19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
1. Tính nước mnh văn bn truyền tải hệ thống Tiếng V
những bTôitype hiện của đặc signature điều này m
các thành tố văn hómột Việt Nam
Khám phá vị trí địa chính tiền của Việt Nam sẽ thấy một điều rằng:
nước taTiếp tục căng thẳng với con chuột nhiềuyếu ĐN mang tính nước,nhbiển.
Việt Nam nằm gần giữa trung tâm Đông Nam MT, được bao xung quanh bởi Biển
Đông rộng lớn, với Họ bờ biển biển bảo khoảng cách 3260 km. Hơn thế Hơn nữa, Việt
Nam cònsở hữunhững dòngsông, vớisốcác consông dàitrêN
10km lên tới 2360 con sông, trung bình đi dọc L biển cứ 20 km thì khoảng cách
một L sông. Ngoài ra ra còn con chuột nhiều ồ, hồ, phá, kênh ... đồng
từyếu ĐN vịtrí địa đó tính nước nh hlớn con chuộtsâu sắc mạnhvăn
Hóa truyền tải hệ thống của người Vinó. Tính ớc anh ấy còn được thể hiện con ch
xóa thông tin hỗn hợp các chất văn hóah.
Đầu tiên, tính nước thể hiện mạnh văn Hóa vật chất của người Việt Nam,
từ điển hình nhưviệcMT, ở, mặc định, đi lại… Bàn về việc của người Việt NMỘT uống
yếu ĐN ớc ( MT nguồn gốc từ nước) yếu ĐN chính tạo nên một
khách MT. Trong một kháchMT sẽ bao gồm 3 yếu ĐN: cơ, rau, cá. Trong yế
ĐN về thì yếu ĐN trùng hợp sản phẩm vMT nhiều hơn hải sản phẩm. By Việt N
sôngnước, xung quanhta tất cả sông, aohồ chonênviệcnuôi dưỡng trồngtrùng hợp
sản phẩm con chuột thuận lợi; từ đó, đây cũng nơi cung cấp độ nguồn thực vật ph
yếuchokháchMT.Ngoài rara,tang cóthểthấyrằngtínhnướcmạnhkháchMT
củangười Việt cònthể hiệnqua bátnước mắm. Trongmột cơ, bát
nước mắm biểu tượng cho đoàn tụ của gia đình vì cả hainhà sẽ cùng chấm
chung mộtbát nướcđó, đồng thờinước cónguồn gốctừ cá, tức
cũng tính nước mạnh đó.Bên bên đó, tkính nước cũngthể hiện xác định
mạnhviệc của ngườiViệt Nam. NgườiViệthchinh trêN sôngxây Tòa nhànhà
nước đã trở thành thói quenquenthế khi lên đất liền định cưcư dân, ta đã quen
đặt cho nhiều bộ bộ phận của ngôi nhà mang yếu ĐN nước như: gạch ý nghĩa
cá, máicông, nhà,Nhà bè. NgườiViệt đặtcho nhiều bộgỗ
theo họ bò bộ phận của con thuyền như: tàu à, mũi nhọn tàu, dạ tàu, sau đó
tàu, họ tàu, tàu... Vì thế thì được chúng tôi như vMộty người Vi con chuột gắn
sông nước, thậm chí là sống trên sông nước, kiếmsống trên sông nước. Mà
đểdichuyển mạnhsôngnướcthì chỉthể dùngSau đó, thế người
Việtđồng xutàuthuyềnnhưchínhngôinhàcủamình,chonênkhivàođấtmột
sốngđịnh ,họ vẫnbạn sử dụngnhững chúng tôi nguồn gốctừ họbộ phaN
tàuthuy đềNđể gọi. Khôngchỉ có, cómột yếutố mà tínhnước thể hiện
con chuộtxác định mạnh vănHóa ViệtNam đó đi lại. Việtt Nam ĐTôi dạngiao thông
địahình sôngTakenngày đặchọ biểnnên dTôi nhiênngườiViệtcon chuột giỏiđi
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
lại trên Họ Hoành. thế Họ trùng hợp Phát triển con chuột mạnh. ngườiđiều đó th
hiện Làm: N tiện đi lại phong phú; người Việt giỏi đi trên sông
nước,giỏiphía bắccầu,giỏi hàochiến(quachiếnthắngBạchĐằngnăm
938 của NgôQuyền), vẽ mắt cho thuy-l; lượng Anh ta giaothương diễn ra nơi
bếnsông; đôThị trườnghầuhếtlà nhữngGócvensông,venbiển (HảiPhòng,Đà
Đà Nẵng...). Hơn thế Hơn nữa, thóTôi làm đi lại trên sông nước cũng nhTôi yêu tới
nquenđi lạitrên đkhu vựcngày naycủa ngườiViệt Nam.Ta cóthểthấy
di chuyển trên sông nước phải cái đó nhanh Tôi, không sự phân chiMột
thànhtừng làn đường, thế đimột cáchtự LÀM.Từ đó,người Việtđãáp dụng sử dụng
it to the normal information on the path. Người Việt tham gia giao thông
Họbộ nhưnggiữn làmcủaHọ thuỷ, đicon chuộttự LÀM không theo
không cứ một sóng Họ bất kỳ, sự phân chia sóng Họ như chỉ mang
tính tươngđ, cứhễ chỗ nào trốnglà đi. Nhưvậy, ta có thểthấy tính nước
thể hiện con chuột xác định mạnh văn Hóa vật chất của người Việt ta, thể hiện xác đị
qua việc MT uống, nhà giao thông đi lại. Điều đó cũng cho thấy tính
nước đóng vai trò lượng trọng vMột nh Tôi yêu sâu sắc tới cuộc gọi sống văn
Hóa chất người Việt.
Không chỉ văn Hóa vật chất, ngay mạnh văn Hóa tinh hơn của người
Việt Nam, tính nước cũng được thể hiện con chuột xác định Công ty thông qua họ N
phong...Về ,ngườiViệt có tínChôn thánh nước,tôn thờ họloàitín ngưỡng
sinh sống ở vùng sôngnước. Có thể kểđến như Lễ hộiNghinh Ông (Cần Giờ),đây
khách công yêu cầu tài lớn nhất vùng Đông Nam Bộ, thể hiện tấm dài thành
kính, cảm ơncá Ông và mongcầu cho nghềđTôibiển của ngư dân huyệnCó thể
Giờ đượcợc thuận Lợi. Ngoài ra ra, cũng thể nhắc tới khách công Thuyền khách s
Lạng (Hạ Dài) với ý nghĩa người lãnh đạo vật chiến thắng của tướng Trần Khánh
yêu cầu cho mưa thuận gió ., btôi cả yên bình để tài dân thuận lợi ra
. Họ vào đó, tính ớc cũng thể hiện xác định mạnh .phong Continue vỗ nh quán
Điều điều này thể hiện xác định mạnh phong Continue đặt nằm ớc đầu năm của
Nùng. Trongđầu tiênmùa xuân nămmới, ngườiKinh thườnghayđi nhẹcầu tài
lộcchogiađình,ngườihơnđểđặt nằmcó thể.CònđốivớidântộcTayy,Nthì
họ lại phong Continue một thời gian sức thú vị đặt nằm nước đầu năm. By họ lượ
rằng: nước sự sống, giúp trùng hợp vTại sinh sôi sục phần thưởng ở. thể để m
mới an khang, sung túc họ sẽ đi lấy nước mớifor ở trong nhà. Ngoài ra, tính
nướcmạnh ngườiVicũngđược thểhiện.đó sựlinh hoạt động,phần mềmtâm
mại như nước - chữ dùng của GS. Cao Xuân Huy. Ngay cả mạnh những
thành ngữ,Ngữ pháp,ca dao , tacũnggặp tínhnước trongđó.công nghệtruyện
thểđếnnhưcâu:'nướcđổ đầuVịt',cỏ khô' nước tớichânmớiNhảy'tất cả
chứa'nước' mạnhđó. Cònvề công nghệCông thức, đấtnước ta nhNGng Melodicchèo,
tuồng, múa ba lê rối loạn nước, hò, lí,... truyền tải hệ thống mang đậm tính nước
trong nó.
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
Như vậy thể thấy rằng, từ vị trí địa đặc đặc biệt họ biển
một Anh ta hệ thống sông Taken ngày đặc biệt, tính nước đã nh Tôi yêu con chuột
hóa học củaNglide Việt, từcông việc văn hóaăn uống, nhà
ở, giao thông... cho tới văn Hóa tinh hơn qua họ tín Hoành, Phong Continue.
Tính nước một mạnh hai yếu ĐN lượng trọng để tạo nên văn Hóa Việt
Nam, đồng thời gian KHÔNG cũng một mạng lưới riêng đặc biệt để khu đặc biệt v
Nam với văn hóa của các dân tộc khác.
2. Văn bn Champa: tôn g, kiến t chc, nh
Tôi yêu củavăn bn MT Độ: La Môn,Tây
giáo, kiến trúc Thcó đặc biệt khi nào
Trongbức thưtranhđasắccủacủanềnvănHóatruyền tảihệ thống ViệtNam,
thật là một thiếu sótlớn nếu không gửi tới văn bảnHóa Chăm. Nền văn hóa
this thành công trên nền tảng của văn hóa Sa Huỳnh, cónguồn gốc từ
Vương quốcChăm pmột (ttại từbạnthứII chotớinăm 1471)vùngNam
Trung Bộ nước ta ngày Không. SMộtbạn khi Vương quốc Chăm PMột trở thành một
phần lãnhtoànta, thìdân sốChăm cũngtrở thành mộtthành vtiên của
đại gia cuộc sống 54 dân tộc anh em. Từ đó, văn Hóa Chăm pa trở thành một
phầnlượngtrọngmạnhcái Tổng quanthểvănHóaViNam.VănbạnChămpa
một mạnh Vì thế những văn Hóa giữ được mạng lưới truyền tải hệ thống đặc
cho tới tận ngày Không. Mạng lưới đặc signature của văn Hóa Chăm pa được thể hiệ
qua rất nhiều mặt,NĐổ trongsố lượng biển tiêu thụ tối đa là quatôn giáo và kiến
tổ chức,bênbênđó tacònthấyđượcsựnhTôi yêuđậm mạng lướicủavănHóaMT
Độ sâu của văn bản này.
