Vấn đề trong khai thác tài nguyên là để thất thoát và “chảy máu” tài nguyên thiên
nhiên tại Việt Nam
Tổn thất trong khai thác dầu khí của Việt Nam là 50 - 60%, than hầm lò là 40 -
60% còn trong chế biến vàng là 60 - 70%. Đây chỉ là ba trong những con số đáng
báo động về tình trạng lãng phí sử dụng tài nguyên và nhiên liệu ở nước ta. Việt
Nam có trên 5.000 mỏ, với khoảng 60 loại khoáng sản, nhưng phần lớn lại là loại
mỏ vừa và nhỏ, hầu hết đều không đủ khai thác với quy mô công nghiệp. Thêm
vào đó, nguồn tài nguyên không tái tạo này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt vì sự
khai thác và sử dụng quá lãng phí. Đối với các mỏ vừa và nhỏ (chiếm đa số), sự
thất thoát không dừng lại ở một vài chục phần trăm mà nguy cơ mất mỏ là rất
nghiêm trọng. Do năng lực có hạn, khai thác phần lớn là thủ công, nên đa số các
mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng
nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu được. Bên cạnh đó, tổn
thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao. Khai thác vàng là một ví dụ, do độ thu
hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thu hồi) hiện chỉ đạt khoảng 30% - 40%,
nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi thải, không chỉ mất mát mà còn gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Nếu so với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong
quặng thường chiếm 92% 97%, rõ ràng đây là một tổn thất quá lớn. Đối với những
mỏ vừa và nhỏ, chủ yếu do dân tự khai thác với công nghệ thô sơ, vì vậy càng
không thể đánh giá được hết những tổn thất.
Với tài nguyên nước, mức sử dụng nước ở nhiều ngành công nghiệp là rất cao và
lãng phí, đặc biệt khu vực tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thất thoát nước
dùng trong sản xuất phần lớn không thể kiểm soát được. Rõ rệt nhất là ngành bia,
trên thế giới để sản xuất 1 lít bia trung bình sử dụng khoảng 4 lít nước, song ở Việt
Nam cao hơn gấp ba lần (khoảng 13 lít nước). Các ngành dệt và ngành giấy cũng ở
tình trạng tương tự. Về tiêu hao năng lượng, với ngành thép, công nghệ sử dụng
của Việt Nam hiện có thời gian nấu cao hơn 360% so với thế giới, các chỉ tiêu tiêu
hao thép phế, điện và điện cực đều quá cao, đặc biệt tiêu hao điện bằng 257% so
với các nước, song công đoạn cán có tốc độ chỉ bằng 12,7% so với các nhà máy
trên thế giới. Về tài nguyên rừng, hiện tại, rừng tự nhiên có khả năng khai thác gỗ
không còn bao nhiêu (ước tính khoảng 0,5 triệu ha). Diện tích rừng sản xuất chỉ
chiếm hơn 50% trong tổng diện tích rừng hiện có nhưng phần lớn là rừng nghèo và
trung bình.
Nguyên nhân:
- Trong cơ cấu nộp thuế và phí của ngành khai khoáng hiện nay ở Việt Nam, có
30% nộp về ngân sách Nhà nước là các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu; 70% còn lại là các khoản nộp thuế tài nguyên,
phí cấp phép, phí bảo vệ môi trường phí hoàn thổ môi trường, thuế sử dụng đất hay
thuế sử dụng mặt nước, chi phí cho xã hội và các khoản lệ phí, chi phí khác là nộp
về ngân sách địa phương... Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là có tới 90% doanh
nghiệp khai khoáng cho biết, họ phải bỏ ra một số tiền không nhỏ để “bôi trơn”
mới có được thông tin quy hoạch hoặc được cấp phép, đặc biệt ở cấp địa phương.
Và do đó, có sự khai man về sản lượng khoáng sản thấp nhiều lần so với sản lượng
khai thác thực tế nhằm trốn thuế.
- Riêng mặt hàng khoáng sản than hiện nay bị thất thoát trong khai thác hầm lò của
Việt Nam đang ở mức 40-60%, nguyên nhân do công nghệ khai thác lạc hậu,
nhưng cũng có nguyên nhân thất thoát là do chính doanh nghiệp không trung thực
trong kê khai và mấu chốt vẫn là cơ chế.
