












Preview text:
09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Câu 1: Trình bày trường dấu ấng tự nhiên
trong các lĩnh vực ăn, mặc, ở, đTôi lại trong văn bản Việt Nam .
Trong văn hóa ẩm thực :Ăn uống là văn hóa, chính xác hcảm ơn đó là văn bả
hóa sử dụng môi trường tự nhiên. Hai yếu tố có tính trội chi phối đếN
văn hóa vật chất của người Việt là tính chất sông nước và thực vật .
Sự chi phối của hai yếu tố tự nhitên này có thể xuất hiện trước hết trong
một cơ sở lựa chọnbữa ăn đặc biệt Người Việt: cơ –
rau – thủy sản. Cơ sở ăn uống của người Việtcó đặc biệt
nhiều thứ hơn, các sản phẩm bị hủy bỏợng hơn hải sản, gia cầm
quen thuộc hơn giá trị lớn hơn. Món ăn chế độ đơn giảnSản, dùng nhiều nướ
Văn hoá ẩm thực của người Việt có thể chàođiện ở việc ăn uống theo mùa,
theo vùng. Đó là biểu tượngn của bộ xử lý thích nghi với môi trường
trường tự nhiên, thích nghi ngờ việc cung cấp nền kinh tế tự động.
Đối với người Việt Nam, lương thực chính là lúa gạo, thành phần
chính của bữa ăn là cơm (nấu bằng các thuâng, kể cả nếp):“Người
sống vì Bình, các bạo vì nước”, bữa ăn của người Việt gọi là bữa cơm.
Người Việt không chỉ tận dụng cây lúa thành gạo để nấu cơm mà còn
biết tận dụng từ bình để làm bún và làm bánh: bánh lá, bánh đúc, bánh
tráng… Gạo nếp dùng làm xôi, làm bánh mmặn, bánh ngọt… Các thứ thứ
phụ có khoai, sắn, ngô…
Thành phần thứ ba trong bữa ăn của người Việt là thủy sản. Việt Nam
có phương Đông giáp biển Đông lại có hệ thốngtrẻng sông lao, ao hồ
Cung chịt nên dùng các loại trong cơ buổi sáng cũng ăn lđến khả năng tận
use môi trường tự nhiên của người Việt. Thứ tự thứ baong cơ
cấu hình ăn và đầu trong bảng lo công thức ăn thủy sản (so with
tôm, cua, mực. Người Việt còn tận dụng cmột loại sản phẩm để biến đổi
ra một dấu chấm đặc biệt lànước mắm và mắm các loaạnướcgia
Vạn Vân, cá rô rô, các loại nước mắm nổi tiHạch: Nghệ An, Phan
Thiết, Phú Quốc. Thực phẩm được chế độn từ thủy sản cũng rất đa
các dạng: nấu chín, chà mắm, phơi khô. Chế biKiến trúc cũng có nhiều cách:
chiên, xào, kho, nướng, gỏi…
Khí hậu nóng, công thức ăn uống dễ dàngtên đàn ông, bốc mùi. người Việt
Nam thường ăn ngay sau khi nấu bếp và rất chú ý hỗ trợnóng thức ăn. 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Thực phẩm để tăng dần mức độ phơi sáng, khôc làm
xịt bảo quản được quản lý lâu dài. Thời gianết thay đổi xung quanh năm, vì v
thức ăn thay đổi vị trí để hợp lý, đáp ứng nhu cầu cơ bản, setting for time.
Tính tổng hợp trong lối ăn Việt: phối hợp nhiều món ăn trong một
bữa ăn, một món ăn gồm nhiều thứ hợp nhất với nhau để kết thúcViệt hài hòa
các đồ đồ (hài hòa âm dương, tam tài, ngũ vị), hài hòa các màu sắc đồ
MỘT. Như vậy giúp cơ thể dễ dàng hòa hợp với thiên nhiên.
