I. Vận dụng quan điểm triết học Mác-Lênin về con ngưi để m rõ định
hướng đàotạo phát triển công n toàn cầu trong kỷ
nguyên micủan tộc
1.
Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông
Quan điểm về con người trong triết học Phật go
- Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con
người.
- Trong quá trình tồn tại, con người trần tục tính và phật tính. Bản tính
con người vốn tự cái ác cái thiện. Cuộc đời con người do chính con người
quyết định qua quá trình tạo nghiệp.
- Con đường tu nghiệp để trở thành La Hán, Bồ tát hay Phật được coi là đạo
làm người.
-Trong Phật giáo tiếp cận triết học tgiác độ giác độ suy về con người chiều
sâu triết siêu hình. Họ cho rằng con người sự kết hợp giữa danh sắc. Kết
lụân về bản tính “Vô ngã, thường” và tính hướng thiện của con người trên con
đường
truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật
Quan điểm về con người trong triết học Nho giáo
- Con người vạn vật được tạo nên từ sự hỗn hợp giữa Trời với Đất trong
khoảng giữa âm - ơng và do bẩm thụ tính Trời nên bản tính con người vốn thiện.
- Bản chất con người bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi
đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, nhành chi trí khí giã- Con người là
cái đức của Trời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí
tinh tú của ngũ hành”.
-Khổng Tử cho rằng bản chất con người do “Thiên mệnh” chi phối, quyết định,
đức “Nhân” chính là giá trị cao nhất của con người
-Mạnh Tử khi qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, coi hoàn cảnh
đã làm cho con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp; do đó cần phải tu dưỡng,
rèn luyện để giữ được đạo đức của mình
-Trong khi đó, Tuân Tử lại cho rằng: bản chất con người khi sinh ra đã ác, nhưng
có thể cải biến bằng cách chống lại cái ác. Sau này, khi tiếp thụ quan điểm tiên tiến
khác ông củng cố quan niệm rằng coi cuộc đời con người hoàn toàn bị quyết định
bởi Thiên mệnh
=> Sự khác nhau của những luận về bản tính con người đã tiền đề cho những
quan điểm của các trường phái triết học trong
việc giải quyết các vấn đề như chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.
=>Nhìn chung, triết học phương Đông tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về
con người nhưng con người chủ yếu được hiểu trong mối quan hệ đạo đức chính
trị để giải về “tính” người, về “số mệnh” con người. Tuy nhiên, quan niệm ấy
đều không thể vươn tới những đỉnh cao của triết học, khoa học.
Không phải bị xóa bỏ hoàn toàn đã thời kỳ những duy triết học này
từng đạt tới một trình độ cao trong lịch sử của các nước đó thế nhưng chưa đủ
mạnh mẽ và thuyết phục
2.
Quan điểm về con người trong triết học Phường Tây thời cổ đi
trung cổ
- Quan điểm về con người trong triết học duy vật Hy Lạp cổ đại
(Empêđôclơ, Lơxíp, Đêmôcrít, Prôtago, v.v). cho rằng con người là thức đo của
trụ
- Quan điểm về con người trong triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại (Xôcrát
Platôn v.v).con người chỉ là ảo ảnh của thế giới ý niệm
- Quan điểm về con người trong triết học Arítxtốt. cho rằng con người
động vật duy kah3 năng phân biệt được thiện ác công bằng bất công
đây là khái niệm đặc biệt chỉ có con người có
Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thời Trung cổ
- Quan điểm về con người của đốc giáo.
- Quan điểm về con người trong triết học Tômát Đacanh
-Vào thời kỳ Trung cổ, triết học cho rằng “con người là sản phẩm của Thượng đế”,
mọi số phận, buồn vui, khổ đau của con người do Thượng đế sắp đặt và đã quy đặc
trưng bản chất con người một thực thể thuần túy thực thể tinh thần. - Đến thời
kỳ Phục hưng - thời kỳ tự khẳng định mới của con người, Triết học đã cách
mạng về thế giới quan của con người bước tiến mới quan trọng: lấy con
người làm trung tâm, đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con
người là một thực thể có trí tuệ.
