



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
“TÌM HIỂU VỀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2021. TỪ ĐÓ RÚT RA NHẬN XÉT”
Giảng viên hướng dẫn : Lê Xuân Nguyên Nhóm thực hiện : Nhóm 2 Lớp học phần : 241_HCMI0131_12 Hà Nội - 2024 MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
II. NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1. Tình hình thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2. Tình hình trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN GIAI
ĐOẠN 2011 - 2016 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.1. Các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân . . . . . . . . . . . . . . 7
2.2. Quá trình tổ chức và chỉ đạo thực hiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.3. Kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.3.1. Thành tựu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.3.2. Hạn chế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN GIAI
ĐOẠN 2016 - 2021 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.1. Các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân . . . . . . . . . . . . . 19
3.2. Quá trình tổ chức và chỉ đạo thực hiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
3.3 Kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
3.3.1. Thành tựu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
3.3.2. Hạn chế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
4. ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
4.1. Điểm tương đồng và khác biệt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
4.2. Nhận xét chung về sự chuyển biến trong quan điểm của Đảng . . . . . . . 33
4.3. Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
4.4. Đề xuất một số giải pháp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
III. KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 42 1
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, vai trò của kinh tế tư nhân
đã trải qua những biến đổi sâu sắc. Từ thời kỳ bao cấp, khi kinh tế tư nhân chỉ được
hoạt động trong một số lĩnh vực hạn chế, đến nay, nó đã trở thành một động lực quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới. Sự chuyển mình này không phải tự nhiên mà có,
mà là kết quả của những chính sách nhất quán, kiên trì của Đảng và Nhà nước.
Kinh tế tư nhân là các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Cả hai thành
phần kinh tế trên thuộc cùng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; tuy nhiên, quy
mô sở hữu là khác nhau. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam có chủ trương nhất quán là phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đảng ta đã khẳng
định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát
triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất
nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới, với quyết tâm
đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò
quan trọng của kinh tế tư nhân. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng liên tục được ban hành,
tạo ra một khung pháp lý rõ ràng, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân.
Tuy nhiên, quá trình này không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ. Những rào cản về
thể chế, những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cùng với những biến
động của tình hình kinh tế thế giới đã đặt ra không ít thách thức.
Giai đoạn 2011 - 2021, với những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới và
những yêu cầu mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng ta đã có những điều
chỉnh phù hợp trong quan điểm và chính sách đối với kinh tế tư nhân, nhiều chủ trương,
giải pháp đã được Đảng đưa ra nhằm phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là
một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Vậy, những điều chỉnh đó là gì? Chúng
đã mang lại những hiệu quả như thế nào? Và những thách thức mới đặt ra cho sự phát
triển của kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới là gì? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ
được làm rõ thông quan đề tài “Tìm hiểu về quan điểm của Đảng về phát triển kinh
tế tư nhân giai đoạn 2011 - 2021. Rút ra nhận xét”.
Do kiến thức còn hạn chế và có sự giới hạn về thời gian nghiên cứu nên bài tiểu
luận không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, nhóm chúng em hy vọng có thể nhận được
những ý kiến đóng góp từ thầy và các nhóm để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2024 2 II. NỘI DUNG
1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1.1. Tình hình thế giới
Giai đoạn 2011 đến năm 2021 là giai đoạn thế giới có những diễn biến phức tạp,
đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là
khủng hoảng nợ công lan rộng ở nhiều quốc gia, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và
chứa đựng nhiều rủi ro; tình trạng thất nghiệp cao vẫn còn diễn ra ở nhiều nước, cạnh
tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, tranh giành tài nguyên ở một số khu vực
ngày càng gay gắt hơn. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 bao gồm sự đổ vỡ
hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và
mất giá tiền tệ quy mô lớn ở Mỹ và nhiều nước châu Âu, có nguồn gốc từ khủng hoảng
tài chính ở Hoa Kỳ. Tình trạng tồi tệ của các tổ chức tài chính đã khiến cho tình trạng
đói tín dụng xảy ra ở nhiều nước, ảnh hưởng nghiêm trọng tới khu vực sản xuất thực.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã dẫn tới suy thoái kinh tế ở nhiều nước. Khủng hoảng
kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đã tạo ra những tác động sâu rộng và kéo dài đến nền kinh
tế toàn cầu. Những ảnh hưởng này không chỉ giới hạn trong giai đoạn khủng hoảng mà
còn kéo dài trong những năm sau đó, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế tư nhân tại
nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Khi khủng hoảng xảy ra, sức mua của người tiêu
dùng trên toàn thế giới giảm mạnh do mất việc làm, thu nhập giảm và sự không chắc
chắn về tương lai. Suy giảm kinh tế toàn cầu làm giảm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa xuất
khẩu, gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp tư nhân sản xuất hàng xuất khẩu. Các thị
trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi
khủng hoảng, làm giảm sức mua và tiêu thụ hàng hóa Việt Nam. Doanh nghiệp tư nhân
gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ, dẫn đến doanh thu giảm sút.
