-
Thông tin
-
Quiz
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam | Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tênkhai sinh là Nguyễn Sinh Cung , còn được biết với tên gọi Bác Hồ, là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam.Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (HVNN) 14 tài liệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam 2 K tài liệu
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam | Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tênkhai sinh là Nguyễn Sinh Cung , còn được biết với tên gọi Bác Hồ, là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam.Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (HVNN) 14 tài liệu
Trường: Học viện Nông nghiệp Việt Nam 2 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:











Tài liệu khác của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Preview text:
lOMoAR cPSD| 47270246
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
1. Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: con đường
cách mạng vô sản – mở tiền đề cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
1.1 .Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc
- Nguyễn Ái Quốc (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tên khai sinh là
Nguyễn Sinh Cung , còn được biết với tên gọi Bác Hồ, là một nhà cách mạng và
chính khách người Việt Nam. Ông là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, từng
là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ 1945–1969, Thủ tướng Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa trong những năm 1945–1955, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam từ 1956–1960, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951 cho đến khi qua đời.
- Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành, quê nội là làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen).
Nguời được sinh ra lại quê ngoại là làng Hoàng Trù, và sống ở đến đến năm1895.
Hai làng đều thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnhNghệ An.
- Người được sinh ra trong một làng quê nghèo, phần lớn người dân không có ruộng,
phải cày thuê, cấy rẽ. Nhưng bù lại Người được lớn lên trong gia đình tri thức, và
một miền quê đầy truyền thống cách mạng. Thân phụ Người là phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc, thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị
Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt) và một người em mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận.
- Ngay từ thiếu thời, Người được tiếp nhận nhiều tri thức, kết hợp văn hóa Đông Tây
và lòng yêu nước. Chứng kiến cảnh nhân dân lầm than vì bị thực dân Pháp xâm lược,
cũng như thấy sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với các phong trào cách
mạng. Nguyễn Ái Quốc đã luôn mong muốn trong tâm phải giải phóngdân tộc, đưa
dân tộc được tự do, độc lập, người dân được hạnh phúc.
- Ngày 5/6/1911 Người thanh niên Nguyễn Ái Quốc chính thức lên tàu đi bôn ba tìm
đường cứ nước, mở ra sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam sau này
1.2 . Hoàn cảnh đất nước khi Người ra đi tìm đường cứu nước lOMoAR cPSD| 47270246
- Tại Việt Nam, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước
thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến.
- Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối
nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba
xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.Thực
dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với
nhân dân Việt Nam.Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp
đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở
công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
- Về văn hoá, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự
ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân
ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền
văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị.
- Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực
dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ cấu kết
với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa
chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá. Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm
ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức
độ khác nhau.Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam,
bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của
giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến
tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và
quyền sống tự do. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệt rực
tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai
cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó
thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở
mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những
người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có
lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến
bộ từ bên ngoài truyền vào. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều
mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân lOMoAR cPSD| 47270246
áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân
dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn
vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu
thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của
xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là,
phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân
dân; Hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là
ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ
hàng đầu.Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân
dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết
quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai
cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là
khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩaYên
Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các sĩ phu yêu nướcnhư Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do
Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại. Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta
được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu
tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng
Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Ngoài ra
trong thời kỳ này ở Việt Nam còn có nhiều phong trào đấu tranh nổ ra, theo đó các tổ
chức đảng phái cũng bắt đầu ra đời. Các đảng phái chính trị tư sảnvà tiểu tư sản đã
góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp , đặc biệt là Tân Việt cách mạng
Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng. Trong nội bộ Tân Việt cách mạng Đảng thì
khuynh hướng cách mạng theo quan điểm vô sản đã thắng thế, còn Việt Nam quốc
dân Đảng là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản. Về sau cuộc khởi
nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng đã bị thực dân Pháp dập tắt,còn số đảng viên tiên
tiến còn lại trong Tân Việt tích cực chuẩn bị để tiến tới thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mac-Lênin
TLTK Cổng TTĐT Bộ Quốc Phòng:
https://mod.gov.vn/vn/chi-tiet/sa-ttsk/sa-tt-tn/43f300fc-3197-47f5-a32e-131ce3d35d83
1.3 . Quá trình tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc lOMoAR cPSD| 47270246
- Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ
Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước của châu
Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra rút ra một kết luận có tính chất nền tảng đầu
tiên: Ở đâu đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng
bị bóc lột, áp bức và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người:
Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Cũng từ đó đã giúp người thanh niên
Nguyễn Tất Thành có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới
cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực
hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do. Từ những nhận biết căn bản đó càng thôi
thúc người thanh niên yêu nước quyết tâm tìm con đường giải phóng mà anh đã từng
nung nấu, ấp ủ từ ngày rời Tổ quốc.
- Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng rất lớn đến
tình cảm và nhận thức của Nguyễn Tất Thành
- Đầu năm Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, chàng thanh niên thay mặt
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu
cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tuy bản yêu
sách không được chấp nhận nhưng đã được lan truyền rộng rãi, gây tiếng vang lớn
trong dư luận nước Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa; đồng
thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức là các dân tộc muốn được giải
phóng chỉ có thể dựa vào sức của chính mình.
- Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân Đạo
(L’Humanite), số ra ngày 16 và 17/7/1920. Luận cương lập tức thu hút sự chú ý đặc
biệt và tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng, giúp lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc đi đến khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác
ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh
phúc”(1). Người tìm thấy ở đó con đường đúng đắn để giải phóng đất nước khỏi ách
thực dân, cứu dân cứu nước là theo con đường cách mạng vô sản, con đường có mục
đích cao cả là giải phóng dân tộc để tiến tới giải phóng con người. Sau này Người
viết: Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin
tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi
nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa và đau
khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta! Từ
đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(2). lOMoAR cPSD| 47270246
- Tại Đại hội đại biểu Đảng Xã hội Pháp lần thứ XVIII (tháng 12/1920), Nguyễn Ái
Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin sáng lập và tham gia thành
lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản
Pháp, và cũng là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
-Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở thành người Việt Nam đầu tiên, nghiên cứu, tổng kết,
tìm ra bản chất của các học thuyết, các cuộc cách mạng trên thế giới, chắt lọc, vận
dụng và phát triển cho phù hợp với dân tộc mình. Năm 1927, trong tác phẩm Đường
Kách mệnh, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Về
sự cần thiết phải có Đảng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: “Trước hết
phải có Đảng cách mệnh”(4), và “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như
người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm
cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có
chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(5).
-Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức sâu sắc sự gắn bó mật thiết giữa giải phóng
dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người; sớm nhận
thức rõ, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn của
cách mạng và kết hợp tài tình chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin - học
thuyết cách mạng tiên tiến nhất của thời đại. Chỉ có kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước mới có thể xây dựng được một Đảng
cách mạng chân chính, đảm bảo cho cách mạng phát triển đúng hướng và đi đến thắng lợi.
TLTK Báo Quân đội nhân dân https://media.qdnd.vn/long-form/nguyen-ai-quoc-
voihanh-trinh-tim-duong-cuu-nuoc-giai-phong-dan-toc-54717
Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước https://tcnn.vn/news/detail/57411/Vai-tro-cua-
lanhtu-Nguyen-Ai-Quoc---Ho-Chi-Minh-trong-viec-sang-lap-Dang-Cong-san- VietNam.html
2. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước
và chuẩn bị điều kiện thành lập Đảng lOMoAR cPSD| 47270246 -
Bằng nhiều hoạt động, trong giai đoạn 1921-1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã
tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư
tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:
+ Về chính trị: Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước; phác
thảo những vấn đề cơ bản về đường lối cứu nước đúng đắn của cách mạng Việt Nam,
thể hiện tập trung trong những bài giảng của Người cho những cán bộ cốt cán của Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc). Đầu năm 1927, tập Đề
cương bài giảng do Nguyễn Ái Quốc biên soạn làm tài liệu huấn luyện chính trị ở
Quảng Châu (1925-1927) được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp
bức ở Á Đông do Người sáng lập, được xuất bản thành sách với nhan đề Đường Kách
mệnh. Tác phẩm Đường Kách mệnh được bí mật đưa về trong nước và sớm trở thành
tài liệu căn bản để tuyên truyền giác ngộ chính trị theo chủ nghĩa Mác - Lênin và
hướng dẫn các mặt hoạt động của Hội Thanh niên. Trên thực tế, Đường Kách mệnh đã
có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với phong trào cách mạng trong cả nước, đặc biệt tại
Thành phố Sài Gòn và ở Nam Kỳ, đã chuẩn bị các nhân tố đảm bảo cho sự ra đời của
một Đảng Cộng sản để gánh vác nhiệm vụ lịch sử trọng đại là lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Tác phẩm chỉ ra vấn đề then chốt có tác dụng lớn không chỉ đối với Việt Nam,
mà còn đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa
Phương Đông, đó là: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chủ yếu là công nông, vì
vậy phải tổ chức quần chúng lại; cách mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng
sản lãnh đạo; phải có đường lối và phương pháp cách mạng đúng; cách mạng giải
phóng dân tộc phải liên hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới…
+ Về tư tưởng: lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
vào Việt Nam nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, đặc biệt là giai cấp
công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác - Lênin từng bước chiếm ưu thế trong đời sống
xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước xích dần đến lập trường của
giai cấp công nhân. Nội dung truyền bá là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin được cụ thể hóa cho phù hợp với trình độ của các giai tầng trong xã hội.
