













Preview text:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1.
Tính tất yếu và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam -
Hồ Chí Minh khẳng định rằng: muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Do đó, sự
ra đời của một chính đảng cách mạng - Đảng Cộng sản - là một tất yếu lịch sử,
phản ánh đúng quy luật phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam. Người cho
rằng: "Cách mệnh muốn thành công thì phải có Đảng cách mệnh", và "Không có
Đảng, cách mệnh không có phương hướng, không có lực lượng lãnh đạo, dễ bị thất
bại". Đảng chính là nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. -
Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu
khách quan do sự kết hợp biện chứng của ba yếu tố lớn:
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin: Là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động cách mạng. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó tìm ra con
đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa Mác - Lênin
cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho việc xây dựng Đảng và tổ chức cách mạng.
+ Phong trào công nhân Việt Nam: Xuất hiện và phát triển mạnh mẽ vào
những năm 1920, giai cấp công nhân Việt Nam mang tính chất tiên tiến, có kỷ luật,
tổ chức và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Tuy nhiên, phong trào còn rời rạc, tự phát,
chưa có lý luận soi đường. Sự ra đời của Đảng đã đáp ứng yêu cầu khách quan về
một tổ chức lãnh đạo giai cấp công nhân.
+ Phong trào yêu nước Việt Nam: Là nguồn gốc, động lực tinh thần mạnh mẽ
thúc đẩy quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, các phong trào yêu
nước trước đó mang tính chất tự phát, thiếu đường lối đúng đắn nên thường thất
bại. Khi được giai cấp công nhân và chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đường, phong trào
yêu nước trở thành một bộ phận quan trọng của cách mạng vô sản.
→ Sự kết hợp ba yếu tố trên, dưới sự chuẩn bị chu đáo và vai trò tổ chức, lãnh đạo
của Nguyễn Ái Quốc, đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu
năm 1930. Đây là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng nước ta, mở ra thời kỳ mới -
thời kỳ cách mạng có tổ chức, có đường lối đúng đắn và có lực lượng lãnh đạo tiên phong. 2.
Đảng phải trong sạch, vững mạnh 2.1
Đảng là đạo đức, là văn minh -
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị trí đặc
biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người
không chỉ coi Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng mà còn đặt ra những yêu
cầu rất cao về phẩm chất đạo đức và trình độ văn minh của Đảng. Một trong
những luận điểm nổi bật, thể hiện sâu sắc tư tưởng ấy là câu nói:
“Đảng ta là đạo đức, là văn minh.” 1.
Đảng là đạo đức -
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng, là gốc rễ của người cách
mạng. Đảng muốn lãnh đạo nhân dân thì trước hết phải là một tấm gương sáng về
đạo đức. Người cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện các phẩm chất đạo đức cách mạng như:
+ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: Đây là những phẩm chất cốt lõi, thể hiện
tinh thần phục vụ nhân dân, không vụ lợi, không tham lam, sống trong sạch và liêm chính.
+ Thương dân, lo cho dân: Đạo đức cách mạng không chỉ là những đức tính cá
nhân mà còn thể hiện qua sự gắn bó với nhân dân, lấy dân làm gốc.
+ Chống chủ nghĩa cá nhân: Hồ Chí Minh phê phán mạnh mẽ bệnh quan liêu,
hách dịch, tham ô, lười biếng, coi đó là những thứ “giặc nội xâm” cần phải bài trừ. 2. Đảng là văn minh -
“Văn minh” ở đây không chỉ mang nghĩa văn hóa, học vấn, mà còn
là sự tiến bộ trong tư duy, trong cách tổ chức và lãnh đạo xã hội. Đảng phải:
+ Lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội tiến bộ, dân chủ, công bằng, văn
minh, trong đó quyền con người, quyền công dân được tôn trọng.
+ Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại: Không bảo thủ, khép kín, mà cần học hỏi
những giá trị tích cực của thế giới để làm giàu thêm văn hóa dân tộc.
