Tổng hợp 10 câu hỏi lý thuyết - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng

Chủ nghĩa đế quốc ra đời: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột Nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

Trường:

Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu

Thông tin:
6 trang 4 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tổng hợp 10 câu hỏi lý thuyết - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng

Chủ nghĩa đế quốc ra đời: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột Nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

74 37 lượt tải Tải xuống
BÀI TẬP TUẦN 1
1. Cho biết hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tác động đến Việt Nam?
Chủ nghĩa đế quốc ra đời: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột Nhân dân lao động trong
nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế
quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân
tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin: Với thắng lợi của Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra
một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Cách mạng
Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.
Quốc tế Cộng sản ra đời: Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam,
Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Chính sách cai trị của Thực dân Pháp ở Việt Nam và hậu quả của nó?
Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội
đối ngoại của chính quyền phong kiến Nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ,
Trung Kỳ, Nam Kỳ thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với
giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam.
Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền;
đầu khai thác tài nguyên; xây dựng một số sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông,
bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm tự ti,
khuyến khích các hoạt động tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của Nhân dân ta đều bị
cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên
thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Chính sách khai thống trị vô cùng phản động và chương trình khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với nước ta, làm cho nền kinh tế nước ta sa sút
nghiêm trọng các tệ nạn xã hội phát triển, xã hội phân hóa hết sức sâu sắc. Xã hội nảy sinh
mâu thuẫn ngoài mâu thuẫn cơ bản đã tồn tại là mâu thuẫn giai cấp xã hội còn nảy sinh thêm
mâu thuẫn mới đó là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp xâm lược đây là mâu thuẫn
dân tộc cần phải được giải quyết trước đem lại độc lập tự do cho đất nước. Ngoài ra trong xã
hội còn xuất hiện các giai cấp mới ngoài các giai cấp cơ bản là nông dân, địa chủ phong kiến
xã hội còn xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tư bản, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản
trong đó giai cấp công nhân có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo cách mạng đấu tranh
chống đế quốc giải phóng dân tộc.
3. Sự phân hóa kết cấu giai cấp ở Việt Nam?
Dưới tác động của chính sách cai trị chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, hội
Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên,
trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa.
Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống
Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
Giai cấp nông dân lực lượng đông đảo nhất trong hội Việt Nam, bị thực dân phong
kiến áp bức, bóc lột nặng nề.
Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù
đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành
lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân
Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, quan hệ trực tiếp chặt chẽ với giai cấp nông
dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột.
Giai cấp sản Việt Nam bị sản Pháp sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế
lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất
định.
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời
sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực
dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
4. Công lao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam ?
Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc,
Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc thuộc địa” của
Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế
III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành
người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó một sự kiện lịch sử trọng đại, không những
Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với luận cách mạng của thời đại chủ nghĩa
Mác-Lênin, còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt
Nam: muốn cứu nước giải phóng dân tộc không con đường nào khác con đường cách
mạng vô sản.
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái
Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt
Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: Cách mạng muốn thành công phải có Đảng cách
mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải hệ tưởng tiên tiến, cách mạng khoa học dẫn
đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.
Người đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính
cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ
Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh”
(tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên). Đó sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một Đảng lãnh đạo, Đảng
có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức cán bộ. Người lập
ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán b tại
Quảng Châu (Trung Quốc) gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên
trước đây) và Trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng
Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách
mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
5. Hội nghị thành lập Đảng và Cương lính chính trị đầu tiên của Đảng?
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình
trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì
Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 06 tháng 01 đến ngày
07/02/1930.
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị
thảo luận thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình
tóm tắt Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí
trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những
văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 03 tháng 02 dương lịch
hằng năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. So sánh sự giống và khác nhau giữa Cương lĩnh Chính trị đầu tiên và Luận cương tháng
10/1930?
*Điểm giống nhau:
Về phương hướng chiến lược của cách mạng: cả hai văn kiện đều xác định được tính chất
của cách mạng Việt Nạm là Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai
đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản.
Về nhiệm vụ cách mạng: Chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lập
dân tộc.
Về lực lượng cách mạng: chủ yếu là công nhân và nông dân - hai lực lượng nòng cốt và cơ
bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc nước ta.
Về phương pháp cách mạng: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính
trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong
kiến, giành chính quyền về tay công nông.
Về vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khắng khít với cách mạng thế giới đã
thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình.
Lãnh đạo cách mạng: là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
*Điểm khác nhau:
STT CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ
Phạm vi
Cương lĩnh chính trị xây dựng đường lối
của cách mạng Việt Nam
Luận cương chính trị xây dựng
đường lối cách mạng cho Việt
Nam nói riêng và các nước Đông
Dương nói chung.