Những bài viết, bài giảng với lời văn giản dị, nội dung thiết thực đã nhanh chóng được
truyền thụ đến quần chúng. Đồng thời, Người đã vạch trần bản chất xấu xa, tội ác của
thực dân Pháp đối với nhân dân thuộc địa, Nhân dân Việt Nam. Trong tác phẩm
Đường Kách mệnh, Người tố cáo thực dân Pháp đã bắt dân bản xứ phải đóng “thuế
máu” cho chính quốc... để “phơi thây trên chiến trường châu Âu”; “đày đọa” phụ nữ,
trẻ em thuộc địa; các thống sứ, quan lại thực dân “độc ác như một bầy thú dữ”... Tác
phẩm đã “hướng các dân tộc bị áp bức” đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười lOMoAR cPSD| 47270246
Nga, tiêu diệt “hai cái vòi của con đỉa đế quốc” - một “vòi” bám vào giai cấp vô sản ở
chính quốc, một “vòi” bám vào nhân dân thuộc địa và đề ra cho Nhân dân Việt Nam
con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Về tổ chức: lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra
đời của chính đảng vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Đó là huấn luyện, đào tạo
cán bộ, từ các lớp huấn luyện do Người tiến hành ở Quảng Châu (Trung Quốc) để vừa
chuẩn bị cán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc
thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở lớp đào tạo cán
bộ cách mạng cho 75 đồng chí. Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã giúp cho
những người Việt Nam yêu nước dễ tiếp thu tư tưởng cách mạng của Người, phản ánh
tư duy sáng tạo và là thành công của Người trong chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đảng ra đời. -
Trong những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta
tiếp tục phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Chủ nghĩa Mác - Lênin được lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc và những chiến sĩ tiên phong truyền bá về trong nước, cùng với
phong trào “vô sản hóa” làm chuyển biến phong trào công nhân, giác ngộ và tổ chức
họ đấu tranh cách mạng một cách tự giác. Thông qua phong trào “vô sản hóa”, lớp lớp
thanh niên yêu nước được rèn luyện trong thực tiễn, giác ngộ lập trường giai cấp công
nhân sâu sắc, hiểu rõ nguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, tiến
tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, tạo điều kiện chín muồi và
hợp quy luật cho sự ra đời của Đảng.
Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước https://tcnn.vn/news/detail/57411/Vai-tro-cua-
lanhtu-Nguyen-Ai-Quoc---Ho-Chi-Minh-trong-viec-sang-lap-Dang-Cong-san- VietNam.html
3.Công lao của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc chủ trì hợp nhất các tổ chức cộng
sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam và soạn thảo ra cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng -
Từ giữa năm 1929 đến đầu năm 1930, trong bối cảnh tổ chức Hội Việt nam
cách mạng thanh niên có sự phân hóa và mất dần vai trò lãnh đạo cách mạng, ở Việt
Nam chỉ trong thời gian ngắn lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương
Cộng sản Đảng (tháng 6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (tháng 11/1929) và Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 01/1930). Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của lOMoAR cPSD| 47270246
phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản
không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức. Yêu cầu cấp
thiết đặt ra là chấm dứt hiện tượng biệt phái, chia rẽ giữa các nhóm cộng sản, phải
thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất ở Việt Nam. Nhiệm
vụ đó đặt lên vai Nguyễn Ái Quốc, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng
yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. -
Năm 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan), mặc
dù chưa nhận được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về yêu cầu thống nhất các tổ chức
cộng sản ở Việt Nam. Song với sự nhạy bén về chính trị, sự chủ động cao, thực hiện
trọng trách lịch sử đối với dân tộc, với vai trò, trách nhiệm trong Quốc tế Cộng sản,
Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất, thực hiện sứ mệnh lịch sử
của người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Từ ngày 06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, tại Cửu Long - Hồng Kông (Trung
Quốc), Hội nghị hợp nhất được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham
dự Hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (02 đại biểu) và An Nam
Cộng sản Đảng (02 đại biểu) và 02 đại biểu hải ngoại (Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng
Sơn). Còn Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã thành lập, song chưa có liên hệ, nên
chưa được triệu tập đại biểu đến dự (đến ngày 24/02/1930, Ban Chấp hành Trung ương
lâm thời đã họp quyết định chấp nhận đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam của
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Từ đây, cả ba tổ chức cộng sản Việt Nam đã thống
nhất trọn vẹn vào một Đảng Cộng sản duy nhất). Trong Hội nghị hợp nhất, đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đề ra 5 điểm lớn cần thảo luận và thống nhất, trước hết là tự phê bình
