

















Preview text:
20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
1. Tín ngưỡng trong đời sống người Việt: khái niệm, nguồn gốc của tín
ngưỡng, một số loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam (nội dung, những điểm
tích cực và hạn chế trong việc thực hành tín ngưỡng).
Khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã giải thích cụ
thể tín ngưỡng là gì. Theo đó, tín ngưỡng là niềm tin của con người
được thể hiện qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán
truyền thống của dân tộc để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý
thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Một số nhà thần học xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái
thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có
một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người khỏi
khổ đau và có được hạnh phúc và sự bình yên.
Dưới góc độ tâm lý học, tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý – xã hội
biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô
hình, về lực lượng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lượng này
đối với cuộc sống của con người thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng;
quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát
triển của cộng đồng nên nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng người đó.
Như vậy khái niệm tín ngưỡng được hiểu theo các hướng khác nhau nhưng đều
thống nhất rằng, tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, tin tưởng của con người vào các
lực lượng siêu nhiên, hư ảo, có tính chất thiêng liêng huyền bí.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
- Khái niệm: Đây là sản phẩm của môi trường sống, sống phụ thuộc vào tự
nhiên, không giải thích được tự nhiên và là nhu cầu đời sống tâm linh.
- Nguồn gốc: Sùng bái tự nhiên được xem là giai đoạn tất yếu trong quá trình
phát triển của con người.Đặc biệt là đối với các nền văn hóa gốc nông nghiệp. - Biểu hiện: 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
+ Tín ngưỡng đa thần: Do chất âm tính trong đời sống nông nghiệp và với tín
ngưỡng phồn thực nên thiên về sùng bái, tôn thờ nhiều nữ thần.
. Các nữ thần thường là các Bà Mẹ, các Mẫu - Tục thờ Mẫu đã trở thành một tín
ngưỡng Việt Nam điển hình.
. Thờ mẫu là các Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – những nữ thần cai quản các hiện
tương tự nhiên, quan trọng nhất, thân thiếtnhất đối với cuộc sống của người làm
nông nghiệp lúa nước. Về sau, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa gốc du
mục nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá. Tuy nhiên, các bà vẫn song
song tồn tại: bà trời Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là mẫu Cữu Trùng hay Cửu
Thiên Huyền Nữ), ở Huế là Thiên Mụ, Thiên Yana.
. Nhiều nhà ở góc sân vẫn có một bàn thờ lộ thiên gọi là bàn thờ Bà Thiên (hay bà Thiên Đài).
. Bà Đất tồn tại dưới tên mẹ Đất (địa Mẫu), bà Nước dưới tên Bà Thủy. Nhiều
vùng bà Đất, bà Nước tồn tại dưới dạng nữ thần khu vực như Bà Chúa Sứ, Bà
Chúa Sông, Bà Chúa Lạch. Ba bà này tồn tại dưới dạng tín ngướng TAM PHỦ.
. Các bà Mây – Mưa – Sấm – Chớp là những hiện tượng có vai trò to lớn trong
cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. Khi Đạo Phật vào Việt Nam, nhóm
nữ thần này được nhào nặn thành Tứ Pháp: Pháp Vân Thần Mây được thờ ở
Chùa Bà Dâu, Pháp Vũ – Thần Mưa thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi – Thần Sấm
thờ ở Chùa Bà Tướng và Pháp Điện – Thần Chớp thờở Chùa Bà Dàn.
. Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời
gian. Thần không gian được hình dung theo Ngũ Hành Nương Nương, Ngũ
Phương chi thần coi sóc các phương trời; Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả
đường. Theo địa chí, người ta thờ thần thời gian là Thập Nhị Hành Khiển ( 12 vị
thần mỗi vị coi sóc 1 năm theo Tí, Sửu, Dần, Mão…) đồng thời có trách nhiệm
coi sóc việc sinh nở – đó là Mười hai Bà Mụ.
Tín ngưỡng sùng bái loài vật:
Động vật: Chim, chim, rắn, cá sấu – phổ biến ở vùng sông nước – thuộc loại
động vật phổ biến hàng đầu. Người Việt có câu: “ Nhất điều, nhì xà, tam ngư ,
tứ tượng”. Thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn hóa nông nghiệp còn đẩy 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
các con vật này lên hướng biểu trưng: “Tiên”, “Rồng”.Theo truyền thuyết thì tổ
tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng” và là giống “Rồng Tiên”.
