1. Qđ của Mác
Tôn giáo là gì, xuất hiện từ đâu (trước Mác, thời Mác) - 1
Vai trò
Phân biệt
Bản chất của tôn giáo - 1
Nguồn gốc tôn giáo - 1
+ tự nhiên
+ nhận thức
+ tâm lí
Tính chất - 1
+ lịch sử
+ quần chúng
+ chính trị
Nguyên nhân tồn tại
Nguyên tắc giải quyết vđ tôn giáo thời kì quá độ lên cnxh - 2
2. Tôn giáo và đoàn kết tôn giáo ở VN hiện nay
Đặc Điểm tôn giáo ở VN, lấy ví dụ các loại tôn giáo ở VN, phát triển như
thế nào, bla bla,... - 3
Giải pháp khắc phục
Thuận lợi và khó khăn
Chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo - 3
Trách nhiệm của sinh viên
Tôn giáo là gì ?
Tôn giáo niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm hoạt động bao
gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
Tôn giáo xuất hiện khi nào?
Về thời điểm xuất hiện, tôn giáo hình thành trong những giai đoạn lịch sử nhất định của
xã hội loài người, khi con người chưa thể giải thích một cách khoa học về các hiện tượng
tự nhiên hội, dẫn đến việc họ tạo ra những đấng siêu nhiên để giải tìm kiếm
sự an ủi. Như vậy, tôn giáo xuất hiện cùng với sự phát triển của hội loài người, đặc biệt
trong những giai đoạn mà nhận thức khoa học còn hạn chế.
Vai trò của tôn giáo (ngắn gọn và ví dụ) Về mặt đạo đức – xã hội:
Tôn giáo giáo dục con người sống hướng thiện, từ bi, bác ái, sống có trách nhiệm với bản
thân và cộng đồng. Những giá trị đạo đức của tôn giáo giúp hình thành lối sống tích cực,
hạn chế các hành vi tiêu cực trong xã hội.
Về mặt văn hóa – truyền thống:
Tôn giáo một bộ phận cấu thành văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn phát huy bản
sắc dân tộc. Nhiều phong tục, lễ hội và sinh hoạt văn hóa gắn liền với tôn giáo.
Về mặt xã hội – phát triển cộng đồng:
Các tổ chức tôn giáo tham gia tích cực vào hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ người
nghèo, khám chữa bệnh miễn phí, dạy học... Góp phần cùng Nhà nước giảm bớt gánh
nặng an sinh xã hội.
Về khối đại đoàn kết dân tộc:
Khi được định hướng đúng đắn, tôn giáo góp phần tăng cường sự gắn bó, đoàn kết giữa
các tầng lớp nhân dân, giữa các tôn giáo và giữa các dân tộc trong xã hội Việt Nam.
Or
Tác động tích cực của tôn giáo
Gắn kết cộng đồng, tạo ra hệ thống giá trị đạo đức
Tôn giáo giúp con người sống thiện, biết yêu thương, giúp đỡ nhau.
dụ: Phật giáo khuyến khích “từ bi hỷ xả”, Công giáo đề cao tình yêu thương, Hồi giáo
dạy con người trung thực và nhẫn nại.
Ổn định trật tự xã hội
Tôn giáo tạo ra các chuẩn mực đạo đức, giúp con người hành xử đúng đắn.
dụ: Nhiều người theo đạo xu hướng tránh hành vi sai trái sợ phạm tội lỗi theo
giáo lý.
Đóng góp cho văn hóa, nghệ thuật
Tôn giáo là nguồn cảm hứng cho nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị.
dụ: Nhà thờ Đức Paris (Công giáo), chùa Một Cột (Phật giáo), thánh đường Hồi
giáo Sheikh Zayed ở UAE.
Tác động tiêu cực của tôn giáo
Có thể gây chia rẽ xã hội, xung đột tôn giáo
Khi các nhóm tôn giáo cực đoan đối lập, xung đột có thể xảy ra.
Ví dụ: Xung đột giữa Công giáo và Tin lành ở Bắc Ireland kéo dài nhiều thập kỷ.
Có thể bị lợi dụng vào mục đích chính trị
Một số thế lực có thể sử dụng tôn giáo để kích động bất ổn, chống phá nhà nước.
Ví dụ: Một số nhóm cực đoan lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tư tưởng khủng bố.
Có thể kìm hãm sự phát triển khoa học
Một số quan điểm tôn giáo bảo thủ có thể đi ngược lại với khoa học hiện đại.
dụ: Quan niệm “Trái Đất là trung tâm vũ trụ” từng bị Giáo hội Công giáo bảo vệ, gây
khó khăn cho các nhà khoa học như Galileo.
Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Tuy tôn giáo và tín ngưỡng đều liên quan đến niềm tin tâm linh, nhưng chúng có sự khác
biệt rõ ràng về tổ chức, hệ thống giáo lý và cách thức thực hành Tôn Giáo
một hệ thống niềm tin tổ chức, có giáo lý, nghi lễ và thường một đấng
tối cao hoặc lực lượng siêu nhiên làm trung tâm. Tôn giáo thường có người sáng
lập, kinh sách và cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
Ví dụ: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo. Tín Ngưỡng
niềm tin vào một thế lực siêu nhiên nhưng không hệ thống giáo lý chặt chẽ.
Tín ngưỡng thường mang tính địa phương, không người sáng lập ràng
chủ yếu dựa trên các phong tục truyền thống.
Ví dụ: Thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thần tài, tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng làng.
Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, không phù hợp với lẽ tự nhiên dẫn tới hậu
quả xấu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản, tính mạng
Bản chất của tôn giáo (PP ngắn gọn – chữ nghiêng, ngoặc là tự chọn lọc thêm vào khi
TT – tự nói)
Tôn giáo một hiện tượng hội phản ánh sự yếu thế, bất lực, bế tắc của con người
trước sự tự nhiên, hội trước các thế lực trong đời sống. (họ ng tạo ra mục
đích, lợi ích của mình để phản ánh ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ nhưng họ cũng bị lệ
thuộc, tuyệt đối hoá và phục tùng tôn giáo vô điều kiện. C.Mác khái quát: “Tôn giáo là
sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại
để mất bản thân mình một lần nữa”)
Tôn giáomột hình thái ý thức xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan (vào bộ
óc của con người) …thông qua các biểu tượng siêu nhiên và niềm tin
( Ph.Ăngghen đã khái quát: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào
trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức
những lực lượng siêu trần thế” )
Tôn giáo là sản phẩm của con người, (không xuất hiện cùng lúc với sự tồn tại của con
người mà khi khả năng tư duy trừu tượng con người đạt mức độ nhất định) gắn liền với
những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội nhất định.
Nguồn gốc tôn giáo (ngắn gọn)
Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - hội: Sự bất lực của con người trước các thế lực tự nhiên
do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất khiến con người yếu đuối trước tự nhiên.
Khi thế giới hiện thực không đạt được nhu cầu, mong muốn, con người thường xu
hướng tìm đến các biện pháp tâm linh – hư ảo như tôn giáo
Mối quan hệ giữa người với người. Khi xã hội ngày càng phát triển, xung đột giữa những
giai cấp, tầng lớp trong xã hội trở nên gay gắt hơn. Sự bóc lột, áp bức của những giai cấp
cao hơn khiến quần chúng tìm kiếm lối thoát ở một thế giới khác.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Tôn giáo chỉ xuất hiện khi con người đạt đến một
trình độ nhận thức nhất định, vượt qua giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Con người
cần có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa và tạo ra những biểu tượng về thần thánh
và thế giới siêu nhiên.
Nguồn gốc tâm của tôn giáo: Được các nhà tưởng nghiên cứu từ thời cổ đại đến
hiện đại: Các nhà duy vật cổ đại cho rằng "Sự sợ hãi sinh ra thần thánh". Yếu tố tâm lý cụ
thể tâm trạng xúc cảm của con người đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành
tôn giáo. Các nhà tư tưởng trung đại phát triển từ tư tưởng cổ đại, mở rộng phạm vi nguồn
gốc tâm lý, bao gồm: tình cảm tiêu cực, tình cảm tích cực.
Tính chất của tôn giáo (PP + nói ý chính – chữ nghiêng + ví dụ)
Tính lích sử
- Tôn giáomột hiện tượng xã hộitính lịch sử, bởi vì nó có sự hình thành, tồn
tạivà phát triển trong những giai đoạn lịch sử nhất định, nó có khả năng biến đổi để thích
nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó,
khikhoa học giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân n nhận thức được bản
chất các hiện tượng trong tự nhiên hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của
trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người. Đương nhiên, để đi
đến trình độ đó sẽ còn là một quá trình phát triển rất lâu dài của xã hội loài người.
Ví dụ: Đạo Phật xuất hiện vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ, do Đức Phật Thích Ca sáng lập.
