



















Preview text:
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1.1. Khái niệm...........................................................................................................2
1.2. Phân loại – ưu nhược điểm...............................................................................2 1.2.1.
Chế độ tỷ giá được phân loại dựa trên công bố........................................2
a) Chế độ tỷ giá hối đoái cố định.......................................................................2
b) Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn......................................................3
c) Chế độ tỷ giá hối đoái thả nối có điều tiết.....................................................3 1.2.2.
Các chế độ tỷ giá dựa trên phân loại của IMF:.........................................4
1.3. Căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá...........................................................................6
2.1. Giai đoạn 1999 – 2006...........................................................................................7
2.2. Giai đoạn 2007 – 2010...........................................................................................8
2.3. Giai đoạn 2011-2015............................................................................................12
2.4. Giai đoạn 2016 – nay: sự góp mặt của “tỷ giá trung tâm”...............................14
PHẦN III: ĐỀ XUẤT NĂNG CAO HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ TẠI VIỆT
NAM...........................................................................................................................20
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................22 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VND Đồng Việt Nam USD Đôla Mỹ NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTW Ngân hàng Trung ương NHTM Ngân hàng Thương mại BQLNH Bình quân liên ngân hàng TTTD Thị trường tự do LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, đòi
hỏi cần phải có những cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với tình hình trong nước và cá
bối cảnh kinh tế thế giới để nước ta phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Trong
quá trình hội nhập đó, Việt Nam đã tiến hành những đổi mới, cái cách trên nhiều lĩnh
vực, đặt biệt là hệ thống tài chính tiền tệ để phù hợp với yêu cầu và xu hướng phát
triển của thế giới. Là một bộ phận của hệ thống tài chính tiền tệ, chế độ tỷ giá hối đoái
ở nước ta cũng đã trải qua nhiều thay đồi cho phù hợp với tiến trình đổi mới, từ một
chế độ đa tỷ giá cổ dịnh, mang nặng tính chủ quan, bao cấp, xa rời với thị trường, đã
dần dần chuyển sang một chế độ tỷ giá hối đoái được điều chỉnh theo hướng chú trọng
đến các quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Chính vì thế việc tìm
hiểu chế độ tỷ giá hối đoái và diễn biến tỷ giá hối đoái tại Việt Nam giai đoạn 1999 –
nay là việc cần thiết, góp phần củng cố và bổ sung thêm kiến thức cho bài học môn Tài chính quốc tế. 1
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ 1.1. Khái niệm
Chế độ tỷ giá hối đoái là loại hình tỷ giá được các quốc gia lựa chọn áp
dụng, bao gồm các quy tắc xác định, phương thức mua bán, trao đổi giữa
các thể nhân và pháp nhân trên thị trường ngoại hối. 1.2.
Phân loại – ưu nhược điểm
1.2.1. Chế độ tỷ giá được phân loại dựa trên công bố
Tùy vào mức độ can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối, chế độ tỷ
giá được chia thành ba loại cơ bản: chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả
nổi và chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. a)
Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Chế độ tỷ giá hối đoái cố định là một chế độ tỷ giá hối đoái mà trong đó nhà
nước sẽ duy trì tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nước mình với một đồng tiền
nào đó hoặc theo một rổ các đồng tiền nào đó ở một mức cố định không đối. Ưu điểm:
Các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giả,
từ đó thúc dấy dầu tư và thương mại quốc tế.
Cơ chế tỷ giá hối đoái cổ định dặt ra sự tuân thủ với chính
sách tiền tệ có thể được coi là phù hợp trong tình huống các công cụ
tài chính và thị trường tài chính chưa phát triển đủ sức cho sự vận
hành của chính sách tiền tệ hoạt động theo cơ chế thị trường. Nhược điểm:
Đồng tiền không thể hiện giá trị thị trường thực của chúng
nên che mắt những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động dùng hướng.
Tạo ra những hạn chế đối với chính sách tiền tệ trong nước:
do tỷ giá cổ định nên không khuyến khích sự luân chuyển vốn vào
hay ra khỏi quốc gia và do đó không cần sự can thiệp của Nhà nước.
Ngoài ra chính sách tiền tệ trong nước còn phụ thuộc vào chính sách 2
tiền tệ của quốc gia khác do việc gần đồng bản tệ vào một hay một số đồng ngoại tệ.
Nhà nước cần phải duy trì một nước nhất định về dự trữ ngoại
hối, như vậy chi phí quản lý tài sản sẽ rất tốn kém. Hơn nữa, nhiều
nước có thể mất sạch dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ đồng tiền
của mình chứ không chịu để nó mất giá. b)
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn
Chế độ tỷ giá hối đoái thủ nổi hoàn toàn là chế độ mà trong đó tỷ giá hối
đoái được xác định và vận động một cách tự do theo quy luật của thị
trường, trực tiếp là quy luật cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ.
