn của các sự kiện nhằm tái hiện lịch sử một cách trung thực nhất”. GS Trần Phương
gọi đó là thành của của một người có “tác phong khoa học nghiêm túc”, “dày công đào
bới đến ngọn nguồn của các sự kiện nhằm tái hiện lịch sử một cách trung thực nhất”; còn
chính khách Nguyễn Gia Kiểng thấy tài liệu phong phú, "kèm theo những nhận định
chính xác và sắc bén".Để viết nên được các tập sách đó, Đặng Phong đã phải sưu tầm rất
nhiều tài liệu, đồng thời tiếp cận được với các chính khách cấp cao của nhà nước như Võ Văn Kiệt, Trần
Phương, Nguyễn Văn Chính, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn Trân,
Hoàng Tùng. Giáo sư Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Thị Hiền (thành viên Ban Nghiên cứu cũ
của Thủ tướng Chính phủ) nhận xét Đặng Phong là "người có tư duy giàu tính văn học và
khả năng tổng hợp rất sắc sảo".
1.2. Giới thiệu về tác phẩm “Phá rào trong đêm trước đổi mới”
1.2.1. Bối cảnh ra đời của tác phẩm
Tác phẩm “Phá Rào Trong Kinh Tế Vào Đêm Trước Đổi Mới” của Đặng Phong ra
đời trong bối cảnh Việt Nam đã trải qua những thay đổi lớn về kinh tế và xã hội vào cuối
thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 được một thời gian khá dài. Thời kỳ mới đó, nền
kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn do mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
dẫn đến tình trạng trì trệ và ách tắc. 4
Trong khoảng thời gian đó, nhiều lãnh đạo và cán bộ ở các địa phương đã thực hiện
những biện pháp “phá rào” - tức là vượt qua các quy định cứng nhắc để tìm kiếm giải
pháp tháo gỡ khó khăn kinh tế. Những hành động này đã góp phần quan trọng vào việc
khởi động công cuộc Đổi mới, chính thức bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986.
Tác giả đã quan tâm đến chủ đề này từ khoảng 15 năm qua. Đó cũng là thời gian của
suy nghĩ, tìm kiếm tư liệu và tiến hành khảo sát tại hàng chục tỉnh và thành phố, sục sạo
rất nhiều cơ sở, phỏng vấn hàng trăm người khắp từ Bắc chí Nam, và cả người Việt ở
nước ngoài trong các chuyến đi khảo sát ở Nga và Đông Âu để hiểu tường tận hơn những
luồng hàng đánh đi và đánh về; lại tận dụng những chuyến đi họp và giảng dạy ở Mỹ,
Pháp, Úc, Anh để khám phá những cách thức gửi tiền và hàng về nước, đặc biệt là hệ thống ngân hàng ngầm.
Sau đó, đầu năm 2004, công trình này đã được chấp nhận là Đề tài cấp Bộ của Viện
Kinh tế Việt Nam mà tác giả là chủ nhiệm. Công trình được biên soạn xong vào năm
2005 trong sự cộng tác với một số bạn đồng nghiệp trẻ mà tác giả có trách nhiệm hướng
dẫn nghiên cứu. Đề tài đã được nghiệm thu chính thức tại Tp Hồ Chí Minh với một Hội
đồng thật đích đáng: Chủ tịch Hội đồng là GS.TS. Đỗ Hoài Nam (mà sau đó là đồng chủ
biên cuốn sách), thành viên Hội đồng kỳ này có nét rất đặc trưng là bao gồm hầu hết
chính những vị “anh hùng” của thời “Phá rào” và được nhắc tới rất nhiều lần trong sách
như Tư Giao ở Long An, Sáu Hơn ở An Giang, Nhật Hồng ở Vietcombank, Phan Chánh
Dưỡng ở “Nhóm thứ 6”, Trần Đình Bút ở Trường Hành chính…
Nhưng suốt bốn năm sau đó, bản thảo vẫn nằm trong máy tính, không phải do bị ai
bắt “ngâm” lại, mà chỉ do bản thân tác giả muốn “ngẫm” thêm cho chín hơn, tham khảo
lại nhiều người trong và ngoài cuộc cho chắc hơn, nhất là đối với một số trường hợp có
những khía cạnh còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt, tác giả lại vinh dự được
GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, vui lòng nhận lời mời
làm đồng chủ biên để chỉ bảo thêm về cách xử lý trên những khía cạnh mà cho đến lúc
đó, còn ít nhiều nhạy cảm. Được như thế thì lại càng phải thận trọng hơn, vì tác giả tự
