



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ----- ----- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Đề tài:
TRÊN CƠ SỞ NHẬN THỨC VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
VIỆT NAM, HÃY PHÂN TÍCH VAI TRÒ CÓ THẾ CÓ CỦA
BẢN THÂN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH NÀY Nhóm : 05 LHP : 232_RLCP1211_02 GVHD : Hoàng Văn Mạnh Hà Nội, tháng 03 năm 2024 LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu
hóa, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu. Đây là quá trình liên kết kinh
tế giữa các quốc gia thông qua các hoạt động giao thương, đầu tư, dịch vụ,... Quá trình
này đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi sâu sắc cho nền kinh tế thế giới và mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội to lớn để phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống người dân. Kể từ khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế như Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã có những bước
phát triển vượt bậc. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài trực tiếp (FDI) tăng cao, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội cũng là những thách thức không nhỏ. Do trình độ
phát triển kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh hạn chế, nước ta đang phải đối mặt với
nguy cơ bị tụt hậu trong quá trình hội nhập. Các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó
khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Nguy cơ thất nghiệp, bất
bình đẳng xã hội gia tăng cũng là những vấn đề cần quan tâm.
Nhận thức rõ tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và xác định vai trò của bản thân
trong quá trình này là vô cùng quan trọng. Mỗi cá nhân cần nâng cao trình độ học vấn, kỹ
năng nghề nghiệp để có thể thích ứng với môi trường cạnh tranh mới. Đồng thời, cần ý
thức được trách nhiệm của bản thân trong việc góp phần xây dựng đất nước ngày càng
phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng này nên chúng em quyết định chọn đề tài
“Trên cơ sở nhận thức về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến với sự phát triển của
Việt Nam, hãy phân tích vai trò có thế có của bản thân đối với quá trình này” để tiến hành
nghiên cứu rõ hơn về vấn đề trên.
Đề tài của chúng em gồm những nội dung chính sau đây Phần 1: Cơ sở lý luận
Phần 2: Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Phần 3: Vai trò của bản thân đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam 2 PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm và nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm và sự cần thiết khách quan hội nhập kinh tế quốc tế
Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn kết
nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích đồng thời tuân thủ
các chuẩn mực quốc tế chung.
Tính tất yếu thiết khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế:
Thứ nhất, do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa là
quá trình tạo ra liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia trên
quy mô toàn cầu. Toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, v.v..., trong đó, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế nổi trội nhất, nó vừa là trung tâm
vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy toàn cầu hoá các lĩnh vực khác. Toàn cầu hoá
kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia,
khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển
hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế hội
nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan vì: Toàn cầu hóa kinh tế đã lôi cuốn tất
cả các nước vào hệ thống phân công lao động quốc tế, các mối liên hệ quốc tế của sản
xuất và trao đổi ngày càng gia tăng, khiến cho nền kinh tế của các nước trở thành một bộ
phận hữu cơ và không thể tách rời nền kinh tế toàn cầu. Trong toàn cầu hóa kinh tế, các
yếu tố sản xuất được lưu thông trên phạm vi toàn cầu. Do đó, nếu không hội nhập kinh tế
quốc tế, các nước không thể tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong
nước. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn
cầu đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được các thành tựu của cách mạng
công nghiệp, biến nó thành động lực cho sự phát triển.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phố biến của các nước,
nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay. Đối với các nước đang
và kém phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp cận và sử dụng được các
nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm của các nước cho
phát triển. Khi mà các nước tư bản giàu có nhất, các công ty xuyên quốc gia đang nắm
trong tay những nguồn lực vật chất và phương tiện hùng mạnh nhất để tác động lên toàn
thế giới thì chỉ có phát triển kinh tế mở và hội nhập quốc tế, các nước đang và kém phát 3
triển mới có thể tiếp cận được nhưng năng lực này cho phát triển của mình. Hội nhập kinh
tế quốc tế là con đường có thể giúp cho các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng
thời cơ phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến, khắc phục nguy cơ
tụt hậu ngày càng rõ rệt. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở cửa thị trường, thu hút vốn,
thúc đẩy công nghiệp hoá, tăng tích luỹ; tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao
mức thu nhập tương đối của các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, điều cần chú ý ở đây là chủ
nghĩa tư bản hiện đại với ưu thế về vốn và công nghệ đang ráo riết thực hiện ý đồ chiến
lược biến quá trình toàn cầu hoá thành quá trình tự do hoá kinh tế và áp đặt chính trị theo
quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Điều này khiến cho các nước đang và kém phát triển phải đối
mặt với không ít rủi ro, thách thức đó là: gia tăng sự phụ thuộc do nợ nước ngoài, tình
trạng bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch - thương mại giữa các nước đang phát triển và
phát triển. Bởi vậy, các nước đang và kém phát triển phát triển cần phải có chiến lược hợp
lý, tìm kiếm các đối sách phù hợp để thích ứng với quá trình toàn cầu hoá đa bình diện và đầy nghịch lý.