+ Chống lại những thói quen, tư tưởng lạc hậu, phản tiến bộ, ví dụ như mê tín
dị đoan, phong kiến, bảo thủ, định kiến…
→ Tóm lại, tư tưởng “Đảng là đạo đức, là văn minh” thể hiện yêu cầu xây dựng
Đảng không chỉ mạnh về tổ chức, lý luận mà còn phải trong sạch, tiên tiến về
phẩm chất, đạo đức và cách ứng xử với nhân dân và xã hội. 2.2
Những vấn đề nguyên tắc trong hoạt động của Đảng -
Để giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải hoạt động trên cơ sở
những nguyên tắc nhất định. Theo Hồ Chí Minh, các nguyên tắc này không chỉ
giúp Đảng thống nhất và vững mạnh về tổ chức mà còn giữ được bản chất cách
mạng và khoa học của Đảng Cộng sản. Cụ thể bao gồm: 1.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hành động -
Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái la bàn” của cách mạng
Việt Nam. Người vận dụng sáng tạo học thuyết này để phù hợp với thực tiễn dân
tộc và đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh - kết tinh giữa chủ nghĩa Mác -
Lênin và truyền thống Việt Nam. -
Đây là nền tảng lý luận giúp Đảng xác định đường lối, chiến lược,
phương pháp cách mạng đúng đắn, tránh rơi vào chủ nghĩa cơ hội hay phiến diện. 2. Tập trung dân chủ -
Là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhất, xuyên suốt trong Đảng. Theo
Hồ Chí Minh: “Tập trung đúng là tập trung dân chủ. Nghĩa là cá nhân phục tùng tổ
chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.” -
Dân chủ giúp khuyến khích sáng kiến, phản biện; tập trung giúp
thống nhất ý chí và hành động. Nếu không có dân chủ thì dễ dẫn đến độc đoán,
chuyên quyền; nếu không có tập trung thì dẫn đến phân tán, mất đoàn kết. 3.
Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách -
Người nhấn mạnh: “Cần có sự lãnh đạo tập thể để tránh sai lầm
chủ quan, nhưng đồng thời phải có người chịu trách nhiệm rõ ràng cho từng công việc.” -
Nguyên tắc này giúp phát huy trí tuệ tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân
- tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. 4.
Tự phê bình và phê bình -
Hồ Chí Minh coi đây là vũ khí sắc bén nhất để chỉnh đốn và xây
dựng Đảng: “Một Đảng mà không dám phê bình, không dám tự phê bình là một Đảng hỏng.” -
Tự phê bình giúp mỗi cán bộ nhận rõ điểm yếu của mình để sửa
chữa; phê bình đúng mực giúp góp ý xây dựng, chứ không phải để công kích cá nhân. 5.
Kỷ luật nghiêm minh, tự giác -
Người cho rằng: Đảng phải có kỷ luật sắt, nhưng kỷ luật ấy phải
dựa trên ý thức tự giác, chứ không chỉ ép buộc. -
Mỗi đảng viên cần tuân thủ nghiêm chỉnh điều lệ Đảng, chấp
hành nghị quyết, thực hiện nhiệm vụ, bảo vệ sự thống nhất trong tổ chức. 6.
Đoàn kết thống nhất trong Đảng -
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công.” -
Trong nội bộ Đảng, phải giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn “con
ngươi của mắt mình”, bởi chỉ có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh tập thể để chiến thắng mọi khó khăn. 7.
Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn -
Hồ Chí Minh cảnh báo: quyền lực có thể làm tha hóa nếu không
được giám sát, kiểm soát. Vì vậy, Đảng cần tự chỉnh đốn, tự đổi mới, phát hiện và
loại bỏ những biểu hiện tiêu cực, suy thoái từ bên trong. -
Người ví quá trình này giống như “người rửa mặt hằng ngày để sạch sẽ”. 8.
Đảng phải liên hệ mật thiết với nhân dân -
Người nói rõ: “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi
ích nào khác. Đảng là “đầy tớ trung thành của nhân dân”, chứ không phải là “quan cách mạng”. -
Đảng cần phải lắng nghe, gần dân, học dân, vì chỉ khi đó, chính
sách mới sát với thực tiễn, hành động mới có hiệu quả. 9.
Đoàn kết quốc tế -
Hồ Chí Minh là người luôn đề cao tinh thần quốc tế vô sản. Người
hiểu rằng: cách mạng Việt Nam không thể tách rời khỏi phong trào cách mạng thế giới. -
Đảng phải đoàn kết với các đảng cộng sản, các lực lượng yêu
chuộng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới để cùng nhau đấu tranh vì lý tưởng chung.