Ưu điểm: thị trường ngoại hối có tính minh bạch cao và hoạt động hiệu quả hơn.
Nhược điểm: thị trường luôn có rủi ro và bị méo mó, do vậy không bao giờ
đạt dược hiệu quả như mong đợi, nhiều khi quả tài và sẽ dẫn đến tỷ giá hối
đoái ở mức không phù hợp với các chỉ số kinh tế cơ bản khác của nền kinh tế. c)
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nối có điều tiết
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết là chế độ tỷ giá hối đoái về cơ bản
hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, nhưng Nhà nước
có sự theo dõi, quản lý và can thiệp khi cần thiết nhằm tránh những cú sốc
về tỷ giá, hạn chế những biển động quá mức của thị trường. Với cơ chế này,
Nhà nước sẽ để ra một biên độ dao động cho phép của tỷ giá, nếu tỷ giá
biến động vượt quá biên độ đó Nhà nước sẽ can thiệp.
Đặc trưng của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết:
Tỷ giá hối đoái được xác định và thay đổi hoàn toàn tùy thuộc
vào tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường, nhưng tương đối ổn
định. Ở chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết, các ưu điểm của tỷ
giá thà nổi về cơ bản được tận dụng và những nhược điểm thì được khắc phục.
Từ đây có thể rút ra những ưu và nhược điểm của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết: 3 Ưu điểm:
Cho phép Nhà nước thực hiện một chính sách tiền tệ độc lập,
vừa theo quy luật cung cầu thị trường, vừa phát huy vai trò quản lý,
điều tiết hoạt động của Nhà nước để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế. Nhược điểm:
Biến động tỷ giá trên thị trường còn tùy thuộc vào tầm nhìn
của các nhà điều hành chính sách khi định giá các biến số, do đó thị
trường rất khó có những dự báo đúng về xu hướng vận động của tỷ giá.
Can thiệp chủ quan của các nhà điều hành chính sách lên tỷ
giá đôi khi sui lệch và gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai
chế độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói rằng chế độ tỷ giá thả nổi
tốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn
toàn vì nó quá bất ốn định. Tuy chế độ tỷ giá cố định tạo ra sự ổn định, song
việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cổ
định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chính sách này làm cho
chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít nước trên
thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cổ định. Hầu hết các đồng tiền trên
thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng Chính phủ sẽ can thiệp để tỷ
giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường.
1.2.2. Các chế độ tỷ giá dựa trên phân loại của IMF:
Theo công bố có ba nhóm chế độ tỷ giá cơ bản. Tuy nhiên, theo thống kê
của IMF, trên thế giới hiện nay hình thành nhiều chế độ tỷ giá khác nhau từ
sự kết hợp ba nhóm chế độ tỷ giá trên:
Bảng 1.1: hệ thống chế độ tỷ giá theo phân loại IMF STT Chế độ tỷ giá Đặc điểm, nội dung Số quốc gia 4 1.
Chế độ tỷ giá không Quốc gia này sử dụng đồng tiền của một 10 có đồng tiền pháp
nước khác trong lưu thông như là một đồng định riêng
tiền pháp định duy nhất. Quốc gia này là
thành viên của một liên minh tiền tệ, trong
đó các nước thành viên thống nhất sử dụng
một đồng tiền pháp định chung. 2.
Chế độ bản vị tiền tệ Quốc gia này sử dụng đồng tiền của một 13
nước khác trong lưu thông như là một đồng
tiền pháp định duy nhất. Quốc gia này là
thành viên của một liên minh tiền tệ, trong
đó các nước thành viên thống nhất sử dụng
một đồng tiền pháp định chung. 3. Chế độ tỷ giá cố
Chính phủ neo đồng tiền của mình (một 68 định thông thường
cách chính thức hay ngầm định ) với một
đồng tiền hay một rổ các đồng tiển tại một
mức tỷ giá cố định, đồng thời cho phép tỷ
giá dao động trong một biên độ hẹp không
quá 1% xung quanh tỷ giá trung tâm. 4. Chế độ tỷ giá cố
Chính phủ neo đồng tiền của mình (một 3 định có biên độ dao
cách chính thức hay ngầm định) với một động rộng
đồng tiền chính hay một rổ các đồng tiền tại
một mức tỷ giá cố định, đồng thời cho phép
tỷ giá dao động trong một biên độ rộng hơn
1% xung quanh tỷ giá trung tâm. 5. Chế độ tỷ giá cố
Định kỳ, tỷ giá trung tâm sẽ được điều 8 định trượt chỉnh:
Hoặc là theo một tỷ lệ nhất định đã được thông báo trước.