Thứnhất,ta thấytônGiáo mộtđặcsignaturetiêu biểunhấtcủavăn Hóa
Chăm pa. Tôn Giáo củMột người Chăm nh Tôi yêu con chuột lớn từ văn Hóa M
Độ.Đnhưnhiềuquốc giaĐôngNam MTkhác,Chămpakhông sự kỳ
thị tôn giáo, ngược lại bao trùm lên toàn bộ lên lịch sử chăm pa các
tôn giáo các giáo phái Ấn Độ. Người dân Chăm pa tiếp nhận tất cả: đức
hiếu sinh, từ bi của Phật giáo, tình thương của Visnu giáo, cả tính hung
hăng, quyền lực của Siva giáo. Tính chất Siva giáo đặc trưng trong đời
sống tôn giáo của người Chăm. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, những
yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của Ấn Độ chỉ là cái vỏ bề ngoài, còn thực chất
bên trong đã được biến đổi để phù hợp với đời sống, trong đó chủ yếu
thờ cúng tổ tiên thờ Mẹ của người Chăm. Hơn thế nữa, đ tìm hiểu
hơn về tôn giáo của Chăm pa, ta không thể không nhắc tới đạo La Môn
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
- một ảnh hưởngnét nhất của văn hoá Ấn Độ tới văn hoá Chăm pa. Đạo
Bà La Môn du nhập vào Chăm pa khá sớm, vào khoảng thế kỉ thứ 2,3 và tồn
tại cho tới ngày nay. Về con đường truyền đạo thì theo hai con đường
chính là đường bộ và đường biển. Sau khi tiếp nhận, người Chăm đã lọc hết
những tinh túy của đạo La Môn để xây dựng nên đạo Chăm - đây
chính là một trong hai phái hệ của Agam Chăm, chính là tôn giáo chính của
người Chăm hiện nay.
Thứ hai, để nói về văn hoá của người Chăm, ta không thể không nhắc
tới những kiến trúc đặc sắc của họ, tiêu biểu là kiến trúc đền tháp.
khác nhau về thời gian xây dựng, song những kiến trúc đền tháp đều
những đặc điểm chung thống nhất. tiếp nhận ảnh hưởng sâu sắc từ văn
hoá Ấn Độ nên kiến trúc đền tháp Chăm cũng sự tiếp nhận như thế.
Tháp thường được xây trên đồi cao theo biểu tượng của núi Meru theo
tôn giáo Ấn Độ. Một công trình tháp gồm 3 phần: đế, thân, mái. Xung
quanh bốn cánh cửa dẫn vào tháp, tuy nhiên chỉ thể vào bằng cảnh
phía Đông, còn 3 cánh cửa kia chỉ mang tính hình thức. Mái tháp gồm 3
tầng, xây theo cấu trúc vươn lên cao, mỗi tầng hình ảnh thu nhỏ của
tháp. Lòng tháp hình vuông, phần trên được xây theo hình vòm cuốn đều.
Mặt lòng tháp không rộng lắm, đủ để đặt một bộ linga-yoni. Xung quanh
bệ thờ lối đi cho người hành hương. Xung quanh tháp chính còn rất
nhiều tháp phụ bên cạnh thờ các vị thần Ấn Độ. Tháp Chăm chủ yếu xây
bằng gạch, được trang trí tinh tế, sắc sảo thể hiện sự hòa quyện giữa vẻ
đẹp kiến trúc tôn giáo. Nền điêu khắc Chăm nổi tiếng với phù điêu
tượng tròn. Trong đó, phù điêu được chạm khắc trực tiếp nên gạch tháp,
nghệ thuật này người chăm đã đạt tới đỉnh cao.
Ngoài tôn giáo kiến trúc hai mặt tiêu biểu cho văn hoá Chăm pa
sự ảnh hưởng rất lớn từ văn hoá Ấn Độ thì vẫn còn một số lĩnh vực văn
hoá khác cũng dấu ấn của văn hoá Ấn Độ rất đậm nét như lịch pháp,
chữ viết. Về lịch pháp, từ xưa người chăm đã biết sử dụng lịch. một hệ
thống lịch pháp của ấn độ đã du nhập vào chăm được sử dụng cho tới
tận hôm nay. Theo lịch này, ngày âm ngày bản, một tháng chia làm
hai tuần, một năm 12 tháng âm, 6 mùa. Về chữ viết, người chăm đã sớm
tiếp thu hệ thống chữ Phạn cổ của Ấn độ để tự sáng tạo ra chữ viết của
riêng mình chữ Chăm cổ. Chữ này thường được sử dụng để ghi chép
lưu truyền thông tin. Như vậy, ngoài chữ phạn cổ, chữ chăm cổ vẫn luôn
được sử dụng và lưu truyền.
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
3. Bối cảnh một số thành tựu của văn hoá
Lý – Trần:
Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm văn hiến với nhiều triều đại xây
dựng bảo vệ nền độc lập dân tộc. Từ khi xuất hiện nhà nước Văn Lang
của Hùng Vương cho tới tận ngày nay, trải qua hàng ngàn năm lịch sử,
cùng với dòng chảy của thời gian sự bồi đắp xây dựng nên nền văn
hoá truyền thống, đậm đà bản sắc của người Việt. Trong hàng ngàn năm
ấy, không thể không nhắc tới , thời kỳ văn hoá Việtthời kỳ Trần
Nam được cho bước vào quá trình phục hưng lần thứ nhất, phát triển
rực rỡ, hưng thịnh nhất, để lại nhiều giá trị tốt đẹp cho tới tận hôm nay.
Đầu tiên, nói về thời Trần ta cần phải hiểu .bối cảnh lịch sử
Thời Lý – Trần kéo dài từ năm 1009 – 1400, trong đó năm 1225 là thời điểm
chuyển giao quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến nhà nhà Trần.
Đây là giai đoạn đất nước ta bước vào quá trình độc lập tự chủ, xây dựng và
thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng. Đồng thời đây cũng thời
khoan giản, nhân dân an lạc, nhân thứ, nhân từ, rộng mở dân chủ. Mặc
thế nhưng ta vẫn không thể nào tránh khỏi nguy bị thôn tính bởi
nước láng giềng Trung Quốc với rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược nổ
ra. Tuy nhiên nhân dân triều đình cũng chống trả quyết liệt, giữ vững ý
chí bảo vệ đất nước với rất nhiều cuộc kháng chiến như kháng chiến chống
Tống thời Lý, 3 lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên thời Trần...
Trong một hoàn cảnh lịch sử như thế, mặc vẫn phải đối mặt với chiến
tranh của ngoại quốc, nhân dân ta vẫn một lòng bảo vệ đất nước, đứng lên
quyết liệt chống trả mọi kẻ thù. Cũng chính từ ấy nối dài thêm thời
gian tự chủ của đất nước ta. Đó chính là điều kiện thuận lợi để ta có thể gìn
giữ phát triển nền văn hoá dân tộc, hơn thế nữa còn đưa nền văn hoá
vào quá trình hưng phấn lần thứ nHoàn.
Thời kỳ Trần một giải đoạn được bạn list ghi sao chép lại với con chuột
nhiều đặctán,tiêu biểuchonềnvăn Hóatruyền tảihệ thốngthành thvănHóa
Người Việt:
Thứnhất về . Vềkinh tế văna vậtĐ ,thời gian sựđây, kinhtếnước
tachủ yếuvẫnbạn vàonôngNghiệp. Thủ đôcôngnghiệp tăng dầnđadạng ngành
nghề nghiệp, hình thành họ làng nghề chuyên môn Hóa vào thời gian Trần. Thương
nghiệpvớihaimặtnộithươngngoạithươngcũngtừngbướcpháttriển.
Về mặt kiến tổ chức, đây Họ thời gian kỳ Trần đạt được con chuột nhiều
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
thànhthứ rực rỡnổi lên vớicon chuột nhiềucông chương trình. Phong cáchkiến trúc mạ
sựđiều nàyđượcợcthểhiệntheo tiêu chTôirút gọn đẹp,hàihòa âmvMộtCó thể.Cáccông
chương trình tiêu biểu cho thời gianTôi sự điều này thể kể đến như: Tôi Thăng Dài
Nam Tứ đại khí... Với thành Thăng Dài, đây công chương trình tiêu sinh họctype c
thời gian nhà Lý, đánh dấu sự sự kiện Công Uẩn cấm tham chiếu chuyển đô về Đ
Thành đượcxây dựng vớimô hìnhTam trùng thànhtrường học Cụ thểthể làvòng thành
trong lànơicủa vua,quan trọngTrả thành.thành giữalà nơinhà
triều đình làm việc, gọi là Hoàng thành. Vòng thành ngoài là nơi của quan
lại anhem giacuộc sống nhàvua, điTôi Đại Lathành. Ngoài rara, thànhThăng
Dài xưa còn 61 phường vỗ nhẹ nhảy lò cò của họ thủ công thủ công. Bên bên đó,
mộtmạnhnhữngthànhthứrực rỡkhônggầnthànhThăngDài,đóMT
Nam Tứ đại khí. MT Nam Tứ đại Vật chất thể được hiểu như bTRÊN công chương
nghệ thuậtbằngđồng nghĩathời LýTrần. Cáccông trìnhđó baobao gồm:Vật
TâyluậtQuỳnhLâm(ĐôngTriều, QuảngNinh),toaBáo cáo(HàNội),
ChuôngQuy Điền(ChùaMột bạn, Nội),Vạc PhổMinh (chùa PhổMinh,
Nam Định). Mặc đâytất cả những quốc bảo vệ của nước ta, bài hát khinhà
Minhhát xâm nhậplược,bốn đạiVật chấttất cả bịcướpmất hoặcphá hủy quyền đểđặt nằ
sự đúc Vật chất mục tiêu làm mất một phần Nguyên Vật chất của tàiTôi Việ
nhiênđibạnđóvẫn khôngthểphủđượcViệc đó,họcôngkiến thức chương trình
tổ chức mạnhthời gian Trầnvẫn luôn thành thứtiêu biểu nềnvăn Hóa
Việt Nam.