thấy mình không được phép để người đồng nghiệp và cũng là cấp trên khả kính của mình
phải chịu bất kỳ một ảnh hưởng nào do những sơ suất dù nhỏ nhất của người viết. Để thử
phản ứng của dư luận, chúng tôi đã chọn hai trường hợp phá rào đã được chính thức ghi
nhận mặt tích cực để xuất bản dưới hình thức những tập sách tham khảo mỏng. Sau đó,
tác giả đã tự lược đi tất cả những biếm hoạ, hò vè hài hước của dân gian và một loạt 5
chương mục như: Khoán Vĩnh Phúc (vì nó liên quan đến uy tín của một nhà lãnh đạo lớn
mà bản thân tác giả rất kính trọng), nông trường Sông Hậu (tuy là một trường hợp độc
nhất trong ngành này đã phá rào thành công nhưng sau đó lại lâm vào vòng lao lý), thuốc
lá Vĩnh Hội tăng sản lượng vùn vụt thì có thể lại đi ngược với xu thế của thế giới... Đến
đầu năm 2009, bản thảo mới được gửi tới Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Sách đã in
xong đầu tháng 7, gồm 276 trang khổ nhỏ, với tên Những mũi đột phá trong kinh tế thời trước Đổi mới.
Cứ tưởng là chuyện đã cũ rồi, và cũng không phải là chủ đề đại sự, thì chẳng mấy ai
còn quan tâm. Nhưng chỉ trong vòng một tháng sau, sách đã tiêu thụ hết. Nhiều bạn đọc
thấy có tên sách trên mạng, nhưng tìm mua không được. Khó xử nhất là đối với những vị
mà tác giả tri ân, từng tận tình giúp tác giả trong những đợt đi thực tế ở Vĩnh Phú, Cần
Thơ, Vĩnh Hội, Nhà máy Dệt Nam Định, Công ty Xe khách Miền Đông... đã gọi điện tới
tỏ nỗi thất vọng vì không thấy chuyện của họ được đưa vào trong sách!
Đòi hỏi rộng rãi đó đã sớm đến tai TS. Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức.
Ông tìm gặp tác giả và ngỏ ý muốn xem bản thảo đầy đủ. Vài hôm sau, ông ngỏ ý sẵn
sàng chịu trách nhiệm trước các cơ quan hữu quan về việc xuất bản, với điều kiện tác giả
phải trực tiếp đứng tên và chịu trách nhiệm trước Nhà xuất bản Tri thức về độ chính xác
của các tư liệu. Điều đó thì đương nhiên tác giả sẵn sàng cam kết, vì một lẽ đơn giản: Đó
đều là sự thật, mà tác giả đã gặp, đã nghe, đã đọc. Thế là bản thảo đầy đủ đã được trao
cho Nhà xuất bản Tri thức và được tái bản trong khuôn khổ chương trình sách “Việt Nam
đương đại” với cái tên nguyên thủy của nó: “Phá rào” trong kinh tế Việt Nam vào đêm trước Đổi mới.
Trong lần tái bản này, tác giả lấy lại để đưa vào khá nhiều cuộc phá rào ngoạn mục và tiêu biểu như: - Khoán ở Vĩnh Phúc.
- Khoán ở Nông trường Sông Hậu
- Đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định.
- Đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội.
- Khoán ở Công ty Xe khách Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cuộc đấu tranh kiên trì gian khổ 20 năm để sửa đổi hệ thống giá.
- Những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài… 6
Ngoài phần lớn những chương mục do tác giả trực tiếp khảo sát và biên soạn, tác giả
cũng lựa chọn để đưa lại vào đây 3 chương mà tác giả đã tiến hành cùng các đồng nghiệp
trẻ, như chương Xí nghiệp Dệt Thành Công (viết cùng bạn Cao Tuấn Phong), Cơ chế một
giá của Long An (viết cùng bạn Ngọc Thanh), Kho bạc (viết cùng bạn Lê Mai).
Trong việc tìm hiểu những cuộc phá rào dưới đây, tác giả đã cố gắng tìm cách tiếp
cận tận nơi, tận chốn, gặp những người thật, nắm bắt những việc thật. Rất may là phần rất
lớn những người chủ trương và những người tham gia các cuộc phá rào vẫn còn sống,
còn khỏe mạnh, còn tỉnh táo để nhìn lại cả một chặng đường gian nan nhưng ngoạn mục
mà họ đã đi qua. Dĩ nhiên, có những “chiến sĩ đột phá” không còn nữa, như ông Kim
Ngọc ở Vĩnh Phúc, ông Năm Hoằng ở Hậu Giang. Ở trường hợp này, tác giả phải tìm lại
những tài liệu, những người đương thời và gia đình để hiểu rõ sự việc.