1.1.2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập hiệu quả, thành công. Hội
nhập là tất yếu, tuy nhiên, đối với Việt Nam, hội nhập không phải bằng mọi giá. Quá trình
hội nhập phải được cân nhắc với lộ trình và cách thức tối ưu. Quá trình này đòi hỏi phải
có sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ nền kinh tế cũng như các mối quan hệ quốc tế
thích hợp. Các điều kiện sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sự hoàn thiện và
hiệu lực của thể chế, nguồn nhân lực và sự am hiểu môi trường quốc tế; nền kinh tế có
năng lực sản xuất thực... là những điều kiện chủ yếu để thực hiện hội nhập thành công.
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. Hội
nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế
có thể được coi là nông, sâu tùy vào mức độ tham gia của một nước vào các quan hệ kinh
tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế quốc tế hoặc khu vực. Theo đó, tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế được chia thành các mức độ cơ bản từ thấp đến cao là: Thỏa thuận thương mại
ưu đãi (PTA), Khu vực mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (CU), Thị trường
chung (hay thi trường duy nhất), Liên minh kinh tế - tiền tệ...
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế đối ngoại
của một nước, gồm nhiều hình thức đa dạng như: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp tác
quốc tế, dịch vụ thu ngoại tệ … 4
1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quá trình phát triển của Việt Nam
1.2.1. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là tất yếu mà còn đem lại những lợi ích to lớn
trong công cuộc phát triển của đất nước, và những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người
sản xuất và người tiêu dùng.
Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển dịch
cơ cấu kinh tê trong nước.
Hội nhập kinh tế thực chất là mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại phát triển,
tạo điều kiện cho sản xuất trong nước. Vì vậy, khi Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế
sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng. Cùng với việc được hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan, xóa
bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ khác đã tạo điều kiện cho hàng hóa Việt
Nam thâm nhập thị trường thế giới. Chỉ tính trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên tăng đáng kể. Kim ngạch xuất
nhập khẩu VN-ASEAN tăng trung bình 15,3% hàng năm. Khi xuất khẩu tăng kéo theo số
lượng việc làm được tạo ra sẽ nhiều hơn. Như vậy sẽ có tác động tốt, tạo ra nhiều việc
làm cũng như tăng thu nhập của người lao động. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần
tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế của Việt Nam.
Ngoài ra hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho nước ta tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý. Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế sẽ học
được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng
CNXH. Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường khai thông thị trường nước ta với khu vực
và thế giới, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và có hiệu quả. Qua đó mà các kỹ thuật và
công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nước ta, đồng thời tạo cơ hội để chúng ta lựa
chọn kỹ thuật công nghệ nước ngoài nhằm phát triển kỹ thuật công nghệ quốc gia.
Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Hội nhập kinh tế giúp Việt Nam nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và tiềm lực
khoa học - công nghệ quốc gia. Phần
lớn là cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, các nhà kinh
doanh được đào tạo trong và ngoài nước. Nhờ đẩy mạnh giáo dục - đào tạo và nghiên cứu
khoa học với các nước mà nâng cao khả năng hấp thụ khoa học - công nghệ hiện đại và
tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ
nhằm nâng cao chất lượng kinh tế. 5
Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, củng cố an ninh
- quốc phòng, ổn định hoà bình
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần duy trì ổn định hòa bình, tạo dựng môi trường
thuận lợi để phát triển kinh tế, các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh
bạch hơn, nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Trước đây Việt Nam chủ yếu
xây dựng mối quan hệ với Liên Xô và các nước Đông Âu. Hiện nay Việt Nam thiết lập
mối quan hệ ngoại giao hầu hết với các nước trên thế giới, đồng thời cũng là thành viên
của các tổ chức lớn trên thế giới như: ASEAN, WTO, APEC…Chính vì thế mà hệ thống
chính trị trong nước ngày càng được ổn định, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng
cao trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mở, dân chủ, văn minh.
1.2.2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa ra những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt ra
nhiều rủi ro, bất lợi và thách thức, đó là:
Tạo ra sức ép cạnh tranh giữa các thành viên khi tham gia hội nhập
Bên cạnh việc mở ra nhiều cơ hội phát triển thị trường Việt Nam, hỗ trợ các doanh
nghiệp Việt Nam định hướng hoạt động thương mại và đầu tư với các đối tác thương mại
nước ngoài, các FTA thế hệ mới cũng đặt ra các quy định và yêu cầu khắt khe đối với các
bên tham gia nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và thúc đẩy các nguyên tắc
cơ bản của phát triển bền vững. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo nền kinh
tế Việt Nam hoạt động hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu. Do
đó, các doanh nghiệp phải đối mặt với những thiệt hại do sức ép cạnh tranh gay gắt, thậm
chí còn có thể dẫn đến viễn phá sản, gây nhiều hậu quả bất lợi về mặt kinh tế - xã hội.
Tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường khu vực và thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế làm nền kinh tế của nước ta phụ thuộc vào thị trường bên
ngoài, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động khôn lường về chính trị,
kinh tế và thị trường quốc tế. Cuộc chiến ở Ukraine, các vấn đề về tài chính của Mỹ và
châu Âu đang gây thêm bất ổn cho kinh tế thế giới vốn đã phức tạp. Nợ quốc gia của Mỹ
đã vượt qua mức kỷ lục 32.000 tỷ USD lần đầu tiên trong lịch sử. Bên cạnh nợ công, chi
phí lãi vay tăng cao đòi hỏi chính phủ các nước phải tiếp tục củng cố tài khóa. Điều này
làm giảm tổng cầu thế giới, tác động tiêu cực tới các nền kinh tế có chiến lược tăng
trưởng dựa vào xuất khẩu như Việt Nam. Tổng cầu của các nền kinh tế là đối tác thương
mại chính của Việt Nam còn yếu, tác động tiêu cực tới kim ngạch xuất khẩu của nước ta. 6
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2023 giảm 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tăng khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ không phân phối công bằng lợi ích và rủi ro cho các
nước và nhóm nước khác nhau trong xã hội. Các thỏa thuận thương mại có thể không
công bằng và thiên vị vào lợi ích của các quốc gia mạnh, khiến cho Việt Nam và các quốc
gia đang phát triển khó có thể cạnh tranh công bằng trên thị trường quốc tế. Các doanh
nghiệp lớn hoặc các quốc gia có ưu thế cạnh tranh có thể chiếm lĩnh thị trường Việt Nam,
gây ra sự thiệt hại cho các doanh nghiệp nhỏ và các nhóm dân cư khác. Các ngành công
nghiệp chủ yếu thụ hưởng từ hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng các công việc trong các
ngành này thường yêu cầu kỹ năng và trình độ cao, tạo ra sự chênh lệch trong thu nhập và
cơ hội nghề nghiệp giữa các nhóm dân cư. Cũng chính vì thế mà sẽ dễ làm tăng khoảng
cách giàu nghèo, tụt hậu và bất bình đẳng giữa các quốc gia hay tầng lớp dân cư trong xã hội.
Tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống Việt bị xói mòn trước sự
" xâm lăng" của văn hóa nước ngoài
Hiện nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không ngừng lợi dụng quá trình hội
nhập quốc tế, coi đó là tâm điểm để ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”
chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng Việt Nam tiến hành hội nhập quốc tế mà bắt
đầu từ hội nhập kinh tế quốc tế, các thế lực thù địch thúc đẩy hình thành những yếu tố phi
xã hội chủ nghĩa, gia tăng mặt trái của nền kinh tế thị trường, nhằm làm cho Nhà nước
mất khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế, từ khống chế về kinh tế để chuyển hóa và
gây sức ép về chính trị. Chúng ngầm thâm nhập, móc nối với các đối tượng phản động,
gây dựng lực lượng đối lập, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên, quần chúng
thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, triệt để lợi dụng sơ hở của chính sách, khoét sâu
mâu thuẫn nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ bên trong. Chúng đưa
ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý, như đặt điều kiện để có “thỏa thuận”, “hợp tác” thì
ta phải “cải cách”, “đổi mới” về tư tưởng, chính trị, pháp luật; phải thay thế chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi Nhà nước xóa
bỏ Điều 4 của Hiến pháp và một số điều về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự hiện
hành; đòi thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây... nhằm tạo
nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, mất độc lập, tự chủ của đất nước.
Các nước đang và kém phát triển phải đối mặt với nguy cơ trở thành bãi rác công
nghiệp của các nước công nghiệp phát triển trên thế giới 7
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nước đang phát triển như nước ta phải
đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung
vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động nhưng có giá trị gia tăng
thấp. Mọi quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc đang đứng trước yêu cầu cấp bách là phải đổi
mới đột phá về công nghệ, để có thể cạnh tranh được với những thị trường đang áp thuế
rất cao vào quốc gia này. Để đổi mới, họ sẽ phải thay thế toàn bộ công nghệ cũ, dẫn tới
thực tế các thế hệ công nghệ thải loại phải tìm cách đi sang các quốc gia khác kém phát
triển hơn, trong đó có Việt Nam. Vì thế nước ta dễ trở thành bãi rác thải công nghiệp và
công nghiệp thấp, bị cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường ở mức độ cao.
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế có khả năng tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế, vừa có thể dẫn đến những nguy cơ to lớn khó lường. Vì vậy tranh thủ
thời cơ, vượt qua thách thức trong hội nhập kinh tế là vấn đề cần phải đặc biệt coi trọng.
1.3. Phương hướng nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế trong quá
trình phát triển của Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những chủ đề kinh tế có tác động tới toàn bộ
tiến trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, liên quan trực tiếp đến quá trình
thực hiện định hướng và mục tiêu phát triển đất nước. Với cả những tác động đa chiều của
hội nhập kinh tế quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, Việt Nam cần phải tính toán một
cách thức phù hợp để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
1.3.1. Nhận thức sâu sắc về thời cơ và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại
Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế có tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến
những vấn đề cốt lõi của hội nhập, về thực chất là sự nhận thức quy luật vận động khách
quan của lịch sử xã hội. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để xây dựng chủ
trương và chính sách phát triển thích ứng.