Thực vật thì được tôn sùng nhất là cây Lúa: Cây Lúa xuất hiện khắp nơi dù là
vùng Người Việt hay các vùng dân tộc đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn
Lúa, Mẹ Lúa. Thứ đến là các loài cây xuất hiện sớm ở vùng này như cây Cau,
cây Đa, cây Dâu, quả Bầu…
- Ý nghĩa: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt,
có lịch sử lâu đời của người Việt, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã
hội. Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước
vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của
người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin và có sức hút mọi tầng lớp
trong xã hội. Tâm là giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu. Mẫu dạy con người
sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng biết, biết đối nhân xử thế, thờ phụng
ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân với nước.
Tín ngưỡng sùng bái con người: - Nguồn gốc:
+ Do quan niệm trong con người có thể xác và linh hồn.
. Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam Á để chia linh hồn thành hồn và vía.
Hồn vía là sản phẩm của trí tuệ bình dân với những con số 3-7-9 ước lệ (sản
phẩm của truyền thống coi trọng những con số lẻ của người Việt).
. Có 3 hồn là tinh, khí và thần. “Tinh” là sự tinh anh trong nhận thức (nhờ các
quan năng, các vía mang lại). “Khí” là khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể
hoạt động. “Thần” là thần thái, là sự sống nói chung.
. Đàn ông có bảy vía là 7 lỗ trên mặt: hai tay, hai mắt, 2 lỗ mũi và một cái
miệng. Đàn bà có 9 vía: giống đàn ông và có thêm chỗ sinh sản và chổ cho con bú.
+ Người xưa đã thần thánh hóa linh hồn và linh hồn trở thành đầu mối tín ngưỡng.
. Hồn và vía giải thích các hiện tượng như trẻ con hay ốm, hiện tượng ngủ mê,
ngất, chết... Vía phụ thuộc vào thể xác,có người lành vía, yếu vía, dữ vía, cứng
viết, độc vía, vía nặng, vía nhẹ.Khi chạm vào độc vía nếu chạm vía phải đốt vía, 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
trừ vía, giải vía. Hồn độc lập với thể xác (hồn người này có thể nhập vào xác người khác).
Chết là gì? Chết tức là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên theo
triết lí âm dương thì hồn đi từ cõi Dương (Dương gian, Dương thế) sang cõi Âm
(Âm ti, Âm phủ). Đó là một thế giới bên kia, ngăn cách chúng ta bằng chín suối
- con số lẻ ước lệ biểu thị số nhiều. - Biểu hiện:
+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
. Niềm tin chết là về nơi chín suối, ở nơi chín suối, ông bà có thể đi về thăm non
phù hồ con cháu. Có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam Á và nó phổ biến và phát
triển ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo; ngay cả những gia
đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà. Người Việt Nam
coi trọng là việc cúng giỗ vào ngày mất (kị nhật). Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng
đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất.
. Tục thờ Thổ Công - một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi gia ư, ngăn chặn
tà thần, định đoạt phúc họa cho mộtgia đình. Thổ Công là một hình tượng bộ ba,
trong truyện “sự tích Táo Quân” thì Thổ Công trông nom việc trong bếp, Thổ
Địa trông coi việc trong nhà và Thổ Kì trông coi việc chợ búa.
· Mối quan hệ giữa Thổ Công (địa thần) với ông bà tổ tiên (nhân thần) trong gia
đình rất thú vị: Thổ Công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên được coi là quan
trọng nhất. Ông bà tổ tiên sinh thành ra ta nên được tôn kính nhất ‘
· Ở Nam Bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa với các đặc điểm như bàn thờ
đặt ở dưới đất - thần đất phải trở về với đất, nhiều nơi đồng nhất với Thần Tài -
mọi của cải đều từ đất mà ra. Nhiều tranh tượng Ông Địa với khuôn mặt nữ tính,
ngực lớn và cái bụng chình ình của người sắp đẻ (gọi là ông Địa – Bà Bóng) cho
thấy rõ mối liên hệ với cội nguồn Mẹ Đất và nguyên lí phồn thực.
+ Tín ngưỡng thờ thần:
· Trong phạm vi thôn, xã, quan trọng nhất là việc thờ thần Thành Hoàng. Đây là
vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó. Khái niệm
“Thành Hoàng” là một từ Hán-Việt xuất hiện sau này ở cộng đồng người Việt 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
Nam chỉ một khái niệm đã có từ lâu đời mà người các dân tộc miền núi gọi là ma làng.
· Trong nhà thờ gia tiên thì trong nước, người Việt Nam thờ vua tổ – vua Hùng.