Trải qua hơn 2.500 năm, đạo Phật đã phát triển với nhiều nhánh khác nhau như Tiểu Thừa,
Đại Thừa và Mật Tông.
Tính quần chúng
- Tôn giáo một hiện tượng hội phổ biến tất cả các dân tộc, quốc gia, châu
luc,không một quốc gia nào, dân tộc nào không có một hay nhiều tôn giáo.
- Tính quần chúng biểu hiện của số lượng tín đồ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn
hoá,tinh thần của một bộ phận khá đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
- Tôn giáo sức ảnh hưởng rộng lớn, thu hút đông đảo người tham gia, không
phânbiệt giai cấp giàu, nghèo.
Ví dụ: Đạo Công giáohơn 1,3 tỷ n đồ trên thế giới, trải dài từ châu Âu, châu Mỹ đến
châu Á, châu Phi. Các ngày lễ lớn như Giáng Sinh thu hút hàng triệu người tham gia,
không chỉ riêng người theo đạo.
Tính chính trị
-Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi hội đã phân chia giai cấp, sự khác
biệt, sự đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị.
- Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh
lợiích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh
dân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị. Đấu tranh tôn giáo là một bộ phận của đấu
tranh giai cấp
-Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trsdụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai
cấp mình, chống lại các giai cấp lao động tiến bộ hội, tôn giáo mang tính chính trị
tiêu cực, phản tiến bộ.
Ví dụ:
- châu Âu thời trung cổ, Giáo hội Công giáo quyền lực lớn, thậm chí thể
ảnh hưởng đến các vị vua.
- nhiều quốc gia Hồi giáo hiện nay, luật pháp được xây dựng dựa trên luật
Shariacủa đạo Hồi
-Một số phong trào đấu tranh chính trị có sự tham gia của tôn giáo, như phong trào độc
lập của Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi, người chịu ảnh hưởng lớn từ đạo
Hindu
Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(ngắn gọn)
- Nguyên nhân kinh tế:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đời sống vật chất và tinh thần ngày một nâng cao cho mọi thành viên trong xã hội.
Mặc dù vậy, điều kiện vật chất và tinh thần chưa đủ làm thay đổi triệt để ý thức con
người
Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo chế thị trường với sự khác nhau về lợi
ích của các giai tầng trong xã hội, những mặt trái như sự bất bình đẳng về lợi ích kinh
tế, văn hóa, hội giữa các giai tầng, giữa các cộng đồng dân ; phân hóa giàu
nghèo… những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi… vẫn tác động, chi phối đến đời sống con
người
- Nguyên nhân chính trị - xã hội
Trên thế giới, xung đột giai cấp, sắc tộc, chiến tranh và bất ổn chính trị diễn ra phức tạp;
nhiều lực lượng lợi dụng tôn giáo cho mục đích riêng, trong khi nỗi lo sợ của người dân
về chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật… tạo điều kiện cho tôn giáo tiếp tục tồn tại.
Trong thời kỳ quá độ, tôn giáo có khả năng thích nghi, đồng hành cùng dân tộc mang
những giá trị đạo đức, văn hóa phù hợp, đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân. - Nguyên nhân văn hóa
Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần, góp phần giáo dục
cộng đồng và mang nhiều giá trị văn hóa quan trọng; đồng thời, gắn bó với tình cảm, tư
tưởng của một bộ phận dân nên tiếp tục tồn tại như một hiện tượng hội khách quan
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Nguyên nhân nhận thức
Hiện thực khách quan vô cùng, vô tận, tồn tại đa dạng và phong phú, còn nhiều vấn đề
mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ. Những sức mạnh tự phát của tự nhiên, xã hội đôi
khi rất nghiêm trọng, còn tác động chi phối đời sống con người. Do vậy, tâm sợ
hãi, trông chờ, nhờ cậy, tin tưởng vào thánh thần, đấng siêu nhiên để tìm chdựa tinh
thần (Do khoa học chưa lý giải hết hiện thực và dân trí còn hạn chế, nhiều người vẫn tin
vào lực lượng siêu nhiên để tìm chỗ dựa tinh thần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
- Nguyên nhân về mặt tâm lý
Tác động mạnh mẽ của tự nhiên, xã hội khiến con người lo sợ, bất an, trong khi tôn giáo
– tín ngưỡng đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, trở thành phong tục, tập quán không thể
thiếu của một bộ phận nhân dân.
Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (ngắn gọn + ví
dụ)
- Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
nhân dân
+ Tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng thuộc quyền tự do tư tưởng của nhân dân: Tín
ngưỡng tôn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào đấng tối cao,đấng thiêng liêng
nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản
tự do theo đạo, đổi đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm
phạm đến quyền tự do tư tưởng của họ.
dụ: người chồng ép vợ mình đổi từ đạo Thiên Chúa sang đạo Phật để giống với gia đình,
dòng họ nhà chồng vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và Luật Hôn nhân & Gia đình. (Ép vợ đổi
đạo là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và Luật Hôn nhân & Gia đình.) + Biểu hiện tôn trọng
quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa:
Nhà nước tôn trọng, bảo hộ các hoạt động tôn giáo hợp pháp và nhu cầu tín ngưỡng của người
dân.
dụ: Nhà nước Việt Nam cho phép các nhà thờ, giáo xứ đạo Thiên Chúa hằng tuần tổ chức
các buổi đọc Kinh thánh, nghe giảng xem những tiết mục liên quan đến Thiên Chúa giáo.
(Nhà nước Việt Nam cho phép các nhà thờ Thiên Chúa giáo tổ chức sinh hoạt tôn giáo hằng
tuần.)
- Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với
quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
+ Chủ nghĩa Mác – Lênin không xóa bỏ tôn giáo, mà chỉ hướng tới việc giải quyết các ảnh
hưởng tiêu cực của tôn giáo, không can thiệp hay tuyên chiến với tôn giáo.
dụ: Việt Nam bài trừ các "tà đạo", các giáo hội không được Nhà nước cho phép như Hội
Thánh Đức Chúa Trời tại thành phố Hồ Chí Minh; trừng phạt những người mạo danh các
mục đi lang thang ngoài đường hòng trục lợi từ lòng tin, lòng hướng Phật của người dân.
(Việt Nam bài trừ tà đạo, xử lý người lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi như Hội Thánh
Đức Chúa Trời.)
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức hội trước hết cần phải
thay đổi tồn tại xã hội, phải cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới công bằng, văn minh.
Khi điều kiện sống tốt hơn, người dân sẽ từ bỏ những tư tưởng tiêu cực, tín. dụ: Việt Nam
hiện nay đi trên con đường quá độ lên chủ nghĩa hội - một hội "dân giàu, nước mạnh,
công bằng, bình đẳng, văn minh", thực hiện tiêu chí đó để người dân sẽ bỏ đi những ảo tưởng,
những tưởng xa vời, tiêu cực, cực đoan như minh hôn trong các gia đình nhà giàu con,
cháu chưa lập gia đình mà mất sớm. (Việt Nam xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa để người dân
không còn mê tín như tục minh hôn.)
-Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng của tôn giáo trong quá trình giải
quyết vấn đề tôn giáo.
+ Mối quan hệ gắn bó giữa mặt tư tưởng và mặt chính trị trong mỗi tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tư
tưởng. Tuy nhiên, khi xã hội xuất hiện giai cấp, tôn giáo bắt đầu có dấu ấn chính trị. Chính trị
và tư tưởng gắn bó trong mỗi tôn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng
thường thể hiện có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo bản thân mỗi tôn
giáo.
Ví dụ: trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những tầng lớp, giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột, bần
cùng nặng nề bởi chủ nô (chính trị), vì thế họ tin tưởng rằng có một thế lực siêu trần thế có thể
cứu giúp họ và cho họ tự do, hạnh phúc (tư tưởng).
(Ở hội chiếm hữu lệ, lệ tin vào một thế lực siêu nhiên cứu giúp họ khỏi áp bức, bóc
lột)
+ Biểu hiện của mặt chính trị và mặt tư tưởng
Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ phản tiến bộ, phản ánh mâu thuẫn
đối kháng về lợi ích kinh tế chính trị giữa các giai cấp
Mặt tưởng biểu hiện sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin tưởng khác nhau giữa
người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng
Ví dụ: Thực dân Pháp đã sử dụng tôn giáo để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta: “các
sứ giả của Chúa nộp những người An Nam yêu nước cho bọn chiến thắng đem lên máy chém
hay giá treo cổ”. Trái lại, trong Kinh thánh của đạo Thiên Chúa đã truyền lại rằng: Mọi con
người được tạo nên theo hình ảnh của Chúa được ban quyền làm chủ trụ, làm chủ thế
giới. ( Thực dân Pháp lợi dụng tôn giáo để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, trong khi
Kinh thánh Thiên Chúa giáo lại truyền dạy quyền làm chủ thế giới của con người. )
+ Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng
Nguyên tắc phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Hai mặt này đôi khi khó phân biệt vì chúng thường
đan xen nhau. Mặt khác, trong hội đối kháng giai cấp, tôn giáo thường bị yếu tố
chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần tuý
trong tôn giáo. Việc phân biệt là cần thiết để tránh cực đoan trong quản lý tín ngưỡng tôn
giáo.
dụ: người dân Việt Nam cảm thấy ăn thịt là chuyện bình thường, nhưng Hồi giáo, họ
tôn sùng con bò, bắt những người theo đạo Hồi không được ăn thịt bò. (Người Việt ăn thịt bò
là bình thường, nhưng ở Hồi giáo, bò được tôn sùng và không được ăn.)