- "Công tác quản lj đất đai yếu kém, thu hồi, đền bù thiếu minh bạch, thiếu hợp lj
tại cơ sở và chưa thực hiê kn nghiêm tlc quy định về đối thoại và tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại tố cáo gây ra xung đô kt lợi ích kéo dài, ảnh hưởng đến ổn định
ki”.
- Cùng với đó tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên chưa được kiểm soát
chă kt chm. Xuất hiê kn viê kc khai thác tài nguyên theo kiểu kn khai, kn diê kt như khai
thác cát, gỗ trái phép ở kt số địa phương làm cạn kiê kt nguồn nước, sạt lở bờ sông,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, gây mất an ninh trâ kt tự ảnh
hưởng tới khả năng phòng, chống thiên tai.
- Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chl j, đa số áp dụng hệ
thốngkhai thác lộ thiên với công nghệ ô tô - máy xlc. Đây là loại hình công nghệ
cổ điển, giá thành cao. Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải
không đảm bảo. Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu
đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên.
Giá trị và hiệu quả sử dụng thấp, chưa tương xứng với giá trị tài nguyên khoáng
sản, đồng thời gây lãng phí rất lớn tài nguyên do không tận dụng được đáng kể sản
phẩm khoáng sản khác đi kèm. Nhiều mỏ quy mô khai thác nhỏ chỉ lấy được
những phần trữ lượng giàu nhất, bỏ đi toàn bộ quặng nghèo và khoáng sản đi kèm,
dẫn đến lãng phí tài nguyên do mức độ cơ giới hóa thấp và công nghệ khai thác lạc
hậu
Kỹ thuật lạc hậu không bảo đảm an toàn lao động, người dân kém hiểu biết và
không đủ nhận thức về các vấn đề khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường. Doanh
nghiệp chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà để mất an toàn lao động và phá hủy
môi trường tai nạn lao động trong khai thác khoáng sản, đặc biệt trong khai thác
hầm lò và khai thác đá, xảy ra thường xuyên với tỷ lệ thương vong khá cao. Điều
này thể hiện trình độ phát triển thấp và công tác quản lj rất lỏng lẻo trong lĩnh vực
này
Giải pháp cho vấn đề này:
Có các văn bản cũng như quy định rõ ràng: các văn bản quy phạm pháp luật quy
định về chênh lệch mức thu thuế tài nguyên của các loại khoáng sản từ mức thấp
đến cao là quá xa. Cụ thể, than 4-20%, dầu thô 4-40%, đất hiếm 12-25%, kim loại
7-25%, phi kim 3-15% đã dẫn đến việc áp dụng có llc, có nơi tùy tiện. Hơn nữa,
việc tính thuế khoáng sản do đơn vị khai thác tự khai nên số lượng khai để nộp
thuế không biết là bao nhiêu, dẫn đến tình trạng thất thoát về tài nguyên không thể
đo đếm. Nhiều đại biểu còn chỉ ra rằng doanh nghiệp khi khai thác khoáng sản
thường không trả tiền trách nhiệm mà doanh nghiệp phải trả khi khai thác từ môi
trường. Nếu kiểm soát không tốt khâu này, nhất là việc phê duyệt các đánh giá tác
động môi trường, các giải pháp môi trường tham nhũng rất có thể xảy ra và hậu
quả không thể lường hết.
Các biện pháp quản lj và bảo vệ tài nguyên rừng
- Quản lj tốt hơn tài nguyên rừng hiện còn và trồng rừng mới Áp dụng các biện
pháp nhằm hạn chế việc chặt phá rừng. Tăng cường trồng rừng và các khu công
nghiệp phù hợp, phát triển hình thức nông lâm kết hợp ở những vùng bắt buộc phải
trồng cây nông nghiệp trên đất dốc. Nâng cao hiệu suất sử dụng củi đốt, phát triển
khí sinh học và sử dụng năng lượng mặt trời. Thâm canh cây công nghiệp và tạo
việc làm mới để phát triển nông thôn, giảm sức ép của sản xuất nông nghiệp với
đất rừng còn lại. Việc bảo vệ rừng phải đi đôi giữa bảo tồn, phục hồi đối với trồng
rừng và quản lj buôn bán gỗ nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng. Việc áp
dụng một giải pháp đơn lẻ nào đó sm không có khả năng giải quyết được vấn đề
này, dù chỉ là làm chậm một cách có j nghĩa việc phá rừng hiện nay. Trong quá
trình áp dụng các giải pháp bảo vệ rừng, cần chl j bảo đảm quyền lợi của những
người dân bản xứ với nền văn hóa, lối sống và kiến thức bản địa của họ.
- Thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và các vườn quốc gia .Đây được coi là biện
pháp quan trọng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, trước hết là nguồn tài
nguyên sinh vật. Tuy vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có những yêu cầu
riêng nhưng đều được vây dựng trên cơ sở bảo tồn sự đa dạng sinh học, đa dạng về
mục đích sử dụng với mục tiêu hàng đầu là bảo tồn thiên nhiên.
- Quản lj rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Chứng chỉ rừng được định nghĩa là một quá trình dẫn đến việc chứng nhận bằng
văn bản do một tổ chức thứ ba (ngoài người sản xuất gỗ và người tiêu dùng gỗ)
độc lập thực hiên, xác nhận về địa điểm và hiện trạng
quản lj của khu rừng sản xuất gỗ là bền vững. Thông thường có hai nội
dung cơ bản thực hiện trong quá trình cấp chứng chỉ rừng là : kiểm toán
rừng và dán nhãn cho phép. Chứng chỉ rừng ra đời nhằm bảo đảm với
người tiêu dùng về nguồn gốc đáng tin cậy của các sản phầm rừng về các
mặt sản xuất bền vững (tài nguyên không bị suy giảm), an toàn về môi
trường và thực hiên các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội. Chứng chỉ rừng có
thể đóng vai trò như mọt công cụ kinh tế trong hệ thống công cụ
chính sách nhưng không thể thay thế các quy định, luật pháp giáo dục
tuyên truyền trong việc thực hiện quản lj rừng bền vững.
Sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản
Sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản là một vấn đề phức tạp, được
giải quyết theo các phương hướng địa chất, kỹ thuật mỏ, công nghệ, kinh tế và tổ
chức. Phương hướng địa chất bao gồm các công việc: hoàn chỉnh các phương pháp
thăm dò, tính toán và lập bản đồ địa chất; đổi mới công nghệ thiết kế khai thác các
mỏ khoáng sản. Phương hướng kỹ thuật mỏ bao gồm việc xây dựng và hoàn chỉnh
công nghệ khai thác mỏ, đảm bảo việc tăng hiệu suất và chất lượng khoáng sản lấy
ra từ lòng đất. Phương hướng công nghệ chế biến liên quan tới việc xây dựng và
hoàn chỉnh các quá trình chế biến khoáng sản cho phép thu hồi một các có hiệu quả
tất cả các hợp phần có ích chứa trong quặng, chế biến quặng nghèo, quặng tận thu
và sử dụng đá vây quanh và chất thải của sản xuất. Phương hướng kinh tế nhằm tạo
ra việc sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản. Phương hướng tổ chức đảm bảo
việc tổ chức và sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản.
Bảo vệ và quy hoach sử dụng nguồn tài nguyên đất
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, chiến lược, chính sách, quyhoạch và sử
dụng bền vững tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản trong lòng đất. Áp dụng có
hiệu quả công cụ quản lj để giải quyết hài hoà các vấn đề liên ngành trong sử dụng
đất, khai thác tài nguyền khoáng sản với việc bảo vệ môi trường, với các lĩnh vực
phát triển khác. Phải sử dụng một cách có hiệu quả và hết sức tiết kiệm quĩ đất cho
phát triển công nghiệp. Phải quy hoạch thành các khu công nghiệp có cơ sở hạ
tầng, xử lj chất thải tập trung để tiết kiệm quỹ đất và hạn chế ô nhiễm đất. Khi di
dời các cơ sở công nghiệp, cần đánh giá mức độ ô nhiễm đất để có kế hoạch xử lj
ô nhiễm và tái sử dụng hợp lj. Cần kiểm soát chặt chm việc sản xuất, nhập khẩu và
sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Khắc phục tình trạng lạm dụng
các loại phân vô cơ và hoá chất trong sản xuất nông nghiệp làm bạc màu, thoái hoá
đất, ô nhiễm các nguồn nước và suy giảm đa dạng sinh học các vùng nông thôn,
đặc biệt các vùng đất có năng suất cao. Nghiên cứu thay đổi phương thức canh tác
theo hướng đảm bảo cân bằng sinh thái và bền vững, nâng cao chất lượng đất,
giảm diện tích đất thoái hoá, bạc màu. Áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc
một cách khoa học, chống rửa trôi, xói mòn. Cần mở rộng chương trình IPM, tăng
cường dùng phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh bằng phương pháp sinh học. Chiến
lược phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với
chiến lược khai thác hợp lj tài nguyên đất, với bảo vệ tài nguyên và môi trường
đất. Các vùng đất phải cải tạo để sử dụng nhưng có vùng đất phải sử dụng phù hợp
với sinh thái, tránh tốn kém trong đầu tư quá đắt mà hiệu quả mang lại không lớn.
