

















Preview text:
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CHĂM VÀ TÍN NGƯỠNG CỦA HỌ 1.1.
Nguồn gốc của dân tộc Chăm và vị trí của họ ở Việt Nam
Người Chăm, người Chăm Pa hay còn gọi là người Chàm,... có nguồn gốc
từ một nhóm chủng tộc Austronesia (người Nam Đảo). Họ có trình độ phát
triển kinh tế, xã hội khá cao và cũng là dân tộc duy nhất trong số các dân
tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo, đã từng có một nhà nước tồn tại lâu dài với
những thành tựu to lớn về văn hoá. Hiện nay, dân tộc Chăm là một trong
những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngoài hai tỉnh Bình Thuận và Ninh
Thuận là nơi có dân số người Chăm đông đảo, họ còn sinh sống ở các tỉnh
miền Đông Nam Bộ, Miền Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh. Nền
kinh tế chủ yếu của người Chăm là nông nghiệp lúa nước. Ngoài ra, họ còn
được biết đến với các nghề truyền thống như chế tác đồ gốm, dệt may, và
nghề đóng thuyền nổi tiếng.
Về tôn giáo, người dân tộc Chăm có sự đa dạng với hai tôn giáo chính là
Hồi giáo và Hindu. Dựa vào tôn giáo, người ta phân dân tộc Chăm ở Việt Nam thành bốn nhóm:
Chăm Bà La Môn, Chăm Bà Ni, Chăm Islam, Chăm H'roi. Nhóm Chăm Bà La Môn
và Bà Ni tập trung ở duyên hải miền trung, chủ yếu là hai tỉnh Bình Thuận
và Ninh Thuận, hai nhóm này theo tôn giáo Bà La Môn. Ngoài ra, nhóm Chăm Bà Ni cũng
chịu ảnh hưởng từ Hồi giáo, đây là kết quả của quá trình giao thoa văn hóa
và tôn giáo giữa người Chăm và người Ả Rập từ thế kỷ thứ IX trở đi. Sự
giao thoa này đã tạo nên một tôn giáo độc đáo kết hợp các yếu tố của đạo
Hồi và tôn giáo truyền thống Chăm. Chăm Bà Ni theo tôn giáo Bà La Môn
vẫn giữ một số đặc trưng của đạo Hồi, bao gồm việc tôn thờ một vị thần
nữ và sử dụng tiếng Ả Rập trong các nghi lễ và cầu nguyện. Sự kết hợp
này đã làm cho tôn giáo Bà La Môn trở thành một phần của hệ thống tôn
giáo Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á. Tiếp đến là nhóm Chăm H'roi
sống ở Bình Định, Phú Yên, họ theo tín ngưỡng nguyên thuỷ và có nhiều
nét tương đồng với dân
tộc Ba Na, Ê Đê sinh sống khu vực xung quanh. Phần còn lại là nhóm
Chăm Islam, họ sinh sống ở Thành phố TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Nai, Tây Ninh, bộ phận
này là người Chăm theo Hồi giáo chính thống.
Ảnh 1:Cộng đồng người Chăm ở An Giang đang sinh hoạt.(ảnh: Công Mạo) 1.2.
Sơ lược về người dân tộc Chăm theo đạo Hồi
Theo nhiều nghiên cứu, thời gian Islam giáo du nhập vào Chămpa sớm nhất
là từ thế kỷ IX. Ed Huber đã tìm thấy một đoạn trong Tống sử ghi chép
“Cũng có ở xứ Chàm nhiều trâu sống trên núi. Nhưng người ta không dùng
trâu để cày bừa mà chỉ để tế thần”. Lúc giết trâu để cúng, họ đọc lời cầu
nguyện “Allahu Akbar”, đây là câu kinh để tôn vinh thượng đế Allah của
người Hồi giáo. Ghi chép trên cho thấy rằng Islam giáo xuất hiện rất sớm ở
Chămpa. Dựa trên những nghiên cứu của Dohamide (1962), Nguyễn Văn Hầu
(1963) hay của Phú Văn Hẳn (2001) đều có một nhận định tương đồng cho
rằng bắt đầu từ sự kiện chiến thắng của Đại Việt năm 1471 tôn giáo của
người Chăm có sự chuyển hoá mạnh.