Hoặc để phản ánh những thay đổi trong một
số chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn. 6. Chế độ tỷ giá cố
Tỷ giá dao động trong một biên độ nhất 2
định trượt có biên độ định xung quanh tỷ giá trung tâm.
Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh định kỳ
( giống chế độ tỷ giá cố định trượt) 7.
Chế độ tỷ giá thả nổi Chính phủ tác động lên tỷ giá thông qua 44 có điều tiết không
hành động can thiệp tích cực trên thị trường thông báo trước
ngoại hối, nhưng không có bất cứ một sự
thông báo trước hay một cam kết nào về
hướng và mức độ can thiệp lên tỷ giá. 8.
Chế độ thả nổi độc
Tỷ giá được xác định theo thị trường, chính 40 lập
phủ không can thiệp vào xu hướng vận động của tỷ giá. 5
Nguồn: website quỹ tiền tệ quốc tế IMF, tổng hợp từ bài viết “De Facto
Classification of Exchange Rate Regimes and Monetary Policy Frameworks", ngày 31/4/2008
Theo đó, hiện tại Việt Nam được IMF đánh giá là thuộc nhóm chế độ tỷ giá
cố định thông thường – là chế độ được nhiều nước sử dụng nhất (68 nước). 1.3.
Căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá
Có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm mục tiêu kinh tế của
quốc gia, tình hình thị trường ngoại hối, cũng như các yếu tố chính trị và xã hội.
Mục tiêu kinh tế: Chế độ tỷ giá có thể được lựa chọn dựa trên mục
tiêu kinh tế như tăng trưởng GDP, kiểm soát lạm phát, cân đối thanh toán
quốc tế, và cung cầu lao động. Chẳng hạn, một quốc gia có thể chọn tỷ giá
cố định để ổn định giá cả hoặc tỷ giá thị trường để tận dụng sự linh hoạt.
Tình hình thị trường ngoại hối: Sự ổn định hoặc biến đổi của thị
trường ngoại hối cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn chế độ tỷ giá. Nếu quốc
gia gặp khó khăn trong việc duy trì một tỷ giá cố định ổn định, họ có thể
xem xét chuyển đổi sang tỷ giá thị trường.
Yếu tố chính trị và xã hội: Các quyết định về chế độ tỷ giá có thể còn
phụ thuộc vào yếu tố chính trị và xã hội, bao gồm sự ổn định chính trị, tỷ lệ
thất nghiệp, và ảnh hưởng của các đối tác thương mại quốc tế.
Quá trình lựa chọn chế độ tỷ giá thường rất phức tạp và đòi hỏi sự
cân nhắc kỹ lưỡng đối với tất cả các yếu tố trên. 6
PHẦN II: CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ VÀ DIỄN BIẾN TỶ GIÁ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1999 – NAY
2.1. Giai đoạn 1999 – 2006
Việt Nam được IMF xếp trong nhóm các nước theo cơ chế neo tỷ
giá. Tỷ giá hối đoái của Việt Nam được neo giữ với đồng đôla Mỹ, do Ngân
hàng Nhà nước công bố bắt đầu từ bước tiến vào tháng 2/1999. Tỷ giá mà
các ngân hàng thương mại giao dịch với nhau nằm trong biên độ dao động
cho phép với tỷ giá hối đoái chính thức. Bên cạnh tỷ giá chính thức và tỷ
giá liên ngân hàng còn có tỷ giá trên thị trường tự do được hình thành trên
cơ sở các giao dịch ngoại tệ phi chính thức.
Chính vì cơ chế neo tỷ giá cố định với đồng USD nên khi lạm phát ở
Việt Nam cao hơn ở Mỹ dẫn đến tỷ giá hối đoái thực giảm, đồng VNĐ lên
giá so với đồng USD. (nguồn Lê Thế Sơn, Ước lượng tỷ giá hối đoái cho kinh tế Việt Nam)
Trong giai đoạn 1999 – 2006, biên độ được xuất hiện lần đầu vào
1999 với 0.1% và được tháng 6/2002 nhằm tăng tính linh hoạt cho tỷ giá tử
± 0.1% lên ± 0.25%, biên độ này vẫn được giữ kéo dài đến cuối năm 2006.
Biểu đồ 2.1: diễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại Việt Nam từ 1999-2005 Nguồn: IMF
Giai đoạn 1999 – 2005 tỷ giá BQLNH được giữ xoay quanh mức
13,943 VND/USD lên mức 15,859 VND/USD. Tính chung cả năm 2002,
giá USD tăng 2,1%. Năm 2003, với 9 tháng đầu tăng nhưng ở mức thấp,
trung bình chỉ tăng 1%, sang 3 tháng sau tốc độ tăng cao, tỷ giá cả năm 7
cũng tăng theo 2,2%. Giá bình ổn, tăng nhẹ trong giai đoạn 2004, 2005 với
mức 0,4%. Năm 2006 vẫn bình ổn, tỷ giá BQLNH cả năm tăng 1.42%.