Thứ hai về văn a tinh hơn. Hoàn sống tinh hơn mạnh thời gian sự điều này
cũngcon chuộtnhiềuhọChangeTôi,cóhọthứ tưvà,chínhlisttiếnbộ.Vềmặt th
Ý tưởng , thời kỳ này có biểu tượng đặc biệt là “tam giáo đồng quy” nghĩa là sự
phân nhảy lò cò giữa Tây Nho Đạo giáo. Ngoài ra ra, thứ tư Ý tưởng phổ biến mạn
thời gian sự điều này còn được nhắc tới thứ tư Ý tưởng khai phóng Phânđa Nguyên
Phật, Nho, Đạo Giáo với tín ngưỡng dân gian. Về , đây thời gian sựtôn giáo
pháttriển rực rỡnổi lên nhấtcủa TâyGiáoớTôi thời gianhọ vua TháiĐN, Thái
Tông, Thánh Tông, Nhân Tông..., thậm chí động vật mạnh thời gian sự điều nà
Giáođãpháttriển mạnh TôitrởthànhquốcGiáocủa cảnước,tácsựtới
tâm lý, thứ tư và, phong 4, gấp sống của nhân dân. Còn nhắc tới Nho
giáo, thời gian sự điều này Nho giáo tăng dần được Tiếp tục nhận, tuy nhiên vẫn ch
biến rộng rộng rãi được Tôi yêu ứng như Tây Giáo. Về lĩnh vực lĩnh vực , đvăn học
hình thành thể hiện qua việchình thành họ tầng lớp trivăn Hóa bác học
kiến, văn học chữ viết sản xuất hiện với cả chữ Hán chữ Nôm. Về mode độ
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
khoacử, nhàđãcho xâyTòa nhàVăn Mithời gianSau tửthầy giáo Chu
VănMTnăm 1070,mởkhoađiều này đầuđầu tiênnăm1075, xâyTòa nhàquốctử Giám
trường Đại học đầu đầu tiên của nước ta vào năm 1076, nhà Trần đặt danh
hiệu Tam khôi phục lại năm 1247. Họ vào đó, cùng với văn học, họ ngành công nghệ
Tùy như ca, cho thấy, chèo... cũng ra đời phát triển. Như vậy, ta thấy về
văn Hóatinh hơn thời gian Trần cũng nhibạn thành thứnổi Bùng nổ, đồng
hiện cũng cung cấp lại nhiều giá trị thiện vật quý.
TìmhiểuvềvănhóaTrần,tađãđếnthấyrằngđâythời giankỳ
đất nước bước vào giải đoạn tự chủ, phát triển rực rỡ nổi lên họ về văn Hóa
tinhhơnvănvật vnguyên vật, nói cách khác đây giai đoạn này còn được
gọi giai đoạn phục hưng văn hoá lần thứ nhất. Trong thời này ta đã
phục hưng được các giá trị văn hoá bản địa Đông Nam Á. Bởi trong giai
đoạn trước, ta đã phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc, thời dân tộc ta
chịu sự đồng hóa, Hán hóa của Trung Quốc, nhiều các di sản, công trình
kiến trúc bị phá hủy nghiêm trọng. Sau chiến thắng của Ngô Quyền năm
938 trên sông Bạch Đằng đã mở ra một thời kỳ đất nước bước vào giai
đoạn tự chủ. Bắt đầu từ đây ta nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
văn hoá và phục hưng lại các giá trị văn hoá truyền thống. Đặc biệt thời
Trần, quá trình phục hưng ấy càng diễn ra một cách mạnh mẽ hơn
bao giờ hết bởi sự ra đời của rất nhiều thành tựu rực rỡ cả về vật chất
tinh thần, cùng với đó là bối cảnh lịch sử đất nước tự chủ.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, thành tựu văn hoá
thời Trần, ta đã phần nào thấy được một cái nhìn tổng quát về thời
này. Đồng thời thông qua đó, ta cũng đưa ra được một đánh giá rằng: thời
Trần thời phục hưng văn hoá lần một, phục hưng các giá trị văn
hoá Đông Nam Á bản địa. Xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, nền văn
hoá truyền thống vẫn luôn được bồi đắp thêm bởi các giá trị tốt đẹp. Đó
cũng chính nhiệm vụ của thế hệ người Việt chúng ta hôm nay, phải góp
phần vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. như vậy, văn
hoá Việt Nam mới giữ được nét riêng, nền văn hoá hoà nhập nhưng
không hoà tan.
4.Tín ngưỡng của người Việt:
Việt Nam một cộng đồng gồm nhiều dân tộc sinh sống. Cũng
chính bởi vậy, đời sống tâm linh của người Việt rất đa dạng phong
phú. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Đạo giáo,
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
Thiên chúa giáo... thì Việt Nam phần lớn người dân vẫn duy trì các tín
ngưỡng dân gian như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái con
người, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng... Tín ngưỡng một vai trò vô
cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nó tác động
tới tưởng, tâm lý, phong tục nếp sống hàng ngày của nhân dân.
thế, tín ngưỡng của người Việt đã trở thành một phần không thể thiếu
trong đời sống và là một nét văn hoá đặc trưng của dân tộc.
Nghiên cứu về tín ngưỡng của người Việt, tác giả Đào Duy Anh đã
đưa ra là: “lòng ngưỡng mộ tín với một tôn giáokhái niệm tín ngưỡng
hoặc một chủ nghĩa” (Từ điển Hán – Việt, tr 283). Trong “Từ điển tôn giáo”
thì lại viết rằng: “Tín ngưỡng lòng tin ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào
một lực lượng siêu nhiên, thần bí” (tr634). Còn theo Luật tín ngưỡng, tôn
giáo năm 2016 thì: Tín ngưỡng niềm tin của con người được thể hiện
thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để
mang lại sự bình yên về tinh thần cho nhân cộng đồng”. Mặc tín
ngưỡng được khái niệm theo rất nhiều ớng khác nhau, song tựu chung
lại ta thấy bản chất của tín ngưỡng vẫn sự thiêng hóa một điều đó để
đem lại cảm giác an tâm cho con người về mặt tinh thần.
Tín ngưỡng của người Việt là một sản phẩm văn hoá được hình thành
trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên hội với
chính bản thân mình. Không một ai thể giải thích được nguồn gốc xuất
hiện của tín ngưỡng, bởi được hình thành trong một thời gian dài của
lịch sử. Trong các tín ngưỡng dân gian của người Việt thì nổi bật, phổ biến
nhất ba tín ngưỡng sau: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái con
người, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng:
Thứ nhất, ta nói về tín ngưỡng phồn thực. Tín ngưỡng phồn thực
sự sùng bái, thiêng hoá sự sinh sản. Biểu hiện của tín ngưỡng này tục
thờ biểu tượng sinh thực khí tục thờ hành vi giao phối. Trong đời sống
ta cũng có thể thấy nhiều lễ hội dân gian thể hiện được tín ngưỡng này.
thể kể đến như lễ hội Linh Tinh Tình Phộc ở Phú Thọ diễn ra vào ngày 11, 12
tháng Giêng, được xem như là thể hiện tín ngưỡng phồn thực cổ của người
Việt. Người tham gia lễ hội gồm có hai nhân vật chính là một nam mặc khố,
tay cầm nọ - tượng trưng cho sinh thực khí nam, một nữ mặc váy đen cầm
nường – tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Sau khi chủ tế hô “linh tinh tình
phộc”, cả hai người sẽ làm thao tác tượng trưng cho quá trình giao phối.
Nếu ba lần đâm trúng thì mùa màng tươi tốt, hai lần thì được mùa, một lần
thì làm ăn kém... Tín ngưỡng phồn thực một tín ngưỡng lâu đời của dân
tộc Việt. Tín ngưỡng ấy mang ý nghĩa đề cao sự sinh sản, thể hiện ước
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi nảy nở của con người và vạn vật. Đây là
một tín ngưỡng tốt đẹp, vì thế mà nó vẫn còn tồn tại cho tới tận hôm nay.
Thứ hai, ta nói về tín ngưỡng sùng bái con người. Tín ngưỡng này có
nguồn gốc từ quan niệm về Hồn Vía - Thể xác truyền thống uống
nước nhớ nguồn, đề cao đạo hiếu của dân tộc ta. Biểu hiện của tín ngưỡng
sùng bái con người ta thể thấy nhất thông qua tục thờ cúng tổ tiên,
thờ người công với làng xã, danh nhân, anh hùng tục thờ vua tổ.
Hàng năm, cứ tới ngày mùng 10 tháng 3 Âm Lịch, người dân cả nước lại
nức kéo về Đền Hùng (Phú Thọ) để giỗ tổ Hùng Vương. Dân gian thường có
câu: “ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Đây
một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thể hiện đạo uống nước
nhớ nguồn, thờ cúng vua Hùng để tưởng nhớ công lao đã xây dựng nên đất
nước. Ngoài ra, các vị anh hùng dân tộc, những người công lao lớn với
đất nước cũng được nhân dân lập đền thờ như một cách để tưởng nhớ
thể hiện tấm lòng biết ơn như đền thờ Hai Trưng (huyện Linh,
Nội), đền thờ Thường Kiệt (huyện Yên Phong, Bắc Ninh)... Tín ngưỡng
sùng bái con người cũng không đâu quá xa xôi, ngay trong chính gia
đình mỗi người thông qua việc thờ cúng ông tổ tiên, mong ông tổ
tiên sẽ bảo vệ phù hộ những điều tốt lành cho gia đình. Tín ngưỡng
sùng bái con người cũngmột trong những tín ngưỡng tốt đẹp của người
Việt, thể hiện được tấm lòng uống nước nhớ nguồn, tấm lòng biết ơn, đ
cao đạo hiếu sâu sắc. Đâymột trong những tín ngưỡng đặc sắc nhất của
văn hoá Việt thế cần được khuyến khích những yếu tố tích cực để bồi
dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh của con người.
Thứ ba, ta cũng không thể không nhắc tới tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng làng. “Thành”nghĩa là thành trì, “Hoàng” có nghĩa là hào, “Thành
hoàng” có ý nghĩa chỉ người bảo vệ cho ngôi thành. Đây là tín ngưỡng được
du nhập vào Việt Nam ta từ Trung Quốc vào thời nhà Đường. Tuy nhiên,
khi vào tới Việt Nam, tín ngưỡng trên đã có sự thay đổi để phù hợp với văn
hoá của người Việt. Với Thành hoàng của Trung Quốc đại diện của giai
cấp cầm quyền, bảo vệ quyền lực cho nhà vua. Còn với Thành hoàng ở Việt
Nam, đó những người đứng về phía nhân dân, chăm lo cho cuộc sống
của nhân dân. Thành hoàng Việt Nam gồm Đô thành hoàng Thành
hoàng làng, trong đó Thành hoàng làng vị thần bảo vệ cho một ngôi
làng, được nhân dân thờ đình làng. Các cấp bậc của thành hoàng làng
cũng có sự phân chia khác nhau. Dựa vào nguồn gốc mà có thể chia thành:
thiên thần, nhiên thần, nhân thần. Trong nhân thần lại chia thành: chính
thần và tà thần, dâm thần. Trong chính thần, dựa vào công trạng mà có thể
chưa thành: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần. Trong cuộc
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
sống ngày nay, ta vẫn thấy tín ngưỡng thờ thành hoàng làng hiện hữu rất
qua nhiều lễ hội như: lễ hội Đống Đa (Bình Định) để tưởng nhớ công lao
của các thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, lễ hội Rước Pháo tại làng Đồng Kỵ
(nay phường Đồng Kỵ, thị Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để tưởng nhớ công
đức Thượng đẳng Thành hoàng danh tướng Thiên Cương thời vua Hùng.