Nhiều doanh nghiệp phải giảm quy mô sản xuất hoặc thậm chí đóng cửa. Hệ thống tài
chính toàn cầu gặp khó khăn, các ngân hàng thắt chặt tín dụng để giảm rủi ro, doanh
nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn trong việc vay
vốn để duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng sau khủng
hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng đã thắt chặt điều kiện vay vốn, làm cho doanh
nghiệp khó tiếp cận vốn vay hơn. Báo cáo năm 2010 của Ngân hàng Thế giới ghi nhận
rằng tín dụng cho khu vực tư nhân tại các nước đang phát triển đã giảm mạnh. Điều này
làm giảm khả năng đầu tư và tăng trưởng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư nước ngoài
thận trọng hơn, giảm quy mô đầu tư hoặc rút vốn khỏi các thị trường đang phát triển để
bảo toàn tài sản. Doanh nghiệp tư nhân mất đi nguồn vốn quan trọng từ FDI, theo báo
cáo Đầu tư Thế giới của UNCTAD, dòng FDI toàn cầu đã giảm từ 1.9 nghìn tỷ USD
năm 2007 xuống còn 1.2 nghìn tỷ USD năm 2009, tương đương mức giảm 37%. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp tư nhân tại các nước đang phát triển, bao
gồm Việt Nam. ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô và nâng cao công nghệ.
Khủng hoảng tài chính gây ra sự biến động lớn về tỷ giá và lãi suất trên toàn cầu gây
khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân trong việc quản lý chi phí và rủi ro tài chính. 3
Doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với chi phí vay vốn tăng cao và rủi ro tỷ giá khi
nhập khẩu nguyên liệu hoặc xuất khẩu sản phẩm, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Một số quốc gia áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại để bảo vệ
nền kinh tế trong nước, làm tăng rào cản thương mại và gây khó khăn cho doanh nghiệp
xuất khẩu. Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan được áp dụng khiến doanh nghiệp
tư nhân phải đối mặt với chi phí cao hơn và khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế.
Khủng hoảng kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp tái cấu trúc, tìm kiếm các mô
hình kinh doanh mới và hiệu quả hơn. Cấu trúc thị trường có thể thay đổi với sự xuất
hiện của các doanh nghiệp mới và sự biến mất của những doanh nghiệp không thích
ứng được với tình hình mới. Xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, các nền kinh tế mới nổi. Toàn cầu hóa đã tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa các nền kinh
tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc,
Ấn Độ, Brazil, và các nước ASEAN trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh
tế toàn cầu.. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác và thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong giai đoạn từ 2011 đến 2021, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thương mại quốc tế tiếp tục tăng trưởng, đặc biệt
là trong các lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ và hàng hóa tiêu dùng. Việc dỡ bỏ các rào
cản thương mại và thuế quan đã thúc đẩy trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc
gia. Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại toàn cầu đã
tăng trưởng đều đặn trong giai đoạn này. Báo cáo cho thấy rằng khối lượng thương mại
toàn cầu đã phục hồi sau khủng hoảng tài chính và tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung
bình khoảng 2 - 3% mỗi năm từ 2011 đến 2021. Các công ty đa quốc gia đã mở rộng
mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu, tận dụng lợi thế chi phí thấp và chuyên môn
hóa sản xuất ở các quốc gia khác nhau. Điều này tạo ra một hệ sinh thái kinh tế liên kết
chặt chẽ, giúp tăng hiệu quả sản xuất và giảm chi phí. Một nghiên cứu của McKinsey
Global Institute năm 2019 cho thấy rằng chuỗi cung ứng toàn cầu đã trở nên phức tạp
hơn và các công ty ngày càng phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài để cung cấp nguyên
liệu và sản phẩm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng, với các công ty đa quốc
gia đầu tư vào các thị trường mới nổi để tận dụng tiềm năng tăng trưởng. Điều này
không chỉ mang lại vốn đầu tư mà còn chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
Theo báo cáo của UNCTAD, FDI toàn cầu đã phục hồi sau khủng hoảng tài chính và
tăng trưởng đều đặn trong giai đoạn này, đặc biệt là trong các ngành công nghệ và dịch
vụ. Các quốc gia đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do để thúc đẩy hợp tác kinh
tế và giảm các rào cản thương mại. Những hiệp định này không chỉ tạo điều kiện thuận
lợi cho thương mại và đầu tư mà còn thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước. Việt Nam
đã tham gia các hiệp định quan trọng như CPTPP và EVFTA, mở rộng thị trường xuất
khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Bộ Công Thương Việt Nam. Các quốc gia đã tăng 4
cường hợp tác kinh tế và kỹ thuật thông qua các tổ chức quốc tế và khu vực như WTO,
ASEAN, và APEC. Những hợp tác này giúp các quốc gia học hỏi kinh nghiệm, nâng
cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Sự gia tăng hợp tác hội nhập quốc tế
tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường. Việc hội nhập kinh tế
quốc tế và tham gia các FTA buộc các doanh nghiệp tư nhân phải nâng cao chất lượng
sản phẩm, dịch vụ để cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Một nghiên cứu của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy các doanh nghiệp ở các quốc gia tham
gia FTA có xu hướng cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng tiêu chuẩn
quốc tế. Sự gia tăng đầu tư nước ngoài mang lại cơ hội tiếp cận công nghệ tiên tiến và
nâng cao kỹ năng quản lý cho doanh nghiệp tư nhân trong nước.. Theo báo cáo của
Ngân hàng Thế giới, các quốc gia mới nổi như Việt Nam đã hưởng lợi từ FDI không
chỉ về vốn mà còn về công nghệ và kỹ năng, giúp nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh.