Ngoài ra, chính sách tỷ giá thời kỳ này cũng có những điều chỉnh
theo hướng tự do hóa, phù hợp tình hình kinh tế trong nước và phù hợp với
thông lệ quốc tế. Cụ thể năm 2003, tỷ lệ kết hồi giảm từ 30% xuống hằng
0%. Năm 2004, kỳ hạn các giao dịch ngoại hối được nới rộng: từ 3 đến 365
ngày thay vì từ 7 đến 180 ngày như trước đây. Năm 2005, đánh dấu một cột
mốc quan trọng trong lĩnh vực quản lý ngoại hối ở Việt Nam đó là sự ra đời
của Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005.
Trong giai đoạn 1999 - 2006, tỷ giá BQLNH được điều chỉnh tăng
với một mức độ rất nhỏ qua các năm và luôn bị kiềm cặp bởi một biên độ
giao dịch quả nhỏ, điều này dẫn đến tỷ giá không linh hoạt, có thể gây ra
bất lợi, như nếu trong một ngày giao dịch nào đó, tình hình thị trường có
những đột biến về cung cầu nhưng do bị ràng buộc bởi biên độ với tỷ giá
bình quân của ngày giao dịch gần nhất trước đó, chắc chắn sẽ làm cho giao
dịch trên thị trường của ngày hôm đó bị đình trệ, đóng băng. Từ đó sẽ tác
động tiêu cực trở lại đến các giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng và lại tiếp tục tác động xấu đến các giao dịch trên thị trường của ngày
giao dịch kế tiếp, dẫn đến một sự khủng hoảng thị trường. Vì thế, so với các
nước trong khu vực và trên thế giới, thị trường ngoại hối của Việt Nam còn
nhỏ bé, mở nhạt và kém sôi động.
2.2. Giai đoạn 2007 – 2010
Trong giai đoạn này, nước ta chịu nhiều biến động bởi thị trường
quốc tế bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối 2007 và kéo dài đến 2009.
Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 07/11/2016 đã thu hút nguồn
cung ngoại tệ dồi dào cho năm 2007, dẫn tới cung ngoại tệ lớn hơn cầu
ngoại tệ. USD giảm giá, tỷ giá giảm; Các NHTM phải mua bán ngoại tệ ở
mức giá bằng nhau và đều ở mức thấp nhất cho phép. Bên cạnh các nghiệp
vụ thị trường mở để ổn định tỷ giá, với mục tiêu kiểm giữ lạm phát, NHNN
đã điều chỉnh nâng biên độ, từ ± 0.25% lên mức ±0.5% (ngày 2/1/2007) 8
Bước vào khủng hoảng, nhằm giảm áp lạm phát tăng tính chủ động
cho các tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, NHNH đã
nâng biên độ điều chỉnh qua nhiều lần từ ±0,5% lên ±5%
Bảng 2.1: điều chỉnh biên độ tỷ giá từ 2007-2010 Thời gian Biên độ dao động - Từ 25/12/07 -09/03/2008 0,75% - Từ 10/3/08 – 26/06/2008 1% - Từ 27/6/08-6/11/2008 2% - Từ 7/11/08- 23/3/2009 3% - Từ 24/3/09-30/11/2009 5 % - Từ 26/11/09 – 10/2/2011 3%
Nguồn: các quyết định của NHNN Việt Nam
Tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng năm 2007 tương đối
ổn định, cá năm chỉ tăng 0.08% Tỷ giá USD/VND dao động từ 16,165 (2/1)
xuống 16,114 (10/10) và sau khi nâng biên độ lần 2 tỷ giá tụt mất hơn 100
VND/USD, chỉ còn 15,995-16,000 VND/USD.
Năm 2008 được giới phân tích tài chính coi là "năm bất ổn của tỷ
giá" với những biến động tỷ giá rất phức tạp. Trong 6 tháng đầu năm tỷ giá
liên tục giảm dưới mức sàn, cụ thể: tỷ giá USD/VND trên thị trường liên
ngân hàng (LNH) sụt giảm tới mức thấp nhất là 15.560 VND/USD, trên thị
trường tự do (TTTD), USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 VND/USD.
Nhưng sau đó tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6,
đỉnh điểm lên đến 19.400 VND/USD vào ngày 18/06 sau đó dịu lại. Trong
6 tháng cuối năm tỷ giá giảm dần và dần đi vào bình ổn nhưng sau đó lại tăng trở lại.