Dưới thời vua Minh Mạng cai trị, một bộ phận người Chăm đã theo chân
vua Pochơn sinh sống tại vùng Biển Hồ (Campuchia) và cư trú dọc theo bờ
sông Mekong. Đến năm 1858, tại Chân Lạp xảy ra biến cố chính trị và
quân sự nên một bộ phận người Chăm đã về An Giang (Châu Đốc ngày
nay), một bộ phận khác cư trú ở Tây Ninh theo ông hoàng Phochecoc. Như
đã nhắc đến ở phần trên, đây chính là bộ phận người Chăm theo Hồi giáo
chính thống, họ tuân thủ hoàn toàn theo năm quy tắc trụ cột của cộng đồng Islam giáo.
Tại Việt Nam đạo Hồi được phổ biến không mấy rộng rãi, hầu hết là
người dân tộc Chăm theo đạo Hồi. Nhưng người Chăm theo đạo Hồi ở Việt
Nam vẫn có một số khác biệt so với đạo Hồi ở Ả Rập. Đầu tiên, xét về
mặt tín ngưỡng, người Chăm theo đạo
Hồi ở Việt Nam thường chỉ theo trường phái Sunni, trong khi đó người
Hồi giáo ở Ả Rập theo hai trường phái là Sunni và Shia. Xét về mặt văn
hóa, người Chăm theo Hồi giáo ở Việt Nam thường có ảnh hưởng từ văn
hoá Đông Nam Á, trong khi đó Hồi giáo ở Ả Rập ảnh hưởng từ nền văn
hóa Ả Rập dẫn đến sự một bài điểm khác biệt trong các nghi lễ và quan
niệm tôn giáo ở hai nơi. Chẳng hạn như người Chăm theo đạo Hồi ở Việt
Nam có truyền thống tổ chức các lễ hội như Năm mới Islam , lễ hội Pô
Naga,...Người Hồi giáo ở Ả Rập cũng có những nghi thức riêng như lễ Hajj, lễ Eid al-Fitr,...
PHẦN 2: THÁNG CHAY RAMADAN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC CHĂM 2.1.
Khái quát về tháng chay Ramadan
Tháng chay Ramadan là một tháng lễ rất quan trọng và mang đậm sắc thái
riêng của đồng bào người Chăm. Ở Việt Nam quen sử dụng cụm từ “
tháng chay Ramadan" nhưng thực chất, đây là tháng mà các tín đồ phải nhịn
ăn uống. Khi những tín đồ trải qua những cơn đói khát, mới nhận thấy được
sự khổ cực của những người nghèo khổ, kém may mắn, từ đó biết thương
xót và chia sẻ với họ.
Theo dương lịch, tháng chay Ramadan thay đổi theo từng năm, không có
ngày thống nhất cụ thể, nó diễn ra vào tháng thứ 9 hàng năm theo lịch âm
của người Hồi giáo và kéo dài suốt một tháng với nhiều lễ hội và nghi thức
truyền thống. Ngày bắt đầu và kết thúc tháng chay được tính dựa trên
phương pháp quan sát mặt trăng. Theo đó, kể từ
lần nhìn thấy trăng đầu tiên trong tháng là ngày bắt đầu của tháng chay và
đến lần nhìn thấy tiếp theo chính là ngày kết thúc. 2.2.
Tháng chay Ramadan trong tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm
Tháng Ramadan được xem là thời gian để người Chăm Islam bày tỏ sự tôn
sùng và kính trọng với thánh Allah. Đây cũng là dịp để họ thực hiện các
hoạt động từ thiện, chia sẻ, thể hiện lòng nhân ái với những người có hoàn
cảnh khó khăn. Ngoài ra, người Chăm Islam còn có thể tập tính kiên nhẫn
cũng như tự kiểm soát bản thân trước những cơn đói khát và những ham muốn vật chất khác.