Quản lj và bảo vệ tài nguyên nước
- Quy hoạch nguồn nước để bảo vệ nước, đưa nước vào sử dụng hợp lj, khai thác
nguồn nước sẵn có để sử dụng hợp lj và hiệu quả hơn. Biện pháp quy hoạch quản
lj, sử dụng nước nhằm mục đích: sản xuất điện năng, cấp nước cho sinh hoạt và
công nghiệp, cấp nước cho nông nghiệp, cấp nước cho thủy sản, điều hòa dòng
chảy cho giao thông, bảo vệ chống ngập lụt và cạn kiệt.
Tiến hành kiểm kê, phân loại các dạng tài nguyên nước; nước ngọt, nước lợ, nước
mặn, dưới đất để có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lj và tiết kiệm, phù hợp với
đặc điểm sinh thái, ngăn ngừa và phòng ô nhiễm, làm cho tài nguyên nước kiệt đi
và mất khả năng tự phục hồi về lượng. Tổ chức đánh giá và kiểm soát được chất
lượng, trữ lượng nước ngầm; có kế hoạch đầu tư phát triển tài nguyên nước và ban
hành các quy định cụ thể về khai thác nguồn nước ngầm.
Tài nguyên nước khoáng, nước nóng cần tiếp tục được điều tra thăm
dò, đánh giá trữ lượng để khai thác cho nhu cầu chữa bệnh, du lịch giải trí, kể cả
nguồn năng lượng địa nhiệt. Bảo vệ tài nguyên nước các đầm, hồ ao, đất ngập
nước cần nghiên cứu nuôi trồng các loại thuỷ sản như sen, slng, tôm cá, ba ba...
- Cách chính sách, pháp chế và quản lj nước thích hợp: Hoàn thiện hệ thống các
văn bản pháp quy về tài nguyên nước theo hướng khai thác bền vững nguồn nước
mặt và nước ngầm. Thực hiện việc quy hoạch và quản lj các lưu vực sông . Đây là
biện pháp mang tính chất pháp lj, thiết
chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước, đảm
bảo phát triển bền vững tài nguyên nước. Tăng cường công tác hướng dẫn, tuyên
truyền luật tài nguyên nước. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lj kịp
thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước.
Quản lj động thực vật hoang dã
Để tạo điều kiện gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên đa dạng sinh họcquan trọng
cần bảo vệ các chức năng sinh thái của rừng và thảm thực vật, bảo vệ tốt nguồn
nước, môi trường không khí, biển… Tổ chức quản ljtổng hợp theo nguyên tắc phát
triển bền vững. Công tác quản lj và bảo vệ rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn
thiên nhiên cần được chl trọng trước hết. Bên cạnh đó phải có quy hoạch khôi
phục lại những vùng rừng đã bị tàn phá và phát triển trồng mới rừng. Cần có biện
pháp quản lj chống cháy rừng. Chức năng sinh thái có giá trị lớn nhất đối với thực
vật tự nhiên là bảo vệ lưu vực nước. Rừng đầu nguồn gilp giữ lại lượng nước mưa,
điều hòa dòng chảy, duy trì nguồn nước cung cấp cho đòng bằng, hạn chế lũ lụt và
hạn hán, chống xói mòn đất. Điều hòa dòng chảy là cực kỳ quan trọngcho kinh tế
nông nghiệp, riêng sản xuất lla phải chịu đến 50% ảnh hưởng từ việc mất rừng đầu
nguồn. Duy trì tốt nguồn nước sạch cũng góp phần bảo tồn các hệ sinh thái nước,
các loài cá, các loài lưỡng cư, than mền,… Phát triển lâm nghiệp bền vững sm tạo
điều kiện duy trì và phát triển nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên
đất đai,… Khôi phục sinh cảnh tự nhiên, kiểm soát cháy rừng,…

Preview text:

Vấn đề trong khai thác tài nguyên là để thất thoát và “chảy máu” tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam
Tổn thất trong khai thác dầu khí của Việt Nam là 50 - 60%, than hầm lò là 40 -
60% còn trong chế biến vàng là 60 - 70%. Đây chỉ là ba trong những con số đáng