Trong nhận thức, trước hết cần phải thấy rằng hội nhập kinh tế là một thực tiễn
khách quan, là xu thế khách quan của thời đại, không một quốc gia nào có thể né tránh
hoặc quay lưng với hội nhập. Việt Nam cũng không thể đứng ngoài dòng chảy của lịch
sử, hội nhập quốc tế không chỉ là “khẩu hiệu thời thượng” mà phải là “phương thức tồn
tại và phát triển” của nước ta hiện nay.
Nhận thức về hội nhập kinh tế cần phải thấy rõ cả mặt tích cực và tiêu cực vì tác
động của nó là đa chiều, đa phương diện. Trong đó, cần phải coi mặt thuận lợi, tích cực là
cơ bản. Đó là những tác động thúc đẩy của hội nhập kinh tế quốc tế tới tăng trưởng, tái cơ 8
cấu kinh tế, tiếp cận khoa học công nghệ, mở rộng thị trường...nhưng đồng thời cũng phải
thấy rõ những tác động mặt trái của hội nhập kinh tế như những thách thức về sức ép cạnh
tranh gay gắt hơn; những biến động khó lường trên thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường
hàng hóa quốc tế và cả những thách thức về chính trị, an ninh, văn hóa. Nhận thức này là
cơ sở để đề ra đối sách thích hợp nhằm tận dụng ưu thế và khắc chế tác động tiêu cực của
hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Về chủ thể tham gia hội nhập, nhà nước là một chủ thể nhưng không phải là duy
nhất. Nhà nước là người dẫn dắt tiến trình hội nhập và hỗ trợ các chủ thể khác cùng tham
gia sân chơi ở khu vực và toàn cầu. Song, hội nhập quốc tế toàn diện là sự hội nhập của
toàn xã hội vào cộng đồng quốc tế, trong đó doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân sẽ là
lực lượng nòng cốt, nhà nước không thể làm thay cho các chủ thể khác trong xã hội.
Trong tiến trình hội nhập, người dân sẽ được đặt vào vị trí trung tâm, do đó, hội nhập kinh
tế quốc tế phải được coi là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí
thức, đó là những lực lượng đi đầu trong tiến tình này.
Thực tế hiện nay, chủ trương, đường lối, chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế của
Đảng và nhà nước có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện
nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện, ngắn
hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức.
1.3.2. Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp
Chiến lược hội nhập kinh tế về thực chất là một kế hoạch tổng thể về phương hướng,
mục tiêu và các giải pháp cho hội nhập kinh tế. Xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế
phải phù hợp với khả năng điều kiện thực tế:
- Trước hết, cần đánh giá đúng được bối cảnh quốc tế, xu hướng vận động kinh tế,
chính trị thế giới; tác động của toàn cầu hóa, của cách mạng công nghiệp đối với các nước
và cụ thể hóa đối với nước ta. Trong đó, cần chú ý tới sự chuyển dịch tương quan sức
mạnh kinh tế giữa các trung tâm; xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng
được khẳng định; nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản do tác động của
cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển của công nghệ thông tin.
Trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, xu hướng liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc
biệt là các hiệp định thương mại tự do (FTA) gia tăng mạnh, hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP), hiệp định Đối tác toàn tin diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTTP)... Châu Á - Thái Bình Dương đang đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng và liên kết toàn cầu. 9
Mặt khác, cũng cần phải đánh giá được vai trò của tổ chức kinh tế quốc tế, các công
ty xuyên quốc gia và vai trò của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và
EU cũng như các điều chỉnh chính sách của họ trong vai trò chủ đạo, dẫn dắt các xu
hướng liên kết kinh tế quốc tế.
Đánh giá được những điều kiện khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến hội nhập
kinh tế nước ta. Cần làm rõ vị trí của Việt nam để xác định khả năng và điều kiện để Việt Nam có thể hội nhập.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã và đang được đẩy nhanh về tốc độ
cũng như phạm vi công việc chuẩn bị bên trong lại không đi liền với tiến trình này.
Những vấn đề mang tính vĩ mô như khuôn khổ pháp lý, năng lực thể chế, chất lượng
nguồn nhân lực như là nút thắt của nền kinh tế, cản trở cạnh tranh ở nhiều cấp độ. Hầu hết
các doanh nghiệp Việt Nam còn nhận thức khá mơ hồ, thiếu sự quan tâm, thiếu thông tin
về hội nhập kinh tế quốc tế. Chưa nắm bắt được các luật chơi, những quy định trên sân
chơi lớn. Điều này dẫn đến chưa chủ động trong hoạch định chiến lược sản xuất kinh
doanh khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những hạn chế này cần phải được tính toán
cụ thể, khắc phục kịp thời để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và
các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế.