Đã hoàn tất kích hoạth bằng yếu tố tâm lý: sự quần quần gia đình, nội
cơm chung, đĩa thức ăn chung, chén nước mătm chung,… Ăn uống
Đơn giản, không cầu kỳ, cốt để no bữa trưa sứcao động. Mọi người ăn
chung một mâm, không chia phần, tùy ý nhkhoan dung nhau. Trước khi
ăn, cửa hàng tiếng mời chào lễ, dành riêng cho khách hàng được ưu tiên hơn Nhà.
Ăn bằng thanh có thể thực hiện linh hoạt, khéo léo của người Việt.
Về cách uống: chè (đặc biệt là chè dây), vối, rượu ở bữa ăn, chúng là
những loại lá có lợi cho sức khỏe, giải nhiệt, hỗ trợ tiêu hóa.
Đồ hút: thuốc lào, thuốc lá, đặc biệt thuốc lào được ưa thích hơn thuốc
lá; người Việt có thói quentrầu, động tác chu trầu giúp cho răng
khỏe mạnh, chắc chắn. Bộ tráng miệng: các loại bánh có cpath as check, mứt, kẹo và hoa quả.
Nhìn chung, cách thức ăn uống của biến thểngười Việt Nam luôn hướng
đến sự cân bằng âm dương giữa các vị trí. Ẩm thực Việt Nam
Cân bằng âm dương trong cơ sở dữ liệuthể và cân bằng âm dương giữa cơ sở thể với môi trường.
Khí hậu sản phẩm miền Nam Bkhắc nghiệt khác nhau hình thành thói quen ă
uống khác nhau: miền Bắc thích ăn cay nóng, miỒ Nam thích ăn chua, mát.
Tóm tắt, điều kiện tự nhiên đã được đưa rahỗ trợ người Việt Nam tự xây dựn
nền tảng nghệ thuật ẩm thực đặc biệt vàphong phú. 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Sau ăn uống tới mặc trang phục , nhưng mặc là để đối phó, trước hết
với khí lực thời giant, sau chiến tranh mãn nguyện nhu cầu thẩm mỹ và phù h
với công việc. Mỗi dân tộc có cách ăn dặmc riêng, do đó trở thành thói quen
quen được chấp nhận ở từng cộng đồng dân tộc, trở thànhhành biểu
biểu tượng hóa dân tộc. Trang phục ViệtNam before out, thích hợp với
khí hậu, thời tiết và nông nghiệp, sau nữa, theo quan điểm thẩm định
mỹ, người Việt ăn mặcbình dịch, kín đáo, không thích màu sắc Nhồi và cốc treo.
Trong văn hóa trang phục, người Việt biết dụng các điều kiện tự động
nhiên chọn các màu sắcrang phục phù hợp với môi trường sông nước
như màu nâu, màu đen…, có ý thức làm đẹp. NgườiViệt Nam
sử dụng các chất liệu may mđặc biệt có sẵn trong tự nhiên, mang đậm dấu ấn
nông nghiệp trồng trâu, sống ở xứ nóng nên chọn các chất liỜu mỏng,
nhẹ nhàng, thoáng mát. Nhiều loại cây mọc ttự nhiên được dùng kéo sợi
dệt vải như: đay, gai, bông vải, bẹ chuối, mcó một số loại cây khác
có thể lấy lá đan áo đi mưa, đan nón mũ như cây cọ, cây 1,…Người
Việt biết sớm trồng dâu nuôi tầm, get kéo sợi vải. To tằm
nên có rất nhiều loại vải từ đơn giản đến giá quý: tơ, lụa, như, là,.. đến
một cú đánh. Như vậy, để tạo các loại trang phục cổ truyền, người
Việt Nam đã sử dụng li nguồnỜu khá phong phú.
left from, default pagengày sinh hoạt thường xuyên của đa số dân tộc
tộc ở Việt Nam thiết kế theo lối Nam tràn khố cở trần, nữ mặc
Váy, yếm, áo tứ thân, áo dài, quần lĩnh… để phù hợp với khí hậu nóng
bức và công việc đồng sáng. Về sau nam giới người Việt có tHêm ô
áo ngắn, kẽo cổ, quần lá sa, nphụ giới có kiểu áo ngắn tay, áo tứ
thân, năm thân, quần nái đen. Nhìn chungn mặc đơn giản, gọn gàng,
thích nghi với khí hậu ấm, mưa nhiđiều, dễ dàng cho việc đi lại,
lao động trên đồng ruộng có bùn.