Ngoài ra, cũng nhiều làng còn thờ những vị thành hoàng làng dị như
thần ăn trộm (làng Lộng Khê, Thái Bình), thần gắp phân (làng Cổ Nhuế -
Nội)... trải qua nhiều biến đổi của thời gian, song tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng làng vẫn luôn giữ được giá trị cốt lõi. Tín ngưỡng này vai
trò gắn kết mọi người trong cộng đồng làng xã, giúp duy trì bảo tồn
nhiều giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Thêm vào đó, còn giáo dục
lòng yêu nước, hướng con người vào những điều tốt đẹp, sống nhân
nghĩa. Đó đều những giá trị truyền thống quý báu dân tộc ta vẫn
luôn giữ gìn và phát huy từ xưa tới nay.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về tín ngưỡng của người Việt Nam,
ta đã có một cái nhìn khái quát hơn về khái niệm, ý nghĩa và các tín ngưỡng
tiêu biểu của người Việt. Tín ngưỡng chính vẻ đẹp của tâm hồn, tiếng
nói của đời sống tinh thần. Trong đời sống không chỉ tồn tại mỗi tín
ngưỡng, còn cả những điều tín dị đoan nhưng lại mang vỏ bọc
của những tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp. Chính thế, nhiệm vụ của
chúng ta phải nhận thức những điều đó, phải biết phân biệt phải trái,
đúng sai để bảo vệ sự trong sáng, tốt đẹp của tín ngưỡng Việt.
5.Tổ chức làng truyền thống của người
Việt:
“Nước họp các làng thành. Từ làng đến nước, dạy dân nên
tục, vương chính lấy làng làm trước” Trích Chiếu của vua Gia Long năm
1804. Quả thật, xuyên suốt chiều dài lịch sử, làng vẫn luôn một vị trí
quan trọng trong lòng mỗi người dân Việt nói chung sự phát triển của
đất nước nói riêng. Nhắc tới làng xã Việt thì người ta sẽ hình dung ngay tới
làng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lãng đã đi vào tiềm thức của người Việt
với những giá trị vật chất tinh thần rất gần gũi, thân thương. Càng tìm
hiểu về làng Việt ta lại càng trân trọng những giá trị tốt đẹp
mang lại.
Trước tiên, đến với về làng, ta thể hiểu làng tổ chứckhái niệm
quần cư của một cộng đồng người có liên kết với nhau về huyết thống, lịch
sử trú hoặc phương thức kinh tế, nằm tại khu vực hiện nay vùng sản
xuất nông thôn hoặc từng vùng sản xuất nông thôn. Nguyên tắc tổ chức
của làng chủ yếu theo hai nguyên tắc chính cùng huyết thống và cùng
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
địa vực. Kết cấu kinh tế của làng Việt thường theo hướng tự cấp tự túc,
hoạt động kinh tế chủ yếu sẽ nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp, làng chài…
Thứ hai, về nên làng truyền thống Việt Namnguyên hình thành
chủ yếu gồm hai nguyên lí chính sau: theo huyết thống và theo địa vực. Nói
về nguyên hình thành theo huyết thống, làng nơi của các dòng họ,
cùng chung mối quan hệ di truyền. Tên làng thường được đặt theo tên họ,
ví dụ như người trong làng mang họ Lê thì tên làng sẽ là Lê Xá. Hình thành
theo nguyên huyết thống sẽ đảm bảo được tính đoàn kết, tôn ti, trật tự.
Tuy nhiên, lại gây ra tính gia trưởng, bảo thủ và đóng kín. Về nguyên lí hình
thành theo địa vực, đây nguyên chiếm ưu thế hơn. Nguyên này đề
cao quan hệ láng giềng. Tên làng sẽ gồm hai tên: tên Nôm tên chữ.
Ngoài ra, phân biệt rất rạch ròi giữa dân chính dân ngụ cư. Hình
thành theo địa vực sẽ xây dựng nên tính cộng đồng, bình đẳng nhưng đồng
thời ng gây ra nhiều thói tật xấu như: đố kỵ, cạnh tranh, tính cào
bằng, ỷ lại.
Thứ ba, để nói về làng một cách rõ nét hơn, ta không thể không nhắc
tới những của làng. Đầu tiên, làng đặc trưng tính cố kếtđặc trưng
cộng đồng bền chặt. Đặc trưng ấy thể hiện các quan hệ hội, các thiết
chế hội trong làng như: dòng họ, phường, giáp, hội. Biểu tượng của đặc
trưng này cây đa, giếng nước, sân đình. Bởi cây đa nơi mọi người ngồi
nghỉ mát sau những giờ làm việc vất vả, nơi nghỉ chân của du khách,
thế cây đa nơi giao lưu giữa làng với thế giới bên ngoài. Cùng với hình
ảnh cây đa nh ảnh giếng nước. Giếng nước chính nơi chia sẻ, giao
lưu của các bà, các mẹ, các chị trong làng trong khi vo gạo, rửa rau... Nếu
như giếng nước là nơi giao lưu của phụ nữ trong làng, thì sân đình chính
nơi dành cho cánh đàn ông. Sân đình là trung tâm hành chính, văn hoá của
làng nên tất cả mọi hoạt động sẽ được diễn ra đây. Tính cố kết cộng
đồng bền chặt giúp tăng tình đoàn kết ý thức tập thể. Nhưng bên cạnh
đó, đặc trưng này ng gây ra tình trạng dựa dẫm, lại, cào bằng, đố kỵ,
triệt tiêu ý thức nhân. Ngoài tính cố kết cộng đồng bền chặt, làng còn
một đặc trưng tiêu biểu khác . Tính tự trị thể hiện qua 4tính tự trị
mặt kinh tế, chính trị pháp, an ninh, văn hoá tinh thần. Biểu tượng
cho tính tự trị chính hình ảnh lũy tre. Bởi tre một loài cây khắc phục
được tất cả những nhược điểm của ngoại cảnh để sống cho vùng
đất khô cằn tới mức nào. Lu tre mang tới một hình ảnh tự chủ, tự lập bởi
thế nó biểu tượng cho tính tự trị của làng xã Việt, tất cả mọi việc đều được
giải quyết theo lệ làng không cần sự can thiệp của thế lực bên ngoài.
Điều đó được thể hiện nhất qua câu nói dân gian: “Phép vua thua lệ
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
làng”. Tính tự trị giúp phát huy tính cần cù, chịu khó, cơ sở của lòng yêu
nước. Ngoài ra, còn xây dựng tính thần tự lập cộng đồng, nếp sống tự cấp
tự túc. Tuy nhiên, tính tự trị cũng để lại không ít nhược điểm thể hiện
thói tư hữu, ích kỷ, gia trưởng, bè phái. Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về
làng Việt, ta thấy nổi bật hai đặc trưng tính cố kết cộng đồng bền
chặt và tính tự trị. Với hai đặc trưng ấy, mỗi đặc trưng đều những ưu
nhược điểm riêng, nhưng tựu chung lại chúng đều tạo nên được nét riêng
của làng xã Việt Nam.
Trải qua nhiều biến động của thời gian, ngày nay làng Việt Nam
vẫn tồn tại nhưng cũng đã ít nhiều sự thay đổi so với làng ngày xưa.
Trong thời đại hôm nay, làng cổ truyền đã thay đổi, không còn bao bọc
bởi luỹ tre làng, rất nhiều những lệ làng khắt khe nay đã bị loại bỏ. Làng
ngày nay tồn tại như một đơn vị hành chính cấp nhỏ. Từ đó mở ra rất nhiều
điều kiện thuận lợi để làng xã phát triển, nhất là phát triển kinh tế, tiến tới
đô thị hoá nông thôn. Tất cả những điều đó đều nhằm nâng cao đời sống
nhân dân, xây dựng nông thôn mới, hiện đại phát triển bền vững. Tuy
nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, ngày nay làng Việt vẫn còn tồn
tại nhiều hạn chế. Tình trạng công nghiệp hoá đã khiến diện tích đất nông
nghiệp bị thu hẹp, nhiều người dân rời quê hương lên thành phố kiếm việc
làm khiến lực lượng lao động bị giảm sút. Bên cạnh đó, cùng với sự phát
triển của công nghiệp, một số làng nghề truyền thống cũng đã bị mai một
đứng trước nguy bị lãng quên hoàn toàn. Hơn nữa, vấn đề về môi
trường ở các làng quê ngày nay cũng ngày càng nghiêm trọng, nhiều người
vì dân trí thấp mà sẵn sàng phá huỷ môi trường sống để kiếm tiền. Làng
Việt ngày nay đã đang phát triển cùng sự phát triển chung của đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó làng xã Việt cũng còn rất nhiều hạn chế cần
phải khắc phục để bảo tồn và phát triển làng xã Việt.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về tổ chức làng truyền thống
của người Việt, ta đã một cái nhìn nét hơn về lãng truyền thống
Việt, cũng như nguyên hình thành, đặc trưng thấy được những mặt
tích cực và hạn chế của làng xã ngày nay. Làng xã Việt từ lâu đã luôn đi vào
thơ ca nhạc hoạ, đi sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt như một biểu
tượng, mang nhiều nét văn hoá truyền thống dù là ngày trước hay hiện tại.
Hình ảnh ngôi làng với cây đa, giếng nước, sân đình sẽ luôn trở thành một
biểu tượng bất diệt trong lòng mỗi người dân Việt về hình ảnh của một
làng quê Việt Nam thanh bình.
19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu

Preview text:

19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
1. Tính nước mnh văn bn truyền tải hệ thống Tiếng V
những bTôitype hiện của đặc signature điều này m
các thành tố văn hómột Việt Nam
Khám phá vị trí địa chính tiền của Việt Nam sẽ thấy một điều rằng:
nước taTiếp tục căng thẳng với con chuột nhiềuyếu ĐẾN mang tính nước,tínhbiển. Cá
Việt Nam nằm gần giữa trung tâm Đông Nam MỘT, được bao xung quanh bởi Biển
Đông rộng lớn, với Họ bờ biển biển bảo khoảng cách 3260 km. Hơn thế Hơn nữa, Việt
Nam cònlàsở hữunhững dòngsông, vớisốcác consông dàitrêN
10km lên tới 2360 con sông, trung bình đi dọc L biển cứ 20 km thì khoảng cách
một L sông. Ngoài ra ra còn con chuột nhiều ồ, hồ, ổ phá, kênh . . đồng
từyếu ĐẾN vịtrí địalý đó màtính nướccó Ảnh hlớn con chuộtsâu sắc mạnhvăn
Hóa truyền tải hệ thống của người Vinó. Tính nước anh ấy còn được thể hiện con ch
xóa thông tin hỗn hợp các chất văn hóah.