báo động về tình trạng lãng phí sử dụng tài nguyên và nhiên liệu ở nước ta. Việt
Nam có trên 5.000 mỏ, với khoảng 60 loại khoáng sản, nhưng phần lớn lại là loại
mỏ vừa và nhỏ, hầu hết đều không đủ khai thác với quy mô công nghiệp. Thêm
vào đó, nguồn tài nguyên không tái tạo này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt vì sự
khai thác và sử dụng quá lãng phí. Đối với các mỏ vừa và nhỏ (chiếm đa số), sự
thất thoát không dừng lại ở một vài chục phần trăm mà nguy cơ mất mỏ là rất
nghiêm trọng. Do năng lực có hạn, khai thác phần lớn là thủ công, nên đa số các
mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng
nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu được. Bên cạnh đó, tổn
thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao. Khai thác vàng là một ví dụ, do độ thu
hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thu hồi) hiện chỉ đạt khoảng 30% - 40%,
nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi thải, không chỉ mất mát mà còn gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Nếu so với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong
quặng thường chiếm 92% 97%, rõ ràng đây là một tổn thất quá lớn. Đối với những
mỏ vừa và nhỏ, chủ yếu do dân tự khai thác với công nghệ thô sơ, vì vậy càng
không thể đánh giá được hết những tổn thất.
Với tài nguyên nước, mức sử dụng nước ở nhiều ngành công nghiệp là rất cao và
lãng phí, đặc biệt khu vực tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thất thoát nước
dùng trong sản xuất phần lớn không thể kiểm soát được. Rõ rệt nhất là ngành bia,
trên thế giới để sản xuất 1 lít bia trung bình sử dụng khoảng 4 lít nước, song ở Việt
Nam cao hơn gấp ba lần (khoảng 13 lít nước). Các ngành dệt và ngành giấy cũng ở
tình trạng tương tự. Về tiêu hao năng lượng, với ngành thép, công nghệ sử dụng
của Việt Nam hiện có thời gian nấu cao hơn 360% so với thế giới, các chỉ tiêu tiêu
hao thép phế, điện và điện cực đều quá cao, đặc biệt tiêu hao điện bằng 257% so
với các nước, song công đoạn cán có tốc độ chỉ bằng 12,7% so với các nhà máy
trên thế giới. Về tài nguyên rừng, hiện tại, rừng tự nhiên có khả năng khai thác gỗ
không còn bao nhiêu (ước tính khoảng 0,5 triệu ha). Diện tích rừng sản xuất chỉ
chiếm hơn 50% trong tổng diện tích rừng hiện có nhưng phần lớn là rừng nghèo và trung bình. Nguyên nhân:
- Trong cơ cấu nộp thuế và phí của ngành khai khoáng hiện nay ở Việt Nam, có
30% nộp về ngân sách Nhà nước là các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu; 70% còn lại là các khoản nộp thuế tài nguyên,
phí cấp phép, phí bảo vệ môi trường phí hoàn thổ môi trường, thuế sử dụng đất hay
thuế sử dụng mặt nước, chi phí cho xã hội và các khoản lệ phí, chi phí khác là nộp
về ngân sách địa phương... Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là có tới 90% doanh
nghiệp khai khoáng cho biết, họ phải bỏ ra một số tiền không nhỏ để “bôi trơn”
mới có được thông tin quy hoạch hoặc được cấp phép, đặc biệt ở cấp địa phương.
Và do đó, có sự khai man về sản lượng khoáng sản thấp nhiều lần so với sản lượng
khai thác thực tế nhằm trốn thuế.
- Riêng mặt hàng khoáng sản than hiện nay bị thất thoát trong khai thác hầm lò của
Việt Nam đang ở mức 40-60%, nguyên nhân do công nghệ khai thác lạc hậu,
nhưng cũng có nguyên nhân thất thoát là do chính doanh nghiệp không trung thực
trong kê khai và mấu chốt vẫn là cơ chế.