Trang phục lễ hội kín trang nhãn. Nam giới mặc quần ống sớ
thiệt hại, nữ mặc áo dài, trong có thêm nhiều lớp áo cánh vÍt nhất là ở Ít nhất
nhiều màu trang nhãn. Qua quá trình lưu trữ với phương Tây, nam
bình chủ yếu mặc Âu phục khi làm việc ở cơ sở hay đi dự lễ hội; nữ
giới vẫn duyên dáng trong chiếc áo dàtôi đã được cách tân từ chiếc áo dài
truyền thống, Chiếc áo lâu bền nhấtn nay còn lại là cánh hoặc áo 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
bà ba ở Nam Bộ. Nhìn chung, trang phục nữ giới giơ theo
thống kê dài hơn giới hạn.
Đồ trang sức làm bằng nhiều chất liệu như vàng, bạc, đá quý, gỗ,
sừng thú,… nói chung đơn giản, giản dị, được dùng để đeo ở cổ, ngón tay
tay, cổ tay, trái tai giúp tôn thêm vẻ đẹp con ngưĐồ trang sức có
có thể coi là kỷ niệm của mcá nhân lỗi. Về trang màu sắc, chọn
màu âm tính, dịu dàng, mát. Cư dân sống ở vùng thung lũng hoặc châu Á
vùng có xu hướng sử dụng màu tối đậmnhư đen, nâu, mờ khi làm việc
công việc; trái lại trang phục hồicó nhiều màu sắc. Phụ nữ Việt có lối đi
mặc “mớ ba”, “mớ bảy” vmới nhiều màu sắc trang nhãn. Trang phục một
số dân tộc vùng núi như H'Mông, Dao có màu sắc sặc sỡ. Nhiều ngàyN
Cao cấp ở miền vẫn còn lưu kỹ thuật dệt vải thủ côngruy băng hệ thống
với nhưng hoa văn độc đặc, mang đậm bản sắc dân t.
Văn hóa ở: căn nhà trước hết dịch vụ yêu cầu cđầu tiên đối với thiên nhiên,
khí và thuận lợi cho nông nghiệpP. Cuộc sống nông thôn yên tĩnh
tĩnh. Ngôi nhà được xây dựng ổn định thành tổ ấm: “An cư lạc
nghiệp”. Nhà cần phải bền chắc để chống gió, làm bộ khung
Nhà phải có khả năng chịu lđủ các hướng. Nhà không cần thiết .
Build data thường được sử dụng như một vật phẩmeu có sẵn ở bàn địa chỉ
ở hoặc ở một nơi gần đó để xây dựng dựng. Đa dạng địa hình Việt Nam
nên chất liệu xây dựng rất phong phú: vùng đồi núi có gỗ, đá, lá cọ,
song, mây, tre, vầu, nứa,…; vùng đồng có tre, tranh, gỗ, đất
sét, đất nung thành gạch, gạch,…; vùng nước có sẵntràm, dừa nước, lau, sậy,…
Thiết kế nhà ở phù hợp với sông nước, khí hậu, địa hình khu vực
Đông Nam Á. Nói chung, nhà cao cửa rộng phù hợp với t8 tiết.
nhà phổ biến là sàn nhà. Đặc điểm nhà sànà sàn nhà cao để chống lại
ẩm, chống nóng; sâ socketu vào đất để chống xói mòn, chống
Bão, lốc, nhà thấp để tránh nắng hắt, mưa thứ; chiều rộng cửa sổ hoặc
nhiều cửa để tránh nắng khoái khoái, đón nhiều gió; tránh thú vị. Biến
thể nhà ở là nhà cẳng cao, đượcxây dựng các sông có thủy Tải xuống.
Các loại nhà tranh, nhà xây dựng được xây dựnglàm theo cấu trúc nhà sàn:
nền cao, nền đất nện, vách nứa, nóc nhà cao, mái thấp và kín, cửa 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
thấp và rộng, cột nhà là trụ chống chính (khung chịu lực là hệ
thống cột, ván, xà); thường có thêm ao, chuồng nuôi tôm cá, chăN
nuôi. Con người sống hướng thủy, hiền hòa với thiên nhiên.