Cuốn sách của Đặng Phong ghi lại những câu chuyện và bài học từ các mũi đột phá
này, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1.2.2. Làm rõ một số khái niệm liên quan đến phá rào
Nói đến “phá rào”, trước hết cần trả lời câu hỏi: “Hàng rào là những gì?”
Theo Giáo sư Đặng Phong, đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu
hết các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cụ thể, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung
tại Việt Nam được áp dụng từ năm 1960 đến năm 1986, theo gương của Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa khác.Trong mô hình này, Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định
về các yếu tố sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa. Nhà nước sử dụng các kế hoạch
năm năm là công cụ chính để điều phối và điều chỉnh các hoạt động kinh tế. Các xí
nghiệp, ngành và khu vực kinh tế phải tuân theo các chỉ tiêu và mệnh lệnh của Nhà nước.
Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà
kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để
khắc phục. Các phong trào "Ba xây, ba chống", "Cải Tiến quản lý hợp tác xã", "cải tiến
quản lý xí nghiệp"... được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng
mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Tuy nhiên, hiệu quả mà mô hình này
đem lại không được như kỳ vọng của Nhà nước mà ngược lại, nó mang lại rất nhiều vấn
đề cho nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ.Những “hàng rào” trên đã cản trở quá trình xây
dựng và phát triển nền kinh tế nói riêng và đất nước nói chung. Từ đó những yêu cầu cấp 7
thiết cần được đặt ra, đó là phải “phá rào” – để xây dựng và phát triển đất nước ngày một
vững mạnh. Rất nhiều biện pháp “phá rào” đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa
dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng
dây chuyền tới những sửa đổi của chính sách.Vậy phá rào là gì? “Phá rào” tức là vượt
qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc
sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường
cho công cuộc Đổi mới. Một số cuộc phá rào điển hình trong công nghiệp có thể kể đến:
- Xí nghiệp dệt Thành Công
- Nhà máy dệt lụa Nam Định
- Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội
- Xí nghiệp đánh cá Côn Đảo - Vũng Tàu
- Seaprodex - Công ty Xuất khẩu Thuỷ sản
- Công ty xe khách Miền Đông Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.3. Tình hình ngành công nghiệp của Việt Nam trước khi tiến hành đổi mới
a. Tình hình ngành công nghiệp của Việt Nam trước khi tiến hành đổi mới ( Trước năm 1975)
Trước năm 1975, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền Bắc và Nam, điều này đã tạo ra
hai hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau.
Tại miền Bắc: Sau khi giành được độc lập, miền Bắc chủ yếu áp dụng mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự hỗ trợ của các nước xã
hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Miền Bắc ưu tiên vào phát triển công
nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp tập thể và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các nhà
máy chủ yếu tập trung vào công nghiệp nhẹ, như dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng cơ
bản, và chế biến thực phẩm, tập trung công nghiệp nặng như khai thác than, sản xuất thép
và cơ khí chế tạo cũng được phát triển nhưng ở quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, do nền kinh tế
kế ởi nguồn cung cấp thiết bị, công nghệ và nguyên liệu từ bên ngoài. Đồng thời, trong
suốt giai đoạn từ năm 1965-1972, miền Bắc phải đối mặt với chiến tranh phá hoại ác
lihoạch hóa phụ thuộc vào sự viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, sự phát triển công
nghiệp của miền Bắc bị hạn chế bệt từ phía Hoa Kỳ, khiến cơ sở hạ tầng công nghiệp bị
tàn phá nặng nề. Nhiều nhà máy, xí nghiệp bị bom đạn phá hủy, làm gián đoạn sản xuất
và hiệu quả sản xuất còn thấp. 8
Tại miền Nam: Miền Nam Việt Nam phát triển theo mô hình kinh tế thị trường tự do
với sự hỗ trợ từ Mỹ. Ngành công nghiệp nhẹ và dịch vụ phát triển nhanh, nhưng lại chịu
nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh.