1.2. Tình hình trong nước
Từ năm 2011 đến năm 2021, khi tình hình thế giới và trong nước có những
chuyển biến mới; các kỳ đại hội và hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều có
những điểm mới, những bổ sung, phát triển và điều chỉnh về các vấn đề căn bản như
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về cơ chế quản lý kinh tế, về mô hình kinh tế tổng quát,
về các thành phần kinh tế, về vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế. Trong
khoảng thời gian từ Đại hội XI đến Đại hội XII, nhiều tư duy mới, quan điểm, chủ
trương mới của Đảng về các vấn đề kinh tế được bổ sung, phát triển. Đó là sự kế thừa,
bổ sung và hoàn thiện nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đã tiến hành đổi mới kinh tế từ năm 1986 với chính sách "Đổi mới",
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Giai đoạn 2011 - 2021 Nhà nước tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới
và chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô
hình này nhấn mạnh sự phát triển đồng bộ của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó
có kinh tế tư nhân. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và tạo điều
kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển, nhấn mạnh vai trò của khu vực này trong việc
tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế. Chính phủ thực hiện các biện pháp thúc đẩy cải
cách kinh tế, mở cửa thị trường và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân như một
động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Số lượng doanh nghiệp tư nhân gia tăng nhanh
chóng, đóng góp lớn vào GDP, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Báo cáo của
Tổng cục Thống kê Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập mới
tăng và kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40% GDP, 30% ngân sách Nhà nước và thu
hút khoảng 85% lực lượng lao động trong cả nước, góp phần quan trọng trong huy động
các nguồn lực xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người
lao động, nhất là các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh du lịch, khu đô thị, sản xuất ô tô, nông 5
nghiệp công nghệ cao, thương mại, dịch vụ. Theo thống kê, khu vực tư nhân đã tạo ra
khoảng 70% tổng số việc làm trong nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân đã có sự đầu tư
vào nghiên cứu và phát triển, cải tiến công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm, dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ mới và các mô hình kinh
doanh hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Nhiều mô hình
kinh doanh mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là công nghệ
thông tin phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Đã hình thành và phát triển một
số tập đoàn kinh tế tư nhân tiên phong trong đầu tư và ứng dụng khoa học, công nghệ,
có thương hiệu và năng lực cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế.
Chính phủ đã tiến hành nhiều cuộc cải cách hành chính nhằm đơn giản hóa thủ
tục và giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp. Mặc dù có những bước tiến nhất định,
vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức trong việc thực hiện cải cách, khiến doanh nghiệp
tư nhân gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn lực và phát triển. Các biện pháp cải
cách bao gồm đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện khung pháp lý, và nâng cao
năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước, nỗ lực cải cách hành chính đã giúp giảm
bớt gánh nặng hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Môi trường kinh doanh được cải thiện, ngày càng thuận lợi hơn; cắt giảm trên 50% thủ
tục hành chính, điều kiện kinh doanh; giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp
tư nhân thành lập mới tăng nhanh cả về số lượng và vốn đăng ký; tinh thần khởi nghiệp
lan tỏa rộng rãi. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã cải thiện đáng kể thứ hạng
trong báo cáo Môi trường Kinh doanh (Doing Business), từ vị trí 98 năm 2011 lên vị trí 70 vào năm 2020.
Giai đoạn 2011 - 2016, sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu
2007 - 2008, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng chậm, lạm phát cao
trong bối cảnh đó, Đảng nhận ra cần phải tìm kiếm các động lực mới để phát triển kinh
tế, trong đó kinh tế tư nhân được xem như một giải pháp tiềm năng để tăng trưởng bền
vững, tạo việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng
tài chính, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định nhờ vào các
chính sách kinh tế linh hoạt và sự phát triển của khu vực tư nhân. Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB) ghi nhận tăng trưởng GDP của Việt Nam trung bình 6 - 7% hàng năm
trong giai đoạn 2011 - 2021, bất chấp các thách thức từ khủng hoảng toàn cầu và đại dịch COVID - 19.
Sự phục hồi của kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng và xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng thị trường
xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Các hiệp định thương mại tự do tạo ra các cơ
hội tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới sáng
tạo. Tuy nhiên cạnh tranh quốc tế gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng
sản phẩm, dịch vụ và năng lực quản lý. Sự phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu và dòng
vốn đầu tư nước ngoài có thể khiến kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương trước biến động
quốc tế. Doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp 6
nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế, đặc biệt là
đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù khu vực tư nhân đã phát triển nhanh
chóng, nhưng doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, công
nghệ và thị trường, theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI) năm 2020, khoảng 30% doanh nghiệp tư nhân cho biết họ gặp khó khăn trong
việc tiếp cận tín dụng ngân hàng.
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết mang lại cơ hội lớn
cho doanh nghiệp tư nhân mở rộng thị trường xuất khẩu đồng thời Chính phủ Việt Nam
triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân như giảm thuế, cải thiện hạ
tầng và thúc đẩy khởi nghiệp. Các hiệp định thương mại tự do như CPTPP và EVFTA
đã mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mở rộng thị trường và tăng cường cạnh tranh.
Giai đoạn 2011 - 2021 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của
kinh tế tư nhân Việt Nam, từ sự gia tăng số lượng doanh nghiệp, đóng góp vào GDP và
việc làm, cho đến sự đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Những thành
tựu này không chỉ phản ánh sự chuyển biến tích cực trong tư duy của Đảng đối với kinh
tế tư nhân mà còn thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của khu vực tư nhân trong sự
phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Nhận thấy vai trò quan trọng của Đảng
và Nhà nước trong việc định hướng nền kinh tế. Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân, cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh
doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô,
quản lý hiệu quả các nguồn lực và duy trì môi trường kinh doanh công bằng và minh
bạch. Tăng cường hợp tác quốc tế, tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do và
xây dựng các chiến lược phát triển bền vững cho kinh tế tư nhân.
2. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2016
2.1. Các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Nâng tầm vai trò kinh tế tư nhân
Trong Nghị quyết Đại hội XI năm 2011 của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế,
chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của
nền kinh tế”. Đại hội X năm 2006 đã nhận định: KTTN là khu vực “có vai trò quan
trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Đại hội XI năm 2011 của Đảng đã
chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một
trong những động lực của nền kinh tế”.
Ngoài ra, phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, các
lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện hình thành
một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực kinh
tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực 7
công nghệ cao. Hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ các trang trại, hộ sản xuất
kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Khuyến khích phát triển các loại hình
doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh, hợp tác xã cổ phần.
Cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
các chủ thể kinh tế tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh
Cùng với sự thay đổi trong chủ trương, đường lối và quan điểm chỉ đạo của Đảng,
các chính sách pháp luật của Nhà nước cũng được điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi
theo. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh luôn là một trọng tâm ưu tiên của cả hệ
thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Trong giai đoạn này, Chính phủ đã liên
tục ban hành các nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Luật Doanh nghiệp cùng các đạo
luật có liên quan như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Thương mại... được sửa đổi, bổ
sung theo hướng nhất thể hóa về mặt pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật
đối với các thành phần kinh tế. Cụ thể như Hội nghị Trung ương 5, khóa X (5/2012) đã
khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt;
là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân ta; quyền sử dụng
đất là hàng hóa đặc biệt. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý. Trung ương Đảng nhất trí ban hành Kết luận về tổng kết
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ngoài ra,
Các Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các luật liên
quan được sửa đổi bổ sung vào năm 2014 và có hiệu lực từ năm 2015 về cơ bản đã gỡ
bỏ hết các rào cản phân biệt theo thành phần kinh tế.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô nhỏ, đơn giản và phổ biến ở nước
ta nhưng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ tạo việc làm, cung cấp các
dịch vụ cho xã hội, kinh doanh hộ gia đình còn là nhân tố “bình ổn” nền kinh tế, thúc
đẩy khu vực kinh tế tư nhân, tạo điều kiện để người dân thuộc nhiều lứa tuổi, trình độ
khác nhau tham gia vào thị trường, hoạt động kinh doanh với chi phí thấp. Với sự thay
đổi quan điểm, định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ của hình thức kinh doanh.
Nhà nước xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV nhằm cụ thể hóa chủ
trương, đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, ví dụ Nghị quyết
09 - NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị vê xây dựng và phát huy vai trò của đội
ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Mục tiêu xây dựng luật là nhằm thiết lập đồng bộ các chính sách, chương trình
nhằm hỗ trợ DNNVV có chọn lọc, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển kinh 8
tế của đất nước, lợi thế cạnh tranh của từng địa phương, quốc gia và nguồn lực có thể
bố trí trong từng thời kỳ. Qua đó, nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng hoạt động của
khu vực DNNVV. Tăng cường năng lực và hiệu quả cho hệ thống cơ quan, tổ chức hỗ
trợ DNNVV; nâng cao hiệu quả điều phối, xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát và
đánh giá các hoạt động hỗ trợ DNNVV. Tạo khung pháp lý để huy động khu vực kinh
tế tư nhân và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia cùng Chính phủ thực
hiện hỗ trợ DNNVV. Hỗ trợ DNNVV phù hợp với nguyên tắc thị trường, không phân
biệt đối xử, bảo đảm không vi phạm các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Hỗ trợ DNNVV sử dụng nguồn lực nhà nước chủ yếu thông qua việc tạo cơ chế chính
sách, điều kiện thuận lợi để các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV và
thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV được lựa chọn theo
quy định của pháp luật. Các nội dung, biện pháp hỗ trợ DNNVV phải dựa trên nhu cầu
của doanh nghiệp, nhằm giúp các doanh nghiệp tăng trưởng về chất lượng và quy mô…
Ngoài ra, để giải quyết những hạn chế, bất cập và thực hiện chủ trương trong giai
đoạn trước, đường lối của Đảng và Nhà nước, đồng thời học tập kinh nghiệm của các
quốc gia trên thế giới và khu vực trong hỗ trợ DNNVV, việc xây dựng và ban hành Luật
Hỗ trợ DNNVV của Việt Nam là cần thiết, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
Khuyến khích đa dạng hình thức kinh doanh
Với chủ trương của Đảng không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế,
các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp
luật, xóa bỏ hẳn cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Điều này tạo ra cơ hội và môi trường lý tưởng cho KTTN tiếp tục phát
triển trên quy mô xứng tầm, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội toàn diện của đất nước.
Đại hội đã đưa ra quyết định nới lỏng các quy định về quy mô và lĩnh vực hoạt
động của doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia vào
nhiều ngành nghề hơn, từ đó thúc đẩy sự đa dạng hóa các hình thức kinh doanh. Đại hội
khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp,
như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh,
hợp tác xã cổ phần. Điều này không chỉ đa dạng hóa các hình thức sở hữu mà còn giúp
huy động nhiều nguồn lực hơn cho nền kinh tế. Đại hội nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh, hiện đại các loại thị trường hàng
hóa, dịch vụ. Điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các doanh
nghiệp không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ý nghĩa của quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Việc coi KTTN như “một động lực quan trọng của nền kinh tế” là bước tiến dài
trong phát triển tư duy nhận thức của Đảng, là yêu cầu khách quan của thực tiễn 30 năm
đổi mới về vai trò của các khu vực kinh tế nhìn từ phương diện sở hữu.