Đầu tiên, tính nước thể hiện mạnh văn Hóa vật chất của người Việt Nam,
từ điển hình nhưviệcMỘT, ở, mặc định, đi lại… Bàn về việc MỘT uống của người Việt N
yếu ĐẾN nước ( MỘT có nguồn gốc từ nước) là yếu ĐẾN chính tạo nên một
khách MỘT. Trong một kháchMỘT sẽ bao gồm có 3 yếu ĐẾN: cơ, rau, và cá. Trong yế
ĐẾN về cá thì yếu ĐẾN trùng hợp sản phẩm vMỘT nhiều hơn hải sản phẩm. By Việt N
sôngnước, xung quanhta tất cảlà sông, aohồ chonênviệcnuôi dưỡng trồngtrùng hợp
sản phẩm con chuột thuận lợi; từ đó, đây cũng là nơi cung cấp độ nguồn thực vật ph
yếuchokháchMỘT.Ngoài rara,tang cóthểthấyrằngtínhnướcmạnhkháchMỘT
củangười Việt cònthể hiệnqua bátnước mắm. Trongmột Ổcơ, bát
nước mắm biểu tượng cho đoàn tụ của gia đình vì cả hainhà sẽ cùng chấm
chung mộtbát nướcđó, đồng thờinước cónguồn gốctừ cá, tức
là cũngcó tính nướcở mạnh đó.Bên bên đó, tkính nước cũngthể hiện xác định
mạnhviệc xây Tòa nhànhàở của ngườiViệt Nam. NgườiViệthchinh trêN sông
nước đã trở thành thói quenquenthế khi lên đất liền định cưcư dân, ta đã quen
đặt nó cho nhiều bộ bộ phận của ngôi nhà mang yếu ĐẾN nước như: gạch ý nghĩa
cá, máicông, nhà,Nhà bè. NgườiViệt đặtcho nhiều bộgỗ
theo nó họ bò bộ phận của con thuyền như: tàu à, mũi nhọn tàu, dạ tàu, sau đó
tàu, họ tàu, là tàu. . Vì thế thì được chúng tôi như vMộty vì người Vinó con chuột gắn
sông nước, thậm chí là sống trên sông nước, kiếmsống trên sông nước. Mà
đểdichuyển mạnhsôngnướcthì chỉcóthể dùngSau đó,vì thếmà người
Việtđồng xutàuthuyềnnhưchínhngôinhàcủamình,chonênkhivàođấtmột
sốngđịnh ,họ vẫnbạn sử dụngnhững nóchúng tôi cónguồn gốctừ họbộ phaN
tàuthuy đềNđể gọi. Khôngchỉ có, cómột yếutố mà tínhnước thể hiện
con chuộtxác định mạnh vănHóa ViệtNam – đólà giao thông đi lại. Việtt Nam ĐTôi dạn
địahình sôngTakenngày đặcvàhọ biểnnên dTôi nhiênngườiViệtcon chuột giỏiđi 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
lại trên Họ Hoành. Vì thế Họ trùng hợp Phát triển con chuột mạnh. ngườiđiều đó th
hiện ở Làm: N tiện đi lại phong phú; người Việt giỏi đi trên sông
nước,giỏiphía bắccầu,giỏi hàochiến(quachiếnthắngBạchĐằngnăm
938 của NgôQuyền), vẽ mắt cho thuy-l; lượng Anh ta giaothương diễn ra nơi
bếnsông; đôThị trườnghầuhếtlà nhữngGócvensông,venbiển (HảiPhòng,Đà
Đà Nẵng. .). Hơn thế Hơn nữa, thóTôi làm đi lại trên sông nước cũng ẢnhTôi yêu tới
Ẩnquenđi lạitrên đkhu vựcngày naycủa ngườiViệt Nam.Ta cóthểthấy
di chuyển trên sông nước phải cái đó nhanh Tôi, không có sự phân chiMột
thànhtừng làn đường,vì thếmà đimột cáchtự LÀM.Từ đó,người Việtđãáp dụng sử dụng
it to the normal information on the path. Người Việt tham gia giao thông
Họbộ nhưnggiữẨn làmcủaHọ thuỷ, đicon chuộttự LÀMvà không theo
không cứ một sóng Họ bất kỳ, sự phân chia sóng Họ Có như chỉ mang
tính tươngđ, cứhễ chỗ nào trốnglà đi. Nhưvậy, ta có thểthấy tính nước
thể hiện con chuột xác định mạnh văn Hóa vật chất của người Việt ta, thể hiện xác đị
qua việc MỘT uống, nhà ở và giao thông đi lại. Điều đó cũng cho thấy tính
nước đóng vai trò lượng trọng vMột Ảnh Tôi yêu sâu sắc tới cuộc gọi sống và văn Hóa chất người Việt.
Không chỉ văn Hóa vật chất, mà ngay mạnh văn Hóa tinh hơn của người
Việt Nam, tính nước cũng được thể hiện con chuột xác định Công ty thông qua họ tíN
phong. .Vềtín ngưỡng ,ngườiViệt có tínChôn thánh nước,tôn thờ họloài
sinh sống ở vùng sôngnước. Có thể kểđến như Lễ hộiNghinh Ông (Cần Giờ),đây
là khách công yêu cầu tài lớn nhất vùng Đông Nam Bộ, thể hiện tấm dài thành
kính, cảm ơncá Ông và mongcầu cho nghềđTôibiển của ngư dân huyệnCó thể
Giờ đượcợc thuận Lợi. Ngoài ra ra, cũng có thể nhắc tới khách công Thuyền khách s
Lạng (Hạ Dài) với ý nghĩa người lãnh đạo vật chiến thắng của tướng Trần Khánh dư
và yêu cầu cho mưa thuận gió ., btôi cả yên bình để tài dân thuận lợi ra
. Họ vào đó, tính nước cũng thể hiện xác định mạnh phong Continue vỗ nh quán.
Điều điều này thể hiện xác định mạnh phong Continue đặt nằm nước đầu năm của dâ
Nùng. Trongđầu tiênmùa xuân nămmới, ngườiKinh thườnghayđi nhẹcầu tài
lộcchogiađình,ngườihơnđểđặt nằmcó thể.CònđốivớidântộcTayy,Nthì
họ lại có phong Continue một thời gian sức thú vị là đặt nằm nước đầu năm. By họ lượ
rằng: nước là sự sống, giúp trùng hợp vTại sinh sôi sục phần thưởng ở. Vì thể để có m
mới an khang, sung túc họ sẽ đi lấy nước mớifor ở trong nhà. Ngoài ra, tính
nướcmạnh tâm lý ngườiVinócũngđược thểhiện.đó làsựlinh hoạt động,phần mềm
mại như nước - chữ dùng của GS. Cao Xuân Huy. Ngay cả mạnh những
thành ngữ,Ngữ pháp,ca dao công nghệtruyện , tacũnggặp tínhnước trongđó.
Cóthểđếnnhưcâu:'nướcđổ đầuVịt',cỏ khô' nước tớichânmớiNhảy'tất cả
chứa'nước' mạnhđó. Cònvề công nghệCông thức, đấtnước tacó nhNGng Melodicchèo,
tuồng, múa ba lê rối loạn nước, hò, lí,. . và truyền tải hệ thống mang đậm tính nước trong nó. 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
Như vậy có thể thấy rằng, từ vị trí địa lý đặc đặc biệt là họ biển và có
một Anh ta hệ thống sông Taken ngày đặc biệt, tính nước đã Ảnh Tôi yêu con chuột
hóa học củaNglide Việt, từcông việc văn hóaăn uống, nhà
ở, giao thông. . cho tới văn Hóa tinh hơn qua họ tín Hoành, Phong Continue.
Tính nước là một mạnh hai yếu ĐẾN lượng trọng để tạo nên văn Hóa Việt
Nam, đồng thời gian KHÔNG cũng là một mạng lưới riêng đặc biệt để khu đặc biệt v
Nam với văn hóa của các dân tộc khác.
2. Văn bn Champa: tôn giá, kiến t chc, nh
Tôi yêu củavăn bn MT Độ: BàLa Môn,Tây
giáo, kiến trúc Thcó đặc biệt khi nào
Trongbức thưtranhđasắccủacủanềnvănHóatruyền tảihệ thống ViệtNam,
thật là một thiếu sótlớn nếu không gửi tới văn bảnHóa Chăm. Nền văn hóa
this thành công trên nền tảng của văn hóa Sa Huỳnh, cónguồn gốc từ
Vương quốcChăm pmột (ttại từbạnthứII chotớinăm 1471)vùngNam
Trung Bộ nước ta ngày Không. SMộtbạn khi Vương quốc Chăm PMột trở thành một
phần lãnhtoànta, thìdân sốChăm cũngtrở thành mộtthành vtiên của
đại gia cuộc sống 54 dân tộc anh em. Từ đó, văn Hóa Chăm pa trở thành một
phầnlượngtrọngmạnhcái Tổng quanthểlàvănHóaVinóNam.VănbạnChămpa
là một mạnh Vì thế Nó những văn Hóa giữ được mạng lưới truyền tải hệ thống và đặc
cho tới tận ngày Không. Mạng lưới đặc signature của văn Hóa Chăm pa được thể hiệ
qua rất nhiều mặt,NĐổ trongsố lượng biển tiêu thụ tối đa là quatôn giáo và kiến
tổ chức,bênbênđó tacònthấyđượcsựẢnhTôi yêuđậm mạng lướicủavănHóaMỘT
Độ sâu của văn bản này.