Những bất ổn về tỷ giá trong năm 2008 có nguồn cơn từ những tác
động của chính sách thắt chặt tiền tệ trong năm, làm cho lãi suất cơ bản
tăng dẫn đến sự chênh lệch lớn về lãi suất giữa USD và VND. Các nhà đầu
tư cũng như người dân chuyển qua nắm giữ VND, các NHTM lúc này cũng
đẩy mạnh bán USD. Những tác động trên tất yếu làm cho tỷ giá giảm. Tuy
vậy, tỷ giá đã nhanh chóng tăng lại sau đó là do khi mặt bằng lãi suất nội tệ
quá cao trong khi tỷ giá USD lại ở mức thấp và lãi suất vay USD lại không
biến động nhiều nên nhu cầu mua ngoại tệ của các DN xuất nhập khẩu tăng 9
cao. Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và
quốc tế. Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam khi lo ngại
về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản thấp trên thị trường thế
giới đẩy nhu cầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao. Cung ngoại tệ thấp
do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất
khẩu. Chính những nguyên nhân trên khiến cho tỷ giá tăng mạnh trở lại như vậy.
Động thái chính sách: khi tỷ giá giảm NHNN không thực hiện mua
ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông mà tăng biên độ tỷ
giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008. Khi tỷ
giá tăng đột biến NHNN nới biên độ từ 1% lên ±2% (27/06/2008) và kiểm
soát chặt các bàn thu đổi. Đến cuối năm 2008, NHNN tăng biên độ tỷ giá từ
2% lên 3% (7/11/2008) làm tỷ giá tăng lên mức 17.440 VND/USD. Nhờ có
sự can thiệp hợp lý của NHNN mà tỷ giá được điều chỉnh ở mức ổn định.
Biểu đồ 2.2: diễn biến tỷ giá danh nghĩa VND/USD 2006 – 2008
Dư âm năm 2008 khiến tỷ giá 2009 vẫn có xu hướng tăng. Từ tháng
1 đến tháng 3: tỷ giá LNH dao động trong khoảng 17.450 – 17.700
VND/USD, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 đồng, còn tỷ giá trên TTTD cao
hơn tỷ giá LNH khoảng 100 đồng. Từ tháng 4 đến tháng 9: tỷ giá trên 2 thị 10
trường dao động trong khoảng 18.180 – 18.500 VND/USD. Từ tháng 10
đến 25/11/2009: biến động tỷ giá rất dữ dội từ 18.545 – 19.300VND/USD,
có lúc đạt đỉnh 20.000 VND/USD trên TTTD và 19.750 VND/USD trên thị
trường LNH. Tháng cuối của năm 2009 tỷ giá bắt đầu giảm về quanh mức 18.500 VND/USD.
Tỷ giá liên tục tăng như vậy chủ yếu là do sự găm giữ ngoại tệ,
nguồn cung trở nên khan hiếm. Người dân găm giữ ngoại tệ chờ ngoại tệ
lên giá. Các doanh nghiệp có ngoại tế bởi ảnh hưởng của tác động của
chính sách hỗ trợ lãi suất nên có xu hướng không muốn bán ngoại tệ và chỉ
muốn vay tiền đồng. Sau một khoảng thời gian tỷ giá liên tục tăng như vậy
thì ở tháng cuối năm tỷ giá đã giảm dần và dần đi vào ổn định đó là kết quả
của việc can thiệp của NHNN 2 lần từ mức ±3% lên mức ±5% vào
29/03/2009 và lại giảm xuống ±3% vào 26/11/2009, với giữ nguyên lãi suất
cơ bản của VND là 7% cùng với những biện pháp của chính phủ đã làm
giảm áp lực ngoại tệ, ổn định tỷ giá.
Biểu đồ 2.3: Diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2008-2009 Nguồn NHNN
Duy trì tình trạng cuối năm 2009, những tháng đầu năm 2010 tỷ giá
vẫn được giữ ở mức như cuối năm 2009 có lúc giảm nhẹ. Nhưng ở những
tháng cuối năm tỷ giá lại tăng lên. Bất ngờ đầu tiên đáng chú ý của thị
trường ngoại hối năm 2010 là vào ngày 28/4/2010, tỷ giá trên TTTD lần
đầu tiên đã thấp hơn mức tỷ giá niêm yết của các NHTM. Và tỷ giá do các
NHTM niêm yết trong thời gian này cũng luôn thấp hơn mức trần cho phép 11
của NHNN, đứng ở mức 18.950 – 18.970 VND/USD. Trước sức ép của thị
trường, tháng 8/2010, NHNN buộc phải tăng tỷ giá bình quân LNH thêm
2,1%, lên mức 18.932 VND/USD. Cuối tháng 11, tỷ giá tăng vọt lên mức
21.380 – 21.450 VND/USD, trên TTTD tỷ giá vượt qua mức 21.500
VND/USD. Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chợ đen so với tỷ giá chính
thức đến 10%. Đây là mức chênh lệch cao nhất trong lịch sử tài chính Việt Nam từ năm 1990. 2.3. Giai đoạn 2011-2015
Trong giai đoạn 2011 – 2015, lạm phát đã được kiểm soát, kinh tế vĩ
mô dần ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế về cơ bản được bảo đảm.