Không chỉ thay đổi về tư duy và nhận thức quan trọng trong việc xác nhận vai
trò mới của kinh tế tư nhân mà còn nhận thức sâu sắc rằng tạo mọi điều kiện thuận lợi 9
cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển cũng chính là tạo điều kiện để giải phóng các
nguồn lực phát triển trong xã hội, đã tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở nước ta từng
bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá thể,
nước ta đã có những tập đoàn kinh tế lớn. Từ chỗ chủ yếu hoạt động trong khu vực phi
chính thức, KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức
của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không
cấm. Đặc biệt, quan điểm mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân
phát triển đã giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Trong
những năm qua một làn sóng khởi nghiệp đã và đang diễn ra, đem lại một sức sống mới cho nền kinh tế.
Đánh giá sự khác biệt trong quan điểm và chính sách của Đảng so với các giai đoạn trước đó
Thứ nhất, về tư tưởng và nhận thức, từ Đại hội VI, chủ trương của Đảng đã cho
phép phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình
kinh doanh để phát triển lực lượng sản xuất, mở ra điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư
nhân phục hồi và phát triển: Nghị quyết số 10 - NQ/TW, ngày 5/4/1988, của Bộ Chính
trị khóa VI, xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách
thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa. Tiếp tục tư
tưởng của Đại hội VI, Đại hội VII khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc
biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước” và “Mọi người
được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”.
Ở đại hội VII cũng khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế
về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm”.
Đại hội VIII tiếp tục khẳng định “thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến
khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức
đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử
bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình
thức tổ chức kinh doanh”. Văn kiện Đại hội IX (1 - 2001), khi Đảng ta khẳng định kinh
tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN: “Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không
hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không
cấm”. Tiếp đó, Đại hội X đã khẳng định: Kinh tế tư nhân (KTTN) là khu vực “có vai
trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Có thể thấy, quan điểm
của Đảng về kinh tế tư nhân cho đến nay là nhất quán và liên tục phát triển, hoàn thiện
dần qua các kỳ đại hội.
Đến giai đoạn 2011 - 2016, Đảng đã có những phát triển mới trong tư duy của
Đảng về vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế tư nhân nhiều thành phần: KTTN là
“một trong động lực của nền kinh tế” và cần “Hoàn thiện cơ chế, chính sách” để thực 10
hiện, biến KTTN thành động lực của nền kinh tế. Khác với đại hội X, ở giai đoạn này,
Đảng đã hành động để thúc đẩy nền KTTN.
Thứ hai, Đảng khẳng định phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của
mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Đảng ta khẳng định là
mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát
triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh. Theo quan điểm
của Đảng, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật: “Các thành phần kinh
tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình
đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.
Thứ ba, các doanh nghiệp Nhà nước được đưa vào quá trình cải cách, tái cơ cấu,
được đặt vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, loại bỏ
các hình thức ưu đãi và bao cấp còn tồn tại trên thực tế. Trong đó, việc cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nước được đẩy mạnh, minh bạch hoạt động trên thị trường chứng
khoán. Cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước
được đổi mới theo hướng cơ quan hoạch định chính sách không đồng thời thực hiện
chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp.
Thứ tư, Đảng chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động của KTTN, khuyến khích
phát triển ở hầu hết các ngành nghề, phát triển đa dạng các lĩnh vực hình thức sở hữu,
các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp,…
2.2. Quá trình tổ chức và chỉ đạo thực hiện
Các nghị quyết và chỉ thị
Trong giai đoạn 2011 - 2016, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và chỉ đạo
thực hiện nhiều nghị quyết và chỉ thị quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1/2011)
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Hòa bình hợp tác
phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp
lãnh thổ diễn biến phức tạp, thiên tai, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh diễn ra trên toàn
thế giới. Đại hội XI của Đảng đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế, là một trong những động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế. Đảng nhấn
mạnh việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, đảm bảo quyền lợi
chính đáng của các thành phần kinh tế.
Trong 5 năm 2011 - 2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tập trung chỉ
đạo thực hiện những vấn đề quan trọng, nổi bật:
Thực hiện một trong những đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020, Hội nghị Trung ương 4 (1/2012) chủ trương xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
vào năm 2020. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh quan điểm: Quy hoạch phát triển hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phải hiện đại, đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng 11
ngành, từng vùng và từng địa phương, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, đảm bảo lợi ích hợp lý để thu
hút nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội. Phát triển cơ cấu hạ tầng là sự nghiệp chung, vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ
của toàn xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia đóng góp, trước hết là trong
thực hiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà
nước, người dân và nhà đầu tư. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa IX (3/2003), việc thực hiện chính
sách, pháp luật về đất đai đã thu được nhiều kết quả tích cực.
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, toàn cầu hóa và kinh
tế tri thức đang đặt ra những yêu cầu mới, Hội nghị Trung ương 6 khóa XI ra Nghị quyết
số 20 - NQ/TW ngày 1/12/2012 về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. Chỉ tiêu phấn đấu: đến năm 2020, khoa học công nghệ Việt Nam đạt trình
độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực
đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng các yêu cầu cơ
bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là:
Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ Quốc; là
một nội dung cần được ưu tiên tập chung đầu tư trước một bước trong hoạt động của
ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực lãnh đạo của Nhà nước tài năng tâm
huyết của đội ngũ các bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công
trong sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.