Phương hướng cơ bản của giai đoạn này, chính là phát triển theo mô hình Chiến lược
công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, mà nhiều trên thế giới đã và đang thực hiện tại thời
điểm đó (Bao gồm cả các nước XHCN và TBCN). Có thể đánh giá, hướng phát triển của
Chiến lược này được duy trì trong suốt 15 năm ở miền Bắc (từ 1960 – 1975) và 10 năm
tiếp theo trên phạm vi cả nước (từ 1976 – 1986). Tuy nhiên, do tiến hành công nghiệp
hóa từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn, những tiền đề cần thiết cho phát triển hạn chế,
lại trong điều kiện có chiến tranh và cùng nhiều nguyên nhân chủ quan khác, nên nền
kinh tế Việt Nam đã không đạt được những mục tiêu đã đặt ra, đất nước vẫn trong tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển và rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội.
b. Tình hình ngành công nghiệp của Việt Nam trước khi tiến hành đổi mới ( năm 1975-1980)
Thời kì năm 1976-1980 nước ta rơi vào tình trạng thiếu hụt, khủng hoảng và ách tắc,
với nhiều diễn biến phức tạp. Cụ thể:
Ở miền Nam, sự phong phú về hàng hóa đã sớm chuyển thành sự thiếu hụt. Được
biết, nguồn hàng công nghiệp phong phú của miền Nam chủ yếu là dựa vào nhập khẩu.
Nguồn hàng nhập khẩu khoảng trên dưới 1 tỷ đô la, thông qua hệ thống viện trợ Mỹ.
Nguồn này chấm dứt đột ngột từ ngày 30/4/1975 đã ảnh hưởng tới cả sản xuất lẫn tiêu dùng.
Trong công nghiệp, nguồn điện chủ yếu cũng dựa vào xăng dầu để sản xuất ra điện,
bây giờ cũng bắt đầu khó khăn. Một số nhà máy thiếu nhiều nguyên liệu quan trọng. Nhà
máy đường thiếu đường thô, nhà máy thuốc lá thiếu sợi thuốc. Nhà máy dệt thiếu sợi dệt,
thuốc nhuộm, nhà máy in thiếu mực, giấy,... Trong sự thiếu hụt thì phổ biến nhất là thiếu hụt phụ tùng thay thế.
Do sự thiếu hụt lớn đó, hàng trăm xí nghiệp của miền Nam mà dự kiến sẽ là những
đầu tàu đưa cả nước cất cánh trên con đường công nghiệp hóa, thì bản thân nó kêu cứu.
Một số lớn đã đóng cửa, cho công nhân nghỉ việc hoặc đi làm ruộng rẫy kiếm ăn, số
còn sản xuất cầm chừng.
Cùng với sự sa sút của sản xuất, tình trạng ách tắc lan tràn khắp nền kinh tế, từ Bắc
chí Nam. Trong công nghiệp nhiều xí nghiệp không có đủ nguyên vật liệu, thiếu điện, 9
xăng dầu, thiếu phụ tùng thay thế, đành phải cho một phần công nhân nghỉ việc. Có nơi
phải cho công nhân về nông thôn trồng trọ sống tạm. Sản xuất bị ngưng trệ, không có đủ
sản phẩm sao nộp Nhà nước, các kho cạn kiệt.
1.2.4. Yêu cầu đặt ra đối với ngành công nghiệp lúc bấy giờ
Trước khi thực hiện chính sách Đổi mới năm 1986, ngành công nghiệp Việt Nam đối
mặt với nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi phải có những thay đổi lớn để vượt qua
tình trạng khủng hoảng, xuất phát trực tiếp từ những nhu cầu thực tiễn, mong muốn của
nhân dân, của chủ các nhà máy xí nghiệp thì có những yêu cầu được đặt ra như sau:
Đầu tiên là tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn, các nhà máy xí nghiệp muốn thoát
khỏi sự thiếu hụt, bất ổn và biến chất xã hội do cơ chế kế hoạch hóa tập trung gây ra.
Đồng thời, họ muốn có quyền tự quyết về sản xuất, tiêu thụ và phân phối hàng hóa, thay
vì bị ép buộc theo các chỉ tiêu và mệnh lệnh của Nhà nước; muốn có thể sáng tạo, cạnh
tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tiếp đó, xí nghiệp, nhà máy, các nhà chủ muốn phát triển kinh tế theo quy luật khách
quan của kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần kinh tế, hoạt động theo cơ chế thị trường.