và phê bình: “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các
nhóm cộng sản Đông Dương”(6). Với sự nhất trí cao, Hội nghị đặt tên Đảng là Đảng
Cộng sản Việt Nam và thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt
của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện đã trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. -
Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đã thể
hiện rõ con đường giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam là “làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(7) (tức cách mạng
dân tộc dân chủ), thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng. Nhiệm vụ
của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, tức cách mạng dân tộc, dân
chủ, trong đó giành độc lập dân tộc được đặt ở vị trí trên hết. Ở Việt Nam, trước hết
phải làm “dân tộc cách mệnh”, đánh đổ sự cai trị, nô dịch dân tộc của chủ nghĩa đế lOMoAR cPSD| 47270246
quốc, giành lại quyền bình đẳng dân tộc, tự do cho dân nước mình: “Dân tộc cách
mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”(8). -
Trong Chánh cương vắn tắt, Người đã thực hiện ba cuộc giải phóng cách mạng
vô sản ở một nước thuộc địa như nước ta là: giải phóng dân tộc phải tiến hành trước
tiên, tạo tiền đề giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Nói một cách khác giải phóng,
giành độc lập dân tộc là bước đi đầu tiên của cuộc cách mạng vô sản ở nước thuộc địa,
ở Việt Nam. Đây là một luận điểm cơ bản, chính yếu trong Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng. Đồng thời, cũng là đóng góp đặc sắc, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác
- Lênin trên phương diện lý luận về các mô hình vận động, phát triển của cuộc cách mạng vô sản.
Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước https://tcnn.vn/news/detail/57411/Vai-tro-cua-
lanhtu-Nguyen-Ai-Quoc---Ho-Chi-Minh-trong-viec-sang-lap-Dang-Cong-san- VietNam.html 4. Liên hệ bản thân -
Trải qua 93 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, sự nghiệp cách mạng
nước ta đã giành những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Nhân dân ta
dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoàn kết, đồng
lòng đánh thắng các thế lực thù địch, những chiến công đã đi vào lịch sử như Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954),
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Đặc biệt, những thành tựu của công
cuộc đổi mới gần 37 năm qua, càng chứng minh cho sự lựa chọn đúng đắn con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những thắng lợi to lớn đó đã chứng minh một chân lý: “Sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(9). -
Từ thực tiễn phong phú của công cuộc đổi mới và kết quả nghiên cứu lý luận,
nhận thức về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng
sáng tỏ hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) đã rút ra 8 đặc trưng của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và 8 mối quan hệ lớn (Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung thành 10 mối quan hệ lớn) cần nắm vững và giải lOMoAR cPSD| 47270246
quyết tốt, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới không chỉ
làm biến đổi sâu sắc diện mạo đất nước, cuộc sống của Nhân dân mà còn mang lại
nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội. -
Ngày nay, những thành tựu to lớn qua những năm đổi mới đã làm cho thế và
lực của nước ta được nâng cao trên trường quốc tế. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã phát biểu tại Lễ khai mạc Đại hội lần thứ XIII của Đảng: “Đất nước ta
chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những
thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực
phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta;
tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù
hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời
đại”(10). Từ đó, chúng ta càng thấy công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta; mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự hào có Đảng lãnh
đạo, càng ra sức học tập để thấm nhuần đạo đức cách mạng của Người, xây dựng bản
lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt
Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng, học tập tư
tưởng, đạo đức và phong cách của Người để vận dụng vào giải quyết những vấn đề
thực tiễn trong công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời, đấu tranh chống các quan điểm
sai trái phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần tích cực hiện thực hóa các nghị
quyết của Đảng vào trong cuộc sống
Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước https://tcnn.vn/news/detail/57411/Vai-tro-cua-
lanhtu-Nguyen-Ai-Quoc---Ho-Chi-Minh-trong-viec-sang-lap-Dang-Cong-san- VietNam.html Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr. 496. (2) Sđd, tập 12, tr. 562.
(3),(4),(5),(8) Sđd, tập 2, tr.289, tr.289, tr.289, tr. 287.
(6),(7) Sđd, tập 3, tr.615, tr. 1.
(9),(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.104. lOMoAR cPSD| 47270246