- Cuối cùng, quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
+ Tôn giáo luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều
kiện kinh tế - xã hội - lịch sử cụ thể.
Mỗi tôn giáo có lịch sử và quá trình phát triển riêng, với tác động khác nhau qua các thời kỳ.
dụ: triều đại phong kiến, Phật giáo được truyền vào Việt Nam để hình thành giá trị văn
hóa chùa, làng. Còn ngày nay, đạo Phật không chỉ giữ gìn văn hóa đền chùa mà còn tổ chức rất
nhiều buổi tọa đàm giảng dạy, khóa tu, các lễ thiền, lễ phóng sanh, siêu độ cho các vong linh
mới qua đời,...
(Phật giáo triều đại phong kiến giúp hình thành văn hóa chùa, làng; ngày nay, đạo Phật tổ
chức các buổi giảng dạy, khóa tu, lễ siêu độ.)
+ Cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử với những vấn đề
có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về những lĩnh vực của đời sống
xã hội luôn có sự khác biệt.
dụ: Trong một số truyền thống Hồi giáo bảo thủ, vai trò của phụ nữ rất hạn chế với những
quy định nghiêm ngặt: phải mặc che kín mặt toàn thân, không được ra ngoài không
sự giám sát của người thân nam,... Tuy nhiên, trong các trường phái Hồi giáo khác (Thổ Nhĩ
Kỳ, Pakistan, Indonesia,...) thì phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng với nam giới. (Trong
một số truyền thống Hồi giáo bảo thủ, phụ nữ bị hạn chế quyền tự do, nhưng các quốc gia
như Thổ Nhĩ Kỳ hay Indonesia, phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng.)
Tôn giáo và đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay (ngắn gọn, chữ gạch chân in
đậm + ví dụ)
- ớc Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, có 54 dân tộc với nhiều tôn giáo
khác nhau. Hiện nay, ở Việt Nam có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân
số cả nước). Ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, không có
mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo; người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Dung hợp, đan xen và hòa đồng giữa các tín ngưỡng, tôn giáo
Ví dụ:
Tại làng Đại Bái (Bắc Ninh), người dân tổ chức lễ hội truyền thống thờ Tổ nghề đúc
đồng, trong đó có sự phối hợp giữa tín ngưỡng dân gian (thờ Thành Hoàng), Phật giáo
(tụng kinh tại chùa làng) và Nho giáo (tế lễ cổ truyền). Người theo đạo Công giáo
trong làng vẫn tham gia các hoạt động lễ hội như phần rước kiệu hay trò chơi dân gian
cùng người không theo đạo, thể hiện sự hòa đồng, không phân biệt tôn giáo.
- Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo cho 04 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn
giáo. Theo đó, các hoạt động khác (như: đào tạo chức sắc, xây dựng, sửa chữa nơi
thờ tự, quan hệ quốc tế, v.v...) của cá nhân, tổ chức tôn giáo diễn ra thuận lợi theo
quy định của pháp luật. Có thể nói, các hoạt động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam thời gian qua diễn ra theo xu hướng tích cực, góp phần quan trọng vào công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
- Tôn giáo Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hoà bình và không
có xung đột, chiến tranh, là nơi giao lưu của nhiều luồng văn hóa thế
giớichịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc
và Ấn Độ sau chịu tác động, ảnh hưởng của các luồng văn hóa của các
quốc gia phương Tây.
- Mỗi tôn giáo ở Việt Nam có quá trình lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau nên sự
gắn bó với dân tộc cũng khác nhau. Tín đồ của các tôn giáo khác nhau cùng chung
sống hòa bình trên một địa bàn, giữa họ có sự tôn trọng niềm tin của nhau.
-Tín đồ các tôn giáo phần lớn là nhân dân lao động, có lòng yêu nước, tinh thần dân
tộc “Tín đồ các tôn giáo Việt Nam có thành phần rất đa dạng, chủ yếu là người lao
động, bao gồm nông dân, công nhân... Đa số tín đồ các tôn giáo đều có tinh thần yêu
nước, chống ngoại xâm, tôn trọng công lý, gắn bó với dân tộc, đi theo Đảng theo cách
mạng, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và có chung ước vọng
sống “tốt
- Tôn giáo Việt Nam có những lúc bị thế lực phản động lợi dụng.
, trong đó
; về
Trong lịch sử cận - hiện đại, tín ngưỡng, tôn giáo từng bị một số thế lực lợi dụng để phục
vụ cho âm mưu chính trị, xâm lược và chống phá cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thực dân, đế quốc trong quá khứ, cũng như các thế lực phản động, thù địch
hiện nay, luôn tìm cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn
kết dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và can thiệp vào công việc nội bộ
của Việt Nam. Với chiêu bài "tự do tôn giáo", "tự do nhân quyền", chúng xuyên tạc,
bóp méo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động một bộ phận tín đồ
chống đối chính quyền, từ đó thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Do đó, vấn đề tôn giáo Việt Nam luôn gắn liền với công tác đảm bảo an ninh quốc
gia, ổn định chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm
các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của nhân dân.
Tôn giáo bị lợi dụng để chống phá đất nước
Ví dụ:
Linh mục Đặng Hữu Nam tại Nghệ An từng có các phát ngôn công khai xuyên tạc
lịch sử, bôi nhọ chính quyền, kích động giáo dân biểu tình, gây rối trật tự công cộng
dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường. Những hành động này đã bị dư luận xã hội phản
đối mạnh mẽ và cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật.
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên
Đạo Công giáo (có nguồn gốc từ Kigiáo) ra đời phía Đông đế quốc La cổ đại
vào thế kỷ I Công nguyên, tới thế kỷ XI, Kitô giáo phân chia thành hai phái: Công giáo
và Chính thống giáo
Đạo Hồi ra đời ở Ảrập vào đầu thế kỷ thứ VII. Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam
Á từ thế kỷ thứ XI, XII, theo các nhà buôn, theo con đường hoà bình, khác với thời kỳ
thánh chiến trước đó
Đạo Tin lành vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX
Đạo Minh (Giáo hội Phật đường Nam tông Minh đạo Việt Nam) tôn giáo thờ
đa thần, có nguồn gốc tTrung Quốc, truyền vào Việt Nam từ năm 1863
Đạo Baha’i tôn giáo nhất thần thờ Thượng đế, ra đời năm 1863 tại Ba (nay Iran)
Ngoài ra còn có các tôn giáo nội sinh như Đạo Bửu Sơn kỳ hương ra đời năm 1849 tại
Tây An cổ tự, ChMới, An Giang; Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 5-1867 tại Cù lao
Ba, An Phú, An Giang; Đạo Minh (còn gọi Minh đạo - tam tông miếu) ra đời
năm 1924 tại miền Nam; Đạo Cao đài ra đời 15-10-1926 (AL) tại Tây Ninh; Tịnh độ cư
Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp; Phật giáo Hoà Hảo
nguồn gốc giáo từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoá cho phù hợp với
trình độ lối sống của người dân địa phương. Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939 tại làng
Hoà Hảo, Tân Phú, An Giang
Giải pháp khắc phục khó khăn khi thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay (gạch đầu dòng, ngắn gọn)
1. Quán triệt sâu sắc, đầy đủ những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước
ta về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần dựa
trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, Nhân dân, nhất là trong chức
sắc, chức việc, nhà tu hành tín đồ các tôn giáo những chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà ớc về quyền tự do n ngưỡng, tôn
giáo
Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội của địa phương, đẩy mạnh thực hiện
các phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào các tôn giáo để xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc vững mạnh.
2. Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng trong đồng bào đạo và đồng
bào không đạo đoàn kết đồng hành ng dân tộc. Đây vấn đề bản, cốt i
xuyên suốt của công tác tôn giáo,
Đồng bào đạo không đạo đều bình đẳng trước pháp luật, quyền lợi,
nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đồng bào có đạo hay không đạo đều con Lạc, cháu Hồng, vì vậy đều phải
toàn tâm, toàn ý lo cho vận nước, an dân bách tính.