3.
Đánh
g
-các nhà triết học cổ đại đã đặc nền tảng cở bản về bản chất của tự nhiên( các câu
hỏi về nước, lửa, không khí, mưa)
-đối với các nhà triết học trước Mác khuyết điểm chung của họ phương pháp tư
duy siêu hình trong xem xét bản chất của con người xã hội. Họ quy con người
vào bản tính tự nhiên. Đặc biệt trong xem xét bản chất xã hội con người . Các
nhà triết học đã thiếu đi tính thực tiễn
-hình thành các trường phái khác nhau đối lập về quan điểm về triết học( Chủ
nghĩa Duy Vật và Chủ nghĩa Duy Tâm )
-phép biện trứng khai (mọi vật đều biến đổi của Heraclitus) biện chứng( đối
thoại cảu Socrates)
-Nhưng các nhà triết học trước Mác mắc rất nhiều hạn chế: tính trực quan các
luận duy vật còn mang tính trực quan chưa dựa trên sở khoa học tự nhiên sâu
sắc, chưa xây dựng được thành ột hệ thống trực quan lý luận chặt chẽ và ý thức
chỉ là các lý
luận thiếu tính chặt chẽ, đặt biệt là triết học hy lạp cổ đại coi ý niệm tinh thần là cái
có trước cái quyết định(Platon)
II
Quan điểm triết học Mác-Lênin về con người
1. Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Triết
học Mác-Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng
thời khẳng định con người thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất
giữa mặt sinh học và mặt hội của nó. Hai yếu tố này gắn liền với nhau, trong
cái tự nhiên bao gồm tính xã hội và không có cái xã hội tách rời tính tự nhiên.
2. Con người một thực thể tự nhiên mang đặc tính hội sự thống
nhất biện chứng giữa hai phương diện tnhiên hội luôn đối tượng nhận
thức của Triết học từ rất sớm xuyên suốt các giai đoạn lịch sử thăng trầm khác
nhau. Bản thân Triết học luôn luôn thay đổi đấu tranh không ngừng nên rất
nhiều hướng giải quyết, giả thuyết cho cùng một vấn đề. Khi con người tự ý thức
được bản thân mình họ bắt đầu quan tâm đến vấn đề con người. Một nhà triết học
Viết nổi tiếng, I. T. Prolov đã nói: “Trong con người, cái chúng ta cũng biết
hết, duy chỉ một điều chưa
biết được: đó con người trở thành con người như thế nào?”. Khi đặt vấn đề con
người trước những ngưỡng thời gian khác nhau đều có rất nhiều quan điểm, vấn đề
được đặt ra gây bức xúc, tranh cãi với vô số những đối lập trong
nó. Điều đó không nghĩa nhưng quan điểm bị xóa đi hoàn toàn bởi quan
niệm mới được nêu ra bổ sung hay phủ định quan niệm khiến cho hệ thống
tưởng đa dạng, phong phú và ngày một hoàn thiện hơn.
1.1. Bản tính tự nhiên của con người.
Cũng giống như những động vật khác, con người đầy đủ những đặc điểm sinh
học chịu sự chi phối bởi những quy luật sinh học. vậy, theo Mác, “điều cụ
thể đầu tiên cần phải xác định tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy mối quan
hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên”
-con người kết quả tiết hóa phát triển lâu dài cảu giới tự nhiên công trình
nghiên cứu của Đácuyn đã chứng minh con người đã thay đổi từ vượn thành
người. Con người phải tìm mọi điều kiện, thứ cần thiết để duy trì đời sống tự nhiên
như thức ăn, nước uống, nhà ở. Đó quá trình con người đương đầu với khắc
nghiệt của tự nhiên để sinh tồn. Ph.Ăng-ghen khẳng định “bản thân cái sự kiện
con người tđộng vật ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ
hoàn toàn cách ly khỏi những đặc tính vốn của con vật”. Như vậy, con người
trước hết một tồn tại sinh vật, tổ chức thể của con người và mối quan hệ
của nó đối với tự nhiên.