Họ mong có thể tham gia vào các hoạt động ngoại thương, nhập khẩu và xuất khẩu hàng
hóa, tiếp cận các nguồn vốn và công nghệ mới, những thứ mà mô hình kế hoạch hóa tập
trung ngăn họ tiếp cận đến. Nhu cầu muốn tận dụng các nguồn lực kinh tế của địa
phương, thích ứng với các điều kiện thực tế đã thôi thúc họ muốn thực hiện “phá rào”trong công nghiệp.
Tại Miền Bắc, mô hình kinh tế ở miền Bắc đã trở nên lỗi thời, không đem lại hiệu
quả. Nhà nước quản lý hết thị trường, thị trường nước ta lúc đó không phải là một nền
kinh tế tự do trao đổi, mua bán.
Trong đó, Nhà nước nắm quyền kiểm soát xí nghiệp, ruộng đất, nhà cửa ở thành phố,
xoá bỏ chế độ độc quyền tư nhân về nhà ở, quản lý nhà một cách thống nhất. Ngành công
nghiệp cần tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất do mô hình kế hoạch hóa tập
trung đã dẫn đến nhiều vấn đề như lãng phí, kém hiệu quả và sự trì trệ trong sản xuất.
Nhà nước đặt yêu cầu cải thiện quy trình sản xuất, sử dụng hợp lý nguồn lực và tối ưu
hóa các dây chuyền công nghiệp
Thứ hai, nhà nước nắm hoàn toàn khâu buôn bán, nắm một phần bán lẻ và chi phối
việc bán lẻ phần lớn các mặt hàng quan trọng đối với đời sống nhân dân. Các xí nghiệp
chỉ được sản xuất một lượng hàng hóa nhất định mà nhà nước cho phép và nhà nước 10
cũng có những chính sách, chế độ kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ số lượng hàng hóa mà xí nghiệp sản xuất ra.
Tiếp đó, Nhà nước phải nắm độc quyền ngoại thương, độc quyền phát hành giấy
bạc,độc quyền ký kết các hiệp định kinh tế với nước ngoài. Nhà nước nắm hoàn toàn
khâu bán buôn. Thêm vào đó, những chỉ tiêu trong kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 không được hiện thực hóa.
Đến hết năm 1980, kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 chỉ đạt được 50%, có thứ chỉ 20%.
Mức tăng trưởng bình quân năm về GDP dự định là 13 – 14%, trong thực tế chỉ đạt 0,4%.
Sản lượng công nghiệp chỉ tăng 0,6%/năm, thay vì 15 – 18%/năm. Khủng hoảng nặng nề
nhất là hai năm 1979 và 1980, GDP giảm 2% và l,4%, công nghiệp giảm 4,7% và
10,3%. Nền kinh tế Việt Nam đối mặt với hàng loạt khó khăn, không thể phát triển như
mong đợi. Ở miền Nam, sự phong phú về hàng hóa đã sớm chuyển thành sự thiếu hụt:
Đầu tiên, nguồn hàng công nghiệp phong phú của miền Nam có được dựa vào nhập
khẩu (khoảng trên dưới 1 tỷ USD) từ Mỹ chấm dứt đột ngột sau 30/04/1975 đã ảnh
hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng.
Thứ hai, sau giải phóng máy móc không thể hoạt động do xăng dầu ngày càng khan
hiếm, nhiều xe vận tải đã phải chuyển sang chạy bằng than củi hoặc dầu hôi.
Cuối cùng, trong công nghiệp, nguồn điện chủ yếu cũng dựa vào xăng dầu để sản
xuất ra điện, bây giờ cũng bắt đầu khó khăn. Chỉ gần một năm sau giải phóng, miền Nam
bắt đầu phải hạn chế điện theo giờ để ưu tiên cho sản xuất. Một số nhà máy thiếu nhiều
thứ nguyên vật liệu quan trọng. Ví dụ: Nhà máy đường thiếu đường thô; nhà máy thuốc
lá thiếu sợi thuốc; nhà máy dệt thiếu sợi dệt, thuốc nhuộm; nhà máy in thiếu mực, giấy;
các lò bánh mì thiếu bột mì, men nở; các cơ sở sản xuất bánh kẹo thiếu đường; các nhà
máy làm đồ nhựa thiếu hạt nhựa… Yêu cầu quan trọng là ngành công nghiệp cần đảm
bảo cung cấp đủ hàng hóa thiết yếu cho người dân, đặc biệt là trong các ngành công
nghiệp nhẹ như dệt may, thực phẩm và hàng tiêu dùng cơ bản.