At the Cốt hiển thị quá thành công, đình, chùa, miếu… các mái
được thiết kế hình cong như mũi thuyền (còn gọi là hình dao).
Ngoài ra còn có kiểu nhà dành cho người “định cư” ngay trên sông
nước đó là nhà thuyền, nhà bè.
Trong quan niệm về kiến trúc, xây dựng nhà dtự động: người Việt biết
chọn hướng nhà, chọn đất, tránh hướngó độc lập, lấy mặt hướng
trời ơi xây nhà cửa gần sông ngòi để tiện nướcinh hoạt (“nhất
cận thị, cận giang”), trồng trọt. Hướng dẫn xây dựng các hướng
Đông, Đông Nam, Nam là những hướng dẫn có gió drop on.
rất mát, không làm tổn hại sức khỏe con người, tránh phía Tây và Bắc.
Theo phong thủy Á Đông, đối với nhà ở thì “phong” ttiêu chí đối lập
lưu gió quan trọng. Nhà ởmiền núi cũng như đồng bằng co cụm
theo làng, bản. Các làng ở đồng bằng có đình làng là trung tâm văn
hóa học, hành động chính. Các bản dọc Trường Sơn có nhà rồng, nhà gươl
dùng làm nơi sinh hoạt chung của cộng đồng.Các kiến trúc đều đồng thuận
theo phong thủy: đó là sự hài hòa giữa thạ đất, thế núi, ngồn nước…
Điều này có thể được hiển thị rõ ràng trong kiến trúc thành quách như thành
Long, thành nhà Hồ, kinh thành Huế… hay trong thuyếttam tài
dân dân: “thiên-địa-nhân”
Cấu trúc nhà: gian nhà tbàn làm việc dành riêng cho rung tâm trang trọng nh
lần đầu tiên, ở nơi nào đótiếp khách (trong tổ tiên và hậu khách). LÀM
lối sống cộng đồng, căn hộ không chia các phòng biệt lập, chỉ có căn
trung tâm, vẫn liên kết với gian chính. Đỗ đường côi tr bên phải
Căn hộ bên trái dành cho ưu tiêniên (mẹ chồng trái, con
dâu tây phải)), trên bàn chung ngoại trừthì bên
nội ở bên trái, bên ngoài ở bên phảicủa bàn thờ). Không có nhà là
không mở rộng, có cửa sổ thoáng mátát và giao hợp với thiên nhiên.
Do coi trọng số lẻ, đặc biệt ngũ hành nên số gian nhà là 1, 3 và tối đa
là 5; bậc 3 bậc (tam cấp); cổng nhà có 1 hoặc 3 cái (tam quan).
Mái nhà bằng các loại loại lá cỏ cho mát, nếu thích thì dùng ngói
âm dương vừa phải. Vị tríí nhà chọn nơi trung bình,
không cao không thấp. Join các bộ phận theo lghép âm dương, 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
tránh sử dụng l sét loại kimnhà bị hư hỏng. Nói chung, việc làm ở nhà
dựa theo nguyên lý hài hòa âm dương, hướng tớimột cuộc sống ổn định.
Văn hóa đi lại: làm điều kiện tự nhiên lợi, nhiều sông Ngòi…tận
sử dụng sông nước nên phương tiđiện đi lại của người Việt chủ yếu là thuyền, ghe, đò, da…
Chủ yếu là đi bộ , gồng gánh, đội thúng trên đầu hoặc mang trên,
thích hợp với hình thức tích nhỏ, vừa, công việc không quá nặng.
Đường thu nhỏ thường xuyên, ẩn mã độc, có trâ nặngu, bò. Đi lại
trên sông nước có các loại thuyền, thúng, thuyền buồm, thuyền độc
moóc, ngang, dọc,… tùy chọn địa hình.
Hệ thống trục giao thông chủ yếu là sông hẻmh, kênh đào, biển đường.