Tính chất
xã hội
Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa
phong kiến, bao gồm hai mâu thuẫn:
Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với đế quốc Pháp (mâu thuẫn cơ
bản nhất, gay gắt nhất).
Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động (chủ
yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến.
Xã hội Đông Dương gồm hai mâu
thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó
mâu thuẫn giai cấp là cơ bản nhất.
Tính chất
cách mạng
Cách mạng trải qua hai giai đoạn: Cách
mạng tư sản dân quyền và Cách mạng
thổ địa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Cách mạng Đông Dương lúc đầu
là cách mạng tư sản dân quyền,
sau khi thắng lợi tiến lên XHCN
không qua giai đoạn phát triển
TBCN.
Xác định
kẻ thù và
nhiệm vụ,
mục tiêu
cách mạng
Cương lĩnh chính trị xác định kẻ thù,
nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ giặc
Pháp sau đó mới đánh đổ phong kiến và
tay sai phản cách mạng.
Luận cương chính trị xác định kẻ
thù là Đế quốc và phong kiến.
Nhiệm vụ
cách mạng
Mục tiêu của cương lĩnh: Làm cho Việt
Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được
tự do, dân chủ, bình đẳng, tích thu ruộng
đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho
dân cày nghèo, thành lập chính phủ công
nông binh và tổ chức cho quân đội công
nông, thì hành chính sách tự do dân chủ
bình đẳng phổ thông giáo dục theo
hướng công nông hoá.
Luận cương chính trị xác định
phải tranh đấu để đánh đổ các di
tích phong kiến, đánh đổ các cách
bóc lột theo lối tiền tư bản và để
thực hành thổ địa cách mạng cho
triệt để; đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương
hoàn toàn độc lập.
Vai trò
lãnh đạo
Giai cấp công nhân thông qua đội tiên
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam
Giai cấp vô sản với đội tiên phong
là Đảng Cộng sản Đông Dương
Lực lượng
cách mạng
Cương lĩnh chính trị xác định lực lượng
cách mạng là giai cấp công nhân và
nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải
liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi
dụng hoặc trung lập phú nông, trung
nông, tiểu địa chủ.
Luận cương chính trị xác định giai
cấp vô sản và nông dân là hai
động lực chính của cách mạng tư
sản dân quyền, trong đó giai cấp
vô sản là động lực chính và mạnh,
là giai cấp lãnh đạo cách mạng,
nông dân có số lượng đông đảo
nhất, là một động lực mạnh của
cách mạng.
7. Chủ trương đấu tranh 1930-1931 và khôi phục phong trào cách mạng?
Chủ trương đấu tranh trong thời kỳ 1930-1931 tại Việt Nam được khởi xướng bởi Đảng Cộng
sản Việt Nam (được thành lập vào năm 1930). Đây thời kỳ đánh dấu sự trỗi dậy của phong
trào cách mạng Việt Nam, với mục tiêu giải phóng dân tộc xây dựng một hội hội
chủ nghĩa.
Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khuyến khích các cuộc đấu tranh của nhân
dân tận dụng các hội để tăng cường sự phát triển của phong trào cách mạng. Các cuộc
đấu tranh này bao gồm các cuộc biểu tình, đình công, đánh phá các cơ sở của thực dân Pháp và
các quan chức địa phương.
Để khôi phục phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra các chủ trương cụ thể
như:
Xây dựng các tổ chức cách mạng nhân dân, từ cấp xã, huyện đến cấp tỉnh và quốc gia.
Tổ chức các cuộc biểu tình, đình công các hoạt động khác nhằm tăng cường sự đoàn
kết và sự phát triển của phong trào cách mạng.
Chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân các thực dân phương Tây, đồng thời khuyến
khích sự phát triển của kinh tế tự cường và văn hóa dân tộc.
Qua đó, trong thời kỳ 1930-1931, phong trào cách mạng Việt Nam đã được khôi phục
phát triển mạnh mẽ. Điều này đã đóng góp rất lớn vào quá trình giải phóng Việt Nam khỏi chế
độ thực dân Pháp.
8. Chủ trương đấu tranh 1936-1939, 1939-1945?
Giai đoạn 1936-1939, chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa
tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo hòa bình, “lập mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi
chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị tín ngưỡng tôn giáo
khác nhau, các dân tộc xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ
đơn sơ”
Giai đoạn 1939-1945, đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay
da vàng để dành lấy giải phóng độc lập.
9. Sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng thông qua HNTW 6,7,8?
Nhận định về diễn biến của chiền tranh thế giới thứ hai căn cứ vào hoàn cảnh trong nước,
Đảng đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo cách mạng với nội dung cụ thể như sau:
Một là: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng “tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt
gian chia cho dân cày nghèo”; “chia ruộng đất cho công bằng và giảm tô, giảm tức”.
Hai là: thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp rộng rãi lực lượng của toàn dân
tộc
Ba là: tiến chuẩn bị khởi nghĩatrang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, đi theo
con đường cách mạng bạo lực.
Thể hiện qua ba hội nghị trung ương:
Lần 6 (11/1939)
o Quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản để Đông Dương, thay cho Mặt trận dân
chủ Đông Dương.
Lần 7 (11/1940)
o Quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa đủ điều kiện giành thắng lợi, duy trì lực
lượng vũ trang trong khởi nghĩa Bắc Sơn, thành lập đội du kích Bắc Sơn (sau đó đổi tiên thành
Cứu quốc quân), tiến tới thành lập các căn cứ địa cách mạng.
o Chuẩn bị một lực lượng sẵn sang nhằm hội thuận lợi để từ khởi nghĩa trang từng phần
trong từng địa phương mở đường lên Tổng khởi nghĩa.
o Chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ và công tác vận động quần chúng.
Lần 8 (5/1941)
o Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản để Đông
Dương.
o Đổi tên các Hội phản đế thành Hội Cứu Quốc.
o Xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng
10. Tính chất, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945?
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam, có tính chất
cách mạng, mang ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của đất nước.
Tính chất: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, tự do, độc lập,
chống lại chế độ đô hộ của Pháp và chống lại chế độ đô hộ của Nhật Bản. Cuộc cách mạng này đã
được lãnh đạo bởi Việt Minh, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là
nhân dân nông thôn. Cuộc cách mạng đã đưa đất nước Việt Nam trở thành một nước độc lập và tự
do, với chế độ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam được thành lập.
Ý nghĩa: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một trang mới trong lịch sử Việt Nam, đánh
dấu sự chấm dứt của thời kỳ đô hộ và khởi đầu cho một thời kỳ mới của độc lập, tự do và phát
triển. Nó đã khẳng định quyền tự quyết định của nhân dân Việt Nam đối với chính trị, kinh tế và
xã hội. Đồng thời, nó cũng đã lan tỏa thông điệp độc lập, tự do và dân chủ đến các dân tộc và
quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Bài học kinh nghiệm: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã cho chúng ta rút ra những bài học
quý giá. Đầu tiên, nó khẳng định tầm quan trọng của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, sự đoàn
kết của tất cả các tầng lớp nhân dân để đánh bại chế độ đô hộ. Thứ hai, nó cho thấy rằng việc xây
dựng và bảo vệ độc lập, tự do và dân chủ là một công việc liên tục và đòi hỏi sự nỗ lực của toàn
bộ xã hội. Thứ ba, nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của các nhân vật có
trách nhiệm và đạo đức, cùng với sự đồng lòng của nhân dân.
| 1/6

Preview text:

BÀI TẬP TUẦN 1
1. Cho biết hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tác động đến Việt Nam?
Chủ nghĩa đế quốc ra đời: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột Nhân dân lao động trong
nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế
quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân
tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin: Với thắng lợi của Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra
một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Cách mạng
Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.
Quốc tế Cộng sản ra đời: Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam,
Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Chính sách cai trị của Thực dân Pháp ở Việt Nam và hậu quả của nó?
Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và
đối ngoại của chính quyền phong kiến Nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ,
Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với
giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam.
Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền;
đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông,
bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti,
khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của Nhân dân ta đều bị
cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên
thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Chính sách khai thống trị vô cùng phản động và chương trình khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với nước ta, làm cho nền kinh tế nước ta sa sút
nghiêm trọng các tệ nạn xã hội phát triển, xã hội phân hóa hết sức sâu sắc. Xã hội nảy sinh
mâu thuẫn ngoài mâu thuẫn cơ bản đã tồn tại là mâu thuẫn giai cấp xã hội còn nảy sinh thêm
mâu thuẫn mới đó là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp xâm lược đây là mâu thuẫn
dân tộc cần phải được giải quyết trước đem lại độc lập tự do cho đất nước. Ngoài ra trong xã
hội còn xuất hiện các giai cấp mới ngoài các giai cấp cơ bản là nông dân, địa chủ phong kiến
xã hội còn xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tư bản, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản
trong đó giai cấp công nhân có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo cách mạng đấu tranh
chống đế quốc giải phóng dân tộc.