- Một số thiệt hại của Việt Nam lúc bấy giờ:
+ Từ năm 1977 - 1978, toàn bộ tuyến biên giới Tây Nam bị quân Pol Pot đánh phá. Lính
Khơ - me đỏ đã tấn công vào hầu khắp các xã biên giới. Đạn pháo đã bắn hằng ngày vào
lãnh thổ Việt Nam. Cuối năm 1978, Việt Nam đưa quân sang để cứu nhân dân
Campuchia thoát khỏi ách thống trị của chính quyền sát nhân Pol Pot. Việc Duy trì một 11
quân số rất lớn ở trong nước và ở cả Campuchia là một gánh quá nặng đè lên một ngân
sách quá yếu và một dân tộc đã quá mệt mỏi sau nhiều thập kỷ chiến tranh.
+ Chính việc phải duy trì lực lượng quân sĩ tại Campuchia cũng như một lượng lớn ngân
sách vừa khiến cho nền công nghiệp nước ta mất đi lực lượng lao động cho các nhà máy
xí nghiệp, vừa khiến Nhà nước không có tiền mua nguyên liệu cung cấp cho xí nghiệp để có thể sản xuất.
Chính thời kỳ này đã xuất hiện tình trạng bán không bán được, mua không mua được.
Sự ách tắc không phải ở chỗ không có gì để bán và cũng không phải không có tiền để
mua mà là ở cơ chế mua và bán, ở cái gạch nối giữa cung và cầu. Trong sự ách tắc đó, đã
xuất hiện một khoảng trống, nơi thị trường tự do lớn lên. Các xí nghiệp sản xuất hàng hóa
“chịu” không bán cho Nhà nước mà họ bán ra thị trường tự do. Người Tiêu dùng có tiền
nhưng không mua được hàng theo hệ thống cung cấp cũng phải ra thị trường tự do.
Những thiết chế của nền kinh tế nhằm loại trừ kinh tế tư nhân và thị trường tự do, ngược
lại lại làm cho chúng phát triển. Đã xuất hiện những mối quan hệ"cộng sinh" giữa thị
trường có tổ chức và thị trường tự do, giữa kinh tế quốc doanh và kinh tế ngoài quốc
doanh như sản phẩm tất yếu của tình trạng thiếu hụt. Và chính khoảng trống mà người
dân tạo ra đó là khởi đầu cho sự “phá rào”.
II. Quá trình phá rào trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam
Thời kỳ 1976 - 1985 cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đất nước lâm vào
tình trạng ách tắc khủng hoảng trầm trọng, đời sống Nhân dân vô cùng khó khăn. Trong
hoàn cảnh đó đã có những mũi tìm tòi khảo nghiệm để “phá rào” trong kinh tế tháo gỡ
những ách tắc. Những bước đi tìm đường đầy gian truân ấy trong một giai đoạn dài chính
là xuất phát từ yêu cầu bức thiết của đời sống, tạo tiền đề cho những đổi mới toàn diện sau năm 1986.
2.1. Khái quát quá trình “phá rào” trong lĩnh vực công nghiệp trước đổi mới (trước 1986)
Vào cuối năm 1977 và đầu năm 1978, nhiều người đã giải thích khó khăn và ách tắc
bằng sự lũng đoạn của thị trường tự do và sự tồn tại kinh tế tư nhân. Giải pháp được đề
xuất là cải tạo khẩn trương và triệt hạ. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn phân vân về biện
pháp này do thiếu điều tra và đánh giá tình hình thực tế. Những địa phương ở miền Nam
ban đầu tuân thủ cải tạo với lòng tin vào Trung ương, nhưng chỉ mấy tháng sau khi tiến 12
hành cải tạo, thực tế đã cho thấy kết quả ngược lại. Cho đến cuối năm 1978, những bất
cập và lệch lạc của hai cuộc cải tạo đã thể hiện những vấn đề rõ ràng.
Vào đầu năm 1979, cả Trung ương và cơ sở đã thừa nhận rằng con đường cải tạo
nhanh chóng và triệt hạ này không phù hợp để phát triển kinh tế và cải thiện cuộc sống.
Những áp đặt này đã gây khủng hoảng kinh tế và khó khăn cho người dân.
Trong bối cảnh đó, tháng 8-1979, Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương
Đảng đã được triệu tập. Hội nghị đã đánh giá về thực trạng đất nước, tập trung bàn về
phương hướng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương nhằm khắc phục tình
trạng khan hiếm nghiêm trọng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Hội nghị đã ban hành
Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách với yêu cầu: tình hình kinh tế và đời sống
nhân dân đang có nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước phải có những chủ trương và biện
pháp cấp bách, mạnh mẽ, kiên quyết, đem lại hiệu quả thiết thực nhằm đẩy mạnh sản xuất
và bảo đảm đời sống nhân dân, khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và xã hội...