→ Tổng kết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống
chặt chẽ, từ bản chất, vai trò cho đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động. Những
quan điểm này đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn dân tộc. 2.3
Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên -
Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Nói một
cách tổng quát nhất về yêu cầu đối với đội ngũ này là vừa có đức vừa có tài,
trong đó đức là gốc; đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả. -
Một là: Tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần có đối
với đội ngũ này. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành đó phải được thê hiện
hàng ngày, hàng giờ, trong mọi lĩnh vực công tác. -
Hai là: Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. Chỉ với lòng
nhiệt tình không thôi thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà
không xây được cái tốt, cái mới. Yêu cầu tối thiểu là đội ngũ này phải hiểu biết
công việc của mình, biết quản lý Nhà nước, do vậy, phải được đào tạo và tự mình
phải luôn luôn học hỏi. -
Ba là: Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Hồ Chí Minh
luôn luôn chủ trương xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa đội ngũ cán bộ, công
chức với nhân dân. Đặc biệt, phải chống bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, phải
luôn luôn gần dân, hiểu dân và vì dân. Cán bộ, công chức xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa
quyền...đối với nhân dân đều dẫn đến nguy cơ làm suy yếu Nhà nước, thậm chí
làm biến chất Nhà nước ta. -
Bốn là: Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám
quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn,
"thắng không kiêu, bại không nản". Cán bộ, công chức phải luôn luôn tu dưỡng,
rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn luôn "có chí tiến thủ", luôn luôn học tập để
nâng cao trình độ về mọi mặt, học ở trường, học ở trong cuộc sống, trong công tác,
học ở thầy, học ở bạn; phải thường xuyên tự phê bình và phê bình. 3.
Liên hệ tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo Đảng ta hiện nay 3.1
Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh
-Thứ nhất, đạo đức, văn minh - những giá trị cốt lõi của Đảng thể hiện ở những
tiêu chí, khía cạnh sau:
+ Phải xây dựng Đảng tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ và danh dự của dân tộc;
lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm cốt. Coi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho hành động của Đảng.
+ Đảng luôn tuân thủ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều này
không chỉ thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng mà còn thể
hiện trong suốt quá trình lãnh đạo thực hiện cương lĩnh, đường lối, chủ trương đó.
Tất cả mọi hoạt động của Đảng đều vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác cùng
phát triển với các dân tộc trên thế giới vì sự tiến bộ, văn minh của nhân loại.
+ Toàn Đảng phải trong sạch, phải chú trọng phòng, chống sự suy thoái, tiêu cực
trong Đảng để Đảng luôn là nhân tố tích cực, đi tiên phong cho mọi sự phát triển bền vững của xã hội.
+ Đảng không phải là tổ chức đứng trên dân tộc mà được sinh ra từ dân tộc Việt
Nam, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
+ Đảng phải có đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức, đủ tài, những chiến sĩ tiên
phong, gương mẫu trong công tác và cuộc sống, từ những đảng viên
giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
quần chúng, cho đến những đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo.
+ Đảng phải có quan hệ quốc tế trong sáng, phải luôn luôn đảm bảo lợi ích
cho dân tộc đồng thời cũng vì sự tiến bộ của nhân loại, vì độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác; vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác
cùng phát triển của các dân tộc trên thế giới.
Từ ngày 6/1 - 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam họp ở Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí
Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản.
-Thứ hai, xây dựng Đảng về chính trị:
Trên cơ sở nắm bắt một cách chính xác tình hình của Đảng, đề ra đường lối, chủ
trương, quyết sách phù hợp với điều kiện cụ thể với từng giai đoạn, từng thời kỳ.
Yêu cầu đầu tiên đối với việc nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng là Đảng
phải đề ra đường lối, chủ trương, quyết sách đúng đắn, hoàn toàn có khả năng thực
thi. Mọi hoạt động của Đảng đều phải được diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật. Năng lực cầm quyền của Đảng là tổng hòa trình độ, khả năng, bản lĩnh
chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do tình hình đất nước đặt ra nhằm đạt
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Muốn đề ra đường lối, chủ trương, quyết sách phù hợp, Hồ Chí Minh khẳng định
rằng, phải dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng phải nắm chắc tình
hình mọi mặt trong nước và quốc tế, tránh tư tưởng bảo thủ, trì trệ hay hấp tấp, vội vàng trong xây
dựng đường lối, chủ trương. Đồng thời, cần lắng nghe, tổng hợp ý kiến từ cơ sở
của nhân dân để xét xem đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng có đúng
không, chỗ nào đúng, chỗ nào cần chỉnh sửa, bổ sung.
-Thứ ba, xây dựng Đảng về tư tưởng:
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin vì “chủ
nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu”.
“Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí
khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương
hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”. Nhiệm vụ
xây dựng Đảng về tư tưởng đòi hỏi lý luận phải gắn với thực tế.
-Thứ tư, xây dựng Đảng về tổ chức:
Trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến
vấn đề xây dựng đội ngũ đảng viên, công tác cán bộ. Trong xây dựng đội ngũ
đảng viên, Người chú trọng vấn đề đạo đức cách mạng.
“Trung với nước, Hiếu với dân” được Hồ Chí Minh coi là một trong những tiêu chuẩn
quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản của nhân cách người cán
bộ, đảng viên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng, của
nhân dân lên trên hết. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ phải gần dân,
hiểu dân, vì dân. Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của nhân dân, vừa là
người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải có
một đời tư trong sáng, nêu một tấm gương tốt cho nhân dân.