Dựa trên định hướng của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) một
số nghị quyết của Chính phủ và Bộ Chính trị được ban hành nhằm thực thi và triển khai
các quyết sách lớn về phát triển kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân là một trong những ưu tiên như sau:
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09 - NQ/TW, ngày 9/12/2011, “Vê xây dựng
và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Mục tiêu: Định hướng phát triển đội ngũ
doanh nhân Việt Nam và tạo điều kiện cho các doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân có
môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Nghị quyết số 19/NQ - CP của Chính phủ (năm 2014) "Về cải thiện môi trường kinh
doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia". Nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận
lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, giảm bớt các rào cản thủ tục hành chính và cải thiện
điều kiện đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân.
Chỉ thị số 11/CT - TTg ngày 21/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ "Về một số
giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang
gặp nhiều khó khăn". Chỉ thị này yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục tháo 12
gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong việc tiếp cận nguồn vốn, cải cách
thủ tục hành chính, và mở rộng cơ hội đầu tư.
Chỉ thị số 16/CT - TTg ngày 18/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ "Về đẩy mạnh
thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư
nhân vào các ngành kinh tế chiến lược". Tăng cường thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân
vào các ngành công nghiệp chủ chốt, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết số 41/NQ - CP năm 2015 "Về chính sách thuế đối với doanh nghiệp
tư nhân". Tập trung vào cải cách thuế, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp
tư nhân, giúp doanh nghiệp tư nhân có thể đầu tư vào sản xuất và phát triển bền vững hơn.
Nghị quyết số 19/2015/NQ - CP ngày 12/3/2015 "Về tiếp tục cải thiện môi trường
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia". Khuyến khích khu vực tư nhân
thông qua cải thiện thủ tục hành chính, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trong nhiều
lĩnh vực, đặc biệt trong xuất khẩu và sản xuất.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc
đổi mới, tích cực chủ động hội nhập quốc tế
Hội nghị trung ương khóa XII đã đề ra Nghị quyết số 05 NQ/TW ngày 1/11/2016
về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng
cao chất lượng tương trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế
Nghị quyết số 19/2016/NQ - CP ngày 28/4/2016 "Về cải thiện môi trường kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2016 và định hướng đến năm 2020".
Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp tư nhân, đặc biệt là thông qua việc cắt giảm các rào cản hành chính, nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.
Cơ chế và chính sách cụ thể
Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách cụ thể để phát triển kinh tế tư
nhân trong giai đoạn này như:
Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) năm 2014: Luật này nhằm tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho doanh nghiệp tư nhân hoạt động, với nhiều quy định đơn giản hóa thủ tục thành
lập, gia nhập thị trường, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Đơn giản hóa thủ tục đăng ký doanh nghiệp: Quy trình thành lập doanh nghiệp
được rút ngắn và bớt phức tạp, giúp các doanh nghiệp tư nhân dễ dàng gia nhập thị trường.
Bãi bỏ quy định về con dấu: Các doanh nghiệp có quyền tự thiết kế và sử dụng
con dấu mà không cần đăng ký với cơ quan nhà nước, giúp giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. 13
Giảm bớt các yêu cầu đối với việc công bố thông tin: Các doanh nghiệp nhỏ và
vừa không còn phải tuân thủ các quy định phức tạp về công bố thông tin như trước đây,
giúp giảm áp lực tuân thủ quy định pháp luật.
Luật Đầu tư (sửa đổi) năm 2014: Cơ chế này giúp nâng cao khả năng tiếp cận
vốn đầu tư, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Rút ngắn danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Danh mục ngành nghề
kinh doanh có điều kiện được rút gọn từ 386 ngành nghề xuống còn khoảng 267 ngành,
giúp các doanh nghiệp tư nhân có nhiều cơ hội hơn để tham gia kinh doanh trong nhiều lĩnh vực.
Đơn giản hóa thủ tục đầu tư: Các thủ tục đầu tư được giảm thiểu và minh bạch
hóa, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đầu tư.
Cải thiện cơ chế bảo hộ quyền lợi nhà đầu tư: Luật quy định rõ về các hình thức
bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, tạo sự yên tâm
cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các hoạt động đầu tư.
Nghị quyết số 19/NQ - CP năm 2014: Chính phủ ban hành nghị quyết này về
cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đặc biệt là
hướng đến hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển.
Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017): Mặc dù luật này được ban hành
sau giai đoạn 2011 - 2016, nhưng đã được chuẩn bị trong suốt giai đoạn này và phản
ánh nhiều chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân:
Hỗ trợ về tài chính và tín dụng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ vay vốn
với lãi suất ưu đãi và được ưu tiên tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng.
Hỗ trợ về công nghệ: Chính phủ cung cấp các gói hỗ trợ về đào tạo và chuyển
giao công nghệ nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa cải thiện năng lực sản xuất và quản lý.
Vai trò của các bộ, ngành
Trong giai đoạn 2011 - 2016, các bộ, ngành đã tích cực tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế tư nhân:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Là cơ quan chủ trì xây dựng các chính sách kinh tế, bộ
này đã tích cực hỗ trợ trong việc ban hành các văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến
kinh doanh và đầu tư của khu vực tư nhân.
Bộ Tài chính: Đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chính sách về
thuế, tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. Bộ đã
thực hiện nhiều biện pháp cải cách thuế và giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.