Cần nâng cao tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu các tôn giáo, nhất tính
tiền phong, gương mẫu “nói đi đôi với làm”, làm nhiều hơn nói; xóa bỏ định kiến,
khác biệt, đối xử, phân biệt giữa đồng bào đạo không đạo; lấy điểm
tương đồng xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, ng cường, thịnh
vượng để gắn kết đồng bào với nhau; đồng thời nâng cao năng lực tuyên truyền,
vận động, giáo dục, thuyết phục của đội ngũ n bộ, công chức chuyên trách công
tác tôn giáo.
3. Đẩy mạnh cải cách hành chính và hỗ trợ các tổ chức tôn giáo hợp pháp
Cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp phép hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức
tôn giáo, và tổ chức các sự kiện tôn giáo. Đồng thời, Nhà nước cần có các chính sách
hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển theo đúng định hướng
của pháp luật.
=> Giảm bớt sự khó khăn, rườm rà trong các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp, đồng thời hạn chế các hoạt động tôn
giáo không được kiểm soát.
4. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về tôn giáo
Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc quản lý các vấn
đề tôn giáo, đồng thời tham gia vào các diễn đàn quốc tế để trao đổi và cải thiện chính
sách tôn giáo trong nước. Hợp tác quốc tế cũng giúp Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn
giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa.
=>Mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế, tăng cường hiểu biết và học hỏi từ các quốc gia
khác, đồng thời củng cố hình ảnh Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
5. Khuyến khích phát triển các giá trị văn hóa chung
Các tôn giáo cần tập trung vào việc phát huy các giá trị văn hóa chung, như tình yêu
thương, khoan dung và hòa bình, để xây dựng sự đồng thuận trong xã hội Đồng thời,
các cơ quan chức năng cần tạo ra những chương trình giao lưu văn hóa, tôn giáo để
khuyến khích sự gắn kết giữa các tôn giáo.
=>Điều này sẽ góp phần giảm bớt sự phân biệt, đối đầu giữa các tôn giáo, tạo nền tảng
vững chắc cho sự hòa hợp xã hội.
6. Xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tôn giáo
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các địa phương có cơ sở thờ tự, tín đồ
tôn giáo; không để những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ dẫn đến những vụ việc
phức tạp, để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo đồng bào tôn giáo biểu tình,
có hành vi chống đối, cản trở quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội địa phương
Cần có các biện pháp mạnh mẽ để xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để kích
động bạo loạn, chia rẽ xã hội hoặc tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp
luật. Các hành vi này cần được giám sát và xử lý kịp thời để không ảnh hưởng
đến sự ổn định của xã hội.
=> Giúp duy trì trật tự xã hội, đảm bảo rằng tôn giáo không bị lợi dụng vào các mục
đích không chính đáng.
Thuận lợi trong việc thực hiện chính sách tôn giáo hiện nay
1. Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Chính sách tôn giáo của Việt Nam hiện nay dựa trên nguyên tắc tôn
trọng tự do tín ngưỡng, không tín ngưỡng, đảm bảo mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 cùng các văn bản hướng dẫn thi
hành đã tạo cơ sở pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định và minh
bạch.
2. Nhu cầu tín ngưỡng là nhu cầu chính đáng của nhân dân
Ở nhiều địa phương, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người
dân được Nhà nước đáp ứng và hỗ trợ, tạo nên sự gắn kết giữa chính
quyền và các tổ chức tôn giáo.
Cộng đồng các tôn giáo cơ bản sống tốt đời đẹp đạo, tích cực tham gia
các hoạt động xã hội, từ thiện, phát triển kinh tế – xã hội.
3. Đa dạng tôn giáo – nhưng ổn định
Việt Nam có 16 tôn giáo, với khoảng 26.5 triệu tín đồ (chiếm khoảng
27% dân số), hơn 56.000 chức sắc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Mặc dù đa
dạng nhưng phần lớn các tôn giáo hoạt động hòa bình, tuân thủ pháp
luật.
Các tổ chức tôn giáo được công nhận về mặt pháp lý, tạo điều kiện thuận
lợi trong việc phối hợp với chính quyền.
4. Vai trò của các chức sắc, nhà tu hành
Nhiều vị chức sắc tôn giáo có uy tín đã đồng hành cùng Nhà nước trong
việc định hướng tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, tích cực tham gia phát
triển cộng đồng và giữ gìn trật tự xã hội.
Khó khăn, thách thức trong thực hiện chính sách tôn giáo
1. Một số tổ chức tôn giáo bị lợi dụng để gây rối
Một bộ phận tổ chức, cá nhân lợi dụng quyền tự do tôn giáo để kích
động chống phá chính quyền, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, gây mất
ổn định an ninh trật tự.
Xuất hiện hiện tượng truyền đạo trái phép, hoặc sử dụng các kênh
mạng xã hội để truyền bá tư tưởng cực đoan, phản động dưới danh nghĩa
tôn giáo.
2. Phân hóa nội bộ, cạnh tranh tôn giáo
Một số nơi xảy ra mâu thuẫn giữa các tổ chức tôn giáo hoặc giữa chức sắc
trong cùng một giáo phái về quyền lực, quyền quản lý cơ sở thờ tự.
tình trạng tranh chấp đất đai tôn giáo, gây phức tạp cho công tác
quản lý nhà nước.
3. Hiểu biết pháp luật của tín đồ còn hạn chế
nhiều vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhẹ dạ, dễ bị
dụ dỗ theo tà đạo, dị đoan.
Việc thực hiện các quy định pháp luật về sinh hoạt tôn giáo còn chưa
nghiêm, dẫn đến tình trạng sinh hoạt tôn giáo tự phát, không đăng ký.
4. Thiếu cán bộ am hiểu về tôn giáo
Một số địa phương chưa có cán bộ chuyên trách am hiểu sâu về tôn giáo,
dẫn đến khó khăn trong việc xử lý tình huống nhạy cảm.
Công tác phối hợp giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo còn hạn chế ở cơ
sở.
Quan điểm ,chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo hiện nay
1 - Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2 - Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo.
3 - Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.4 -
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Công tác tôn giáo có liên
quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt
công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
5 – Đạo đức tôn giáo có một số điểm phù hợp với đạo đức xã hội
6 - Mọi tín đồ đều quyền tự do hành đạo tại gia đình sở thờ tự hợp pháp theo
quy định của pháp luật.
Trách nhiệm của sinh viên (ngắn gọn)
Là một thành viên sinh viên, tư cách là một trong những hạt mầm tương lai của đất
nước chúng ta cần tự mình tìm thấy bản thân có vai trò, dũng cảm góp phần xây dựng
khối đại đoàn kết của dân tộc trong vấn đề tôn giáo.
Cụ thể là:
- Nhận thức đúng đắn về cuộc đấu tranh chống lại các thế lực hiệp lợi các vấn đề
về dân tộc, tôn giáo chống cách mạng Việt Nam là cuộc đấu tranh phức tạp, quyết định
và lâu dài. Các thế lực thù vương vô cùng thủ đoạn, gian vũ, mà hiện nay chúng đang
tiến tới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp; lợi ích, lừa gạt học
sinh, sinh viên - những người năng động, sáng tạo, mong muốn cống hiến cho đất nước
nhưng chưa có nhiều trải nghiệm. Do đó, chúng ta cần phải tích cực chiến đấu với
những hoạt động sai trái của các thành phần biến chất.
- Nhận thức thức tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, trong lịch sử các tôn giáo, các chức
sắc,tín đồ đã cùng thể dân tộc đấu tranh để giành độc lập dân tộc
Vì vậy chúng ta cần sống hòa đồng; không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng với các
bạn cùng trang tôn cũng như mọi người xung quanh, phê phán các hành vi vi chia, mê
tín dị dị ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các dân tộc.
- kèm theo đó cũng cần phải học tập để có kiến thức, có tri thức về lịch sử, văn
hóa, tôn giáo để hiểu về nguồn gốc dân tộc, góp sức xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc, đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
- Cần quan tâm, nắm rõ tình hình hiện tại đang diễn ra trong nước và thế giới ở
mọi mặt đời sống, xã hội, để có cái nhìn đa chiều về các sự việc, không để luận điệu
xấu che mờ lý tưởng.
- Cần tích tích tham gia các hoạt động tình nguyện, tuyên truyền pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo cho các em học sinh, bạn sinh viên dân tộc thiểu số để giúp họ hiểu
biết hơn về các vấn đề liên quan tới tôn giáo, tránh sự suy nhược của các thế lực thù
địch.
Kết luận: Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Sự đa dạng này ở Việt Nam
là kết quả của sự du nhập, giao thoa và dung hợp giữa các tôn giáo bản địa hình thành
trong nước và các tôn giáo từ nước ngoài. Trong bối cảnh quốc tế, mức độ đa dạng tôn
giáo ở Việt Nam tiếp tục được nâng cao. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng. Các tôn giáo ở Việt Nam cùng tồn tại và bình đẳng về vị thế,
không có tôn giáo nào giữ vai trò tôn giáo chủ yếu, ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt
Nam.