Đạo đức cách mạng của đảng viên còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư. Rèn luyện đức tính này, người đảng viên phải luôn có ý thức và
hành động chăm lo đến lợi ích của Đảng, của Tổ quốc; phải “dĩ công vi thượng”;
phải coi chức vụ, quyền hạn của mình trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đoàn thể
là do dân trao cho và phải luôn phục vụ nhân dân.
-Thứ năm, về phương thức lãnh đạo của Đảng:
Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ giữa Đảng và Nhà nước vì Đảng cầm quyền,
trước hết là Đảng lãnh đạo Nhà nước. Để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng,
phải tăng cường lãnh đạo xây dựng Nhà nước để Nhà nước thể hiện tính chất của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Bên cạnh đó, còn phải đề cập đến mối quan
hệ giữa Đảng với các đoàn thể quần chúng nhân dân. Trong mối quan hệ đó, Đảng
phải khẳng định được phẩm chất và năng lực lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể quần chúng nhân dân 3.2
Xây dựng nhà nước
Quan điểm về xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân: Hồ Chí
Minh không phải là người đầu tiên nêu lên khái niệm: “Nhà nước của dân, do dân,
vì dân”. Người đã tiếp thu khái niệm này từ Tổng thống Mỹ A. Lincôn (cuối thế
kỷ XIX). Song công lao của Người là biến khái niệm này từ sự hô hào thuần túy
trên lời nói thành hiện thực trong cách mạng Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là Nhà nước được nhân dân ủy quyền cho
các đại diện do mình bầu ra và thông qua các đại diện của mình thực hiện
quyền bãi miễn những đại diện nào tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm
nữa. Trong Nhà nước của dân thì dân làm chủ, người dân được hưởng mọi
quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ
chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời là người chủ cũng
phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình. Nhà nước phải bằng mọi nỗ
lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Những
vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, là “công bộc” của dân; phải
làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải đứng trên nhân dân, coi khinh
nhân dân, “cậy thế” với dân, “quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho
Nhà nước do dân là Nhà nước bao gồm những người do dân lựa chọn, bầu ra để
đại diện cho quyền lợi của mình. Do vậy, Nhà nước đó luôn được nhân dân ủng
hộ, giúp đỡ và đóng góp, chủ yếu là đóng thuế, để Nhà nước có điều kiện thực
hiện những hoạt động của mình; Nhà nước đó cũng do Nhân dân phê bình, xây
dựng và kiểm soát làm cho các thành viên của Nhà nước luôn ý thức rõ trách
nhiệm đại diện của mình trước nhân dân. Muốn cho Nhà nước trở nên trong sạch,
vững mạnh và hoạt động có hiệu quả, Người đã chỉ rõ tất cả các cơ quan nhà nước
phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự
kiểm soát của nhân dân. “Nếu chính phủ làm hại nhân dân thì dân có quyền đuổi
chính phủ”. Điều đó có nghĩa là khi Nhà nước và các cơ quan của nó xa dân, quan
liêu, cửa quyền, không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì
nhân dân sẽ bãi miễn nó đi.
Nhà nước vì dân là nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm
soát trên thực tế. nhà nước v dân luôn phục vụ cho lợi ích và nguyện vọng của dân,
không có đặc quyền, đặc lợi thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính chí công vô
tư. Trong nhà nước vì dân cán bộ luôn là “công bộc” của dân, với ý nghĩa vừa là
người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của dân, nên việc gì có lợi cho dân thì dù là
việc nhỏ đi chăng nữa cũng phải làm hết trách nhiệm. và, cán bộ phải biết đem tài
dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân. Quan điểm về nhà nước vì dân của người đã
vượt lên trên những chủ trương thân dân của các nhà nước thống trị khi còn đang
ở giai đoạn tiến bộ nhất của nó. Thuật ngữ “công bộc “ có nghĩa là người đảm
trách công việc chung của xã hội phục vụ nhân dân và là sự thống nhất của hai
nhân tố: đấy tớ và lãnh đạo. theo Hồ Chí Minh, dân làm chủ thì cán bộ làm “công
bộc” cho dân, chứ không phải làm quan cách mạng. 4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, bản chất và phương thức hoạt động của Đảng
Cộng sản Việt Nam không chỉ là nền tảng lý luận vững chắc mà còn là kim
chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp cách mạng. Việc
quán triệt và vận dụng sâu sắc những tư tưởng này chính là chìa khóa để Đảng
giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền, xây dựng một Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thời kỳ
đổi mới và hội nhập hiện nay, càng cần phải phát huy giá trị trường tồn của tư
tưởng Hồ Chí Minh, xem đó là động lực tinh thần to lớn để tiếp tục công cuộc
xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.