Mảnh đất Phong Châu (Vĩnh Phú) nơiđóng đô của các vua Hùng thời xưa, Ngày 10-3 là ngày giỗ tổ
Tín Ngưỡng thờ Tứ Bất Tử
Người Việt Nam còn có một tín ngưỡng đặc biệt là tục thờ tứ bất tử (bốn người
không chết): Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh.
. Tản Viên (với truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh”) và Thánh Gióng (với
truyền thuyết “‘Thánh Gióng”) là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một
cộng đồng nông nghiệp phải liên kết chặt chẽ với nhau để, một mặt, đối phó với
môi trường tự nhiên là chống lụt và, mặt khác, đối phó với môi trường xã hội là
chống giặc ngoại xâm. Sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên Đất nước.
· Chử Đồng Tử – người nông dân nghèo khổ, với hai bàn tay trắng, đã cùng vợ
gây dựng nên phố xá sầm uất – chính là hiểu tượng cho ước mơ thứ nhất
· Liễu Hạnh – người con gái quê ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Hà), tương truyền là
công chúa con Trời, ba lần (con số 3!) từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên Đàng,
xin xuống trần gian để sống một cuộc đời bình dị với khát vọng tự do, hạnh
phúc – chính là hiểu tượng cho ước vọng thứ hai. Hai ước vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên Con Người.
Như vậy, tục thờ Tứ Bất Tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân
tộc, là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh liên
kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc
sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc.
Tín ngưỡng Phồn thực:
- Khái niệm: Là một văn hóa tôn thờ hành vi giao phối và bộ phận sinh dục. Đây
là một nét văn hóa, không phải là một tôn giáo. Nó là một nét văn hóa đặc trưng
không những của người Việt Nam mà còn rất nhiều nước trên thế giới. - Nguồn gốc: 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
+ Sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người (văn hóa gốc nông nghiệp).
+ Những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật để giải thích hiện thực – triết lí âm
dương. + Những trí tuệ bình dân nhìn thấy ở thực tiễn một sức mạnh siêu nhiên
và sùng bái nó như thần thánh. Kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực. (Phồn
- nhiều; thực - nảy nở). - Biểu hiện:
+ Thờ cơ quan sinh dục nam nữ (thờ Sinh Thực Khí) (thực: nảy nở, khí: công
cụ). Đây là hình thức đơn giản của tín ngưỡng phồn thực phổ biến ở các nền văn hóa gốc nông nghiệp.
. Chiếc trống đồng – biểu tượng sức mạnh, quyền lực cũng đồng thời biểu tượng
toàn diện cho tín ngưỡng phồn thực. Tâm mặt trống là hình mặt trời biểu trưng
cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho
sinh thực khí nữ. Xung quanh mặt Trống Đồng có gắn tượng cóc, 1 biểu hiện
của tín ngưỡng phồn thực
. Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng
nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở. Để
làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý
giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình
dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là sinh
sôi, nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ
quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối,
khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực
khí của nam mà thôi. Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có
niên đại hàng ngàn năm trước Công Nguyên. Ngoài ra nó còn được đưa vào các
lễ hội như ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh)
+Thờ hành vi giao phối, ý nghĩa của tục này là ở chỗ: sự hợp thân của nam nữ
như một ma thuật kích thích sự sinh sôi nảy nở của vạn vật .
. Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm tr.CN),
xung quanh hình mặt trời với các tia sáng là tượng 4 đôi nam nữ đang giao hợp. 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
. Thân thạp khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau nối đuôi chiếc trước
khiến cho hai con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền
chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Hình chim, thú, cóc… giao phối tìm thấy ở khắp nơi.
. Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở
làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công Nguyên. Ngoài hình
tượng người, có cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc... cũng được khắc trên
mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).
. Vào dịp hội đền Hùng tại Chu Hóa, Phú Thọ, Vùng Đất Tổ lưu truyền điệu
múa “tùng dí”, thanh niên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh
thực khí nam và nữ, cứ mỗi tiếng trống “tùng” thì họ “dí” hai vật đó lại với
nhau. Phong tục “giã cối đón dâu” cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn
thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ. Ngoài ra một số
nơi còn vừa giả cối (rỗng) vừa hát giao duyên.
+ Người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ cũng có tục đâm đuống hay giả gạo.
Giày và cối tượng trưng cho vật giống nam và nữ. Quan niệm về sự sinh sôi, nảy
nở, hưng thinht của mọi vật được thể hiện qua hai công cụ là đuống và chày, hai
vật biểu trưng cho âm và dương, sự hài hòa của đất trời. -Ý nghĩa:
Tín ngưỡng phồn thực là một hình thức tín ngưỡng dân gian thể hiện ước vọng
của người dân về sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người, về cuộc sống ấm no, đủ đầy.