Liễu, Huyền Anh, Hà Chi, Hoàng, Tùng, Quân, Ngọc Anh review,
check lại PP, thêm thắt hình, câu từ, bla, bla,... sao cho phù hợp
Thư kiểm lại khâu cuối cùng

Preview text:

1. Qđ của Mác •
Tôn giáo là gì, xuất hiện từ đâu (trước Mác, thời Mác) - 1 Vai trò Phân biệt •
Bản chất của tôn giáo - 1 • Nguồn gốc tôn giáo - 1 + tự nhiên + nhận thức + tâm lí • Tính chất - 1 + lịch sử + quần chúng + chính trị Nguyên nhân tồn tại •
Nguyên tắc giải quyết vđ tôn giáo thời kì quá độ lên cnxh - 2
2. Tôn giáo và đoàn kết tôn giáo ở VN hiện nay •
Đặc Điểm tôn giáo ở VN, lấy ví dụ các loại tôn giáo ở VN, phát triển như thế nào, bla bla,... - 3 Giải pháp khắc phục Thuận lợi và khó khăn •
Chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo - 3 •
Trách nhiệm của sinh viên Tôn giáo là gì ?
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao
gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
Tôn giáo xuất hiện khi nào?
Về thời điểm xuất hiện, tôn giáo hình thành trong những giai đoạn lịch sử nhất định của
xã hội loài người, khi con người chưa thể giải thích một cách khoa học về các hiện tượng
tự nhiên và xã hội, dẫn đến việc họ tạo ra những đấng siêu nhiên để lý giải và tìm kiếm
sự an ủi. Như vậy, tôn giáo xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt
trong những giai đoạn mà nhận thức khoa học còn hạn chế.
Vai trò của tôn giáo (ngắn gọn và ví dụ) Về mặt đạo đức – xã hội:
Tôn giáo giáo dục con người sống hướng thiện, từ bi, bác ái, sống có trách nhiệm với bản
thân và cộng đồng. Những giá trị đạo đức của tôn giáo giúp hình thành lối sống tích cực,
hạn chế các hành vi tiêu cực trong xã hội.
Về mặt văn hóa – truyền thống:
Tôn giáo là một bộ phận cấu thành văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc. Nhiều phong tục, lễ hội và sinh hoạt văn hóa gắn liền với tôn giáo.
Về mặt xã hội – phát triển cộng đồng:
Các tổ chức tôn giáo tham gia tích cực vào hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ người
nghèo, khám chữa bệnh miễn phí, dạy học... Góp phần cùng Nhà nước giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội.
Về khối đại đoàn kết dân tộc:
Khi được định hướng đúng đắn, tôn giáo góp phần tăng cường sự gắn bó, đoàn kết giữa
các tầng lớp nhân dân, giữa các tôn giáo và giữa các dân tộc trong xã hội Việt Nam. Or
Tác động tích cực của tôn giáo
• Gắn kết cộng đồng, tạo ra hệ thống giá trị đạo đức
• Tôn giáo giúp con người sống thiện, biết yêu thương, giúp đỡ nhau.
Ví dụ: Phật giáo khuyến khích “từ bi hỷ xả”, Công giáo đề cao tình yêu thương, Hồi giáo
dạy con người trung thực và nhẫn nại.
• Ổn định trật tự xã hội
• Tôn giáo tạo ra các chuẩn mực đạo đức, giúp con người hành xử đúng đắn.
Ví dụ: Nhiều người theo đạo có xu hướng tránh hành vi sai trái vì sợ phạm tội lỗi theo giáo lý.
• Đóng góp cho văn hóa, nghệ thuật
• Tôn giáo là nguồn cảm hứng cho nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị.
Ví dụ: Nhà thờ Đức Bà Paris (Công giáo), chùa Một Cột (Phật giáo), thánh đường Hồi giáo Sheikh Zayed ở UAE.
Tác động tiêu cực của tôn giáo
• Có thể gây chia rẽ xã hội, xung đột tôn giáo
• Khi các nhóm tôn giáo cực đoan đối lập, xung đột có thể xảy ra.
Ví dụ: Xung đột giữa Công giáo và Tin lành ở Bắc Ireland kéo dài nhiều thập kỷ.
• Có thể bị lợi dụng vào mục đích chính trị
• Một số thế lực có thể sử dụng tôn giáo để kích động bất ổn, chống phá nhà nước.
Ví dụ: Một số nhóm cực đoan lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tư tưởng khủng bố.
• Có thể kìm hãm sự phát triển khoa học
• Một số quan điểm tôn giáo bảo thủ có thể đi ngược lại với khoa học hiện đại.
Ví dụ: Quan niệm “Trái Đất là trung tâm vũ trụ” từng bị Giáo hội Công giáo bảo vệ, gây
khó khăn cho các nhà khoa học như Galileo.
Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Tuy tôn giáo và tín ngưỡng đều liên quan đến niềm tin tâm linh, nhưng chúng có sự khác
biệt rõ ràng về tổ chức, hệ thống giáo lý và cách thức thực hành Tôn Giáo
Là một hệ thống niềm tin có tổ chức, có giáo lý, nghi lễ và thường có một đấng
tối cao hoặc lực lượng siêu nhiên làm trung tâm. Tôn giáo thường có người sáng
lập, kinh sách và cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
Ví dụ: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo. Tín Ngưỡng
Là niềm tin vào một thế lực siêu nhiên nhưng không có hệ thống giáo lý chặt chẽ.
Tín ngưỡng thường mang tính địa phương, không có người sáng lập rõ ràng và
chủ yếu dựa trên các phong tục truyền thống.
Ví dụ: Thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thần tài, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng.
Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, không phù hợp với lẽ tự nhiên dẫn tới hậu
quả xấu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản, tính mạng
Bản chất của tôn giáo (PP ngắn gọn – chữ nghiêng, ngoặc là tự chọn lọc thêm vào khi TT – tự nói)
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự yếu thế, bất lực, bế tắc của con người
trước sự tự nhiên, xã hội và trước các thế lực trong đời sống. (họ sáng tạo ra vì mục
đích, lợi ích của mình để phản ánh ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ nhưng họ cũng bị lệ
thuộc, tuyệt đối hoá và phục tùng tôn giáo vô điều kiện. C.Mác khái quát: “Tôn giáo là
sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại
để mất bản thân mình một lần nữa”)
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan (vào bộ
óc của con người) …thông qua các biểu tượng siêu nhiên và niềm tin
( Ph.Ăngghen đã khái quát: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào
trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức
những lực lượng siêu trần thế” )
Tôn giáo là sản phẩm của con người, (không xuất hiện cùng lúc với sự tồn tại của con
người mà khi khả năng tư duy trừu tượng con người đạt mức độ nhất định) gắn liền với
những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội nhất định.

Nguồn gốc tôn giáo (ngắn gọn)
Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội: Sự bất lực của con người trước các thế lực tự nhiên
do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất khiến con người yếu đuối trước tự nhiên.
Khi thế giới hiện thực không đạt được nhu cầu, mong muốn, con người thường có xu
hướng tìm đến các biện pháp tâm linh – hư ảo như tôn giáo
Mối quan hệ giữa người với người. Khi xã hội ngày càng phát triển, xung đột giữa những
giai cấp, tầng lớp trong xã hội trở nên gay gắt hơn. Sự bóc lột, áp bức của những giai cấp
cao hơn khiến quần chúng tìm kiếm lối thoát ở một thế giới khác.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Tôn giáo chỉ xuất hiện khi con người đạt đến một
trình độ nhận thức nhất định, vượt qua giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Con người
cần có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa và tạo ra những biểu tượng về thần thánh
và thế giới siêu nhiên.
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Được các nhà tư tưởng nghiên cứu từ thời cổ đại đến
hiện đại: Các nhà duy vật cổ đại cho rằng "Sự sợ hãi sinh ra thần thánh". Yếu tố tâm lý cụ
thể là tâm trạng và xúc cảm của con người đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành
tôn giáo. Các nhà tư tưởng trung đại phát triển từ tư tưởng cổ đại, mở rộng phạm vi nguồn
gốc tâm lý, bao gồm: tình cảm tiêu cực, tình cảm tích cực.
Tính chất của tôn giáo (PP + nói ý chính – chữ nghiêng + ví dụ) Tính lích sử -
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, bởi vì nó có sự hình thành, tồn
tạivà phát triển trong những giai đoạn lịch sử nhất định, nó có khả năng biến đổi để thích
nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội.
-
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó,
khikhoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản
chất các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó
trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người. Đương nhiên, để đi
đến trình độ đó sẽ còn là một quá trình phát triển rất lâu dài của xã hội loài người.