Người Chăm Islam tổ chức tháng Ramadan vào hai ngày lễ chính: một vào
ngày hôm trước khi bắt đầu nhịn chay và một khi kết thúc. Tại các thánh
đường, họ sẽ tiến hành lễ “nhập chay” bằng cách cầu nguyện. Sau đó,
người trong xóm sẽ cùng dùng cơm trước khi bước vào lễ Ramadan và
nhịn ăn trong gần một tháng.
Trong suốt tháng chay, vào lúc mặt trời mọc họ không được ăn, uống, hút thuốc, cấm
sử dụng dược phẩm, hoạt động tình dục, thậm chí phải nhổ bớt nước bọt không được
nuốt hết. Ngay cả khi tắm gội, họ cũng phải chú ý không được để nước ngập đến lỗ
tai. Đến khi mặt trời lặn họ được phép xả chay và ăn uống bình thường, đây là thời
gian mà người Chăm lấy lại năng lượng sau thời gian dài nhịn ăn mệt mỏi. Họ sẽ tập
trung tại các thánh đường cầu lễ chiều và cùng nhau thực hiện lễ “xả chay". Do nhịn
đói cả ngày nên họ dùng những thức ăn mềm như cháo gà, cháo bò, trái cây và rau
củ... Trong khoảng thời gian ăn chay, người Chăm chỉ tập trung ăn 2 buổi chính là
Iftar (buổi sáng trước khi mặt trời mọc) và Suhoor (sau khi mặt trời lặn). Trước buổi
Suhoor họ sẽ ăn một quả chà là, vì theo quan niệm của người Hồi giáo ăn chà là trước
bữa xả chay sẽ mang lại điều tốt. Tuy nhiên vẫn có một vài đối tượng như người già
yếu, trẻ em, phụ nữ mang thai, binh lính, người dân lao động nặng hoặc những người
bệnh không cần nhịn ăn trong tháng Ramadan.
Việc ăn chay bắt nguồn từ một nhà tiên tri nổi tiếng Mohammed, tại Ấn
Độ. Trong một lần đi giảng kinh, Ngài đã nói với các đệ tử của mình rằng:
“Để bảo vệ bản thân
khỏi các thế lực tà ác thì nên chú ý tới chế độ ăn uống”. Chính vì câu nói
đó mà người Hồi Giáo đã quy định với nhau rằng chỉ cần nhịn ăn từ lúc
bình minh tới lúc mặt trời
lặn thì có thể bảo vệ mình khỏi những điều tà ác. Đồng thời, người Chăm theo đạo
Hồi thực hiện tháng ăn chay Ramadan vì họ tin rằng việc đó sẽ mang lại
nhiều ý nghĩa. Họ cho rằng, nhịn ăn uống sẽ giúp họ thông cảm với những
đồng đạo, những người không đủ ăn, đủ mặc và những người nghèo đói. Nhịn
ăn còn giúp họ học cách trân trọng lương thực, thực phẩm. Không những vậy,
hành động này nhằm luyện cho con người sự tiết chế, chống lại những cám
dỗ về vật chất, tinh thần với mục đích thuận lợi cho việc sau này lên thiên đàng.
Có thể thấy, việc ăn chay của người Chăm theo đạo Hồi cũng có điểm tương
đồng với người ăn chay theo Phật giáo. Người Hồi giáo và người Phật giáo
ăn chay để bày tỏ lòng tôn trọng với tín ngưỡng của họ. Đối với người
Chăm theo Hồi giáo, họ ăn chay để bày tỏ lòng tôn kính với lời dạy, điều răn
của thánh Allah, còn với Phật giáo họ ăn chay để ôn thiên đức và tu tập theo
lời dạy của đức Phật. Ngoài ra, cả hai đạo đều coi việc ăn chay là dịp để sám
hối và cải thiện tâm hồn, trau dồi đức tin, thể hiện lòng nhân ái đối với mọi người.
Dù cùng bày tỏ lòng tôn kính với tín ngưỡng, nhưng người Chăm theo đạo
Hồi vẫn có những nguyên tắc giữ chay khác với đạo Phật giáo. Họ phải nhịn
ăn suốt thời gian mặt trời mọc vào tháng 9 âm lịch hàng năm theo lịch của
người Hồi giáo. Nhưng các tín
đồ Phật giáo chỉ cần ăn chay vào các ngày đặc biệt như ngày 1 và ngày 15 âm
lịch hàng tháng, hoặc vào các ngày Rằm tháng 1 (Rằm đại tứ), Rằm tháng 7
(Tháng cô hồn) và Rằm tháng 10 (Rằm thịnh vượng).