Tích cực và hạn chế
Những năm qua, các lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, diễn ra sôi động trên khắp mọi
vùng, miền đất nước. Sự sôi động, nhộn nhịp của các hình thức sinh hoạt tín
ngưỡng dân gian góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của
nhân dân, củng cố, nâng cao giá trị đạo đức, lối sống của người Việt, củng cố,
bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
tích cực các lễ hội, tín ngưỡngđã và đang có nhiều tác động tiêu cực đối với xã hội. 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
Thứ nhất, nhiều lễ hội, tín ngưỡng đang có chiều hướng phát triển thiên lệch, xa
rời dần bản chất; nhận thức của người dân về các giá trị văn hóa truyền thống
trong lễ hội, tín ngưỡng có xu hướng lệch lạc.
Ví dụ: Các sinh hoạt tín ngưỡng chung của cả cộng đồng như thờ thành hoàng
làng, thờ anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóacũng đang bịbiến dạng, méo
mó. Từ ý nghĩa tốt đẹp ban đầu, giờ đây các anh hùng, các danh nhân văn hóa,
những người có công với cộng đồng đang dần bị biến thành những vị thánh
mang đầy bản chất thực dụng để đáp ứng mong muốn trần tục của người dân. Lễ
khai Ấn đền Trần (Nam Định) từ ý nghĩa là lễ khai mở cửa đền của thủ nhang,
giờ đây lễ hội này đã bị biến đổi ý nghĩa thành lễ khai ấn để cầu thăng quan, tiến
chức. Trần Hưng Đạo từ một anh hùng dân tộc cũng trở thành vị thánh siêu
phàm, cầu gì được nấy; Mẫu Liễu Hạnh cùng các Thánh bà, Thánh ông trong hệ
thống tín ngưỡng thờ mẫu từ chỗ là người trông nom, coi sóc các vùng miền của
vũ trụ giờ đây trở thành những vị thánh vạn năng, giúp phát tài phát lộc.
Thứ hai, trong nhiều lễ hội tín ngưỡng còn tồn tại những tục hèm tối cổ, ít hoặc
không còn phù hợp với điều kiện mới, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý con người hiện đại.
Trong lễ hội tín ngưỡng ở Việt Nam, đặc biệt lễ hội thờ thành hoàng làng ở khu
vực vùng đồng bằng sông Hồng còn tồn tại khá nhiều các giá trị văn hóa của
người Việt cổ. Hiện nay, bên cạnh các tục hèm mang giá trị văn hóa truyền
thống còn một số tục hèm tối cổ ít hoặc không phù hợp với điều kiện xã hội mới.
Tiêu biểu như tục hèm chém lợn (ở lễ hội thờ thành hoàng của các làng Ném
Thượng, thành phố Bắc Ninh, làng Duyên Yết xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà
Nội); lễ hội hiến tế trâu trong lễ hội chọi trâu (Hải Lựu -Vĩnh Phúc, Đồ Sơn- Hải
Phòng,…) có những hình ảnh phản cảm đã gây nhiều ý kiến trái chiều trong giới
nghiên cứu, các nhà quản lý và trong xã hội. Nhiều ý kiến cho rằng, các tục hèm
này cần loại bỏ vì nó không phù hợp với tinh thần nhân văn của thời đại. Nhưng
một số nhà nghiên cứu và đặc biệt, người dân ở các làng nói trên – chủ thể của
lễ hội,tín ngưỡng lại cho rằng, giữ gìn những nghi lễ cũ là giữ gìn bản sắc văn
hóa của cha ông, bỏ tục hèm đồng nghĩa lễ hội không còn giá trị.
Như vậy, các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa cần rà soát,tìm hiểu kỹ cáctục
hèm của cáclễ hội.Với những tục hèm tối cổ ít hoặc không còn phù hợp với điều 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
kiện xã hội mới thì cần nghiên cứu thay thế nó bằng các nghi lễ khác có ý nghĩa
tương đương, hoặc thể hiện nó với hình thức khác phù hợp với xã hội mới,
nhưng không làm thay đổi nội dung, ý nghĩa của tín ngưỡng, được người dân đồng tình chấp nhận.