Thứnhất,ta thấytônGiáo làmộtđặcsignaturetiêu biểunhấtcủavăn Hóa
Chăm pa. Tôn Giáo củMột người Chăm có Ảnh Tôi yêu con chuột lớn từ văn Hóa MỘ
Độ.Đnhưnhiềuquốc giaĐôngNam MỘTkhác,Chămpakhôngcó sự kỳ
thị tôn giáo, mà ngược lại bao trùm lên toàn bộ lên lịch sử chăm pa là các
tôn giáo và các giáo phái Ấn Độ. Người dân Chăm pa tiếp nhận tất cả: đức
hiếu sinh, từ bi của Phật giáo, tình thương của Visnu giáo, và cả tính hung
hăng, quyền lực của Siva giáo. Tính chất Siva giáo là đặc trưng trong đời
sống tôn giáo của người Chăm. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, những
yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của Ấn Độ chỉ là cái vỏ bề ngoài, còn thực chất
bên trong đã được biến đổi để phù hợp với đời sống, trong đó chủ yếu là
thờ cúng tổ tiên và thờ Mẹ của người Chăm. Hơn thế nữa, để tìm hiểu rõ
hơn về tôn giáo của Chăm pa, ta không thể không nhắc tới đạo Bà La Môn 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
- một ảnh hưởng rõ nét nhất của văn hoá Ấn Độ tới văn hoá Chăm pa. Đạo
Bà La Môn du nhập vào Chăm pa khá sớm, vào khoảng thế kỉ thứ 2,3 và tồn
tại cho tới ngày nay. Về con đường truyền đạo thì theo hai con đường
chính là đường bộ và đường biển. Sau khi tiếp nhận, người Chăm đã lọc hết
những tinh túy của đạo Bà La Môn để xây dựng nên đạo Bà Chăm - đây
chính là một trong hai phái hệ của Agam Chăm, chính là tôn giáo chính của người Chăm hiện nay.
Thứ hai, để nói về văn hoá của người Chăm, ta không thể không nhắc
tới những kiến trúc đặc sắc của họ, mà tiêu biểu là kiến trúc đền tháp. Dù
khác nhau về thời gian xây dựng, song những kiến trúc đền tháp đều có
những đặc điểm chung thống nhất. Vì tiếp nhận ảnh hưởng sâu sắc từ văn
hoá Ấn Độ nên kiến trúc đền tháp Chăm cũng có sự tiếp nhận như thế.
Tháp thường được xây trên đồi gò cao theo biểu tượng của núi Meru theo
tôn giáo Ấn Độ. Một công trình tháp gồm 3 phần: đế, thân, mái. Xung
quanh có bốn cánh cửa dẫn vào tháp, tuy nhiên chỉ có thể vào bằng cảnh
phía Đông, còn 3 cánh cửa kia chỉ mang tính hình thức. Mái tháp gồm 3
tầng, xây theo cấu trúc vươn lên cao, mỗi tầng là hình ảnh thu nhỏ của
tháp. Lòng tháp hình vuông, phần trên được xây theo hình vòm cuốn đều.
Mặt lòng tháp không rộng lắm, đủ để đặt một bộ linga-yoni. Xung quanh
bệ thờ là lối đi cho người hành hương. Xung quanh tháp chính còn rất
nhiều tháp phụ bên cạnh thờ các vị thần Ấn Độ. Tháp Chăm chủ yếu xây
bằng gạch, được trang trí tinh tế, sắc sảo thể hiện sự hòa quyện giữa vẻ
đẹp kiến trúc và tôn giáo. Nền điêu khắc Chăm nổi tiếng với phù điêu và
tượng tròn. Trong đó, phù điêu được chạm khắc trực tiếp nên gạch tháp,
nghệ thuật này người chăm đã đạt tới đỉnh cao.
Ngoài tôn giáo và kiến trúc là hai mặt tiêu biểu cho văn hoá Chăm pa
có sự ảnh hưởng rất lớn từ văn hoá Ấn Độ thì vẫn còn một số lĩnh vực văn
hoá khác cũng có dấu ấn của văn hoá Ấn Độ rất đậm nét như lịch pháp,
chữ viết. Về lịch pháp, từ xưa người chăm đã biết sử dụng lịch. Có một hệ
thống lịch pháp của ấn độ đã du nhập vào chăm và được sử dụng cho tới
tận hôm nay. Theo lịch này, ngày âm là ngày cơ bản, một tháng chia làm
hai tuần, một năm có 12 tháng âm, 6 mùa. Về chữ viết, người chăm đã sớm
tiếp thu hệ thống chữ Phạn cổ của Ấn độ để tự sáng tạo ra chữ viết của
riêng mình là chữ Chăm cổ. Chữ này thường được sử dụng để ghi chép và
lưu truyền thông tin. Như vậy, ngoài chữ phạn cổ, chữ chăm cổ vẫn luôn
được sử dụng và lưu truyền. 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
3. Bối cảnh và một số thành tựu của văn hoá Lý – Trần:
Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm văn hiến với nhiều triều đại xây
dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Từ khi xuất hiện nhà nước Văn Lang
của Hùng Vương cho tới tận ngày nay, trải qua hàng ngàn năm lịch sử,
cùng với dòng chảy của thời gian là sự bồi đắp và xây dựng nên nền văn
hoá truyền thống, đậm đà bản sắc của người Việt. Trong hàng ngàn năm
ấy, không thể không nhắc tới thời kỳ Lý – Trần, thời kỳ mà văn hoá Việt
Nam được cho là bước vào quá trình phục hưng lần thứ nhất, phát triển
rực rỡ, hưng thịnh nhất, để lại nhiều giá trị tốt đẹp cho tới tận hôm nay.
Đầu tiên, nói về thời Lý – Trần ta cần phải hiểu rõ bối cảnh lịch sử.
Thời Lý – Trần kéo dài từ năm 1009 – 1400, trong đó năm 1225 là thời điểm
chuyển giao quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến nhà Lý và nhà Trần.
Đây là giai đoạn đất nước ta bước vào quá trình độc lập tự chủ, xây dựng và
thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng. Đồng thời đây cũng là thời kì
khoan giản, nhân dân an lạc, nhân thứ, nhân từ, rộng mở và dân chủ. Mặc
dù thế nhưng ta vẫn không thể nào tránh khỏi nguy cơ bị thôn tính bởi
nước láng giềng Trung Quốc với rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược nổ
ra. Tuy nhiên nhân dân và triều đình cũng chống trả quyết liệt, giữ vững ý
chí bảo vệ đất nước với rất nhiều cuộc kháng chiến như kháng chiến chống
Tống thời Lý, 3 lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên thời Trần. .
Trong một hoàn cảnh lịch sử như thế, mặc dù vẫn phải đối mặt với chiến
tranh của ngoại quốc, nhân dân ta vẫn một lòng bảo vệ đất nước, đứng lên
quyết liệt chống trả mọi kẻ thù. Cũng chính từ ấy mà nối dài thêm thời
gian tự chủ của đất nước ta. Đó chính là điều kiện thuận lợi để ta có thể gìn
giữ và phát triển nền văn hoá dân tộc, hơn thế nữa còn là đưa nền văn hoá
vào quá trình hưng phấn lần thứ nHoàn.
Thời kỳ Lý – Trần là một giải đoạn được bạn list ghi sao chép lại với con chuột
nhiều thành thvănHóa đặctán,tiêu biểuchonềnvăn Hóatruyền tảihệ thống Người Việt:
Thứnhấtlà về văna vậtĐề . Vềkinh tế ,ởthời gian sựđây, kinhtếnước
tachủ yếuvẫnbạn vàonôngNghiệp. Thủ đôcôngnghiệp tăng dầnđadạng ngành
nghề nghiệp, hình thành họ làng nghề chuyên môn Hóa vào thời gian Trần. Thương
nghiệpvớihaimặtnộithươngvàngoạithươngcũngtừngbướcpháttriển.
Về mặt kiến tổ chức, đây là Họ mà thời gian kỳ Lý – Trần đạt được con chuột nhiều 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
thànhthứ rực rỡnổi lên vớicon chuột nhiềucông chương trình. Phong cáchkiến trúc mạ
sựđiều nàyđượcợcthểhiệntheo tiêu chTôirút gọn đẹp,hàihòa âmvMộtCó thể.Cáccông
chương trình tiêu biểu cho thời gianTôi sự điều này có thể kể đến như: Tôi Thăng Dài
Nam Tứ đại khí. . Với thành Thăng Dài, đây là công chương trình tiêu sinh họctype c
thời gian nhà Lý, đánh dấu sự sự kiện Lý Công Uẩn cấm tham chiếu chuyển đô về Đ
Thành đượcxây dựng vớimô hìnhTam trùng thànhtrường học Cụ thểthể làvòng thành
trong lànơicủa vua,quan trọngTrả thành.thành giữalà nơinhàvà
triều đình làm việc, gọi là Hoàng thành. Vòng thành ngoài là nơi của quan
lạivà anhem giacuộc sống nhàvua, điTôi làĐại Lathành. Ngoài rara, thànhThăng
Dài xưa còn có 61 phường vỗ nhẹ nhảy lò cò của họ thủ công thủ công. Bên bên đó,
mộtmạnhnhữngthànhthứrực rỡkhônggầnthànhThăngDài,đólàMỘT
Nam Tứ đại khí. MỘT Nam Tứ đại Vật chất có thể được hiểu như bTRÊN công chương
nghệ thuậtbằngđồng nghĩathời Lý–Trần. Cáccông trìnhđó baobao gồm:Vật
TâyluậtQuỳnhLâm(ĐôngTriều, QuảngNinh),toaBáo cáo(HàNội),
ChuôngQuy Điền(ChùaMột bạn, HàNội),Vạc PhổMinh (chùa PhổMinh,
Nam Định). Mặc dù đâytất cả là những quốc bảo vệ của nước ta, bài hát khinhà
Minhhát xâm nhậplược,bốn đạiVật chấttất cả bịcướpmất hoặcphá hủy quyền đểđặt nằ
sự đúc vũ Vật chất và mục tiêu làm mất một phần Nguyên Vật chất của tàiờTôi Việ
nhiênđibạnđóvẫn khôngthểphủđượcViệc đó,họcôngkiến thức chương trình
tổ chức mạnhthời gian Lý– Trầnvẫn luôn làthành thứtiêu biểu cú nềnvăn Hóa Việt Nam.