3. Sự phân hóa kết cấu giai cấp ở Việt Nam?
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã hội
Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên,
trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa.
Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống
Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong
kiến áp bức, bóc lột nặng nề.
Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù
đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành
lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân
Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông
dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột.
Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế
lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định.
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời
sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực
dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.
4. Công lao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ?
Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc,
Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của
Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế
III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành
người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những
Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa
Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt
Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái
Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt
Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: Cách mạng muốn thành công phải có Đảng cách
mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn
đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.
Người đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính
cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ
Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường Kách mệnh”
(tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một Đảng lãnh đạo, Đảng
có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập
ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại
Quảng Châu (Trung Quốc) và gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô
trước đây) và Trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng
Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách
mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
5. Hội nghị thành lập Đảng và Cương lính chính trị đầu tiên của Đảng?
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình
trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì
Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 06 tháng 01 đến ngày 07/02/1930.
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị
thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình
tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí
trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những
văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 03 tháng 02 dương lịch
hằng năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. So sánh sự giống và khác nhau giữa Cương lĩnh Chính trị đầu tiên và Luận cương tháng 10/1930? *Điểm giống nhau:
Về phương hướng chiến lược của cách mạng: cả hai văn kiện đều xác định được tính chất
của cách mạng Việt Nạm là Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai
đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản.
Về nhiệm vụ cách mạng: Chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lập dân tộc.
Về lực lượng cách mạng: chủ yếu là công nhân và nông dân - hai lực lượng nòng cốt và cơ
bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc nước ta.
Về phương pháp cách mạng: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính
trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong
kiến, giành chính quyền về tay công nông.
Về vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khắng khít với cách mạng thế giới đã
thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình.
Lãnh đạo cách mạng: là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. *Điểm khác nhau: STT
CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ
LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ
Luận cương chính trị xây dựng
Cương lĩnh chính trị xây dựng đường lối
đường lối cách mạng cho Việt Phạm vi của cách mạng Việt Nam
Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung.
Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa
phong kiến, bao gồm hai mâu thuẫn:
Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Xã hội Đông Dương gồm hai mâu Tính chất
Nam với đế quốc Pháp (mâu thuẫn cơ
thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó xã hội
bản nhất, gay gắt nhất).
mâu thuẫn giai cấp là cơ bản nhất.
Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động (chủ
yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến.
Cách mạng Đông Dương lúc đầu
Cách mạng trải qua hai giai đoạn: Cách
là cách mạng tư sản dân quyền, Tính chất
mạng tư sản dân quyền và Cách mạng
sau khi thắng lợi tiến lên XHCN cách mạng
thổ địa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
không qua giai đoạn phát triển TBCN. Xác định
Cương lĩnh chính trị xác định kẻ thù, kẻ thù và
nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ giặc
Luận cương chính trị xác định kẻ nhiệm vụ,
Pháp sau đó mới đánh đổ phong kiến và
thù là Đế quốc và phong kiến. mục tiêu tay sai phản cách mạng. cách mạng
Mục tiêu của cương lĩnh: Làm cho Việt
Luận cương chính trị xác định
Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được
phải tranh đấu để đánh đổ các di
tự do, dân chủ, bình đẳng, tích thu ruộng
tích phong kiến, đánh đổ các cách
đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho Nhiệm vụ
bóc lột theo lối tiền tư bản và để
dân cày nghèo, thành lập chính phủ công cách mạng
thực hành thổ địa cách mạng cho
nông binh và tổ chức cho quân đội công
triệt để; đánh đổ đế quốc chủ
nông, thì hành chính sách tự do dân chủ
nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương
bình đẳng phổ thông giáo dục theo hoàn toàn độc lập. hướng công nông hoá. Vai trò
Giai cấp công nhân thông qua đội tiên
Giai cấp vô sản với đội tiên phong lãnh đạo
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam
là Đảng Cộng sản Đông Dương Lực lượng
Cương lĩnh chính trị xác định lực lượng
Luận cương chính trị xác định giai cách mạng
cách mạng là giai cấp công nhân và
cấp vô sản và nông dân là hai
nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải
động lực chính của cách mạng tư
liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi
sản dân quyền, trong đó giai cấp
dụng hoặc trung lập phú nông, trung
vô sản là động lực chính và mạnh, nông, tiểu địa chủ.
là giai cấp lãnh đạo cách mạng,
nông dân có số lượng đông đảo
nhất, là một động lực mạnh của cách mạng.