- Con người bộ phận của giới tự nhiên: sự tồn tại của con người sự tồn tại
khác của tự nhiên mối quan hệ biện chứng với nhau. Tác động của quy luật tự
nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp quy định stồn tại của loài người. Ngược lại, biển
đổi hoạt động của con người luôn tác động làm biến đổi môi trường tự nhiên đó.
“Giới tự nhiên - cụ thể là giới tự nhiên trong chừng mực nó
không phải thân thể của con người - là thân thể của con người. Con người
sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên thân thể của con người,
thân thể với con người phải lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để
tồn tại”.
1.2. Bản tính hội của con người
Bên cạnh bản tính tự nhiên, con người được gọi sản phẩm của hội lao
động nhân tố quyết định cho quá trình hình thành con người khẳng định con
người tính hội. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật
chất, phục vụ đời sống; hình thành và phát triển tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi
vậy, lao động yếu tố quyết định hình hành bản chất hội của con người. Với
phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hgiữa mặt sinh học
với mặt hội trong mỗi con người thống nhất. Hai mặt trên thống nhất với
nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người tự nhiênhội.
2.
Con người chủ thể sản phẩm của lịch sử
Con người là sản phẩm của lịch sử bởi không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử
hội thì không tồn tại con người. Quan trọng hơn cả con người còn đóng vai trò
chủ thhoạt động
của qtrình lịch sử. Chính việc thông qua hoạt động sản
xuất con người sáng tạo ra lịch sử của mình. C.Mác viết: “Con người làm ra
lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình,
trong những điều kiện tự mình chọn lấy, là trong những điều kiện trực tiếp
trước mắt, đã cho sẵn do q khứ để lại” [6, 386]. Nhiều năm sau đó
Ph.Ăngghen đã diễn đạt lại ý trên theo cách của mình: “Con
người làm ra lịch sử của mình luận lịch sử này diễn ra như thế nào bằng
cách mỗi người theo đuổi những mục đích riêng, mong muốn một cách ý
thức, chính kết quả chung của số những ý muốn tác động theo nhiều hướng
khác nhau đó và của những ảnh hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới
bên ngoài đã tạo nên lịch sử”.
Bản chất con người không phải một hệ thống đóng kín, hệ thống mở
tương ứng với điều kiện lịch sử của con người.
Cho nên thể nói rằng, sự vận động phát triển của lịch sử sẽ đưa ra quy định
tương xứng với sự vận động và phát triển của con người thông qua những mối
quan hệ xã hội trong lịch sử.
Ph.Ăngghen cho rằng :“Thú vật cũng có nguồn gốc lịch sử,
chính là lịch sử nguồn
gốc của chúng ta lịch sử phát triển dần dần cho tới trạng thái của chúng ta hiện
nay. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra trong chừng mực chúng
tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra chúng không hề biết
không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu
theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử
của mình
một cách ý thức bấy nhiêu.” [3, 476]. Như vậy với cách thực thể hội,
con người tác động vào sự phát triển của lịch sử xã hội.
3.
Bản chất của con người sự tổng hòa về mặt hội
Con người nổi trội hơn các sinh vật với ba phương diện thể hiện bản tính hội
của con người: quan hvới tự nhiên, với hội với chính bản thân con người.
Sự khác biệt ấy thể hiện bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã
hội. Bởi
vì, cả ba mối quan hệ ấy đều mang tính xã hội giữa người và người quan hệ bản
chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác của con người. Các quan hệ hội khi
đã hình thành thì vai trò chi phối các phương diện khác của đời sống con người
khiến con người trở thành động vật xã hội. Con người “bẩm sinh đã sinh vật
tính xã hội” [1, 200]. Đặc biệt là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội, không có
nghĩa phủ nhận mặt tự nhiên trong cuộc sống con người điều đó muốn nhấn
mạnh sự phân biệt giữa con người thế giới động vật bản chất hội đó
cũng để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác về bản chất
hội của con người.
4.