Thứ hai là về văn a tinh hơn. Hoàn sống tinh hơn mạnh thời gian sự điều này
cũngcócon chuộtnhiềuhọChangeTôi,cóhọthứ tưvà,chínhlisttiếnbộ.Vềmặt th
Ý tưởng , thời kỳ này có biểu tượng đặc biệt là “tam giáo đồng quy” nghĩa là sự
phân nhảy lò cò giữa Tây – Nho – Đạo giáo. Ngoài ra ra, thứ tư Ý tưởng phổ biến mạn
thời gian sự điều này còn được nhắc tới thứ tư Ý tưởng khai phóng đa Nguyên Phân
Phật, Nho, Đạo Giáo với tín ngưỡng dân gian. Về tôn giáo , đây là thời gian sự
pháttriển rực rỡnổi lên nhấtcủa TâyGiáodướTôi thời gianhọ vuaLý TháiĐẾN, LýThái
Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông. ., thậm chí động vật mạnh thời gian sự điều nà
Giáođãpháttriển mạnh TôitrởthànhquốcGiáocủa cảnước,tácsựtới
tâm lý, thứ tư và, phong 4, gấp sống của nhân dân. Còn nhắc tới Nho
giáo, ở thời gian sự điều này Nho giáo tăng dần được Tiếp tục nhận, tuy nhiên vẫn ch
biến rộng rộng rãi và được Tôi yêu ứng như Tây Giáo. Về lĩnh vực lĩnh vực văn học, đ
hình thành văn Hóa bác học thể hiện qua việchình thành họ tầng lớp tri
kiến, văn học chữ viết sản xuất hiện với cả chữ Hán và chữ Nôm. Về mode độ 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
khoacử, nhàLýđãcho xâyTòa nhàVăn Mithời gianSau tửvàthầy giáo Chu
VănMỘTnăm 1070,mởkhoađiều này đầuđầu tiênnăm1075, xâyTòa nhàquốctử Giám
– trường Đại học đầu đầu tiên của nước ta vào năm 1076, nhà Trần đặt danh
hiệu Tam khôi phục lại năm 1247. Họ vào đó, cùng với văn học, họ ngành công nghệ
Tùy như ca, cho thấy, chèo. . cũng ra đời và phát triển. Như vậy, ta thấy về
văn Hóatinh hơn ởthời gian Lý –Trần cũng có nhibạn thành thứnổi Bùng nổ, đồng
hiện cũng cung cấp lại nhiều giá trị thiện vật quý.
TìmhiểuvềvănhóaLý–Trần,tađãđếnthấyrằngđâylàthời giankỳ
mà đất nước bước vào giải đoạn tự chủ, phát triển rực rỡ nổi lên họ về văn Hóa
tinhhơnvàvănvật vnguyên vật, nói cách khác đây là giai đoạn này còn được
gọi là giai đoạn phục hưng văn hoá lần thứ nhất. Trong thời kì này ta đã
phục hưng được các giá trị văn hoá bản địa Đông Nam Á. Bởi trong giai
đoạn trước, ta đã phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc, thời kì mà dân tộc ta
chịu sự đồng hóa, Hán hóa của Trung Quốc, nhiều các di sản, công trình
kiến trúc bị phá hủy nghiêm trọng. Sau chiến thắng của Ngô Quyền năm
938 trên sông Bạch Đằng đã mở ra một thời kỳ đất nước bước vào giai
đoạn tự chủ. Bắt đầu từ đây ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
văn hoá và phục hưng lại các giá trị văn hoá truyền thống. Đặc biệt là thời
Lý – Trần, quá trình phục hưng ấy càng diễn ra một cách mạnh mẽ hơn
bao giờ hết bởi sự ra đời của rất nhiều thành tựu rực rỡ cả về vật chất và
tinh thần, cùng với đó là bối cảnh lịch sử đất nước tự chủ.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, thành tựu văn hoá
thời Lý – Trần, ta đã phần nào thấy được một cái nhìn tổng quát về thời kì
này. Đồng thời thông qua đó, ta cũng đưa ra được một đánh giá rằng: thời
Lý – Trần là thời kì phục hưng văn hoá lần một, phục hưng các giá trị văn
hoá Đông Nam Á bản địa. Xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, nền văn
hoá truyền thống vẫn luôn được bồi đắp thêm bởi các giá trị tốt đẹp. Đó
cũng chính là nhiệm vụ của thế hệ người Việt chúng ta hôm nay, phải góp
phần vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Có như vậy, văn
hoá Việt Nam mới giữ được nét riêng, là nền văn hoá hoà nhập nhưng không hoà tan.
4.Tín ngưỡng của người Việt:
Việt Nam là một cộng đồng gồm nhiều dân tộc sinh sống. Cũng
chính bởi vậy, mà đời sống tâm linh của người Việt rất đa dạng và phong
phú. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Đạo giáo, 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
Thiên chúa giáo. . thì ở Việt Nam phần lớn người dân vẫn duy trì các tín
ngưỡng dân gian như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái con
người, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng. . Tín ngưỡng có một vai trò vô
cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nó tác động
tới tư tưởng, tâm lý, phong tục và nếp sống hàng ngày của nhân dân. Vì
thế, tín ngưỡng của người Việt đã trở thành một phần không thể thiếu
trong đời sống và là một nét văn hoá đặc trưng của dân tộc.
Nghiên cứu về tín ngưỡng của người Việt, tác giả Đào Duy Anh đã
đưa ra khái niệm tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ mê tín với một tôn giáo
hoặc một chủ nghĩa” (Từ điển Hán – Việt, tr 283). Trong “Từ điển tôn giáo”
thì lại viết rằng: “Tín ngưỡng là lòng tin và ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào
một lực lượng siêu nhiên, thần bí” (tr634). Còn theo Luật tín ngưỡng, tôn
giáo năm 2016 thì: “ Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện
thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để
mang lại sự bình yên về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. Mặc dù tín
ngưỡng được khái niệm theo rất nhiều hướng khác nhau, song tựu chung
lại ta thấy bản chất của tín ngưỡng vẫn là sự thiêng hóa một điều gì đó để
đem lại cảm giác an tâm cho con người về mặt tinh thần.
Tín ngưỡng của người Việt là một sản phẩm văn hoá được hình thành
trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên – xã hội và với
chính bản thân mình. Không một ai có thể giải thích được nguồn gốc xuất
hiện của tín ngưỡng, bởi nó được hình thành trong một thời gian dài của
lịch sử. Trong các tín ngưỡng dân gian của người Việt thì nổi bật, phổ biến
nhất là ba tín ngưỡng sau: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái con
người, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng:
Thứ nhất, ta nói về tín ngưỡng phồn thực. Tín ngưỡng phồn thực là
sự sùng bái, thiêng hoá sự sinh sản. Biểu hiện của tín ngưỡng này là ở tục
thờ biểu tượng sinh thực khí và tục thờ hành vi giao phối. Trong đời sống
ta cũng có thể thấy nhiều lễ hội dân gian thể hiện được tín ngưỡng này. Có
thể kể đến như lễ hội Linh Tinh Tình Phộc ở Phú Thọ diễn ra vào ngày 11, 12
tháng Giêng, được xem như là thể hiện tín ngưỡng phồn thực cổ của người
Việt. Người tham gia lễ hội gồm có hai nhân vật chính là một nam mặc khố,
tay cầm nọ - tượng trưng cho sinh thực khí nam, một nữ mặc váy đen cầm
nường – tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Sau khi chủ tế hô “linh tinh tình
phộc”, cả hai người sẽ làm thao tác tượng trưng cho quá trình giao phối.
Nếu ba lần đâm trúng thì mùa màng tươi tốt, hai lần thì được mùa, một lần
thì làm ăn kém. . Tín ngưỡng phồn thực là một tín ngưỡng lâu đời của dân
tộc Việt. Tín ngưỡng ấy mang ý nghĩa đề cao sự sinh sản, thể hiện ước 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi nảy nở của con người và vạn vật. Đây là
một tín ngưỡng tốt đẹp, vì thế mà nó vẫn còn tồn tại cho tới tận hôm nay.
Thứ hai, ta nói về tín ngưỡng sùng bái con người. Tín ngưỡng này có
nguồn gốc từ quan niệm về Hồn – Vía - Thể xác và truyền thống uống
nước nhớ nguồn, đề cao đạo hiếu của dân tộc ta. Biểu hiện của tín ngưỡng
sùng bái con người ta có thể thấy rõ nhất thông qua tục thờ cúng tổ tiên,
thờ người có công với làng xã, danh nhân, anh hùng và tục thờ vua tổ.
Hàng năm, cứ tới ngày mùng 10 tháng 3 Âm Lịch, người dân cả nước lại nô
nức kéo về Đền Hùng (Phú Thọ) để giỗ tổ Hùng Vương. Dân gian thường có
câu: “ Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Đây
là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thể hiện đạo lí uống nước
nhớ nguồn, thờ cúng vua Hùng để tưởng nhớ công lao đã xây dựng nên đất
nước. Ngoài ra, các vị anh hùng dân tộc, những người có công lao lớn với
đất nước cũng được nhân dân lập đền thờ như một cách để tưởng nhớ và
thể hiện tấm lòng biết ơn như đền thờ Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh, Hà
Nội), đền thờ Lý Thường Kiệt (huyện Yên Phong, Bắc Ninh). . Tín ngưỡng
sùng bái con người cũng không ở đâu quá xa xôi, mà ngay trong chính gia
đình mỗi người thông qua việc thờ cúng ông bà tổ tiên, mong ông bà tổ
tiên sẽ bảo vệ và phù hộ những điều tốt lành cho gia đình. Tín ngưỡng
sùng bái con người cũng là một trong những tín ngưỡng tốt đẹp của người
Việt, thể hiện được tấm lòng uống nước nhớ nguồn, tấm lòng biết ơn, đề
cao đạo hiếu sâu sắc. Đây là một trong những tín ngưỡng đặc sắc nhất của
văn hoá Việt vì thế cần được khuyến khích những yếu tố tích cực để bồi
dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh của con người.
Thứ ba, ta cũng không thể không nhắc tới tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng làng. “Thành” có nghĩa là thành trì, “Hoàng” có nghĩa là hào, “Thành
hoàng” có ý nghĩa chỉ người bảo vệ cho ngôi thành. Đây là tín ngưỡng được
du nhập vào Việt Nam ta từ Trung Quốc vào thời nhà Đường. Tuy nhiên,
khi vào tới Việt Nam, tín ngưỡng trên đã có sự thay đổi để phù hợp với văn
hoá của người Việt. Với Thành hoàng của Trung Quốc là đại diện của giai
cấp cầm quyền, bảo vệ quyền lực cho nhà vua. Còn với Thành hoàng ở Việt
Nam, đó là những người đứng về phía nhân dân, chăm lo cho cuộc sống
của nhân dân. Thành hoàng ở Việt Nam gồm có Đô thành hoàng và Thành
hoàng làng, trong đó Thành hoàng làng là vị thần bảo vệ cho một ngôi
làng, được nhân dân thờ ở đình làng. Các cấp bậc của thành hoàng làng
cũng có sự phân chia khác nhau. Dựa vào nguồn gốc mà có thể chia thành:
thiên thần, nhiên thần, nhân thần. Trong nhân thần lại chia thành: chính
thần và tà thần, dâm thần. Trong chính thần, dựa vào công trạng mà có thể
chưa thành: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần. Trong cuộc 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
sống ngày nay, ta vẫn thấy tín ngưỡng thờ thành hoàng làng hiện hữu rất
rõ qua nhiều lễ hội như: lễ hội Đống Đa (Bình Định) để tưởng nhớ công lao
của các thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, lễ hội Rước Pháo tại làng Đồng Kỵ
(nay là phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để tưởng nhớ công
đức Thượng đẳng Thành hoàng là danh tướng Thiên Cương thời vua Hùng.