- "Công tác quản lj đất đai yếu kém, thu hồi, đền bù thiếu minh bạch, thiếu hợp lj
tại cơ sở và chưa thực hiê k
n nghiêm tlc quy định về đối thoại và tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại tố cáo gây ra xung đô k
t lợi ích kéo dài, ảnh hưởng đến ổn định xã hô k i”.
- Cùng với đó là tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên chưa được kiểm soát chă k t chm. Xuất hiê k n viê k
c khai thác tài nguyên theo kiểu tâ k n khai, tâ k n diê k t như khai
thác cát, gỗ trái phép ở mô k
t số địa phương làm cạn kiê k
t nguồn nước, sạt lở bờ sông,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, gây mất an ninh trâ k t tự và ảnh
hưởng tới khả năng phòng, chống thiên tai.
- Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chl j, đa số áp dụng hệ
thốngkhai thác lộ thiên với công nghệ ô tô - máy xlc. Đây là loại hình công nghệ
cổ điển, giá thành cao. Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải
không đảm bảo. Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu
đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên.
Giá trị và hiệu quả sử dụng thấp, chưa tương xứng với giá trị tài nguyên khoáng
sản, đồng thời gây lãng phí rất lớn tài nguyên do không tận dụng được đáng kể sản
phẩm khoáng sản khác đi kèm. Nhiều mỏ quy mô khai thác nhỏ chỉ lấy được
những phần trữ lượng giàu nhất, bỏ đi toàn bộ quặng nghèo và khoáng sản đi kèm,
dẫn đến lãng phí tài nguyên do mức độ cơ giới hóa thấp và công nghệ khai thác lạc hậu
Kỹ thuật lạc hậu không bảo đảm an toàn lao động, người dân kém hiểu biết và
không đủ nhận thức về các vấn đề khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường. Doanh
nghiệp chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà để mất an toàn lao động và phá hủy
môi trường tai nạn lao động trong khai thác khoáng sản, đặc biệt trong khai thác
hầm lò và khai thác đá, xảy ra thường xuyên với tỷ lệ thương vong khá cao. Điều
này thể hiện trình độ phát triển thấp và công tác quản lj rất lỏng lẻo trong lĩnh vực này
Giải pháp cho vấn đề này:
Có các văn bản cũng như quy định rõ ràng: các văn bản quy phạm pháp luật quy
định về chênh lệch mức thu thuế tài nguyên của các loại khoáng sản từ mức thấp
đến cao là quá xa. Cụ thể, than 4-20%, dầu thô 4-40%, đất hiếm 12-25%, kim loại
7-25%, phi kim 3-15% đã dẫn đến việc áp dụng có llc, có nơi tùy tiện. Hơn nữa,
việc tính thuế khoáng sản do đơn vị khai thác tự khai nên số lượng khai để nộp
thuế không biết là bao nhiêu, dẫn đến tình trạng thất thoát về tài nguyên không thể
đo đếm. Nhiều đại biểu còn chỉ ra rằng doanh nghiệp khi khai thác khoáng sản
thường không trả tiền trách nhiệm mà doanh nghiệp phải trả khi khai thác từ môi
trường. Nếu kiểm soát không tốt khâu này, nhất là việc phê duyệt các đánh giá tác
động môi trường, các giải pháp môi trường tham nhũng rất có thể xảy ra và hậu
quả không thể lường hết.
Các biện pháp quản lj và bảo vệ tài nguyên rừng
- Quản lj tốt hơn tài nguyên rừng hiện còn và trồng rừng mới Áp dụng các biện
pháp nhằm hạn chế việc chặt phá rừng. Tăng cường trồng rừng và các khu công
nghiệp phù hợp, phát triển hình thức nông lâm kết hợp ở những vùng bắt buộc phải
trồng cây nông nghiệp trên đất dốc. Nâng cao hiệu suất sử dụng củi đốt, phát triển
khí sinh học và sử dụng năng lượng mặt trời. Thâm canh cây công nghiệp và tạo
việc làm mới để phát triển nông thôn, giảm sức ép của sản xuất nông nghiệp với
đất rừng còn lại. Việc bảo vệ rừng phải đi đôi giữa bảo tồn, phục hồi đối với trồng
rừng và quản lj buôn bán gỗ nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng. Việc áp
dụng một giải pháp đơn lẻ nào đó sm không có khả năng giải quyết được vấn đề
này, dù chỉ là làm chậm một cách có j nghĩa việc phá rừng hiện nay. Trong quá
trình áp dụng các giải pháp bảo vệ rừng, cần chl j bảo đảm quyền lợi của những
người dân bản xứ với nền văn hóa, lối sống và kiến thức bản địa của họ.
- Thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và các vườn quốc gia .Đây được coi là biện
pháp quan trọng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, trước hết là nguồn tài
nguyên sinh vật. Tuy vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có những yêu cầu
riêng nhưng đều được vây dựng trên cơ sở bảo tồn sự đa dạng sinh học, đa dạng về
mục đích sử dụng với mục tiêu hàng đầu là bảo tồn thiên nhiên.
- Quản lj rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Chứng chỉ rừng được định nghĩa là một quá trình dẫn đến việc chứng nhận bằng
văn bản do một tổ chức thứ ba (ngoài người sản xuất gỗ và người tiêu dùng gỗ)
độc lập thực hiên, xác nhận về địa điểm và hiện trạng
quản lj của khu rừng sản xuất gỗ là bền vững. Thông thường có hai nội
dung cơ bản thực hiện trong quá trình cấp chứng chỉ rừng là : kiểm toán
rừng và dán nhãn cho phép. Chứng chỉ rừng ra đời nhằm bảo đảm với
người tiêu dùng về nguồn gốc đáng tin cậy của các sản phầm rừng về các
mặt sản xuất bền vững (tài nguyên không bị suy giảm), an toàn về môi
trường và thực hiên các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội. Chứng chỉ rừng có
thể đóng vai trò như mọt công cụ kinh tế trong hệ thống công cụ
chính sách nhưng không thể thay thế các quy định, luật pháp giáo dục
tuyên truyền trong việc thực hiện quản lj rừng bền vững.
Sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản
Sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản là một vấn đề phức tạp, được
giải quyết theo các phương hướng địa chất, kỹ thuật mỏ, công nghệ, kinh tế và tổ
chức. Phương hướng địa chất bao gồm các công việc: hoàn chỉnh các phương pháp
thăm dò, tính toán và lập bản đồ địa chất; đổi mới công nghệ thiết kế khai thác các
mỏ khoáng sản. Phương hướng kỹ thuật mỏ bao gồm việc xây dựng và hoàn chỉnh
công nghệ khai thác mỏ, đảm bảo việc tăng hiệu suất và chất lượng khoáng sản lấy
ra từ lòng đất. Phương hướng công nghệ chế biến liên quan tới việc xây dựng và
hoàn chỉnh các quá trình chế biến khoáng sản cho phép thu hồi một các có hiệu quả
tất cả các hợp phần có ích chứa trong quặng, chế biến quặng nghèo, quặng tận thu
và sử dụng đá vây quanh và chất thải của sản xuất. Phương hướng kinh tế nhằm tạo
ra việc sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản. Phương hướng tổ chức đảm bảo
việc tổ chức và sử dụng hợp lj tài nguyên khoáng sản.
Bảo vệ và quy hoach sử dụng nguồn tài nguyên đất
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, chiến lược, chính sách, quyhoạch và sử
dụng bền vững tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản trong lòng đất. Áp dụng có
hiệu quả công cụ quản lj để giải quyết hài hoà các vấn đề liên ngành trong sử dụng
đất, khai thác tài nguyền khoáng sản với việc bảo vệ môi trường, với các lĩnh vực
phát triển khác. Phải sử dụng một cách có hiệu quả và hết sức tiết kiệm quĩ đất cho
phát triển công nghiệp. Phải quy hoạch thành các khu công nghiệp có cơ sở hạ
tầng, xử lj chất thải tập trung để tiết kiệm quỹ đất và hạn chế ô nhiễm đất. Khi di
dời các cơ sở công nghiệp, cần đánh giá mức độ ô nhiễm đất để có kế hoạch xử lj
ô nhiễm và tái sử dụng hợp lj. Cần kiểm soát chặt chm việc sản xuất, nhập khẩu và
sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Khắc phục tình trạng lạm dụng
các loại phân vô cơ và hoá chất trong sản xuất nông nghiệp làm bạc màu, thoái hoá
đất, ô nhiễm các nguồn nước và suy giảm đa dạng sinh học các vùng nông thôn,
đặc biệt các vùng đất có năng suất cao. Nghiên cứu thay đổi phương thức canh tác
theo hướng đảm bảo cân bằng sinh thái và bền vững, nâng cao chất lượng đất,
giảm diện tích đất thoái hoá, bạc màu. Áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc
một cách khoa học, chống rửa trôi, xói mòn. Cần mở rộng chương trình IPM, tăng
cường dùng phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh bằng phương pháp sinh học. Chiến
lược phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với
chiến lược khai thác hợp lj tài nguyên đất, với bảo vệ tài nguyên và môi trường
đất. Các vùng đất phải cải tạo để sử dụng nhưng có vùng đất phải sử dụng phù hợp
với sinh thái, tránh tốn kém trong đầu tư quá đắt mà hiệu quả mang lại không lớn.