Phương tiện đi lại chủ yếu là phương tđường dẫn thủy sản được khai thác
(mè Bắc), ghe (milinh Nam), tím, Phú, tàu,… Thuyền có các loại
như thuyền độc mộc, thuyền chài, thuyền rồng,..; có mạng lưới, ghe
đò, ghe chài,… Đa số các phương thiện giao dịch thông tin
normal nhỏ gọn, phù hợp với địa hình và nên sản xuất nông nghiệp
cung cấp tự động. Output sơ đồ loại yêu cầuhiện rất sớm như cây cầu, cầu Khỉ, cầu treo.
Hoạt động đi lại của người dân nông nghiệpp Việt Nam trong một
phạm vi ngắn, từ nhà ra ruộng đồng, gò bãi. Do đó, chủ yếu chỉ dùng
sức mạnh mà người vận hành trong sản xuất và sinh hoạt. Giao thông
đường bộ Việt Nam phát hiện rất gầnriển. Trên những con đường nhỏ đó,
chỉ có sức đôi chân (đi bộ) , hiếm khi có xe trâu, bò, ngựa, voi . Quan
lại, nhà giàu đi bằng kiệu, cáng, về sabạn có xe tay, rồi đến xe đạp, xích lô
lô. Giao thông thủy ba đườngmạnh hơn nhưng cũng chỉ có
phương tiện thông tin sơ bộ trên sông Ngòi chichị ơi, ít có tàu chạy biển.
Là cư dân chuyên đi lại trên sông nước, người Việt Nam đã có tích
nhiều kinh nghiệm và đạt đến trình độ rất cao về kỹ thuật đóng tàu,
thuyền. Thuyền chiến Việt Nam thường dàivà có nhiều mối quan hệ
rất khó đánh bóng. Lối đi chuyển bằng đường thủy để quay lạidấu ấn
rõ ràng trong nhiều mặt đờiống văn hóa Việt
Nam: ngôn ngữ, văn vật, phong tục tang ma,… Hình ảnh con thuyềN
và sông nước in đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần người Việt Nam, 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
vừa gần gũi thân thiết, vừa lãng mạn bay bổng. Hàng trăm câu ca dao,
tục ngữ, dân ca truyện cổ gắn liền với sông nước, đôi bờ, đầu sông,
cuối sông, đò ngang, đò dọc,… Những sáng tác văn học – nghệ thuật
dân tộc ưa thích đề tài bối cảnh sông nước. Đặc biệt người Nam Bộ
gọi cả việc đi bộ là “lội bộ”. Khi người chết, cũng theo tín ngưỡng dân
gian, còn đi chuyến đò cuối cùng qua “chín suối” , khi hát cầu kinh
trong đám tang và các bài “chèo đò” đưa tiễn linh hồn.
Tóm lại, ăm mặc, ở, đi lại là những nhu cầu tiết thân của con người
nhưng cũng đồng thời thể hiện sự ứng xử văn hóa của con người với
môi trường tự nhiên. Thể hiện rõ nét dấu ấn loại hình văn hóa nông
nghiệp trồng trọt, đồng thời thể hiện khả năng tận dụng, thích nghi và
ứng phó linh hoạt với môi trường tự nhiên vùng sông nước và xứ sở thực vật.
Câu 2: Văn hóa Đông Sơn: bối cảnh, thành tựu, vị
thế trong nền văn hóa Việt Nam.
Văn hóa Đông Sơn được coi là cốt lõi của người việt cổ. Nhiều học
giả đã thừa nhận rằng chí ít văn hóa Đông Sơn hình thành trực tiếp từ
3 nền văn hóa của lưu vực sông hồng, sông cả, sông mã. Vào khoảng
thế kỷ thứ 7 trước công nguyên các nền văn hóa bộ lạc mất dần tính
địa phương tiến tới chỗ hòa chung vào một văn hóa thống nhất - văn
hóa Đông sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại với nhau trong
một quốc gia : nước Văn Lang. Tính thống nhất văn hóa được thể
hiện rõ trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt-Trung cho đến bờ
sông Gianh Quảng Bình. Mặc dù theo các nhà khảo cổ học nhà nước
này vẫn có dáng hình địa phương nhưng chúng ta có thể thấy rằng
chưa có một văn hóa tiền Đông Sơn nào trước đó có phạm vi phân bố rộng như vậy.