- Trong xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế cần nghiên cứu kinh nghiệm của các
nước nhằm đúc rút cả những bài học thành công và thất bại của họ để tránh đi vào những
sai lầm mà các nước đã từng phải gánh chịu hậu quả.
- Xây dựng phương hướng, mục tiêu, giải pháp hội nhập kinh tế phải đề cao tính
hiệu quả, phù hợp với thực tiễn về năng lực kinh tế, khả năng cạnh tranh, tiềm lực khoa
học công nghệ và lao động theo hướng tích cực, chủ động.
-Chiến lược hội nhập kinh tế phải gắn với tiến trình hội nhập toàn diện đồng thời có
tính mở, điều chỉnh linh hoạt để ứng phó kịp thời với sự biến đổi của thế giới và các tác
động mặt trái phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế.
- Chiến lược hội nhập kinh tế cần phải xác định rõ lộ trình hội nhập một cách hợp lý.
Đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo hội nhập kinh tế có hiệu
quả, nhằm tránh những cú sốc không cần thiết, gây tổn hại cho nền kinh tế và các doanh
nghiệp. Lộ trình cần phải xác định được các yếu tố thời gian, mức độ, bước đi trong các
giai đoạn hội nhập kinh tế và bám sát được tiến triển bên ngoài và bên trong để điều chỉnh
lộ trình một cách thích hợp. Bên cạnh đó, cũng cần xác định các ngành, các lĩnh vực cần
ưu tiên trong hội nhập kinh tế, trên cơ sở đó tập trung các nguồn lực để hình thành các
lĩnh vực nòng cốt, các nhân tố đột phá trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 10
Hiệu quả hội nhập phụ thuộc rất nhiều vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
cũng như của các doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, cần chú trọng đầu tư, cải tiến công nghệ để nâng cao khả
năng cạnh tranh; học hỏi cách thức kinh doanh trong bối cảnh mới: học tìm kiếm cơ hội
kinh doanh, học kết nối cùng chấp nhận cạnh tranh, cách huy động vốn, quản trị sự bất
định, đồng hành cùng chính phủ, “đối thoại pháp lý”.
Nhà nước cần hỗ trợ, giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức của hội nhập; đầu tư
phát triển nguồn nhân lực; tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng hội nhập,
quản trị toàn cầu; phát triển cơ sở hạ tầng… giúp giảm chi phí sản xuất và tạo điều kiện
thuận lợi cho thu hút vốn, công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp.
1.3.3. Tích cực, chủ động tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và thực hiện
đầy đủ các cam kết của Việt Nam trong các lĩnh vực liên kết kinh tế quốc tế và khu vực
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, cho đến nay, về hợp tác song phương, Việt
Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ
thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký
kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ
đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần.
Đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế là sự hình thành các liên kết kinh tế quốc tế
và khu vực để tạo ra sân chơi chung cho các nước. Với tư cách là thành viên của các tổ
chức kinh tế quốc tế thì Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đây đủ, nghiêm túc các cam kết và
tích cực tham gia các hoạt động trong khôn khổ các tổ chức này.
Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch
và tự do hóa thể hiện ở các cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam
kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ. Việt Nam triển khai đầy đủ, nghiêm túc các cam
kết hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở của dịch vụ, đầu tư,...
về cơ bản Việt Nam đã hoàn thành lộ trình cắt giảm theo WTO từ năm 2014. Bên cạnh
đó, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ban hành các biểu thuế ưu đãi, thuế nhập khẩu
đối với các FTA đã ký kết.
Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực hoàn tất các cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào
2015 - 2020 nhằm nâng tầm hội nhập quốc tế. Việc tích cực tham gia các liên kết kinh tế
quốc tế và thực hiện nghiêm túc các cam kết của các liên kết góp phần nâng cao uy tín,
vai trò của Việt Nam trong các tổ chức này; tạo được sự tin cậy, tôn trọng của cộng đồng
quốc tế đồng thời giúp chúng ta nâng tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc, tạo cơ chế 11
liên kết theo hướng đầy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, đề cao
nội hàm phát triển để đảm bảo các lợi ích cần thiết trong hội nhập kinh tế.
1.3.4. Hoàn thiện thể chế kinh tế và pháp luật
Để nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế cần hoàn thiện cơ chế thị trường
trên cơ sở đồi mới mạnh mẽ về sở hữu, coi trọng khu vực tư nhân, đổi mới sở hữu và
doanh nghiệp nhà nước: hình thành đồng bộ các loại thị trường; đảm bảo môi trường cạnh
tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế...
Đi đôi với hoàn thiện cơ chế thị trường cần đồi mới cơ chế quân lý của nhà nước
trên cơ sở thực hiện đúng các chức năng của nhà nước trong định hướng, tạo môi trường,
hỗ trợ và giám sát hoạt động các chủ thể kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải cải cách hành chính, chính sách kinh tế, cơ chế
quản lý ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư, kinh doanh trong
nước để thúc đầy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đó là cơ sở then chốt để nước ta có thể tham gia vào tầng nấc cao hơn của chuỗi
cung ứng và giá trị khu vực cũng như toàn cầu.