Thứ ba, công tác bảo tồn, trùng tu di tích, khôi phục các loại hình lễ hội,tín
ngưỡng đang có xu hướng làm sai lệch hoặc biến dạng những giá trị văn hóa,
nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng là nhiệm vụ song trùng của hai ngành
văn hóa và tôn giáo. Trên thực tế, vì thiếu những quy định pháp luật rõ ràngvàsự
chồng chéo của các cơ quan quản lý dẫn đến tình trạng có những nội dung thì
hai ngành cùng quản lý nhưng cũng có những nội dung lại không được ngành
nào quan tâm. Trong sự tác động tự phát bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường,
đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội có sự phát
triển thiên lệch, vượt ra ngoài khuôn khổ quy định của pháp luật, đặc biệt làhoạt
động lễ hội ngày càng xô bồ, bát nháo.
Thứ tư, nhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có tác động mạnh mẽ đến đời sống
tôn giáo làm biến dạng nhiều giá trị văn hóa tôn giáo truyền thống, gây tác
động xấu đối với xã hội, gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước.
Thí dụ trong Phật giáo, các hoạt động của tín ngưỡng như: đốt vàng mã, dâng
sao giải hạn, xem ngày, kén giờ, bói quẻ, xóc thẻ, xin xăm… đang trở thành
những sinh hoạt lấn lướt các giá trị văn hóa Phật giáo; các nghi lễ cầu an, cầu
siêu đang đi quá xa tinh thần Phật giáo ban đầu và trở thành cách thức kiếm tiền
của không ít tăng ni, phật tử.
2. Văn hóa Đông Sơn: bối cảnh, đặc trưng, thành tựu văn hóa. * Thời gian:
Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ đã xuất hiện vào khoảng năm
800 Trước Công Nguyên, từng tồn tại ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
và Bắc Trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Nam \
Định, Ninh Bình, Hà Nam , Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm
là khu vực Đền Hùng), và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc
Bộ (sông Hồng, sông Mã và sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ
sắt sớm. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương nơi các dấu tích 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
đầu tiên của nó được phát hiện, gần sông Mã, Thanh Hóa. Nhiều dấu tích
đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân
cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan...
Có những nghiên cứu cho rằng trên cơ sở văn hóa Đông Sơn, nhà nước
văn minh đầu tiên của người Việt, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng
và nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương đã phát triển, trước
khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Hán. Theo đánh giá của các nhà khoa
học, thì nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ các
thời kỳ tiền Đông Sơn trước đó là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa
Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun.
Văn hóa Đông Sơn được phát hiện trước CM tháng 8-1945.
Vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN, các nền văn hóa bộ lạc mất dần
tính địa phương tiến tới hòa chung vào một văn hóa thống nhất - văn hóa Đông Sơn
* Đặc trưng và thành tựu văn hóa Đông Sơn:
1. Về phương thức sản xuất:
- Trồng trọt và chăn nuôi phát triển, trong đó sản xuất lúa nước đống vai
trò chủ đạo. Ngoài ra còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà... dùng để lấy sức kéo, lấy thịt.
- Các loại hình công cụ của cư dân Đông Sơn khá đa dạng với cuốc, xẻng,
mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cày đồng.
- Nghề thủ công đã có sự phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu sản xuất,
sinh hoạt và chiến đấu:
+ Nghề luyện kim màu: đạt đến trình độ kỹ thuật cao, tạo ra khối lượng
sản phẩm lớn, nhiều chủng loại. Đặc biệt là luyện kim đồng đạt đến đỉnh cao phong phú, đa dạng.
+ Đồ gốm Đông Sơn mỗi vùng có phong cách riêng, có tiến bộ về sử
dụng chất liệu, kỹ thuật tạo hình, tạo dáng.
+ Một số nghề thủ công khác cũng khá phát triển như nghề thủy tinh, nghề mộc, nghề dệt...
2. Về văn hóa sinh hoạt vật chất:
- Mô hình bữa ăn của cư dân Đông Sơn là Cơm- Rau- Cá biết tận dụng môi trường tự nhiên. 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
- Đồ dùng sinh hoạt được chế tác bằng 3 chất liệu chủ yếu là đồ gốm, đồ
đồng, đồ gỗ. Một số loại đồ dùng sinh hoạt tiêu biểu như nồi, chõ, mâm, chậu...
- Đặc trưng nhà ở người Việt cổ:
+ Vật liệu chủ yếu là gỗ, tre, nứa... có sẵn trong tự nhiên. Tre được dùng
để làm kèo, uốn, hoặc chẻ ra để đan; gỗ lim, gỗ xoan... để làm cột nhà.
Rơm, rạ, lá cọ, lá dừa... dùng để lợp mái. Đất nung để xây tường.
+ Kiểu dáng mang đậm dấu ấn sông nước, chủ yếu là nhà sàn hình mai rùa, hoặc hình thuyền.