Cư dân văn hóa Đông Sơn vẫn là cư dân nông nghiệp trồng lúa. Họ
canh tác trên nhiều loại đất khác nhau. Hình thức canh tác phổ biến là
loại ruộng chờ mưa. Thời kỳ này họ có thể đã có những kỹ thuật trị
thủy như đắp đê chống lụt. Các loại hình nông cụ của cư dân Đông
Sơn đã khá đa dạng với cuốc, xẻng, thuồng và đặc biệt lưới cày bằng
kim loại đã tạo nên bước nhảy vọt trong kỹ thuật canh tác. Nông
nghiệp dùng cày phát triển (có nhiều lưỡi cày đồng, với các chủng loại
phù hợp với từng loại đất). Cũng có thể ngay từ thời kỳ này người ta 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
đã biết làm một nhiệm vụ năm 2. Bờ mép trồngrọt là chăn nuôi, việc chăn nu
nuôi trâu bò đã phát triển, trước đây là để đảm bảo sức kéo cho nông
nghiệp. Người rảnh rỗi được tìm thấy giải quyết hoa văhình bò, trong
một số tài liệu cổ học còn tìm thấyhấy và gà.
Kỹ thuật đúc đồng thau đạt tới đỉcao của thời kỳ này, với một tiến trìnhnh
độ đáng kinh ngạc. Số lượng và loại hình công cụ , vũ khí bằng đồng
tăng tốc. Đặc biệt, người Đông Sơn đã đúc những lời chàomạnh mẽ bằng
kích thước lớn, trang trí phong phú, mà cho tới ngày nay nó
vẫn là biểu tượng của văn bản hóan tộc. Đó là những đồng trống, tải
đồng Đông Sơn nổi tiếng, trình bàykỹ thuật và bàn tay tài hoa
của người chế tạo sơn Đông.
Kỹ thuật luyện tập và rèn sắt cũng được phát hiệnriển, đặc biệt ở giai đoạn cu
của văn hóa Đông Sơn. Ngoài ra các ngành nghề kể trênn, người Đông
Sơn còn được biết chế độ tạo thủy tinhnh, làm mộc, sơn, dệt vải, đan lát, làm Đ.
Làng thời gian này được phân bổ thường xuyên ở nhàững nơi đất cao thậm c
sườn núi hay trên những quả đồi đất... nhưng bao giờ cũng nằm gần
các sông lớn hay các chúng. Khoảng cáchh giữa và sông
thường từ 1 đến 5km. Choose seek at trú như vậy cho người được tìm thấy
Đông Sơn đã tìm cách tốt nhất đểthích ứng dụng tự nhiên bởi đất ca sẽ
không cần nhắc lại tránh được dữ liệup tràn vào mùa mưa. Làng thời gian nà
xấp xỉ một số người, ngoại lệ còn tlấy hiện tượng một số làng xóm
nhỏ quy tụ thành một vài khu cư trúrú đông đúc .Đó là hiện tượng
thường gặp dân cư nông nghiệp ở vùng đồng bằng phì nhiêu.
Có thể hiện tượng chiến tranhmở, thường xuyên, xung quanh
xung quanh làng có những vành đai phòng thủ mà có khả năngcho là các loạ
tre làng công trình phòng thủ công thực tếnew hệ thống tăng tốc mô-đun
thời gian Đông Sơn ngày nay người ta mới chỉbiết có một thành phần ốc cổ loa.