Bộ Công Thương: Bộ này đã hỗ trợ phát triển các ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh thuộc khu vực tư nhân, như công nghiệp chế biến, xuất khẩu, và dịch vụ. 14
Ngân hàng Nhà nước: Đã thực hiện các chính sách nới lỏng tín dụng và hỗ trợ
tiếp cận vốn vay, giúp doanh nghiệp tư nhân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phát triển sản xuất. 2.3. Kết quả
2.3.1. Thành tựu
Trong giai đoạn 2011 - 2016, Đảng đã đưa ra quan điểm về tầm quan trọng của
KTTN và các nhiệm vụ nhằm thúc đẩy KTTN. Sau 5 năm, Đảng và nhà nước đã gặt hái
được nhiều thành tựu đáng tự hào, được thể hiện như sau: Số lượng
Bảng: Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập giai đoạn 2011 - 2016
Năm 2016, sau thành công của đại hội Đảng lần thứ XII với chủ trương phát triển
kinh tế thị trường và kinh tế tư nhân, số doanh nghiệp thành lập mới đạt mức kỷ lục với
110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015.
Tốc độ tăng trưởng GDP
Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh 2010 phân theo thành phần kinh
tế giai đoạn 2011 - 2016 (năm trước =100) 15
Đóng góp vào tăng trưởng GDP của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn
2011 - 2016 có sự chuyển biến tích cực. Mức tăng trưởng GDP trong khu vực kinh tế
tư nhân luôn đạt tốc độ cao nhất so với các khu vực còn lại. Năm 2011, tốc độ này đạt
được là 108,44% cao hơn khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Đến năm 2016, tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực tư nhân đạt được
111,41%, tăng 2,99% so với năm 2015 và vẫn luôn dẫn đầu so với các khu vực khác
trong nền kinh tế. Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân đang đóng vai trò quan trọng trong
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ trọng doanh nghiệp và tỷ trọng lao động
Bảng: Tỷ trọng doanh nghiệp và tỷ trọng lao động theo hình thức sở hữu
Về hình thức sở hữu, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng
về số lượng và tỷ trọng. Doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2007 chỉ có khoảng 140.627
doanh nghiệp, chiếm 94,33% tổng số doanh nghiệp cả nước, thì đến năm 2015, theo
Tổng cục Thống kê, đã có khoảng 427.709 doanh nghiệp ngoài nhà nước, tăng 3 lần và
chiếm 96,66%. Cùng với sự thay đổi về số lượng doanh nghiệp, trong giai đoạn 2007 -
2015, lao động khu vực ngoài nhà nước tăng mạnh cả về số lượng tuyệt đối (từ 3,78
triệu lên 7,71 triệu) và tỷ trọng (từ 52,31% lên 59,99%). Như vậy, doanh nghiệp tư nhân
ngày càng trở thành một lực lượng quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, thậm chí đây
là lực lượng có thể tạo ra những bước nhảy vọt của nền kinh tế bởi lực lượng này tiên
tiến nhất, hiện đại nhất, cập nhật nhất với kinh tế thế giới và khu vực.
Nhận xét: Nhìn lại 30 năm đổi mới, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung
bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng
trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành,
phát triển. Những thành tựu đó đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục
đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 16
2.3.2. Hạn chế
Trong giai đoạn 2011 - 2016, mặc dù kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển
tích cực và trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam,
những khu vực này vẫn gặp phải nhiều hạn chế đáng kể, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển lâu dài.
Môi trường pháp lý và chính sách chưa đồng bộ
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách về mặt pháp lý và chính sách, tuy nhiên, sự
thay đổi chính sách còn bất cập và thiếu ổn định. Một số quy định, nghị định và thông
tư thiếu rõ ràng hoặc chưa đồng bộ giữa các cấp và các ngành. Điều này dẫn đến khó
khăn trong việc áp dụng luật pháp, tạo ra tình trạng thiếu minh bạch và khó dự đoán cho
các doanh nghiệp tư nhân.
Dù đã có nhiều cải cách nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhưng thực tế
vẫn còn nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ công. Các thủ tục hành chính như
đăng ký doanh nghiệp, xin giấy phép đầu tư, tiếp cận đất đai, và xin phê duyệt dự án
vẫn phức tạp, tốn thời gian và chi phí.
Khả năng tiếp cận vốn hạn chế
Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn: Nhiều doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt
là doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn từ hệ thống ngân
hàng. Các yêu cầu về tài sản thế chấp và điều kiện vay vốn thường quá cao đối với các
doanh nghiệp nhỏ. Điều này hạn chế khả năng mở rộng sản xuất, đầu tư và đổi mới công nghệ.
Tín dụng ưu đãi chưa phổ biến: Các chương trình tín dụng ưu đãi và quỹ hỗ trợ
phát triển doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu. Các doanh
nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ
này do thiếu thông tin hoặc không đủ điều kiện tham gia.
Thiếu liên kết với các khu vực kinh tế khác
Chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị: Một trong những hạn chế lớn của khu vực
tư nhân là chưa có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Sự phân mảnh này làm giảm khả năng tham
gia vào chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu, hạn chế cơ hội hợp tác và phát triển.
Quan hệ doanh nghiệp với nhà nước còn hạn chế: Các doanh nghiệp tư nhân
thường thiếu sự liên kết với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các chính
sách hỗ trợ hoặc hưởng lợi từ các chương trình quốc gia. Sự thiếu thông tin, hạn chế về
năng lực tiếp cận các chương trình hỗ trợ của nhà nước đã làm giảm hiệu quả triển khai
các chính sách phát triển.