Vai trò của chủ nghĩa Mác về con người trong đời sống hội
Đảng nhà nước Việt Nam ta đã đang rất quan tâm đến vấn đề con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. nhiều chiến lược phát
triển được lập ra chẳng hạn: tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn giáo, sáng
tạo ra tưởng tôn giáo mới cho phù hợp người Việt Nam. Song nhìn lại một cách
khoa học tta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin tiền đề cho đường lối nước ta
trong sự nghiệp phát triển con người trong hội Việt Nam. Với những luận
đanh thép cùng những dẫn chứng khoa học sở, chủ nghiac Mác-Lênin đã
vạch rõ được những yếu tố phi khoa học, phi nhân đạo trong những học thuyết lệch
lạc của thời trước đó. Với một nước còn nhiều khó khăn trong kinh tế xã hội,
trong hoàn cảnh những tư tưởng lạc hậu - tàn của các hội để lại thì Chủ
nghĩa Mac Lenin là ngọn đèn soi sáng cho con đường của đất nước.
Muốn xây dựng một đất nước phát triển về nhiều mặt, ta cần phải đào tạo con
người một cách chiều sâu lấy chủ nghĩa Mác-Lênin m sở. Áp dụng
chiến lược đó, Đại hội Đảng VI nước ta đã đạt những thành tựu như: thấy nhiều
điểm ưu việt hơn trong nhận thức về Chủ nghĩa hội, thấy được nhưng cái sai
trong chủ nghĩa cũ, tư duy kinh tế có sự đổi mới quan trọng. Đảng ta còn rút ra bài
học “Đảng phải luôn xuất phát tthực tế, tôn trọng hành động theo quy luật
khách quan.”
Thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - nin vào Việt
Nam đã làm nên thắng lợi ch mạng giải phòng dân tộc (1945), thống nhất đất
nước (1975) thể hiện ý chí độc lập tự do con người việt Nam. Tư tưởng Mác-Lênin
đã được vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh đất nước, trở thành hệ thống tưởng
chính thống của toàn hội. Tóm lại, chủ nghĩa Mác- Lênin ngọn đèn soi sáng
cho con đường của đất nước cũng người dẫn đường cho đảng chính phủ
cũng như hơn 80 triệu dân Việt Nam. Và chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định lĩnh
vực phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa loài người tới
một kỷ nguyên mới, mở ra nhiều con đường cho sự nghiệp phát triển con người
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Preview text:

I.
Vận dụng quan điểm triết học Mác-Lênin về con người để làm rõ định hướng
đàotạo và phát triển công dân toàn cầu trong kỷ nguyên mớicủa dân tộc 1.
Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông
Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo -
Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con người. -
Trong quá trình tồn tại, con người có trần tục tính và phật tính. Bản tính
con người vốn tự có cái ác và cái thiện. Cuộc đời con người do chính con người
quyết định qua quá trình tạo nghiệp. -
Con đường tu nghiệp để trở thành La Hán, Bồ tát hay Phật được coi là đạo làm người.
-Trong Phật giáo tiếp cận triết học từ giác độ giác độ suy tư về con người ở chiều
sâu triết lý siêu hình. Họ cho rằng con người là sự kết hợp giữa danh và sắc. Kết
lụân về bản tính “Vô ngã, Vô thường” và tính hướng thiện của con người trên con đường
truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật
Quan điểm về con người trong triết học Nho giáo -
Con người và vạn vật được tạo nên từ sự hỗn hợp giữa Trời với Đất trong
khoảng giữa âm - dương và do bẩm thụ tính Trời nên bản tính con người vốn thiện. -
Bản chất con người bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi
đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi trí khí giã- Con người là
cái đức của Trời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”.