Người Đông Sơn đã có những phong tục, và khá phong phú
is not known only has at TRẦMn, mặc định vỏ xui như nhiều người bình thư
nghĩ. Dựa vào trang trícan dao găm hình người, hoa văn trên
trống đồng, và thư cổ ta biết được ít nhất có 4 kiểu tóc. Tài khoản
dữ liệu đều phản ánh đường ăn dặmcquần áo theo phương châm giản dị: gọn 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
tới mức tối đa, ở đầun, đóng khố, đi chân đất. Riêng với phụ nữ
Mặc định phổ biến thay vì số lượng. tuy vậy cũng có một số loại áo, cánh cán
dài tay, xẻng bên trong có yếm. Ngoài ra còn có một số trang
lễ hội như váy lông chim hay lá kết, khổ dài ... Người Đông
Sơn ưa thích đồ trang sức , họ đeo đồ trang sức ở tay, cổ tay, và chân.
Sức mạnh trang thường đượcm bằng đồng,thủy tinh. Khác với dân cư
trước đó là ăn bình nếp là chủ yếu, cư dân Đông Sơn bắt đầu ăn xanh tẻ.
Điều này được các nhà nghiêpn tình giải giải= sự tích nổ dân số vào giai đoạ
đoạn đầu vào văn hóa Đông Sơn tạo cho cư dân phải mở róng
cư trú đến những vùng đất mới. Phương tQuảng quảng canh trồng cây đại
trà ở những vùng đất mới nàyh hợp nhất với giống lúa nếp.
Ngoài ra Bình ra họ còn ăn các loại hoa màu, rau result, thủy sản. Model
cơm -rau -cá trong cơ bữa ăn cbằng chứng của Đông Sơn
hiểu biết về hòa bình và hòa hợp cao độ của Đông Sơn với môi trường
sinh. Nhà ở của dân cư Đông Sơn được ttạo ra= abort các vật liệu dễ dàng
theo thời gian. Nhà dạng có lo mái cong mái tròn và là nhà
à. Lựa chọn kiểu kiến trúcúc nhà sàn cũng là ứng dụng thông tin minh
trước trường môi trường của ngngôn ngữ cổ. Không rõ phương tiện đi lạitôi
thuyền bè , đường chuyển chủ yếu yếu làờng sông và ven biển.
Ngoài ra còn có bộ ,gánh gong mang trên vai, trên lưng và con
người đã biết rõ ràng voi, use voi để gửi chuyên gia.
Những nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn này gắn kếtt với nghề nông
trồng lúa nước. Đó là mặt tiếp tụctrời ,mưa giông, các lễ nghi
thực và những lễ nôngnghiệp khác như hát đối đáp cha trai,, đua xe
thuyền,tiếp tục thả diều...
Điểm nổi bật của thời điểm này theo nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước là tư duy phân lưỡng lưỡng hợp . ở Đông Nam Á và Việt Nam
Nam hoa tư duy này tồn tại lâu dài ttạo thành một điểm nổi bật khác.
Người ta đưa ra thế giới được chia đôi : có đàn ông ắt có đàn
bà, có đực tất có cái ,có âm ắt có du .người Đông Dương còn tư
duy khoa học, điều này có thể biểu hiện ở tri thức thiển thị văn học, khái niệm
trụ, khái niệm lịch pháp... Phong tục tenter of the East
Dương cũng rất đa dạng ví dụ như Tiếp tục răn trầu, ăn đất nung
non, uống nước= mũi, thú rừng làm giảmnh,tiếp tục ma chay, cưới xin . Lễ
hội: Hội mùa với nghi lễ hiến sinhựu bò, hội cầu nước với lễ hiến tế, khai mạc đồng trống. 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Âm nhạc nghệ thuật là nghệ thuật chuyên ngànhquan trọng đã được phát triển
thể hiện đời sống tinh thần của chình ảnh cư dân Đông Sơn. Công cụ đáng lư
ý là trống đồng sau đó là sênh, phách, và khèn . Giao lưu văn hóa
bất kỳ điều này rất rộng rãi. Ngoài ra giao tiếp với sa huỳnh quang và Đồng N
bắc có mối quan hệ và tiếp nối vớicác cư dân nam Trung Hòa, bên
đông với hải đảo, phía tây với cđịa chỉ lục địa. Các nhà nghiên cứu
Việt Nam phần đông đều nhất trí cho rằng đã cóhình thành một quốc gia
văn lang và một nhà nước sơ khai tcơ sở văn hóa Đông Sơn.