Từ những chủ trương và biện pháp tháo gỡ hết sức chủ động và rất sớm, bằng cung
cách làm ăn mới lấy hiệu quả kinh tế làm chủ đạo, tình hình sản xuất của TP Hồ Chí
Minh chuyển biến rõ rệt từ cuối năm 1980; giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục
trong các năm 1981 - 1982. Sản xuất ổn định, đời sống công nhân được cải thiện thấy rõ
không những đã kéo lao động trở lại nhà máy mà còn thu hút thêm lực lượng lao động
mới. Kết quả này thật sự là đà đẩy, là vốn liếng quý giá cho sự phát triển của thành phố sau này.
Có thể kể đến những cuộc “phá rào” trong các xí nghiệp quốc doanh như Dệt Thành
Công, dệt Nam Định, công ty xe khách Thành phố Hồ Chí Minh hay xí nghiệp Đánh cá
Côn Đảo - Vũng Tàu… không chỉ có tác dụng tháo gỡ những khó khăn ách tắc của bản
thân xí nghiệp đó mà còn dẫn tới một kết quả có ý nghĩa lớn hơn: góp phần đưa đến sự
thay đổi về quan điểm kinh tế và hướng tới sự thay đổi về cơ chế kinh tế mà sự ra đời của
Quyết định 25 - CP ngày 21/1/1981, các Nghị quyết về công tác phân phối lưu thông, về
giá cả là bước tìm tòi, khảo nghiệm tiếp theo đưa đến những đột phá sau năm 1986.
Quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái lạc hậu, cái đúng và cái chưa hợp lý là một
chặng đường dài, khó khăn. Đặc biệt trong bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ấy đã trở
thành nguồn sức mạnh để chúng ta chiến thắng kẻ thù, đất nước mới thoát khỏi cuộc
chiến tranh chống đế quốc kéo dài nên còn nhiều tư tưởng dè dặt với những sự thay đổi. 13
Đột phá chính là quá trình vừa đi tìm đường và mở đường. Nhiều người tổ chức xé
rào, đi ngược lại chủ trương đều từng là những người xông pha nơi chiến trường. Chặng
đường “phá rào” đầy gian truân, những đấu tranh âm ỉ trên bình diện toàn quốc chính là
những nỗ lực lớn để thực hiện lý tưởng cao đẹp vì sự ấm no, hạnh phúc của Nhân dân đó
cũng chính là tâm nguyện lớn lao trong Di chúc của Bác.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, sự cố gắng của các
tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân, Đảng và Nhân dân ta đã phá rào thành công,
bắc những viên gạch khó khăn đầu tiên cho công cuộc đổi mới toàn diện.
Có thể nói, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 năm 1979 chính là cú hích dẫn tới hàng
loạt sự đột phá tiếp theo trong đời sống kinh tế. Rồi đến lượt nó, những đột phá trong
thực tiễn kinh tế lại tạo ra cả những nhu cầu lẫn khả năng phải đột phá tiếp về cơ chế.
Như vậy, ngay trước năm 1986, với những đột phá về nhiều mặt kể trên, cỗ xe đổi
mới của Việt Nam đã đi được một chặng đường. Chính ở đây nó đã xuyên thủng nhiều
mảng của thành trì cơ chế cũ để dọn đường, mở lối cho những bước tiếp theo. Để rồi sau
Đại hội VI (1986) Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Bên cạnh coi trọng tăng trưởng kinh tế,
Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh sự phát triển bền vững, đảm bảo tăng trưởng kinh tế
đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, thực thi những chính sách xã hội, chăm lo sự phát triển con người.