Ví dụ: Đạo Phật xuất hiện vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ, do Đức Phật Thích Ca sáng lập.
Trải qua hơn 2.500 năm, đạo Phật đã phát triển với nhiều nhánh khác nhau như Tiểu Thừa,
Đại Thừa và Mật Tông. Tính quần chúng -
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân tộc, quốc gia, châu
luc,không một quốc gia nào, dân tộc nào không có một hay nhiều tôn giáo. -
Tính quần chúng biểu hiện của số lượng tín đồ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn
hoá,tinh thần của một bộ phận khá đông đảo quần chúng nhân dân lao động. -
Tôn giáo có sức ảnh hưởng rộng lớn, thu hút đông đảo người tham gia, không
phânbiệt giai cấp giàu, nghèo.
Ví dụ: Đạo Công giáo có hơn 1,3 tỷ tín đồ trên thế giới, trải dài từ châu Âu, châu Mỹ đến
châu Á, châu Phi. Các ngày lễ lớn như Giáng Sinh thu hút hàng triệu người tham gia,
không chỉ riêng người theo đạo. Tính chính trị
-Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác
biệt, sự đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị. -
Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh
lợiích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh
dân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị. Đấu tranh tôn giáo là một bộ phận của đấu tranh giai cấp
-Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai
cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị
tiêu cực, phản tiến bộ. Ví dụ: -
Ở châu Âu thời trung cổ, Giáo hội Công giáo có quyền lực lớn, thậm chí có thể
ảnh hưởng đến các vị vua. -
Ở nhiều quốc gia Hồi giáo hiện nay, luật pháp được xây dựng dựa trên luật Shariacủa đạo Hồi
-Một số phong trào đấu tranh chính trị có sự tham gia của tôn giáo, như phong trào độc
lập của Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi, người chịu ảnh hưởng lớn từ đạo Hindu
Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (ngắn gọn)
- Nguyên nhân kinh tế:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đời sống vật chất và tinh thần ngày một nâng cao cho mọi thành viên trong xã hội.
Mặc dù vậy, điều kiện vật chất và tinh thần chưa đủ làm thay đổi triệt để ý thức con người
Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường với sự khác nhau về lợi
ích của các giai tầng trong xã hội, những mặt trái như sự bất bình đẳng về lợi ích kinh
tế, văn hóa, xã hội giữa các giai tầng, giữa các cộng đồng dân cư; phân hóa giàu –
nghèo… những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi… vẫn tác động, chi phối đến đời sống con người
- Nguyên nhân chính trị - xã hội
Trên thế giới, xung đột giai cấp, sắc tộc, chiến tranh và bất ổn chính trị diễn ra phức tạp;
nhiều lực lượng lợi dụng tôn giáo cho mục đích riêng, trong khi nỗi lo sợ của người dân
về chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật… tạo điều kiện cho tôn giáo tiếp tục tồn tại.
Trong thời kỳ quá độ, tôn giáo có khả năng thích nghi, đồng hành cùng dân tộc và mang
những giá trị đạo đức, văn hóa phù hợp, đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân. - Nguyên nhân văn hóa
Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần, góp phần giáo dục
cộng đồng và mang nhiều giá trị văn hóa quan trọng; đồng thời, gắn bó với tình cảm, tư
tưởng của một bộ phận dân cư nên tiếp tục tồn tại như một hiện tượng xã hội khách quan
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Nguyên nhân nhận thức
Hiện thực khách quan vô cùng, vô tận, tồn tại đa dạng và phong phú, còn nhiều vấn đề
mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ. Những sức mạnh tự phát của tự nhiên, xã hội đôi
khi rất nghiêm trọng, còn tác động và chi phối đời sống con người. Do vậy, tâm lý sợ
hãi, trông chờ, nhờ cậy, tin tưởng vào thánh thần, đấng siêu nhiên để tìm chỗ dựa tinh
thần (Do khoa học chưa lý giải hết hiện thực và dân trí còn hạn chế, nhiều người vẫn tin
vào lực lượng siêu nhiên để tìm chỗ dựa tinh thần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Nguyên nhân về mặt tâm lý
Tác động mạnh mẽ của tự nhiên, xã hội khiến con người lo sợ, bất an, trong khi tôn giáo
– tín ngưỡng đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, trở thành phong tục, tập quán không thể
thiếu của một bộ phận nhân dân.
Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (ngắn gọn + ví dụ)
- Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
+ Tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng thuộc quyền tự do tư tưởng của nhân dân: Tín
ngưỡng tôn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào đấng tối cao,đấng thiêng liêng
nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản
tự do theo đạo, đổi đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm
phạm đến quyền tự do tư tưởng của họ.
Ví dụ: người chồng ép vợ mình đổi từ đạo Thiên Chúa sang đạo Phật để giống với gia đình,
dòng họ nhà chồng vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và Luật Hôn nhân & Gia đình. (Ép vợ đổi
đạo là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và Luật Hôn nhân & Gia đình.) + Biểu hiện tôn trọng
quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa:
Nhà nước tôn trọng, bảo hộ các hoạt động tôn giáo hợp pháp và nhu cầu tín ngưỡng của người dân.
Ví dụ: Nhà nước Việt Nam cho phép các nhà thờ, giáo xứ đạo Thiên Chúa hằng tuần tổ chức
các buổi đọc Kinh thánh, nghe giảng và xem những tiết mục liên quan đến Thiên Chúa giáo.
(Nhà nước Việt Nam cho phép các nhà thờ Thiên Chúa giáo tổ chức sinh hoạt tôn giáo hằng tuần.)
- Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với
quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
+ Chủ nghĩa Mác – Lênin không xóa bỏ tôn giáo, mà chỉ hướng tới việc giải quyết các ảnh
hưởng tiêu cực của tôn giáo, không can thiệp hay tuyên chiến với tôn giáo.
Ví dụ: Việt Nam bài trừ các "tà đạo", các giáo hội không được Nhà nước cho phép như Hội
Thánh Đức Chúa Trời tại thành phố Hồ Chí Minh; trừng phạt những người mạo danh là các
mục sư đi lang thang ngoài đường hòng trục lợi từ lòng tin, lòng hướng Phật của người dân.
(Việt Nam bài trừ tà đạo, xử lý người lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi như Hội Thánh Đức Chúa Trời.)
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội trước hết cần phải
thay đổi tồn tại xã hội, phải cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới công bằng, văn minh.
Khi điều kiện sống tốt hơn, người dân sẽ từ bỏ những tư tưởng tiêu cực, mê tín. Ví dụ: Việt Nam
hiện nay đi trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội - một xã hội "dân giàu, nước mạnh,
công bằng, bình đẳng, văn minh", thực hiện tiêu chí đó để người dân sẽ bỏ đi những ảo tưởng,
những tư tưởng xa vời, tiêu cực, cực đoan như minh hôn trong các gia đình nhà giàu có con,
cháu chưa lập gia đình mà mất sớm. (Việt Nam xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa để người dân
không còn mê tín như tục minh hôn.)
-Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng của tôn giáo trong quá trình giải
quyết vấn đề tôn giáo.
+ Mối quan hệ gắn bó giữa mặt tư tưởng và mặt chính trị trong mỗi tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tư
tưởng. Tuy nhiên, khi xã hội xuất hiện giai cấp, tôn giáo bắt đầu có dấu ấn chính trị. Chính trị
và tư tưởng gắn bó trong mỗi tôn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng
thường thể hiện và có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo.
Ví dụ: trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những tầng lớp, giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột, bần
cùng nặng nề bởi chủ nô (chính trị), vì thế họ tin tưởng rằng có một thế lực siêu trần thế có thể
cứu giúp họ và cho họ tự do, hạnh phúc (tư tưởng).
(Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, nô lệ tin vào một thế lực siêu nhiên cứu giúp họ khỏi áp bức, bóc lột)
+ Biểu hiện của mặt chính trị và mặt tư tưởng
Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ và phản tiến bộ, phản ánh mâu thuẫn
đối kháng về lợi ích kinh tế chính trị giữa các giai cấp
Mặt tư tưởng biểu hiện sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin tưởng khác nhau giữa
người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng
Ví dụ: Thực dân Pháp đã sử dụng tôn giáo để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta: “các
sứ giả của Chúa nộp những người An Nam yêu nước cho bọn chiến thắng đem lên máy chém
hay giá treo cổ”. Trái lại, trong Kinh thánh của đạo Thiên Chúa đã truyền lại rằng: Mọi con
người được tạo nên theo hình ảnh của Chúa và được ban quyền làm chủ vũ trụ, làm chủ thế
giới. ( Thực dân Pháp lợi dụng tôn giáo để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, trong khi
Kinh thánh Thiên Chúa giáo lại truyền dạy quyền làm chủ thế giới của con người. )
+ Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng
Nguyên tắc phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Hai mặt này đôi khi khó phân biệt vì chúng thường
đan xen nhau. Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, tôn giáo thường bị yếu tố
chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần tuý
trong tôn giáo. Việc phân biệt là cần thiết để tránh cực đoan trong quản lý tín ngưỡng và tôn giáo.