+ Quy mô nhà ở vừa phải, hài hòa với thiên nhiên. Nhà chú ý tới chiều
ngang, rộng theo số lẻ là 3 gian, 5 gian; bậc nhà cũng theo số lẻ. Nhà 5
gian thì gian giữa để thờ, 2 gian bên để sinh hoạt, còn 2 gian trái là buồng ngủ.
+ Vị trí chọn hướng sông, suối, hướng núi theo phong thủy. Cổng nhà
không được xây chính giữa với cửa nhà mà được xây lệch sang bên trái
hoặc bên phải. Cửa nhà thường chọn hướng nam, hoặc đông nam có gió
biển mát. Còn bếp chọn hướng tây tránh gió bắc.
- Không gian nhà ở thường quần tụ thành xóm làng, xung quanh nhà là vườn cây, ao cá... * Văn hóa trang phục:
- Trang phục chất liệu chủ yếu là bằng tơ tằm, sợi bông...phù hợp với điều
kiện thời tiết và công việc đồng áng.
- Phụ nữ mặc váy và yếm. Nam giới đóng khố, cởi trần. Ngày hội trang
phục cầu kỳ hơn, cả nam và nữ đều dùng áo liền váy, chất liệu bằng lông
vũ hoặc là cây, đầu đội mũ lông chim. Thời kỳ này đã xuất hiện trang
phục của giới quý tộc.
- Phụ nữ thườn để tóc cắt tóc ngắn để xõa ngang vai, bới tóc trên đầu hoặc tết tóc thả sau lưng.
* Trang sức khá đặc trưng như nhuộm răng đen, xăm mình. Ngoài ra còn
đeo vòng tai hạt, chuỗi, nhẫn và phổ biến là vòng chân.
* Vê phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu
là đường sông, ven biển. Thuyền có 2 loại là thuyền độc mộc và thuyền
ván ghép từ đó mà hình thành các điệu lý, điệu hò hát giao duyên.
3. Về văn hóa sinh hoạt tinh thần: 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
- Về tư duy và nhận thức: người Việt cổ đã biết phân loại sự vật theo chức
năng như công cụ sản xuất (cuốc, cày…), công cụ sinh hoạt( dao, bình..),
công cụ chiến đấu( giáo, mác...).
- Về tư duy toán học: đạt đến trình độ nhất định như tuy duy đối xứng
gương, đối xứng trục. Con người thời này đã có tri thức thiên văn học.
- Về nhận thức thế giới: người việt thời kỳ này đã có sự nhận thức thế giới
và nhận thức chính mình bằng tư duy lưỡng phân: đàn ông- đàn bà, núi biển...
- Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạc tượng, nghệ
thuật kiến trúc đã hình thành. Đặc biệt trống đồng Đông Sơn là sự phát
triển vượt bậc, là 1 biểu tưởng văn hóa, cũng là 1 nghệ thuật giá trị đặc sắc.
- Về kỹ thuật quân sự: Vũ khí đồng thau trong văn hóa Đông Sơn không
những nhiều về số lượng, mà còn phong phú đa dạng về loại hình và độc
đáo về phong cách. Phần lớn vũ khí không được trang trí hoa văn, song
cũng không ít dao găm, dao chiến, qua, giáo, kiếm được trang trí hoa văn
đẹp mắt, không chỉ trang trí ở phần cán, mà ngay phần lưỡi cũng được
trang trí hoa văn mang đậm đà sắc thái dân tộc. Trong mỗi loại kể trên lại
có nhiều hình dáng khác nhau tạo nên sự đa dạng, phong phú. Vi dụ như:
giáo, lao, giao găm… Có thành quách với các bức thành kiên cố với hào
sâu rộng cùng các ụ, lũy để bảo vệ phòng thủ chính là Thành Cổ Loa.
- Về tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng bái vật giáo, tín ngưỡng phồn thực,
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
- Về phong tục: đã xuất hiện tục nhuộm răng, ăn trầu, phong tục cưới xin,
ma chay, phong tục lễ hội. Đặc biệt lễ hội thời kỳ này khá phong phú như
hội mùa, hội cầu, hội nước...
* Vị trí của văn hoá Đông Sơn trong tiến trình và phát triển của văn hóa việt nam:
- Văn hóa Đông Sơn được coi là cốt lõi của người Việt cổ. Cùng với văn
hóa Óc EO, văn hóa Sa Huỳnh tạo thành "tam giác văn hóa" của người Việt.