Câu 3: Tín ngưỡng: Khái niệm, nguồn gốc, một số
tín ngưỡng(Thờ thành hoàng làng, thờ tổ tiên))
+ Tín ngưỡng là niềm tin của con ngle vào thế giới
siêu nhiên liệu, là sự thiêng liêng liên kếtgization character Số.
5-Tín ngưỡng thờ thành Hoàng Làng
Đây là tín hiệu tiêu chuẩn cho lđang hoạt động, tổng hợp trong
văn hóa của người Việt tMột. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng
Vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, trong đó từ “thành” là thành
trì,hoàng là hào để bảo vệhành động.Ngay từ nhà Chu, người ta
đã xây dựng miếu để bảo vệ thần tượng tốt hơnnh trì, đô thị của mình, vị
thần thoại được gọi là Thành hoàng.Cho đến thời điểmTùy –Đường,continue
Thành hoàng trở nên phổ biến và phát triHơn nữa.
5.1 Tưởng Niệm : Tín ngưỡng Thành thờ hoàng lhàng là một loại tín hiệu
ngưỡng phổ biến ở làng xã của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.
“Người Việt phổ biến nhất, nổi bậtnhất là thờ thần ở làng, không làng
ai là không có đình, thần, miếu thờ thần.” “By thế, thần Thành
hoàng gia là biểu tượngêng hoang nhất của cả làng, ở mỗi làng, khắp nơi Các cuộc họp kia”.
5.2 Biểu hiện : Đi cùng tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là-,
lễ hội ở làng xã là môi trườngường để thực hiện ngưỡng tín hiệu ở làng xã. T
biểu tượng trong đó có thể kể đến là hội làng Diềm ở làng Nhồi Xá, xã Hòa
Long, thành phố Bắc. Mặc dù ở Hậu L hiện tạiê, triều đình chỉ cho phép
nhân dân thờ Chính thần do bấy giờ Nho giáo là quốc giáo, nhưng
công việc thực hiện “mậpt”, tiếp tục “hèm” này của nhân dân chủ yếu là để t 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Tà thần và Dâm thần, đây cũng chính là ví dụ tiêu biểu cho tính tự trị
của làng xã, là minh chứng cho câu thơ“Phép vua thua lệ làng”.
Thành hoàng làng được thờ phụng thành kính và trân trọng ở các
không gian thiêng trong các làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ. Ở đồng
bằng Bắc bộ, làng nào cũng thờ Thành hoàng làng. Thành hoàng có
thể là nhiên thần, nhân thần, được phân thành thượng đảng thần, trung
đẳng thần, hạ đẳng thần, chính thần, tà thần… nhưng đều có chung
một điểm là có công trạng đối với làng. Dân làng thể hiện sự biết ơn bằng việc thờ phụng.
5.3 Ý nghĩa: Như vậy, ta có thể nói, tín ngưỡng thờ Thành hoàng là sự
kết hợp đỉnh cao của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng
sùng bái thần linh. Tục thờ Thànhhoàng làng là một giá trị văn hóa
tinh thần rất đẹp của dân tộc, nó thể hiện ýthức về lòng biết ơn với
những người có công của làng xã, đồng thời thể hiện ýthức giữ gìn tục
lệ cổ truyền của làng xã và sự đoàn kết của nhân dân. Tín ngưỡng thờ
Thành hoàng làng chính là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử
biểu tượng cho khát vọng xây dựng một cuộc sống phồn vinh và tinh thần hạnh phúc.
Qua đây, ta có thể thấy tín ngưỡng có một vai trò, vị trí quan trọng
trong đời sống của người dân Việt Nam, nó phản ánh rõ nét đời sống
sinh hoạt của người dân, đồng thời cũng có những ảnh hưởng, chi
phối nhất định đến lối sống và phong tục tập quán. Và như vậy, tín
ngưỡng dân gian chính là một trong những thành phần tạo nên bản sắc
văn hóa của dân tộc Việt, góp phần làm cho nền văn hóa thêm phong phú, đặc sắc. 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu 09:29, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng và Ảnh Hưởng của Môi Trường Tự Nhiên trong Văn Hóa Việt Nam - Studocu