Không chỉ khác biệt về mặt thời gian và nguyên tắc, các thực phẩm dùng
để ăn chay cũng khác nhau. Đối với người Chăm theo Hồi giáo, họ không được phép ăn, uống,
hút thuốc,... suốt khoảng thời gian mặt trời mọc, nhưng sau khi mặt trời lặn,
họ có thể ăn uống thoải mái. Ngược lại, với Phật giáo, các tín đồ áp dụng
việc ăn chay hữu cơ, không sử dụng các loại thực phẩm chế biến từ động
vật. Thời gian ăn cũng được linh
hoạt hơn, và cũng được sử dụng trứng hay sữa tùy vào trường phái và văn
hóa nơi các tín đồ sinh sống.
Đến buổi tối, các xóm Chăm Islam khá vui vẻ và nhộn nhịp. Những người trong xóm
ăn uống, trò chuyện, đôi lúc đến tận sáng ngày hôm sau, họ lại ăn một bữa
trước khi mặt trời mọc rồi lại tiếp tục việc “nhịn chay". Trong khi nhịn chay thì những người
đàn ông Islam sẽ phải đến thánh đường hằng ngày thực hiện lễ cầu nguyện.
Bên cạnh đó, trong tháng chay Ramadan người Chăm dành đa số thời gian
để đọc kinh tại các nhà thờ, hoặc những nơi linh thiêng để đọc kinh Quran
tìm kiếm sự kết nối với đến thánh Allah và cầu nguyện cho bản thân và cho
gia đình. Việc đọc kinh không giới hạn thời gian, theo quan điểm của họ đọc
càng nhiều càng nhận lại nhiều phước lành. Ngoài ra, việc đọc kinh cầu
nguyện cũng có thể giúp họ trau dồi đức tin cũng như tìm đến sự bình yên
trong cuộc sống. Trong tháng chay này, họ cũng sẽ thực hiện các hoạt động
từ thiện như đóng góp tiền giúp đỡ người nghèo hoặc thực phẩm và quần
áo cho những người cần thiết.
Vào ngày kết thúc tháng chay, ngày 1 tháng 10 Hồi lịch hay còn được gọi là
Roya Pittak, phụ nữ Chăm Islam sẽ mặc trang phục rực rỡ và choàng chiếc
khăn đẹp nhất, những đứa trẻ cũng sẽ được ăn mặc đẹp hơn ngày thường.
Những người đàn ông Chăm Islam sẽ đến thánh đường để cầu nguyện, họ
sẽ vui vẻ, bỏ qua những lỗi lầm của nhau bằng cách chạm má và ôm nhau
ngang vai, hoặc họ vừa cầu nguyện vừa vuốt xuôi hai hai tay của người đối
diện và hướng ba ngón tay giữa của bàn tay phải vào ngực.
Vào buổi chiều, sau khi thực hiện xong lễ cầu nguyện, người Chăm Islam
sẽ hướng mặt ra nghĩa trang trong các thánh đường để cầu nguyện cho
những người đã mất. Cuối cùng, để hoàn thành tháng chay Ramadan, người
Chăm Islam sẽ làm nghĩa vụ bố thí gạo. Thánh đường chính là nơi người
Chăm Islam đóng góp gạo, nếu gia đình nào không góp gạo sẽ được coi là
không sùng đạo, không xứng đáng nhận được sự che chở của Allah. Hơn
nữa, việc bố thí (Zakat) là một trong năm quy tắc trụ cột của người Hồi
giáo nên việc thực hiện là điều cần thiết. Mỗi gia đình sẽ quyên góp 2,4kg
gạo/năm. Gạo này được bố thí cho người nghèo, người ăn xin, ăn mày, người
đang ở phương xa, người đang thiếu nợ, người đi truyền đạo, người tham gia
thánh chiến và người giải quyết công việc nội bộ. 2.3.