Nhà nước cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là luật pháp liên quan đến
hội nhập kinh tế. Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế
đồng thời phòng ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp
thương mại, đầu tư quốc tế; xử lý có hiệu quả các tranh chấp, vướng mắc kinh tế, thương
mại nhằm bảo đảm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp trong hội nhập.
Hoàn thiện thể chế kinh tế và luật pháp tiếp tục đổi mới tư duy thể chế và tư duy phát triển: • Với Nhà nước:
- Kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang tư duy thực hành phân bổ nguồn lực cũng
như vận hành thể chế theo các tín hiệu thị trường
- Phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nội lực là nhân tố quyết định.
- Thể chế pháp luật phải được xây dựng cơ bản đầy đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn
- Coi trọng đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là quản lý
phát triển và quản lý xã hội. • Với người dân: 12
- Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu
nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân
+ Bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân, quốc
phòng toàn dân, an ninh nhân dân và các giá trị văn hóa dân tộc
+ Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng quan
trọng và là động lực chủ yếu để phát triển đất nước bắt kịp khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu.
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp để hoàn thiện các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN phù hợp với cấp độ quản trị đất nước:
+ Tồng bộ về cơ chế, chính sách, thi hành nghiêm pháp luật, đảm bảo tiến độ,
chất lượng, đầy đủ, khả thi, chi phí phù hợp trong quá trình áp dụng pháp luật tại các cấp địa phương.
+ Thực hiện sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực đầu tư, ưu tiên thu hút nguồn
lực xã hội để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương phù hợp với quy
định của pháp luật và cơ chế bảo vệ đổi mới, sáng tạo
+ Thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát, thống kê, kiểm soát phù hợp với chuẩn
mực quốc gia, quốc tế, nâng cao chất lượng công tác phân tích, dự báo, nắm bắt tình hình
phát triển kinh tế thị trường địa phương, thống kê chính xác sự phát triển kinh tế địa
phương để có các quyết định quản trị địa phương sát
- Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, áp dụng hiệu quả các nguyên tắc thị
trường trong xác lập cơ chế quản lý khai thác nguồn lực, gắn thúc đẩy tăng trưởng đi đôi
với tiến bộ, công bằng xã hội.Thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa các hình
thức huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư, nhất là các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước.
+ Các địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh,
bền vững, đa dạng cả về quy mô, chất lượng.
+ Phát triển các cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia
tăng của sản phẩm địa phương cũng như nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam
trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
1.3.5. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam
Hiệu quả hội nhập phụ thuộc rất nhiều vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
cũng như của các doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, cần chú trọng đầu tư, cải tiến công nghệ để nâng cao khả
năng cạnh tranh; học hỏi cách thức kinh doanh trong bối cảnh mới: học tìm kiếm cơ hội 13
kinh doanh, học kết nối cùng chấp nhận cạnh tranh, cách huy động vốn, quản trị sự bất
định, đồng hành cùng chính phủ, “đối thoại pháp lý”.
Nhà nước cần hỗ trợ, giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức của hội nhập; đầu tư
phát triển nguồn nhân lực; tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng hội nhập,
quản trị toàn cầu; phát triển cơ sở hạ tầng…
1.3.6. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước
khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển, không bị
bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ… để áp đặt, khống
chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc.
Đảng và nhà nước Việt Nam đã xác định: đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ đi đôi với tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện xuyên suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Một số biện pháp để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với
tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, hoàn thiện, bổ sung đường lối chung và đường lối kinh tế, xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững đi lên chủ nghĩa
xã hội. Trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện tốt:
- Đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển sang tăng trưởng theo chiều sau.
- Mở rộng, đa dạng hóa thị trường.
- Mạnh dạn trong đổi mới công nghệ.
Thứ ba, đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện:
- Tiếp tục nghiên cứu, đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế
- Huy động mọi nguồn lực để thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược
- Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi
trường, thu hút đầu tư.
- Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư, tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bằng đổi mới, hoàn thiện
thể chế kinh tế, hành chính, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho các ngành kinh tế nhất là những ngành có vị thế tại Việt Nam. 14
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong hội
nhập quốc tế. Mở rộng quan hệ quốc tế phải quán triệt và thực hiện nguyên tắc bình đẳng,
tôn trọng độc lập chủ quyền, giữ gìn bản sắc, văn hóa dân tộc, giải quyết các tranh chấp
bằng thương lượng hòa bình để tạo sự hiểu biết tin cậy lẫn nhau giữa nước ta và các nước
khác trong khu vực và trên thế giới.
Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Trong bối cảnh thế giới ngày nay, giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động,
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản của cách mạng,
lợi ích căn bản của đất nước, đó là: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập, tự chủ là
khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc. Hội nhập quốc tế là phương thức phát triển đất
nước trong thế giới ngày nay. Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế có mối quan hệ
biện chứng; vừa tạo tiền đề cho nhau và phát huy lẫn nhau, vừa thống nhất với nhau trong
thực hiện mục tiêu cơ bản của cách mạng, lợi ích căn bản của đất nước. Giữ vững độc lập,
tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc Việt Nam
Hội nhập quốc tế cũng tạo nên những thách thức mới đối với nhiệm vụ giữ vững
độc lập, tự chủ: sự lệ thuộc nước khác, phân hoá xã hội, ...Nhưng không vì thế mà “đóng
cửa”, tuyệt đối hoá độc lập, tự chủ, quan niệm về độc lập tự chủ là bất biến. Việc quán
triệt và xử lý thành công mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế góp phần
quan trọng vào những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua hơn 30 năm đổi mới của đất nước.
PHẦN II. THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quan điểm, mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế
2.1.1. Quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế
Hội nhập quốc tế là một nội dung lớn có ý nghĩa chiến lược trong đường lối đối
ngoại nói riêng và trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng
ta đã hoạch định và từng bước bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh hệ thống quan điểm, chủ
trương, đường lối về hội nhập quốc tế và thực hiện hợp tác quốc tế với các nước và tổ
chức quốc tế trên thế giới. 15
Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), Văn kiện của Đại
hội đã có những bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận về hội nhập quốc tế,
nâng tầm hội nhập quốc tế lên mức cao hơn khi nhấn mạnh nội dung chủ động, tích cực,
toàn diện, sâu rộng. Đại hội XIII đặt ra yêu cầu về tính “toàn diện” và “sâu rộng”. Đó là,
hội nhập quốc tế qua tất cả các kênh Đảng, Nhà nước và nhân dân, song phương và đa
phương, ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Không chỉ rộng mở về không gian, hội
nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, triển khai các cam kết quốc tế, trong đó thực hiện
hiệu quả các cam kết sâu rộng của các FTA (Hiệp định Thương mại tự do) thế hệ mới,
“chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng,
định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế” vì lợi ích quốc gia -
dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến
chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định kiên quyết, kiên
trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc; tiếp
tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà
bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Đại hội XIII
của Đảng cũng đã nêu rõ quan điểm: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ
sở nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng,
hợp tác, cùng có lợi... Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc
lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối
đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người
là quan trọng nhất”; tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: “Giữ độc lập, tự chủ
và hội nhập quốc tế” với thực hiện nhiệm vụ trọng tâm: “ Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp
tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế”.
Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, ưu tiên của hội nhập quốc tế; hội nhập trong
các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và phải được thực hiện
đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, phương án, bước đi
phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước. Thực hiện đa dạng hình thức hội
nhập kinh tế quốc tế, chú trọng hội nhập kinh tế số với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với
điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Chủ động dự báo sớm và xử lý
hiệu quả, kịp thời các vấn đề, diễn biến phát sinh, giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả
các tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. 16
2.1.2. Mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế Mục tiêu chung
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế;
bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển
khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; nhanh chóng phục hồi kinh tế vượt qua các tác
động tiêu cực của đại dịch COVID-19; chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và
hiệu quả nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài cho phát triển, tăng cường sự gắn kết lợi ích
với các đối tác và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, bảo đảm an ninh quốc gia. Mục tiêu cụ thể
- Chuyển hóa các lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được thành kết quả cụ
thể trong việc tăng trưởng xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; thúc đẩy phát triển các
khu vực kinh tế trong nước, xác lập vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu; hoàn thiện
và nâng cao chất lượng thể chế, pháp luật đầy đủ, hiện đại, hội nhập hơn.
- Cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thu hẹp
khoảng cách phát triển so với các nước phát triển hơn trong khu vực và thế giới.
- Tăng cường hợp tác công - tư, huy động các nguồn lực xã hội, trong đó có hỗ trợ
của các cơ chế đa phương, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp,...
- Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ bên
ngoài; tăng cường khả năng ứng phó trước các diễn biến trên thế giới có thể gây ra ảnh
hưởng đáng kể tới hoạt động xuất nhập khẩu, giao dịch thương mại và hội nhập kinh tế
quốc tế của các ngành kinh tế.
- Nhận thức đúng về vai trò, vị trí của pháp luật quốc tế trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam; tích cực tham gia xây dựng quy tắc pháp lý quốc tế; tận
dụng tối đa pháp luật quốc tế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam
trong quan hệ kinh tế quốc tế.
- Đẩy mạnh hợp tác, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao
chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp
lần thứ 4 và hội nhập quốc tế sâu rộng.
- Chủ động, tích cực tham gia hội nhập kinh tế số nhằm góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu phát triển kinh tế số, xã hội số của Việt Nam theo Chiến lược quốc gia phát triển
kinh tế số, xã hội số đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. 17
https://vietnamhoinhap.vn/vi/quan-diem-duong-loi-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-
hoi-nhap-va-hop-tac-quoc-te-40172.htm
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-93-NQ-CP-2023-nang-
cao-hieu-qua-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-2023-2030-571762.aspx
2.2. Những chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức
- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và
mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói
chung. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh
nghiệp, doanh nhân đối với các thỏa thuận quốc tế, đặc biệt là cơ hội, thách thức và
những yêu cầu phải đáp ứng khi tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp và hiệu quả cho từng
ngành hàng, hiệp hội, doanh nghiệp và cộng đồng.
- Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động, kịp thời phát hiện, đấu
tranh với các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ đường lối, chủ trương
của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật
- Khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện luật pháp trực tiếp liên quan đến
hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với Hiến pháp, tuân thủ đầy đủ, đúng đắn các quy
luật của kinh tế thị trường và các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; nội luật hóa
theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết
là luật pháp về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao
động - công đoàn... bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó
khăn, thách thức từ việc tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Nâng cao nhận thức và năng lực pháp lý, đặc biệt là luật pháp quốc tế,
thương mại quốc tế, trước hết là của cán bộ chủ chốt các ngành và chính quyền các
cấp, doanh nghiệp, cán bộ làm công tác tố tụng, đội ngũ luật sư và những người trực
tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp; đặc biệt là
hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với khuyến
khích khởi nghiệp, sáng tạo. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động mua bán - sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm
tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, phù hợp với các cam kết quốc tế.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế
và các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế trong lĩnh
vực chính trị - quốc phòng - an ninh, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, 18
giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của
quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh
- Nghiêm túc quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng
trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của
nền kinh tế. Tập trung ưu tiên đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ
máy nhà nước. Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát
tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh kinh tế.
- Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; chú trọng phát triển nguồn
nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Ưu tiên
phát triển và chuyển giao khoa học - công nghệ, nhất là khoa học - công nghệ hiện
đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả
nước và từng vùng, địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ
thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành,
lĩnh vực trọng tâm trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới. Tập trung ưu tiên cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại
doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín
dụng; đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập; cơ cấu lại nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ... Đồng thời, đổi mới phương thức thực hiện liên kết, phối hợp
trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hóa.
- Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng ở
hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế để khu vực kinh tế này thực sự trở thành một
động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, một lực lượng nòng cốt trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân
lực. Tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; đẩy
nhanh phổ cập ngoại ngữ, trọng tâm là tiếng Anh trong giáo dục các cấp. Đẩy mạnh
dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp; tăng cường ứng dụng khoa học -
công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
- Giám sát thường xuyên, tăng cường công tác dự báo về tăng trưởng xuất
khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, năng suất lao động, xuất khẩu lao động, xác định
cơ cấu trong mỗi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế để có cơ sở đánh giá hiệu
quả hội nhập kinh tế quốc tế và kịp thời điều chỉnh chính sách, biện pháp.
+ Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới 19
- Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn
mới, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn. Chủ động ban
hành và triển khai thực hiện chính sách đối với nông nghiệp và nông thôn, nhất là
chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất gắn với cơ cấu lại lao động ở nông thôn nhằm
khắc phục những điểm yếu của sản xuất nhỏ, manh mún, kết nối kém; khoa học - công
nghệ trình độ thấp; kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn lạc hậu.
- Tập trung phát triển ngành nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện
với môi trường, nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao, có giá trị lớn và có khả năng
xuất khẩu phù hợp với biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái. Triển khai hiệu
quả các nội dung "tam nông", mô hình "liên kết bốn nhà". Khuyến khích phát triển
bền vững kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới với nhiều hình thức liên
kết, hợp tác đa dạng; tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển góp phần hình
thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu.
- Hiện đại hóa, thương mại hóa nông nghiệp, chuyển mạnh sang phát triển
nông nghiệp theo chiều sâu, sản xuất lớn, dựa vào khoa học - công nghệ, có năng
suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Chuyển nền nông nghiệp từ
sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nền nông nghiệp đa dạng phù hợp
với lợi thế của từng vùng.
- Khẩn trương hình thành quy hoạch tổng thể phát triển những mặt hàng, sản
phẩm Việt Nam có thế mạnh. Đồng thời, chuẩn bị những giải pháp ứng phó, hỗ trợ
đối với những ngành hàng, mặt hàng chịu tác động lớn, trực tiếp từ các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu phức tạp hiện nay.
- Tranh thủ lộ trình chuyển đổi quy định trong các cam kết quốc tế để tập
trung thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo động lực mới cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các chính sách để tích tụ, tập trung ruộng
đất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tổ chức nông dân sản xuất
nông sản hàng hóa quy mô lớn, chất lượng bảo đảm gắn với chế biến, tiêu thụ và xuất
khẩu. Xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế
và ứng phó với biến đổi khí hậu.
+ Tăng cường quốc phòng, an ninh
- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn
dân, an ninh nhân dân, đặc biệt là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Kết hợp
tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Kết hợp tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính tất yếu
của hội nhập kinh tế quốc tế với tăng cường công tác giáo dục, nâng cao cảnh giác
cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhận thức rõ âm mưu và hoạt động
của các thế lực thù địch lợi dụng hội nhập quốc tế để tiến hành chiến lược "diễn
biến hòa bình" chống phá đất nước ta. 20