Quản lj và bảo vệ tài nguyên nước
- Quy hoạch nguồn nước để bảo vệ nước, đưa nước vào sử dụng hợp lj, khai thác
nguồn nước sẵn có để sử dụng hợp lj và hiệu quả hơn. Biện pháp quy hoạch quản
lj, sử dụng nước nhằm mục đích: sản xuất điện năng, cấp nước cho sinh hoạt và
công nghiệp, cấp nước cho nông nghiệp, cấp nước cho thủy sản, điều hòa dòng
chảy cho giao thông, bảo vệ chống ngập lụt và cạn kiệt.
Tiến hành kiểm kê, phân loại các dạng tài nguyên nước; nước ngọt, nước lợ, nước
mặn, dưới đất để có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lj và tiết kiệm, phù hợp với
đặc điểm sinh thái, ngăn ngừa và phòng ô nhiễm, làm cho tài nguyên nước kiệt đi
và mất khả năng tự phục hồi về lượng. Tổ chức đánh giá và kiểm soát được chất
lượng, trữ lượng nước ngầm; có kế hoạch đầu tư phát triển tài nguyên nước và ban
hành các quy định cụ thể về khai thác nguồn nước ngầm.
Tài nguyên nước khoáng, nước nóng cần tiếp tục được điều tra thăm
dò, đánh giá trữ lượng để khai thác cho nhu cầu chữa bệnh, du lịch giải trí, kể cả
nguồn năng lượng địa nhiệt. Bảo vệ tài nguyên nước các đầm, hồ ao, đất ngập
nước cần nghiên cứu nuôi trồng các loại thuỷ sản như sen, slng, tôm cá, ba ba...
- Cách chính sách, pháp chế và quản lj nước thích hợp: Hoàn thiện hệ thống các
văn bản pháp quy về tài nguyên nước theo hướng khai thác bền vững nguồn nước
mặt và nước ngầm. Thực hiện việc quy hoạch và quản lj các lưu vực sông . Đây là
biện pháp mang tính chất pháp lj, thiết
chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước, đảm
bảo phát triển bền vững tài nguyên nước. Tăng cường công tác hướng dẫn, tuyên
truyền luật tài nguyên nước. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lj kịp
thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước.
Quản lj động thực vật hoang dã
Để tạo điều kiện gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên đa dạng sinh họcquan trọng
cần bảo vệ các chức năng sinh thái của rừng và thảm thực vật, bảo vệ tốt nguồn
nước, môi trường không khí, biển… Tổ chức quản ljtổng hợp theo nguyên tắc phát
triển bền vững. Công tác quản lj và bảo vệ rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn
thiên nhiên cần được chl trọng trước hết. Bên cạnh đó phải có quy hoạch khôi
phục lại những vùng rừng đã bị tàn phá và phát triển trồng mới rừng. Cần có biện
pháp quản lj chống cháy rừng. Chức năng sinh thái có giá trị lớn nhất đối với thực
vật tự nhiên là bảo vệ lưu vực nước. Rừng đầu nguồn gilp giữ lại lượng nước mưa,
điều hòa dòng chảy, duy trì nguồn nước cung cấp cho đòng bằng, hạn chế lũ lụt và
hạn hán, chống xói mòn đất. Điều hòa dòng chảy là cực kỳ quan trọngcho kinh tế
nông nghiệp, riêng sản xuất lla phải chịu đến 50% ảnh hưởng từ việc mất rừng đầu
nguồn. Duy trì tốt nguồn nước sạch cũng góp phần bảo tồn các hệ sinh thái nước,
các loài cá, các loài lưỡng cư, than mền,… Phát triển lâm nghiệp bền vững sm tạo
điều kiện duy trì và phát triển nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên
đất đai,… Khôi phục sinh cảnh tự nhiên, kiểm soát cháy rừng,…