Sự tác động của tháng chay Ramadan qua nhiều khía cạnh
Cộng đồng người Chăm Islam như đang tái hiện lại một thế giới Hồi giáo
thu nhỏ từ văn hoá, đạo đức, và cả phương diện triết lý sống thông qua
tháng chay Ramadan. Bên cạnh đó, tháng chay Ramadan cũng đã tác động
sâu sắc đến nhiều khía cạnh của cộng đồng Hồi giáo trên thế giới nói
chung và của dân tộc Chăm nói riêng.
Về khía cạnh xã hội, tháng chay Ramadan thúc đẩy tinh thần đoàn kết, tôn
trọng và lòng yêu thương giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau.
Mọi người cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm, cùng tuân thủ và tôn
trọng giá trị tôn giáo chung. Tháng chay Ramadan khuyến khích việc từ
thiện và giúp đỡ người khác, đặc biệt những người gặp khó khăn. Cộng
đồng thường tổ chức các hoạt động từ thiện và gây quỹ để giúp người
nghèo và những người cần sự hỗ trợ, nhằm tăng cường lòng nhân ái. Bên
cạnh đó, mọi người có thể tập trung vào việc lòng kiên nhẫn, kiểm soát
bản thân và tránh những hành vi tiêu cực. Điều này đóng góp vào việc xây
dựng một xã hội đạo đức và tốt đẹp hơn.
Về khía cạnh văn hóa, tháng chay Ramadan không chỉ là một dịp lễ tôn
giáo mà còn là một sự kiện quan trọng đóng góp vào sự đa dạng và sắc màu của văn hoá Chăm.
Về khía cạnh đạo đức, tháng chay Ramadan của dân tộc Chăm có tác động
tích cực đến đạo đức của họ thông qua việc tuân thủ các nguyên tắc tôn
giáo và thực hiện những hành động tích cực trong thời gian này.
Ngoài xã hội, văn hóa, đạo đức tháng chay Ramadan của dân tộc Chăm
cũng có những tác động tích cực đến kinh tế của họ. Trong tháng Ramadan,
người dân Chăm thường tập trung vào mua sắm và tiêu dùng để chuẩn bị
cho các bữa ăn buổi iftar và sahur. Việc mua sắm tăng cao trong thời gian
này đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
địa phương, đặc biệt đối với các cửa hàng, chợ và nhà bán lẻ trong cộng
đồng.Tháng chay Ramadan cũng là một thời điểm thu hút du khách và
khách du lịch. Nhiều du khách có ý định trải nghiệm văn hóa và tôn giáo
của dân tộc Chăm trong thời gian này. Do đó, các hoạt động du lịch và
dịch vụ lưu trú cũng có thể tăng cao, đóng góp vào nguồn thu kinh tế địa
phương.. Những hoạt động này không chỉ tạo ra cơ hội kinh doanh, mà còn
tăng cường sự đoàn kết và tương tác trong cộng đồng.
Dựa trên quá trình tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu cùng với cơ hội đi tham quan bảo
tàng lịch sử, nơi căn phòng trưng bày những vật phẩm cùng những thông tin mới lạ về
người Chăm và phong tục tập quán, tín ngưỡng của họ đã giúp chúng tôi có thêm
nhiều kiến thức mới lạ. Mặc dù, Hồi giáo ra đời từ rất lâu nhưng vẫn chưa thực sự phổ
biến ở Việt Nam, hầu hết là người dân tộc Chăm theo đạo Hồi. Thông qua đó, chúng
tôi cũng biết thêm được sự khác biệt giữa đạo Hồi ở Việt Nam và đạo Hồi ở Ả Rập.
Đặc biệt, khi tìm hiểu sâu hơn, tháng chay Ramadan không chỉ là một thời gian để
nhịn ăn mà đây còn là một tháng lễ hội mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Tháng chay
Ramadan không những đúc kết nhiều giá trị tín ngưỡng của người Chăm mà còn góp
phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc cũng như là những giá trị tâm linh, tình
cảm, đoàn kết cộng đồng của dân tộc.