2.2.Một số doanh nghiệp/ công ty/ đơn vị tiêu biểu về quá tình phá rào
2.2.1. Nhà máy dệt lụa Nam Định
a. Khái quát về Nhà máy dệt lụa Nam Định
Nhà máy dệt lụa Nam Định, tiền thân là một cơ sở nghiên cứu về tơ lụa, do toàn
quyền Đông Dương De Lanessan dùng ngân sách Đông Dương lập ra. Đến năm 1898,
Toàn quyền Paul Doumer đồng ý cho Dadre, với danh nghĩa là phái viên nghiên cứu vấn
đề tơ lụa tại Đông Dương, lập một nhà máy tơ chạy bằng hơi nước có sáu lò (basines) đặt
ngay tại thành phố. Đến năm 1924, tổng số công nhân hoạt động trong nhà máy có
khoảng 6000 người. Năm 1929, Nhà máy tơ Nam Định đã có 3 nhà sợi, 3 nhà dệt, 1
xưởng nhuộm, 1 xưởng chăn, 1 xưởng cơ khí, 1 xưởng động lực.
b. Đặc điểm giai đoạn đầu hoạt động của Nhà máy sau khi Nhà nước tiếp quản
Sau năm 1954, Nhà máy Dệt lụa Nam Định được Nhà nước tiếp quản từ tay tư bản
Pháp. Do điều kiện chiến tranh và sự phá hoại của tư bản Pháp nên máy móc còn lại ít, đa 14
phần đã bị hỏng. Sau thời gian tiếp quản, một số máy móc được phục hồi và tiếp tục hoạt động.
Sau khi nhận sự trợ giúp của Nhà nước và viện trợ từ Trung Quốc, xí nghiệp đã nâng
cấp nhà máy và được giao nhiệm vụ sản xuất lụa đen phục vụ cho thị trường miền Bắc.
Giai đoạn này, lụa đen là gánh nặng mà Nhà nước phải lo cho 1/2 dân số, khoảng 10 triệu
người; phụ nữ được mua 2 mét lụa đen trong tổng 4 mét vải mỗi năm trên tem phiếu. Do
cung ít hơn cầu, sản phẩm của xí nghiệp dù tốt hay xấu đều được Nhà nước chấp nhận và
tiêu thụ. Trong suốt giai đoạn này, nhà máy hoạt động tương đối bình thường, không có
khó khăn và ách tắc lớn nào.
c. Khó khăn của nhà máy trong thời kỳ cấm vận
Năm 1977, tình hình nhà máy bắt đầu khó khăn do sự cấm vận của Mỹ, Trung Quốc
và một số nước khác cắt viện trợ. Nhà nước không còn cung cấp đủ sợi, thuốc nhuộm và
phụ tùng thay thế. Không có tơ, nhà máy phải đổi quy định công nghệ, dệt bằng sợi
petec. Tuy nhiên, công nghệ này cho ra năng suất thấp, sợi vải cũng cứng và xấu. Mặc dù
vậy, vì không còn nguyên vật liệu nào khác nên vẫn phải sử dụng.
Nhà máy cũng không còn đủ việc làm cho công nhân, 30% công nhân phải nghỉ việc,
hưởng 70% lương. Số còn lại cũng chỉ sản xuất cầm chừng và cũng phải thay phiên nhau
nghỉ việc. Lương ít, phúc lợi xã hội cũng không nhiều, ngân quỹ trống rỗng dẫn đến sự
khó khăn trong đời sống của công nhân. Làn sóng chán nản trong xí nghiệp đã xuất hiện.
Một số biện pháp tình huống đã được đưa ra: cho các công nhân đã nghỉ việc làm việc tại
các nông trường, các hợp tác xã để nuôi bò, lợn, trồng rau, đóng gạch,... Từ đây xuất hiện
một nghịch lý, rằng người công nhân không thể sống bằng đúng ngành nghề của mình, và
cũng không thể ngồi ở nhà, không làm gì để sống.
Nghịch lý đó đã dẫn đến bài toán hóc búa nhất lúc bấy giờ là: Nguyên liệu phụ tùng
máy móc đều là những thứ phải nhập khẩu. Lấy đâu ra ngoại tệ mạnh để nhập khẩu. Nếu
như trước đây xin viện trợ cũng tạm đủ thì bây giờ, ách tắc ngay ở đầu nguồn: viện trợ.
Tất cả những khâu còn lại vì thế đều "đông cứng”. Hơn nữa, ngoại tệ cũng không có, tức
là sản xuất không có sợi, không có thuốc nhuộm. Mối đe dọa đang dần lớn hơn.
d. Giải quyết bài toán hóc búa của nhà máy
Sau khi kỹ sư Trần Minh Ngọc, Phó Giám đốc nhà máy được cử làm giám đốc, ông
nắm bắt và thấu hiểu tình hình. Ông nhẩm tính, nếu có ngoại tệ làm đà, có thể nhập
nguyên liệu, thiết bị để tiếp tục sản xuất; các sản phẩm có thể được tiêu thụ trên nhiều 15