Trong đó, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011
xuống còn khoảng 2% vào năm 2015, thấp nhất trong 15 năm qua. Mặt
bằng lãi suất cũng giảm, năm 2015 chỉ bằng 40% so với năm 2011; dư nợ
tín dụng tăng 17%, cao nhất kể từ năm 2011, chất lượng tín dụng từng bước
được cải thiện. Tỷ giá được điều chỉnh phù hợp, thị trường ngoại hối cơ bản
ổn định, khắc phục một bước quan trọng tình trạng đô-la hoá, vàng hoá trong nền kinh tế.
Những bước tiến tích cực trong giai đoạn này có thể kể đến sự hiệu
quả của chính sách tiền tệ: điều hành lãi suất linh hoạt, bám sát mục tiêu
bao trùm của CSTT, đảm bảo là công cụ để neo kỳ vọng lạm phát, ổn định
tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Biểu đồ 2.4: diễn biến lãi suất điều hành 2011-2015
Lạm phát ở mức thấp, từ 18,13% (năm 2011) còn khoảng 2% (năm
2015); Hàng năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá 12
giao động trong khoảng 1%-3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1%
trong các tháng cuối năm 2011, không quá 2%-3% trong năm 2012 và
2013; không quá 1%-2% trong năm 2014, không quá 2% trong năm 2015)
nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường, đồng thời tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh
doanh. Tần suất điều chỉnh tỷ giá cũng giảm dần so với giai đoạn trước. Sau
lần điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng 9,3%/năm vào giữa
tháng 2/2011 (trong bối cảnh thị trường ngoại tệ căng thẳng kéo dài do tác
động của giá vàng thế giới và lạm phát tăng cao), mỗi năm tiếp theo tỷ giá
được điều chỉnh tăng nhẹ qua các năm (1%-2%/năm), ngoại trừ năm 2015
sau sự kiện phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và kỳ vọng điều
chỉnh tăng lãi suất điều hành của Fed.
Biểu đồ 2.5. diễn biến tỷ giá USD/VND 2011-2015
2.4. Giai đoạn 2016 – nay: sự góp mặt của “tỷ giá trung tâm”
Trải qua năm 2015 với nhiều sóng gió trên thị trường quốc tế,
NHNN đã có nghiên cứu và hoàn thiện cách thức điều hành tỷ giá đó là tỷ
giá trung tâm thay cho tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Về cơ chế hoạt
động: tỷ giá trung tâm sẽ tham chiếu diễn biến tỷ giá trên thị trường liên
ngân hàng trong nước và tỷ giá các đồng tiền trên thị trường quốc tế, sẽ
thay đổi linh hoạt hằng ngày theo diễn biến thị trường. Với cơ chế mới, thị
trường linh hoạt, thích ứng tốt hơn và đặc biệt tỷ giá có thể biến động cả hai
chiều tăng/giảm chứ không phải một chiều như trước đây. 13
Trong 10 tháng đầu năm 2016, NHNN đã mua ngoại tệ ở mức 1USD
= 22.300 đồng để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước, tỷ giá USD/VND
giao dịch trên thị trường nhìn chung ổn định trên mặt bằng mới thấp hơn
khoảng 200 đồng so với tỷ giá cuối năm 2015, tỷ giá trung tâm đến cuối
tháng 10 chỉ tăng 0,68% so với cuối năm 2015.
2 tháng cuối năm, trong nước xuất hiện tin đồn vô căn cứ việc
NHNN sắp đổi tiền khiến một bộ phận người dân đổ đi mua đô la Mỹ và
vàng khiến tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh, tiếp theo đó là kỳ vọng
Fed tháng 12 khiến đồng USD có xu hướng tăng giá từ tháng 10, đặc biệt
sau khi ông Donald Trump đắc cử với kế hoạch tăng chi tiêu ngân sách Mỹ
thúc đẩy Fed thắt chặt chính sách tiền tệ nhanh hơn nữa khiến giá USD đã
tăng đến 3,7% kéo theo sự sụt giảm của hàng loạt đồng tiền của các nước mới nổi.
Trước tình hình trên, NHNN đã có những biện pháp kịp thời như
tăng cường công tác tuyên truyền bác bỏ tin đồn vô căn cứ, điều chỉnh tỷ
giá trung tâm linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường trong và ngoài
nước. Các công cụ chính sách tiền tệ cũng được phối hợp đồng bộ, kịp thời
nhằm giảm bớt áp lực trên thị trường ngoại tệ.
Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ của NHNN, mặc dù tỷ giá
USD/VND tăng theo xu hướng thế giới nhưng mức biến động không lớn so
với các đồng tiền trong khu vực và vẫn thấp hơn tỷ giá trần cho phép 50
đồng. Đến cuối năm 2016, cả tỷ giá trung tâm và tỷ giá thị trường chỉ tăng
1,2% so với cuối năm 2015
Biểu đồ 2.6: diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2016 14
Năm 2017, thị trường ngoại hối lặng sóng, tỷ giá USD/VND khá ổn
định. Nguyên nhân là do đồng USD mất giá trên thị trường quốc tế (chỉ số
USD Index giảm khoảng 9,1%) do tác động của chính sách chống thâm hụt
thương mại của ông Donal Trump, niềm tin vào VND và sự ổn định vĩ mô
ngày càng tăng cao. Tính đến tháng 12/2017, tỷ giá trung tâm ước tính tăng
khoảng 1,5%-1,7% so với đầu năm. Trong khi đó tỷ giá tại ngân hàng
thương mại giảm khoảng 0,2%, tỷ giá trên thị trường tự do giảm khoảng 1,5% so với đầu năm.
Năm 2018, 2019 thị trường tương đối ổn định
Tháng 1/2018 NHNN đã chính thức thực hiện chính sách tiền tệ và
đảm bảo hoạt động, mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, tăng cường ổn định
vĩ mô cho đến năm 2020, gia tăng sự chông chịu của NHNN trước sự biến
động của thị trường quốc tế. Chính sách tiền tệ cùng với sự kiểm soát tốt
của NHNN đã giữ cho thị trường Việt Nam tương đối ổn định.
Chỉ trong năm 2018 FED đã tăng lãi suất USD 4 lần, cùng với đó là
áp lực đến từ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, khiến USD có xu hướng
tăng, trong khi đó tỷ giá tại Việt Nam vẫn được duy trì ổn định. Đến cuối
năm 2018, tỷ giá trung tâm ở mức 22,825 VND/USD, tăng 1,78% so cuối
năm 2017. Mức tỷ giá giao động trong khoảng 22,818 – 23,510 VND/USD.
Tỷ giá VND/USD của NHTM ở mức 23,288, tăng 2,59% so với cuối năm 15
2017, tỷ giá trên thị trường tự do ở mức 23,337, tăng 2,6% so với cuối năm 2017.
Thị trường ổn định đến năm 2019. Trong năm, tỷ giá trung tâm
USD/VND đã có 3 lần lập đỉnh mới. Lần đầu tiên, khi tỷ giá trung tâm
USD/VND vượt qua mốc 22,998 đồng, lên mức 23,004 đồng từ cuối tháng
4. Sau đó, tỷ giá trung tâm biến động nhưng vẫn trong kênh tăng, và đạt
mốc mới thứ hai tại 23,115 đồng vào đầu tháng 8. Mốc cuối cùng được lập
trong năm 2019 chạm mức 23,169 đồng vào cuối tháng 12, tăng 344 đồng,
tương đương tăng 1.5% so với đầu năm 2019.
Biểu đồ 2.7: diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2019
Từ năm 2020-2022, cú sốc từ đại dịch Covid 19 khiến thị trường
càng biến động mạnh. Năm 2020 cầu USD tăng cao, nguồn cung tại Mỹ thì
lại khan hiếm, tạo nên cơn sốt USD. Trong bốn tháng đầu năm là sự leo dốc
của tỷ giá trung tâm lên mức 23,245 VND/USD (25/02), tiếp tục leo dốc
mới 23,272 VND/USD (24/04). Giá tại ngân hàng giao động ở mức giá mua
USD tại ngân hàng dao động 23,075-23,300 VND/USD cho giá mua, và giá
bán trong khoảng 23,230-23,510 VND/USD. Trên thị trường tự do, giá mua 16
vào dao động ở mức 23,170-23,450 đồng/USD và giá bán dao động 23,180- 23,500 đồng/USD.
Trong khi trước đây, giá bán USD trên thị trường tự do luôn thấp hơn
tại ngân hàng thì giờ đây đảo chiều cao hơn hẳn. Cũng vì vậy, để bình ổn tỷ
giá, vào ngày 24/03/2020, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh tỷ
giá bán USD tại Sở giao dịch NHNN với tỷ giá mua – bán ở mức 23,175-
23,650 đồng/USD, giữ nguyên giá mua vào và giảm giá bán 257 đồng
(tương đương hơn 1%) so với mức công bố hôm 23/03. Như vậy, mức giá
bán tại Sở giao dịch NHNN rẻ hơn so với các ngân hàng thời điểm đó khoảng 100 đồng.
Năm 2021, tỷ giá trung tâm VND/USD chỉ tăng nhẹ 0,1%, trong khi
tỷ giả giao dịch trên thị trường liên ngân hàng giảm khoảng 1.6% so với đầu năm.
Trên thị trường tự do, tỷ giả của đồng Việt Nam so với đồng USD
tăng +-0.5% do chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục nới rộng.