Ngoài ra, cũng có nhiều làng còn thờ những vị thành hoàng làng kì dị như
thần ăn trộm (làng Lộng Khê, Thái Bình), thần gắp phân (làng Cổ Nhuế -
Hà Nội). . Dù trải qua nhiều biến đổi của thời gian, song tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng làng vẫn luôn giữ được giá trị cốt lõi. Tín ngưỡng này có vai
trò gắn kết mọi người trong cộng đồng làng xã, giúp duy trì và bảo tồn
nhiều giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Thêm vào đó, còn giáo dục
lòng yêu nước, hướng con người vào những điều tốt đẹp, sống có nhân
nghĩa. Đó đều là những giá trị truyền thống quý báu mà dân tộc ta vẫn
luôn giữ gìn và phát huy từ xưa tới nay.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về tín ngưỡng của người Việt Nam,
ta đã có một cái nhìn khái quát hơn về khái niệm, ý nghĩa và các tín ngưỡng
tiêu biểu của người Việt. Tín ngưỡng chính là vẻ đẹp của tâm hồn, là tiếng
nói của đời sống tinh thần. Trong đời sống không chỉ tồn tại mỗi tín
ngưỡng, mà còn có cả những điều mê tín dị đoan nhưng lại mang vỏ bọc
của những tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp. Chính vì thế, nhiệm vụ của
chúng ta là phải nhận thức rõ những điều đó, phải biết phân biệt phải trái,
đúng sai để bảo vệ sự trong sáng, tốt đẹp của tín ngưỡng Việt.
5. Tổ chức làng xã truyền thống của người Việt:
“Nước là họp các làng mà thành. Từ làng mà đến nước, dạy dân nên
tục, vương chính lấy làng làm trước” – Trích Chiếu của vua Gia Long năm
1804. Quả thật, xuyên suốt chiều dài lịch sử, làng vẫn luôn có một vị trí
quan trọng trong lòng mỗi người dân Việt nói chung và sự phát triển của
đất nước nói riêng. Nhắc tới làng xã Việt thì người ta sẽ hình dung ngay tới
làng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lãng xã đã đi vào tiềm thức của người Việt
với những giá trị vật chất và tinh thần rất gần gũi, thân thương. Càng tìm
hiểu về làng xã Việt ta lại càng trân trọng những giá trị tốt đẹp mà nó mang lại.
Trước tiên, đến với khái niệm về làng, ta có thể hiểu làng là tổ chức
quần cư của một cộng đồng người có liên kết với nhau về huyết thống, lịch
sử cư trú hoặc phương thức kinh tế, nằm tại khu vực hiện nay là vùng sản
xuất nông thôn hoặc từng là vùng sản xuất nông thôn. Nguyên tắc tổ chức
của làng chủ yếu theo hai nguyên tắc chính là cùng huyết thống và cùng 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
địa vực. Kết cấu kinh tế của làng xã Việt thường theo hướng tự cấp tự túc,
hoạt động kinh tế chủ yếu sẽ là nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, làng chài…
Thứ hai, về nguyên lí hình thành nên làng xã truyền thống Việt Nam
chủ yếu gồm hai nguyên lí chính sau: theo huyết thống và theo địa vực. Nói
về nguyên lí hình thành theo huyết thống, làng là nơi ở của các dòng họ,
cùng chung mối quan hệ di truyền. Tên làng thường được đặt theo tên họ,
ví dụ như người trong làng mang họ Lê thì tên làng sẽ là Lê Xá. Hình thành
theo nguyên lí huyết thống sẽ đảm bảo được tính đoàn kết, tôn ti, trật tự.
Tuy nhiên, lại gây ra tính gia trưởng, bảo thủ và đóng kín. Về nguyên lí hình
thành theo địa vực, đây là nguyên lí chiếm ưu thế hơn. Nguyên lí này đề
cao quan hệ láng giềng. Tên làng sẽ gồm hai tên: tên Nôm và tên chữ.
Ngoài ra, phân biệt rất rạch ròi giữa dân chính cư và dân ngụ cư. Hình
thành theo địa vực sẽ xây dựng nên tính cộng đồng, bình đẳng nhưng đồng
thời cũng gây ra nhiều thói hư tật xấu như: đố kỵ, cạnh tranh, tính cào bằng, ỷ lại.
Thứ ba, để nói về làng một cách rõ nét hơn, ta không thể không nhắc
tới những đặc trưng của làng. Đầu tiên, làng có đặc trưng là tính cố kết
cộng đồng bền chặt. Đặc trưng ấy thể hiện ở các quan hệ xã hội, các thiết
chế xã hội trong làng như: dòng họ, phường, giáp, hội. Biểu tượng của đặc
trưng này là cây đa, giếng nước, sân đình. Bởi cây đa là nơi mọi người ngồi
nghỉ mát sau những giờ làm việc vất vả, là nơi nghỉ chân của du khách, vì
thế cây đa là nơi giao lưu giữa làng với thế giới bên ngoài. Cùng với hình
ảnh cây đa là hình ảnh giếng nước. Giếng nước chính là nơi chia sẻ, giao
lưu của các bà, các mẹ, các chị trong làng trong khi vo gạo, rửa rau. . Nếu
như giếng nước là nơi giao lưu của phụ nữ trong làng, thì sân đình chính là
nơi dành cho cánh đàn ông. Sân đình là trung tâm hành chính, văn hoá của
làng nên tất cả mọi hoạt động sẽ được diễn ra ở đây. Tính cố kết cộng
đồng bền chặt giúp tăng tình đoàn kết và ý thức tập thể. Nhưng bên cạnh
đó, đặc trưng này cũng gây ra tình trạng dựa dẫm, ỷ lại, cào bằng, đố kỵ,
triệt tiêu ý thức cá nhân. Ngoài tính cố kết cộng đồng bền chặt, làng còn
có một đặc trưng tiêu biểu khác là tính tự trị. Tính tự trị thể hiện qua 4
mặt là kinh tế, chính trị và tư pháp, an ninh, văn hoá tinh thần. Biểu tượng
cho tính tự trị chính là hình ảnh lũy tre. Bởi tre là một loài cây khắc phục
được tất cả những nhược điểm của ngoại cảnh để sống cho dù là ở vùng
đất khô cằn tới mức nào. Luỹ tre mang tới một hình ảnh tự chủ, tự lập bởi
thế nó biểu tượng cho tính tự trị của làng xã Việt, tất cả mọi việc đều được
giải quyết theo lệ làng mà không cần sự can thiệp của thế lực bên ngoài.
Điều đó được thể hiện rõ nhất qua câu nói dân gian: “Phép vua thua lệ 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu
làng”. Tính tự trị giúp phát huy tính cần cù, chịu khó, là cơ sở của lòng yêu
nước. Ngoài ra, còn xây dựng tính thần tự lập cộng đồng, nếp sống tự cấp
tự túc. Tuy nhiên, tính tự trị cũng để lại không ít nhược điểm thể hiện ở
thói tư hữu, ích kỷ, gia trưởng, bè phái. Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về
làng xã Việt, ta thấy nổi bật hai đặc trưng là tính cố kết cộng đồng bền
chặt và tính tự trị. Với hai đặc trưng ấy, mỗi đặc trưng đều có những ưu và
nhược điểm riêng, nhưng tựu chung lại chúng đều tạo nên được nét riêng của làng xã Việt Nam.
Trải qua nhiều biến động của thời gian, ngày nay làng xã Việt Nam
vẫn tồn tại nhưng cũng đã ít nhiều có sự thay đổi so với làng xã ngày xưa.
Trong thời đại hôm nay, làng xã cổ truyền đã thay đổi, không còn bao bọc
bởi luỹ tre làng, rất nhiều những lệ làng khắt khe nay đã bị loại bỏ. Làng
ngày nay tồn tại như một đơn vị hành chính cấp nhỏ
. Từ đó mở ra rất nhiều
điều kiện thuận lợi để làng xã phát triển, nhất là phát triển kinh tế, tiến tới
đô thị hoá nông thôn. Tất cả những điều đó đều nhằm nâng cao đời sống
nhân dân, xây dựng nông thôn mới, hiện đại và phát triển bền vững. Tuy
nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, ngày nay làng xã Việt vẫn còn tồn
tại nhiều hạn chế. Tình trạng công nghiệp hoá đã khiến diện tích đất nông
nghiệp bị thu hẹp, nhiều người dân rời quê hương lên thành phố kiếm việc
làm khiến lực lượng lao động bị giảm sút. Bên cạnh đó, cùng với sự phát
triển của công nghiệp, một số làng nghề truyền thống cũng đã bị mai một
và đứng trước nguy cơ bị lãng quên hoàn toàn. Hơn nữa, vấn đề về môi
trường ở các làng quê ngày nay cũng ngày càng nghiêm trọng, nhiều người
vì dân trí thấp mà sẵn sàng phá huỷ môi trường sống để kiếm tiền. Làng xã
Việt ngày nay đã và đang phát triển cùng sự phát triển chung của đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó làng xã Việt cũng còn rất nhiều hạn chế cần
phải khắc phục để bảo tồn và phát triển làng xã Việt.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về tổ chức làng xã truyền thống
của người Việt, ta đã có một cái nhìn rõ nét hơn về lãng xã truyền thống
Việt, cũng như nguyên lý hình thành, đặc trưng và thấy được những mặt
tích cực và hạn chế của làng xã ngày nay. Làng xã Việt từ lâu đã luôn đi vào
thơ ca nhạc hoạ, đi sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt như một biểu
tượng, mang nhiều nét văn hoá truyền thống dù là ngày trước hay hiện tại.
Hình ảnh ngôi làng với cây đa, giếng nước, sân đình sẽ luôn trở thành một
biểu tượng bất diệt trong lòng mỗi người dân Việt về hình ảnh của một
làng quê Việt Nam thanh bình. 19:53, 07/01/2026
Csvhvn - Tính Nước trong Văn Hóa Truyền Thống Việt Nam - Studocu