Ví dụ: người dân Việt Nam cảm thấy ăn thịt bò là chuyện bình thường, nhưng ở Hồi giáo, họ
tôn sùng con bò, bắt những người theo đạo Hồi không được ăn thịt bò. (Người Việt ăn thịt bò
là bình thường, nhưng ở Hồi giáo, bò được tôn sùng và không được ăn.)
- Cuối cùng, quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
+ Tôn giáo luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều
kiện kinh tế - xã hội - lịch sử cụ thể.
Mỗi tôn giáo có lịch sử và quá trình phát triển riêng, với tác động khác nhau qua các thời kỳ.
Ví dụ: Ở triều đại phong kiến, Phật giáo được truyền vào Việt Nam để hình thành giá trị văn
hóa chùa, làng. Còn ngày nay, đạo Phật không chỉ giữ gìn văn hóa đền chùa mà còn tổ chức rất
nhiều buổi tọa đàm giảng dạy, khóa tu, các lễ thiền, lễ phóng sanh, siêu độ cho các vong linh mới qua đời,...
(Phật giáo ở triều đại phong kiến giúp hình thành văn hóa chùa, làng; ngày nay, đạo Phật tổ
chức các buổi giảng dạy, khóa tu, lễ siêu độ.)
+ Cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử với những vấn đề
có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về những lĩnh vực của đời sống
xã hội luôn có sự khác biệt.
Ví dụ: Trong một số truyền thống Hồi giáo bảo thủ, vai trò của phụ nữ rất hạn chế với những
quy định nghiêm ngặt: phải mặc che kín mặt và toàn thân, không được ra ngoài mà không có
sự giám sát của người thân nam,... Tuy nhiên, trong các trường phái Hồi giáo khác (Thổ Nhĩ
Kỳ, Pakistan, Indonesia,...) thì phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng với nam giới. (Trong
một số truyền thống Hồi giáo bảo thủ, phụ nữ bị hạn chế quyền tự do, nhưng ở các quốc gia
như Thổ Nhĩ Kỳ hay Indonesia, phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng.)
Tôn giáo và đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay (ngắn gọn, chữ gạch chân in
đậm + ví dụ)
- Nước Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, có 54 dân tộc với nhiều tôn giáo
khác nhau. Hiện nay, ở Việt Nam có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân
số cả nước
). Ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, không có
mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo; người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồn
g các dân tộc Việt Nam.
Dung hợp, đan xen và hòa đồng giữa các tín ngưỡng, tôn giáo Ví dụ:
Tại làng Đại Bái (Bắc Ninh), người dân tổ chức lễ hội truyền thống thờ Tổ nghề đúc
đồng, trong đó có sự phối hợp giữa tín ngưỡng dân gian (thờ Thành Hoàng), Phật giáo
(tụng kinh tại chùa làng) và Nho giáo (tế lễ cổ truyền). Người theo đạo Công giáo
trong làng vẫn tham gia các hoạt động lễ hội như phần rước kiệu hay trò chơi dân gian
cùng người không theo đạo, thể hiện sự hòa đồng, không phân biệt tôn giáo.
- Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo cho 04 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn
giáo
. Theo đó, các hoạt động khác (như: đào tạo chức sắc, xây dựng, sửa chữa nơi
thờ tự, quan hệ quốc tế, v.v...) của cá nhân, tổ chức tôn giáo diễn ra thuận lợi theo
quy định của pháp luật
. Có thể nói, các hoạt động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam thời gian qua diễn ra theo xu hướng tích cực, góp phần quan trọng vào công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

- Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hoà bình và không
có xung đột, chiến tranh, là nơi giao lưu của nhiều luồng văn , trong đó hóa thế
giớichịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh lớn là Trung ; về Quốc
và Ấn Độ sau chịu tác động, ảnh hưởng của các luồng văn hóa của các
quốc gia phương Tây.
- Mỗi tôn giáo ở Việt Nam có quá trình lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau nên sự
gắn bó với dân tộc cũng khác nhau. Tín đồ của các tôn giáo khác nhau cùng chung
sống hòa bình trên một địa bàn, giữa họ có sự tôn trọng niềm tin của nhau.
-Tín đồ các tôn giáo phần lớn là nhân dân lao động, có lòng yêu nước, tinh thần dân
tộc “Tín đồ các tôn giáo Việt Nam có thành phần rất đa dạng, chủ yếu là người lao
động, bao gồm nông dân, công nhân... Đa số tín đồ các tôn giáo đều có tinh thần yêu
nước, chống ngoại xâm, tôn trọng công lý, gắn bó với dân tộc, đi theo Đảng theo cách
mạng, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và có chung ước vọng sống “tốt
- Tôn giáo ở Việt Nam có những lúc bị thế lực phản động lợi dụng.
Trong lịch sử cận - hiện đại, tín ngưỡng, tôn giáo từng bị một số thế lực lợi dụng để phục
vụ cho âm mưu chính trị, xâm lược và chống phá cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thực dân, đế quốc trong quá khứ, cũng như các thế lực phản động, thù địch
hiện nay, luôn tìm cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn
kết dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội và can thiệp vào công việc nội bộ
của Việt Nam. Với chiêu bài "tự do tôn giáo", "tự do nhân quyền", chúng xuyên tạc,
bóp méo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động một bộ phận tín đồ
chống đối chính quyền, từ đó thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Do đó, vấn đề tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn liền với công tác đảm bảo an ninh quốc
gia, ổn định chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm
các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của nhân dân.
Tôn giáo bị lợi dụng để chống phá đất nước Ví dụ:
Linh mục Đặng Hữu Nam tại Nghệ An từng có các phát ngôn công khai xuyên tạc
lịch sử, bôi nhọ chính quyền, kích động giáo dân biểu tình, gây rối trật tự công cộng
dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường. Những hành động này đã bị dư luận xã hội phản
đối mạnh mẽ và cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật.
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên
Đạo Công giáo (có nguồn gốc từ Kitô giáo) ra đời ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại
vào thế kỷ I Công nguyên, tới thế kỷ XI, Kitô giáo phân chia thành hai phái: Công giáo và Chính thống giáo
Đạo Hồi ra đời ở Ảrập vào đầu thế kỷ thứ VII. Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam
Á từ thế kỷ thứ XI, XII, theo các nhà buôn, theo con đường hoà bình, khác với thời kỳ thánh chiến trước đó
Đạo Tin lành vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX
Đạo Minh Sư (Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo Việt Nam) là tôn giáo thờ
đa thần, có nguồn gốc từ Trung Quốc, truyền vào Việt Nam từ năm 1863
Đạo Baha’i là tôn giáo nhất thần thờ Thượng đế, ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là Iran)
Ngoài ra còn có các tôn giáo nội sinh như Đạo Bửu Sơn kỳ hương ra đời năm 1849 tại
Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang; Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 5-1867 tại Cù lao
Ba, An Phú, An Giang; Đạo Minh Lý (còn gọi là Minh lý đạo - tam tông miếu) ra đời
năm 1924 tại miền Nam; Đạo Cao đài ra đời 15-10-1926 (AL) tại Tây Ninh; Tịnh độ cư
sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp; Phật giáo Hoà Hảo có
nguồn gốc giáo lý từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoá cho phù hợp với
trình độ lối sống của người dân địa phương. Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939 tại làng
Hoà Hảo, Tân Phú, An Giang
Giải pháp khắc phục khó khăn khi thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay (gạch đầu dòng, ngắn gọn)
1. Quán triệt sâu sắc, đầy đủ những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước
ta về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần dựa
trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo. •
Thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, Nhân dân, nhất là trong chức
sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo những chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo •
Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội của địa phương, đẩy mạnh thực hiện
các phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào các tôn giáo để xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc vững mạnh.
2. Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng trong đồng bào có đạo và đồng
bào không có đạo đoàn kết đồng hành cùng dân tộc. Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi
xuyên suốt của công tác tôn giáo,
Đồng bào có đạo và không có đạo đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền lợi,
nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. •
Đồng bào có đạo hay không có đạo đều là con Lạc, cháu Hồng, vì vậy đều phải
toàn tâm, toàn ý lo cho vận nước, an dân bách tính. •
Cần nâng cao tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu các tôn giáo, nhất là tính
tiền phong, gương mẫu “nói đi đôi với làm”, làm nhiều hơn nói; xóa bỏ định kiến,
khác biệt, đối xử, phân biệt giữa đồng bào có đạo và không có đạo; lấy điểm
tương đồng xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh
vượng để gắn kết đồng bào với nhau; đồng thời nâng cao năng lực tuyên truyền,
vận động, giáo dục, thuyết phục của đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách công tác tôn giáo. 3.