Chính sách hỗ trợ phát triển chưa hiệu quả
Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đầy đủ: Mặc dù chính phủ
đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân, nhưng việc triển khai các chính
sách này còn hạn chế. Nhiều chương trình hỗ trợ không đến được với các doanh nghiệp
do thủ tục phức tạp hoặc do thiếu nguồn lực triển khai. 17
Thiếu sự đồng bộ giữa các bộ, ngành: Các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân nhiều
khi bị rời rạc, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Điều này dẫn đến các chính
sách không được thực hiện hiệu quả, khiến doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận và hưởng
lợi từ các biện pháp hỗ trợ.
Chưa tận dụng được cơ hội hội nhập quốc tế
Hạn chế trong việc khai thác các hiệp định thương mại: Mặc dù Việt Nam đã ký
kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) trong giai đoạn này, nhưng nhiều doanh
nghiệp tư nhân chưa tận dụng được các cơ hội từ các FTA này. Nguyên nhân chính là
do doanh nghiệp tư nhân chưa đủ năng lực cạnh tranh, thiếu thông tin, và không có đủ
nguồn lực để tham gia sâu vào thị trường quốc tế.
Cạnh tranh quốc tế: Khi Việt Nam mở cửa hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp
tư nhân phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tập đoàn quốc tế lớn. Điều này
đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, thiếu nguồn lực để
cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm và năng lực tiếp thị.
Khả năng đổi mới công nghệ và sáng tạo hạn chế
Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thấp: Kinh tế tư nhân trong giai đoạn này
chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực truyền thống, ít có sự đột phá về công nghệ và sáng
tạo. Sự thiếu đầu tư vào R&D làm giảm khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững trong dài hạn.
Chuyển đổi số chậm chạp: Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,
nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chưa sẵn sàng về mặt hạ tầng công nghệ cũng
như chiến lược số hóa. Điều này làm giảm khả năng tối ưu hóa quy trình sản xuất, tiếp
cận thị trường trực tuyến và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nhận xét: Trong giai đoạn 2011 - 2016, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều
chính sách hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân, nhưng các hạn chế trong việc triển khai
và thực thi chính sách, cùng với những khó khăn mới từ bối cảnh hội nhập và cạnh tranh
quốc tế, đã tạo ra nhiều thách thức lớn cho doanh nghiệp tư nhân. Một số thách thức
mới xuất hiện mà phát triển kinh tế tư nhân cần đối mặt như:
Cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ doanh nghiệp nước ngoài: Với việc ký kết
nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), thị trường Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn với
các nhà đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp tư nhân trong nước phải đối mặt với sự cạnh
tranh mạnh mẽ từ các tập đoàn quốc tế có tiềm lực mạnh hơn về tài chính, công nghệ
và quản trị. Các doanh nghiệp nhỏ trong nước thiếu sự chuẩn bị kỹ càng về chiến lược,
nguồn lực để cạnh tranh trên sân chơi toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ chậm: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp tư nhân tại Việt
Nam vẫn gặp khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất và quản lý. Khả
năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và chuyển đổi số còn chậm, do thiếu vốn đầu tư và nguồn lực kỹ thuật. 18
Khả năng tiếp cận thị trường quốc tế hạn chế: Mặc dù có nhiều hiệp định thương
mại tự do được ký kết, nhưng phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn chưa tận
dụng hiệu quả các cơ hội này. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nâng cao chất
lượng sản phẩm, tiêu chuẩn hóa để đáp ứng các quy định khắt khe từ thị trường nước
ngoài. Thiếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền và sự thiếu hiểu biết về thị trường quốc tế
cũng làm giảm khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.
Biến động kinh tế toàn cầu và rủi ro từ hội nhập: Sự biến động của nền kinh tế
thế giới, đặc biệt là tác động của khủng hoảng kinh tế và các biến động địa chính trị, đã
tạo ra thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế tư nhân phải đối mặt với những rủi
ro từ các thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế, như việc áp dụng thuế quan từ
các thị trường lớn và sự thay đổi trong các hiệp định thương mại. Điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến xuất khẩu và hoạt động của các doanh nghiệp trong nước.
Ảnh hưởng từ chính sách đất đai và hạ tầng: Mặc dù đã có cải thiện về tiếp cận
đất đai và cơ sở hạ tầng, nhưng chi phí thuê đất vẫn ở mức cao và không đồng đều giữa
các khu vực. Nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc mở rộng sản
xuất do thiếu đất đai hoặc chi phí cao, đặc biệt là ở các khu vực trung tâm kinh tế.
Để khu vực tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, cần
có những cải cách mạnh mẽ hơn, đặc biệt là về cải thiện môi trường pháp lý, tăng cường
hỗ trợ về công nghệ và tài chính, và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực.
3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN GIAI ĐOẠN 2016 - 2021
3.1. Các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế
Từ việc khởi xướng công cuộc đổi mới và chính sách kinh tế nhiều thành phần
tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã không ngừng hoàn thiện tư tưởng về vai trò của kinh
tế tư nhân. Đến Đại hội X (2006), tư nhân hóa đã được coi trọng hơn, và Đại hội XII đã
chính thức ghi nhận kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của đất nước. Đại hội XII của Đảng năm 2016 nêu: “Hoàn thiện cơ
chế, chính sách để tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành
và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính
sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến
khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các
tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”.
Đảng xác định phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường trong
quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta vừa là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài; vừa là một
phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực phát triển. Để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định 19