- Văn hóa Đông Sơn tạo nền tảng để văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp biến
với các nền văn hóa khác như Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á trong 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
thiên niên kỷ đầu sau công nguyên mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa Việt Nam (phần này cô giúp
em chia lại thành vật chất và tinh thần cô cho em các ý ạ để em tìm ạ )
Việt Nam ta từ xưa tới nay luôn được biết tới là một quốc gia có nên
văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Sự khác
biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu, phân bố dân tộc, dân cư và sự khác
nhau về lối sống, lối sản xuất đã tạo ra nhiều vùng văn hóa có những nét
đặc trưng riêng tại Việt Nam.Và đó cũng là nguyên do hình thành nên loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp mà hôm nay chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu.
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á - khu vực điển hình
của vùng văn hóa Phương Đông. Môi trường sống của cư dân phương
Đông là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm) tạo nên các con sông lớn với
những vùng đồng bằng trú phú nên đã hình thành nghề trồng trọt. Chính
vì vậy mà chúng ta có những đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp
Việt Nam do ở góc tận cùng phía đông-nam nên thuộc loại văn hóa gốc
nông nghiệp điển hình. Vậy những đặc trưng chủ yểu của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp là gì?
1. Văn hóa vật chất
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc ngươi
dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kêt trái và thu hoạch.
Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức
tôn trọng và ươc vọng sống hòa hợp vời thiên nhiên. Người Việt Nam mở
miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời” …
Vì nghề nông, nhât là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc
vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên (Trông trời trong đất, trông mây; Trông
mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…) cho nên, về mặt nhận thức, hình thành
lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo theo hiện chứng – cái mà người nông nghiệp
quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại
giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
đến các mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm
hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa;
Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa…
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà à coi trọng cái
bếp à coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét: Phụ nữ Việt Nam
là người quản lí kinh tế, tài chính trong gia đình – người nắm tay hòm chìa khóa.
Chính bởi vậy mà người Việt Nam coi Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng
cồng bà…; còn theo kinh nghiệm dân gian thì Ruộng sâu trâu nái, không bằng
con gái đầu lòng. Phụ nữ Việt Nam cũng chính là người có vai trò quyết định
trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu, Con dại cái mang. Vì tầm quan
trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa là “mẹ” đã mang
thêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, trống cái,
ngón tay cái, máy cái…Tư tưởng coi thường phụ nữ là từ Trung Hoa truyền vào
(Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô; Nam tôn nữ ti; Tam tòng; xem §3.2.3); đến
khi ảnh hưởng này trở nên đậm nét (từ lúc nhà Lê tôn Nho giáo làm quốc giáo),
người dân đã phản ứng dữ dội về việc đề cao “Bà chúa Liễu” cùng những câu ca
dao như: Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha, Ba trăm
một mụ đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi !
Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á này được
nhiều học giả phương Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ” .Cho đến tận bây giờ, ở các
dân tộc ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Chàm hoặc hoàn toàn
không chịu ảnh hưởng như nhiều dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai…), vai trò
của người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về ở đằng
nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ… Cũng không phải ngẫu nhiên mà cho đến
nay, người Khmer vẫn gọi người đứng đầu phum, sóc của họ là mê phum, mê
sóc (mê=mẹ), bất kể đó là đàn ông hay đàn bà.
Hạn chế: Trên đây là những đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp. Tuy
nhiên văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến
trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để
bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động
sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội. 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
Việt Nam. Vậy nên bên cạnh sự giữ gìn nên văn hóa đặc trưng của dân
tộc, ta còn cần biết sáng tạo, vận dụng những thành quả tiến bộ của nền văn minh thế giới
Như vậy, loại hình văn hóa Việt Nam được xem là loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt điển hình, đều được thể hiện rõ nét trong cách tổ
chức đời sống phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt và được
xem là nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam
2, Văn hóa tinh thần
Trong tổ chức cộng đồng ,con người nông nghiêp ưa tổ chức xã hội theo
nguyên tăc trọng tình,chuộng sự hòa thuận tương trợ, quan tâm đến những láng
giềng.Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa
thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu.Điều này cũng đã đươc đề cập rất nhiều
trong ca dao, tục ngữ Việt Nam như :”Bán anh em xa, mua láng giềng gần”
Về cách thức tổ chức cộng đồng,Lối tư duy tổng hợp và biện chứng,
luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình
đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ
thể, dẫn đến triết lí sống :”Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”; “Đi với Bụt mặc áo
cà-sa, đi với ma mặc áo giấy…” .Sống theo tình cảm, con người còn phải biết
tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau. Đó là nền dân chủ làng mạc, nó
có trước nền quân chủ phong kiến phương Đông và nền dân chủ tư sản phương
Tây. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí coi trọng cộng
đồng, tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau.
Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc
(giờ cao su ), sự thiếu tôn trọng pháp luật… Lối sống trọng tình làm cho thói tùy
tiện càng trở nên trầm trọng hơn: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình… Nó
dẫn đến tệ “đi cửa sau” trong giải quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam
thần, tứ thế… Trọng tình và linh hoạt làm cho tính tổ chức của người nông
nghiệp kém hơn so với cư dân các nền văn hóa gốc du mục. 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách
linh hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không
những không có chiến tranh tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo…) đều được tiếp nhận và đều bình
đẳng giữa các tôn giáo. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt
Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại
xâm, mỗi khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng
lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự
Trong đời sống văn hóa ,phong tục lễ tết và lễ hội là nơi thể hiện khá
đậm đặc điểm cũng như bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là nói đến một hệ
thống các tập tục sinh hoạt cộng đồng của mỗi dân tộc.Tết là một mỹ tục của
văn hóa, chứa đựng rất nhièu những nét riêng đặc sắc của dân tộc Việt Nam ,rất
cần được kế thừa và phát huy theo hướng vừa lành mạnh,tiết kiệm vừa thiêng
liêng trang trọng ,đậm đà bản sắc dân tộc và chất nhân văn cao quý. Lễ Tết có
hai phần: Phần lễ và phần tết. Phần lễ nghuêng về thờ cúng tổ tiên, thổ công, cầu
nguyện mọi sự tốt lành may mắn trong năm mới. Phần Tết nghiêng về chuyện
ăn uống, bồi dưỡng sức khỏe, mời mọc khách khưa, người thân. Tết Việt Nam
gắn bó mật thiết với không gian gia đình, với tâm linh hướng vọng tổ tiên. Cho
nên tết bao giờ cũng trở thành kỉ niệm thân thương và bền bỉ của mỗi đời người.
Tết còn là dịp những người phụ nữ trong gia đình trổ tài nấu nướng các món
ăn,bánh trái. Công lao này trước hết thuộc về những người vợ,người mẹ ,người
em,Miếng ăn vừa là tài khéo, vừa là tấm lòng thảo thơm tình nghĩa.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tất yếu nảy sinh tỏng xã hội loài
người trên cơ sở nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người khi sống thành
cộng đồng. Đối với người VN , nghề sản xuất chủ yếu trong xã hội truyền thống
là sản xuất lúa nước. Vòng quay của thời vụ, thiên nhiên, sự chi phối mùa màng
của các lực lượng tự nhiên và cuộc sống khó khăn bất trắc đã tạo ra trong họ nhu
cầu tâm linh. Những lúc mùa vụ, người nông dân phải “đầu tắt mặt tối, thức
khuya dậy sớm” .Vì vậy những lúc nông dân thường vào hai mùa :mùa xuân và
mùa thu,họ có nhu cầu tạ ơn và xin thần linh để cố một mùa màng bội thu, một
cuộc sống no đủ,hạnh phúc.Mặt khác, người dân cũng có khát vọng được vui
chơi giải trí, thể hiện mình trong đời sống cộng đồng,Vì vậy lễ hội dần được 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu
hình thành qua thời gian và những biến thiên của lịch sử, lễ hội đã dần lắng đọng
nhiều lớp phù sa văn hóa đặc sắc.Nếu lễ tết diễn ra trong phạm vi không gian gia
đình thì lễ hội lại diễn ra ngoài không gian cộng đồng làng, vùng miền,Tổ quốc.
Lễ hội mỗi làng quê khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhuau. Mặt khác, lễ
hội tính tộc người rất rõ,các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác
nhau,....Các loại hình lễ hội khá phong phú như là: lễ hội nghề nghiệp, lễ hội kỉ
niệm các anh hùng dân tộc, lễ hội tín ngưỡng- tôn giáo,...
Hạn chế: Trên đây là những đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp. Tuy
nhiên văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến
trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để
bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động
sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội.
Việt Nam. Vậy nên bên cạnh sự giữ gìn nên văn hóa đặc trưng của dân
tộc, ta còn cần biết sáng tạo, vận dụng những thành quả tiến bộ của nền văn minh thế giới
Như vậy, loại hình văn hóa Việt Nam được xem là loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt điển hình, đều được thể hiện rõ nét trong cách tổ
chức đời sống phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt và được
xem là nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam 20:27, 07/01/2026
Tín Ngưỡng Việt Nam: Khái Niệm, Nguồn Gốc và Các Hình Thức (CSVH) - Studocu