Đẩy mạnh cải cách hành chính và hỗ trợ các tổ chức tôn giáo hợp pháp
Cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp phép hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức
tôn giáo, và tổ chức các sự kiện tôn giáo. Đồng thời, Nhà nước cần có các chính sách
hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển theo đúng định hướng của pháp luật.
=> Giảm bớt sự khó khăn, rườm rà trong các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp, đồng thời hạn chế các hoạt động tôn
giáo không được kiểm soát.
4. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về tôn giáo
Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc quản lý các vấn
đề tôn giáo, đồng thời tham gia vào các diễn đàn quốc tế để trao đổi và cải thiện chính
sách tôn giáo trong nước. Hợp tác quốc tế cũng giúp Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn
giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa.
=>Mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế, tăng cường hiểu biết và học hỏi từ các quốc gia
khác, đồng thời củng cố hình ảnh Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
5. Khuyến khích phát triển các giá trị văn hóa chung
Các tôn giáo cần tập trung vào việc phát huy các giá trị văn hóa chung, như tình yêu
thương, khoan dung và hòa bình, để xây dựng sự đồng thuận trong xã hội Đồng thời,
các cơ quan chức năng cần tạo ra những chương trình giao lưu văn hóa, tôn giáo để
khuyến khích sự gắn kết giữa các tôn giáo.
=>Điều này sẽ góp phần giảm bớt sự phân biệt, đối đầu giữa các tôn giáo, tạo nền tảng
vững chắc cho sự hòa hợp xã hội.
6. Xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tôn giáo
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các địa phương có cơ sở thờ tự, tín đồ
tôn giáo; không để những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ dẫn đến những vụ việc
phức tạp, để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo đồng bào tôn giáo biểu tình,
có hành vi chống đối, cản trở quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương •
Cần có các biện pháp mạnh mẽ để xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để kích
động bạo loạn, chia rẽ xã hội hoặc tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp
luật. Các hành vi này cần được giám sát và xử lý kịp thời để không ảnh hưởng
đến sự ổn định của xã hội.
=> Giúp duy trì trật tự xã hội, đảm bảo rằng tôn giáo không bị lợi dụng vào các mục đích không chính đáng.
Thuận lợi trong việc thực hiện chính sách tôn giáo hiện nay
1. Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Chính sách tôn giáo của Việt Nam hiện nay dựa trên nguyên tắc tôn
trọng tự do tín ngưỡng, không tín ngưỡng
, đảm bảo mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tôn giáo. •
Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 cùng các văn bản hướng dẫn thi
hành đã tạo cơ sở pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định và minh bạch.
2. Nhu cầu tín ngưỡng là nhu cầu chính đáng của nhân dân
Ở nhiều địa phương, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người
dân được Nhà nước đáp ứng và hỗ trợ, tạo nên sự gắn kết giữa chính
quyền và các tổ chức tôn giáo. •
Cộng đồng các tôn giáo cơ bản sống tốt đời đẹp đạo, tích cực tham gia
các hoạt động xã hội, từ thiện, phát triển kinh tế – xã hội.
3. Đa dạng tôn giáo – nhưng ổn định
Việt Nam có 16 tôn giáo, với khoảng 26.5 triệu tín đồ (chiếm khoảng
27% dân số), hơn 56.000 chức sắc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Mặc dù đa
dạng nhưng phần lớn các tôn giáo hoạt động hòa bình, tuân thủ pháp luật. •
Các tổ chức tôn giáo được công nhận về mặt pháp lý, tạo điều kiện thuận
lợi trong việc phối hợp với chính quyền.
4. Vai trò của các chức sắc, nhà tu hành
Nhiều vị chức sắc tôn giáo có uy tín đã đồng hành cùng Nhà nước trong
việc định hướng tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, tích cực tham gia phát
triển cộng đồng và giữ gìn trật tự xã hội.
Khó khăn, thách thức trong thực hiện chính sách tôn giáo
1. Một số tổ chức tôn giáo bị lợi dụng để gây rối
Một bộ phận tổ chức, cá nhân lợi dụng quyền tự do tôn giáo để kích
động chống phá chính quyền
, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, gây mất
ổn định an ninh trật tự. •
Xuất hiện hiện tượng truyền đạo trái phép, hoặc sử dụng các kênh
mạng xã hội để truyền bá tư tưởng cực đoan, phản động dưới danh nghĩa tôn giáo.
2. Phân hóa nội bộ, cạnh tranh tôn giáo
Một số nơi xảy ra mâu thuẫn giữa các tổ chức tôn giáo hoặc giữa chức sắc
trong cùng một giáo phái về quyền lực, quyền quản lý cơ sở thờ tự. •
Có tình trạng tranh chấp đất đai tôn giáo, gây phức tạp cho công tác quản lý nhà nước.
3. Hiểu biết pháp luật của tín đồ còn hạn chế
Ở nhiều vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhẹ dạ, dễ bị
dụ dỗ theo tà đạo, dị đoan. •
Việc thực hiện các quy định pháp luật về sinh hoạt tôn giáo còn chưa
nghiêm, dẫn đến tình trạng sinh hoạt tôn giáo tự phát, không đăng ký.
4. Thiếu cán bộ am hiểu về tôn giáo
Một số địa phương chưa có cán bộ chuyên trách am hiểu sâu về tôn giáo,
dẫn đến khó khăn trong việc xử lý tình huống nhạy cảm. •
Công tác phối hợp giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo còn hạn chế ở cơ sở.
Quan điểm ,chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo hiện nay 1
- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 2
- Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo. 3
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.4 -
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Công tác tôn giáo có liên
quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt
công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
5 – Đạo đức tôn giáo có một số điểm phù hợp với đạo đức xã hội
6 - Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo
quy định của pháp luật.
Trách nhiệm của sinh viên (ngắn gọn)
Là một thành viên sinh viên, tư cách là một trong những hạt mầm tương lai của đất
nước chúng ta cần tự mình tìm thấy bản thân có vai trò, dũng cảm góp phần xây dựng
khối đại đoàn kết của dân tộc trong vấn đề tôn giáo. Cụ thể là: -
Nhận thức đúng đắn về cuộc đấu tranh chống lại các thế lực hiệp lợi các vấn đề
về dân tộc, tôn giáo chống cách mạng Việt Nam là cuộc đấu tranh phức tạp, quyết định
và lâu dài. Các thế lực thù vương vô cùng thủ đoạn, gian vũ, mà hiện nay chúng đang
tiến tới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp; lợi ích, lừa gạt học
sinh, sinh viên - những người năng động, sáng tạo, mong muốn cống hiến cho đất nước
nhưng chưa có nhiều trải nghiệm. Do đó, chúng ta cần phải tích cực chiến đấu với
những hoạt động sai trái của các thành phần biến chất. -
Nhận thức thức tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, trong lịch sử các tôn giáo, các chức
sắc,tín đồ đã cùng thể dân tộc đấu tranh để giành độc lập dân tộc
Vì vậy chúng ta cần sống hòa đồng; không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng với các
bạn cùng trang tôn cũng như mọi người xung quanh, phê phán các hành vi vi chia, mê
tín dị dị ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các dân tộc. -
kèm theo đó cũng cần phải học tập để có kiến thức, có tri thức về lịch sử, văn
hóa, tôn giáo để hiểu về nguồn gốc dân tộc, góp sức xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc, đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước. -
Cần quan tâm, nắm rõ tình hình hiện tại đang diễn ra trong nước và thế giới ở
mọi mặt đời sống, xã hội, để có cái nhìn đa chiều về các sự việc, không để luận điệu xấu che mờ lý tưởng. -
Cần tích tích tham gia các hoạt động tình nguyện, tuyên truyền pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo cho các em học sinh, bạn sinh viên dân tộc thiểu số để giúp họ hiểu
biết hơn về các vấn đề liên quan tới tôn giáo, tránh sự suy nhược của các thế lực thù địch.
Kết luận: Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Sự đa dạng này ở Việt Nam
là kết quả của sự du nhập, giao thoa và dung hợp giữa các tôn giáo bản địa hình thành
trong nước và các tôn giáo từ nước ngoài. Trong bối cảnh quốc tế, mức độ đa dạng tôn
giáo ở Việt Nam tiếp tục được nâng cao. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng. Các tôn giáo ở Việt Nam cùng tồn tại và bình đẳng về vị thế,
không có tôn giáo nào giữ vai trò tôn giáo chủ yếu, ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam.
Liễu, Huyền Anh, Hà Chi, Hoàng, Tùng, Quân, Ngọc Anh review,
check lại PP, thêm thắt hình, câu từ, bla, bla,... sao cho phù hợp
Thư kiểm lại khâu cuối cùng