Người thực hiện tháng chay Ramadan tập trung vào việc cầu nguyện và thực
hiện các hoạt động tôn giáo cùng nhau, tạo nên không gian đoàn kết và sự
đồng lòng trong cộng đồng khiến chúng tôi cảm nhận được sự gắn kết và
lòng tương thân tương ái giữa họ. Bên cạnh đó, chúng tôi thấy được tình cảm
gần gũi và những giây phút tận hưởng với gia đình, nó trở thành dịp để cả
gia đình quây quần, chia sẻ câu chuyện và cảm thông với nhau. Điều ấy tạo nên
không gian ấm cúng và đoàn tụ, khiến mỗi ngày trở nên đặc biệt và ý nghĩa.
Chúng tôi cũng nhận thấy, việc thực hiện tháng chay Ramadan đòi hỏi sự
kiên nhẫn và tự kiểm soát từ người thực hiện. Việc từ chối ăn
uống và hạn chế thói quen hàng ngày có thể mang lại sự khó khăn và thách
thức khiến chúng tôi thật sự nể phục tinh thần quyết tâm và ý chí mạnh
mẽ từ những người thực hiện, khi họ đối mặt và vượt qua những khó khăn đó.
Bên cạnh đó, đây cũng là một trong những dịp người Chăm Islam thực
hiện các việc thiện và giúp đỡ người khác. Họ thường tập trung vào việc
làm điều tốt đẹp cho xã hội và cống hiến cho những người bất hạnh. Chúng
tôi mong rằng những tinh thần tốt đẹp
và lòng hảo tâm này cũng được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày để xây
dựng một xã hội văn minh và đồng lòng.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận lại cho mình nhiều kiến
thức rất thực tế và quan trọng, đặc biệt là kiến thức từ tháng chay Ramadan
trong tín ngưỡng, tôn giáo của người dân tộc Chăm. Chúng tôi hiểu được
thế nào là ý nghĩa của kiên
nhẫn và kỷ luật và có thêm cái nhìn chân thật về sự đa dạng văn hóa và
tôn trọng sự khác biệt. Đồng thời, trên cương vị là một sinh viên ngành Quản
trị công nghệ Truyền Thông, việc nắm vững kiến thức về tín ngưỡng và
văn hóa của người Chăm và nhiều nền văn hoá dân tộc khác là một trong
những yếu tố quan trọng, đặc biệt là trong các hoạt động giáo dục và nghiên
cứu về văn hóa dân tộc. Việc nắm vững kiến thức này cũng mở ra cơ hội
hợp tác và giao lưu với cộng đồng người Chăm, từ đó sinh viên chúng tôi có
thể tạo ra những dự án và chương trình mang tính ứng dụng, thực tiễn.
Không những vậy, khi tìm hiểu sâu về người Chăm, chúng tôi sẽ có thêm cơ hội
đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này cho thế hệ sau. Tóm lại, việc tìm
hiểu kiến thức về tín ngưỡng và văn hóa của người Chăm không chỉ mang
lại lợi ích cá nhân mà còn đóng góp vào sự phát triển và bảo tồn văn hóa dân
tộc, góp phần xây dựng một xã hội đa văn hóa và đoàn kết. LỜI KẾT
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên hướng dẫn Phạm Thị
Ngọc Anh. Trong quá trình học tập bộ môn Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học,
chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và những
phương pháp học tập, nghiên cứu
rất hiệu quả. Đồng thời, xin gửi lời cảm ơn tới những người thực hiện các bài
nghiên cứu trước đây về tháng Ramadan trong tín ngưỡng, tôn giáo của người
Chăm, đó là những tài liệu rất quý giá giúp chúng tôi hoàn thiện được báo cáo này.
Đây là một chủ đề nghiên cứu chúng tôi cho là rất rộng và có rất nhiều vấn
đề để khai thác. Vì vậy, trong báo cáo không tránh khỏi đôi chỗ còn chưa
đầy đủ và thiếu sâu sắc. Đó cũng chính là động lực cho chúng tôi tiếp tục
trau dồi và nghiên cứu, hoàn thiện những vấn đề còn chưa được đề cập trong
bài viết này, để đóng góp những kiến thức,
góc nhìn tích cực về tháng chay Ramadan. Xin trân trọng cảm ơn.