7. Chủ trương đấu tranh 1930-1931 và khôi phục phong trào cách mạng?
Chủ trương đấu tranh trong thời kỳ 1930-1931 tại Việt Nam được khởi xướng bởi Đảng Cộng
sản Việt Nam (được thành lập vào năm 1930). Đây là thời kỳ đánh dấu sự trỗi dậy của phong
trào cách mạng ở Việt Nam, với mục tiêu giải phóng dân tộc và xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khuyến khích các cuộc đấu tranh của nhân
dân và tận dụng các cơ hội để tăng cường sự phát triển của phong trào cách mạng. Các cuộc
đấu tranh này bao gồm các cuộc biểu tình, đình công, đánh phá các cơ sở của thực dân Pháp và
các quan chức địa phương.
Để khôi phục phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra các chủ trương cụ thể như:
Xây dựng các tổ chức cách mạng nhân dân, từ cấp xã, huyện đến cấp tỉnh và quốc gia.
Tổ chức các cuộc biểu tình, đình công và các hoạt động khác nhằm tăng cường sự đoàn
kết và sự phát triển của phong trào cách mạng.
Chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân và các thực dân phương Tây, đồng thời khuyến
khích sự phát triển của kinh tế tự cường và văn hóa dân tộc.
Qua đó, trong thời kỳ 1930-1931, phong trào cách mạng ở Việt Nam đã được khôi phục và
phát triển mạnh mẽ. Điều này đã đóng góp rất lớn vào quá trình giải phóng Việt Nam khỏi chế độ thực dân Pháp.
8. Chủ trương đấu tranh 1936-1939, 1939-1945?
Giai đoạn 1936-1939, chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa
và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình, “lập mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi
chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo
khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ”
Giai đoạn 1939-1945, đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay
da vàng để dành lấy giải phóng độc lập.
9. Sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng thông qua HNTW 6,7,8?
Nhận định về diễn biến của chiền tranh thế giới thứ hai và căn cứ vào hoàn cảnh trong nước,
Đảng đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo cách mạng với nội dung cụ thể như sau:
Một là: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng “tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
gian chia cho dân cày nghèo”; “chia ruộng đất cho công bằng và giảm tô, giảm tức”.
Hai là: thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp rộng rãi lực lượng của toàn dân tộc
Ba là: cú tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng, đi theo
con đường cách mạng bạo lực.
Thể hiện qua ba hội nghị trung ương: Lần 6 (11/1939)
o Quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản để Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương. Lần 7 (11/1940)
o Quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vì chưa đủ điều kiện giành thắng lợi, duy trì lực
lượng vũ trang trong khởi nghĩa Bắc Sơn, thành lập đội du kích Bắc Sơn (sau đó đổi tiên thành
Cứu quốc quân), tiến tới thành lập các căn cứ địa cách mạng.
o Chuẩn bị một lực lượng sẵn sang nhằm cơ hội thuận lợi để từ khởi nghĩa vũ trang từng phần
trong từng địa phương mở đường lên Tổng khởi nghĩa.
o Chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ và công tác vận động quần chúng. Lần 8 (5/1941)
o Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản để Đông Dương.
o Đổi tên các Hội phản đế thành Hội Cứu Quốc.
o Xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng
10. Tính chất, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945?
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam, có tính chất
cách mạng, mang ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của đất nước.
Tính chất: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, tự do, độc lập,
chống lại chế độ đô hộ của Pháp và chống lại chế độ đô hộ của Nhật Bản. Cuộc cách mạng này đã
được lãnh đạo bởi Việt Minh, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là
nhân dân nông thôn. Cuộc cách mạng đã đưa đất nước Việt Nam trở thành một nước độc lập và tự
do, với chế độ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam được thành lập.
Ý nghĩa: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một trang mới trong lịch sử Việt Nam, đánh
dấu sự chấm dứt của thời kỳ đô hộ và khởi đầu cho một thời kỳ mới của độc lập, tự do và phát
triển. Nó đã khẳng định quyền tự quyết định của nhân dân Việt Nam đối với chính trị, kinh tế và
xã hội. Đồng thời, nó cũng đã lan tỏa thông điệp độc lập, tự do và dân chủ đến các dân tộc và
quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Bài học kinh nghiệm: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã cho chúng ta rút ra những bài học
quý giá. Đầu tiên, nó khẳng định tầm quan trọng của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, sự đoàn
kết của tất cả các tầng lớp nhân dân để đánh bại chế độ đô hộ. Thứ hai, nó cho thấy rằng việc xây
dựng và bảo vệ độc lập, tự do và dân chủ là một công việc liên tục và đòi hỏi sự nỗ lực của toàn
bộ xã hội. Thứ ba, nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của các nhân vật có
trách nhiệm và đạo đức, cùng với sự đồng lòng của nhân dân.