Trong năm 2021, NHNN đã có 3 lần điều chỉnh giảm giá mua vào
USD. Cụ thể, ngày 08/06/2021 giảm 150 đồng/USD, đến ngày 11/08/2021
thay đổi từ mua kỳ hạn 6 tháng sang mua giao ngay, đồng thời giảm giá
mua 225 đồng/USD. Lần 3 giảm giá mua USD thêm 100 đồng USD vào
ngày 05/11/2021, xuống còn 22,650 đồng USD.
Việc điều chỉnh giảm giá mua vào là hệ quả tất yếu trong bối cảnh tỷ
giả trung tâm lần giả bán ra của NHNN và giá USD trên thị trường liên
ngân hàng giảm so với đầu năm.
Năm 2022, thị trường quốc tế lại có những biến động tiêu cực trước
chiến tranh Nga – Ukraine, Fed tăng lãi suất điều hành 3 lần chỉ trong 6
tháng đầu năm 2022; mức tăng lãi suất ngày 15/6 (0,75 diêm %) lớn nhất
trong vòng 28 năm qua và tiếp tục thực hiện việc thắt chặt chính sách tiền tệ.
Trước sức ép liên tục gia tăng. NHNN đã phải bán ra lượng lớn
ngoại tệ từ dự trữ ngoại hồi để ổn định thị trường. Trong 9 tháng đầu, lượng 17
ngoại tệ mà NHNN đưa ra can thiệp đã vượt ngưỡng 20 tỷ USD, tương
đương hơn 20% tổng dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên vẫn không kiểm soát
được, tỷ giá vẫn liên tục leo thang đến 24,900 VND/USD, đưa mức mất giá
của tiền Đồng kể từ đầu năm lên 8,6% - cao nhất trong nhiều năm qua. Tỷ
giá trung tâm dao động quanh mức 23.077-23.185 đồng vào 2 quý đầu và
tăng lên 23.703 VND - mức cao nhất trong 2 năm trở lại đây vào quý 3.
Trung bình tỷ giá trung tâm cho cả năm 2022 xấp xỉ khoảng 23,390 đồng
với mức dao động từ 23.077-23.703 đồng.
Từ đầu năm 2023 đến nay
Sau khi tăng mạnh trong tháng 9, 10 năm 2022, tỷ giá đã giảm khá
mạnh trước khi ổn định trở lại quanh mức giá mua vào của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (NHNN) là 23.450 đồng/USD, vào cuối quý I/2023. Bước
sang đầu quý II, tỷ giá biến động nhẹ.
Theo NHNN, tỷ giá giữa đồng Việt Nam với USD trong suốt quý II
năm nay dao động trong biên độ hẹp, trong khoảng 23.610-23.755
đồng/USD, tăng 0,4% so với cuối năm 2022. Trong bối cảnh nền kinh tế
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, 6 tháng đầu
năm 2023 NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng chủ động, linh hoạt.
Tỷ giá trung tâm giữa USD và VND vẫn được giữ ở mức ổn định. (nguồn kinh tế và đô thị).
Biểu đồ 2.8: diễn biến tỷ quá NQLNH USD/VND 6 tháng đầu năm 2023 18
Đến quý III, tỷ giá có thời điểm chạm ngưỡng 24.600 VND/USD ở
chiều bán ra, tăng 3,7% so với đầu năm và tăng 1,1% so với “đỉnh” cuối
năm 2022, nhằm giảm bớt áp lực lên tỷ giá, cuối tháng 9, Ngân hàng Nhà
nước đã kích hoạt trở lại hoạt động phát hành tín phiếu sau khi tạm dừng từ đầu tháng 3-2023.
Trong tháng 10/2023, tỷ giá USD/VND biến động khá mạnh, có thời
điểm tiệm cận gần 24.600, tăng gần 300 điểm so với thời điểm cuối tháng 9
và tăng 4,1% so với đầu năm. Đến thời điểm cuối tháng 10, tỷ giá
USD/VND đã “hạ nhiệt”.
Các chuyên gia VNDirect nhận định: Áp lực tỷ giá USD/VND đang
dần hạ nhiệt trong bối cảnh quan điểm về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ (FED) đã bớt diều hâu. Trong cuộc họp vào đầu tháng 11,
FED tiếp tục giữ nguyên lãi suất điều hành trong phạm vi mục tiêu 5,25-
5,5%, đánh dấu lần thứ hai liên tiếp FED giữ nguyên lãi suất điều hành sau
nhiều đợt tăng kéo dài trước đó.
Có thể, trong những tuần cuối của năm 2023, tỷ giá USD/VND liên
ngân hàng sẽ ở thế “giằng co” quanh khoảng 24.250 - 24.450 với một số
yếu tố tác động. Cụ thể như môi trường quốc tế vẫn ẩn chứa nhiều yếu tố bất định lớn. 19