-Khổng Tử cho rằng bản chất con người do “Thiên mệnh” chi phối, quyết định,
đức “Nhân” chính là giá trị cao nhất của con người
-Mạnh Tử khi qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, coi hoàn cảnh
đã làm cho con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp; do đó cần phải tu dưỡng,
rèn luyện để giữ được đạo đức của mình
-Trong khi đó, Tuân Tử lại cho rằng: bản chất con người khi sinh ra đã ác, nhưng
có thể cải biến bằng cách chống lại cái ác. Sau này, khi tiếp thụ quan điểm tiên tiến
khác ông củng cố quan niệm rằng coi cuộc đời con người hoàn toàn bị quyết định bởi Thiên mệnh
=> Sự khác nhau của những lí luận về bản tính con người đã là tiền đề cho những
quan điểm của các trường phái triết học trong
việc giải quyết các vấn đề như chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.
=>Nhìn chung, triết học phương Đông tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về
con người nhưng con người chủ yếu được hiểu trong mối quan hệ đạo đức – chính
trị để lý giải về “tính” người, về “số mệnh” con người. Tuy nhiên, quan niệm ấy
đều không thể vươn tới những đỉnh cao của triết học, khoa học.
Không phải nó bị xóa bỏ hoàn toàn mà đã có thời kỳ những tư duy triết học này
từng đạt tới một trình độ cao trong lịch sử của các nước đó thế nhưng nó chưa đủ
mạnh mẽ và thuyết phục 2.
Quan điểm về con người trong triết học Phường Tây thời cổ đại và trung cổ -
Quan điểm về con người trong triết học duy vật Hy Lạp cổ đại
(Empêđôclơ, Lơxíp, Đêmôcrít, Prôtago, v.v). cho rằng con người là thức đo của vũ trụ -
Quan điểm về con người trong triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại (Xôcrát và
Platôn v.v).con người chỉ là ảo ảnh của thế giới ý niệm -
Quan điểm về con người trong triết học Arítxtốt. cho rằng con người là
động vật có tư duy có kah3 năng phân biệt được thiện ác công bằng bất công và
đây là khái niệm đặc biệt chỉ có con người có
Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thời Trung cổ -
Quan điểm về con người của Cơ đốc giáo. -
Quan điểm về con người trong triết học Tômát Đacanh
-Vào thời kỳ Trung cổ, triết học cho rằng “con người là sản phẩm của Thượng đế”,
mọi số phận, buồn vui, khổ đau của con người do Thượng đế sắp đặt và đã quy đặc
trưng bản chất con người là một thực thể thuần túy – thực thể tinh thần. - Đến thời
kỳ Phục hưng - thời kỳ tự khẳng định mới của con người, Triết học đã có cách
mạng về thế giới quan của con người và có bước tiến mới quan trọng: lấy con
người làm trung tâm, đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con
người là một thực thể có trí tuệ. 3. Đánh giá
-các nhà triết học cổ đại đã đặc nền tảng cở bản về bản chất của tự nhiên( các câu
hỏi về nước, lửa, không khí, mưa)
-đối với các nhà triết học trước Mác khuyết điểm chung của họ là phương pháp tư
duy siêu hình trong xem xét bản chất của con người và xã hội. Họ quy con người
vào bản tính tự nhiên. Đặc biệt trong xem xét bản chất xã hội và con người . Các
nhà triết học đã thiếu đi tính thực tiễn
-hình thành các trường phái khác nhau đối lập về quan điểm về triết học( Chủ
nghĩa Duy Vật và Chủ nghĩa Duy Tâm )
-phép biện trứng sơ khai (mọi vật đều biến đổi của Heraclitus) và biện chứng( đối thoại cảu Socrates)
-Nhưng các nhà triết học trước Mác mắc rất nhiều hạn chế: tính trực quan các lý
luận duy vật còn mang tính trực quan chưa dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên sâu
sắc, chưa xây dựng được thành ột hệ thống trực quan lý luận chặt chẽ và có ý thức chỉ là các lý
luận thiếu tính chặt chẽ, đặt biệt là triết học hy lạp cổ đại coi ý niệm tinh thần là cái
có trước cái quyết định(Platon) II
Quan điểm triết học Mác-Lênin về con người 1.
Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Triết
học Mác-Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng
thời khẳng định con người là cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất
giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Hai yếu tố này gắn liền với nhau, trong
cái tự nhiên bao gồm tính xã hội và không có cái xã hội tách rời tính tự nhiên. 2.
Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống
nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên xã hội và luôn là đối tượng nhận
thức của Triết học từ rất sớm và xuyên suốt các giai đoạn lịch sử thăng trầm khác
nhau. Bản thân Triết học luôn luôn thay đổi và đấu tranh không ngừng nên có rất
nhiều hướng giải quyết, giả thuyết cho cùng một vấn đề. Khi con người tự ý thức
được bản thân mình họ bắt đầu quan tâm đến vấn đề con người. Một nhà triết học
Xô Viết nổi tiếng, I. T. Prolov đã nói: “Trong con người, cái gì chúng ta cũng biết
hết, duy chỉ một điều chưa
biết được: đó là con người trở thành con người như thế nào?”. Khi đặt vấn đề con
người trước những ngưỡng thời gian khác nhau đều có rất nhiều quan điểm, vấn đề
được đặt ra gây bức xúc, tranh cãi với vô số những đối lập trong
nó. Điều đó không có nghĩa là nhưng quan điểm cũ bị xóa đi hoàn toàn bởi quan
niệm mới được nêu ra bổ sung hay phủ định quan niệm cũ khiến cho hệ thống tư
tưởng đa dạng, phong phú và ngày một hoàn thiện hơn. 1.1.
Bản tính tự nhiên của con người.
Cũng giống như những động vật khác, con người có đầy đủ những đặc điểm sinh
học và chịu sự chi phối bởi những quy luật sinh học. Vì vậy, theo Mác, “điều cụ
thể đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan
hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên”
-con người là kết quả tiết hóa và phát triển lâu dài cảu giới tự nhiên công trình
nghiên cứu của Đácuyn đã chứng minh là con người đã thay đổi từ vượn thành
người. Con người phải tìm mọi điều kiện, thứ cần thiết để duy trì đời sống tự nhiên
như thức ăn, nước uống, nhà ở. Đó là quá trình con người đương đầu với khắc
nghiệt của tự nhiên để sinh tồn. Ph.Ăng-ghen khẳng định “bản thân cái sự kiện là
con người từ động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ
hoàn toàn cách ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật”. Như vậy, con người
trước hết là một tồn tại sinh vật, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ
của nó đối với tự nhiên.
- Con người là bộ phận của giới tự nhiên: sự tồn tại của con người và sự tồn tại
khác của tự nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tác động của quy luật tự
nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp quy định sự tồn tại của loài người. Ngược lại, biển
đổi hoạt động của con người luôn tác động làm biến đổi môi trường tự nhiên đó.
“Giới tự nhiên - cụ thể là giới tự nhiên trong chừng mực nó
không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người
sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người,
thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”. 1.2.
Bản tính xã hội của con người
Bên cạnh bản tính tự nhiên, con người được gọi là sản phẩm của xã hội và lao
động là nhân tố quyết định cho quá trình hình thành con người và khẳng định con
người có tính xã hội. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật
chất, phục vụ đời sống; hình thành và phát triển tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi
vậy, lao động là yếu tố quyết định hình hành bản chất xã hội của con người. Với
phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học
với mặt xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Hai mặt trên thống nhất với
nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người tự nhiên–xã hội. 2.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Con người là sản phẩm của lịch sử bởi không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử
xã hội thì không tồn tại con người. Quan trọng hơn cả con người còn đóng vai trò
là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Chính việc thông qua hoạt động sản
xuất mà con người sáng tạo ra lịch sử của mình. C.Mác viết: “Con người làm ra
lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình,
trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có
trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại” [6, 386]. Nhiều năm sau đó
Ph.Ăngghen đã diễn đạt lại ý trên theo cách của mình: “Con
người làm ra lịch sử của mình – vô luận là lịch sử này diễn ra như thế nào – bằng
cách là mỗi người theo đuổi những mục đích riêng, mong muốn một cách có ý
thức, và chính kết quả chung của vô số những ý muốn tác động theo nhiều hướng
khác nhau đó và của những ảnh hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới
bên ngoài đã tạo nên lịch sử”.
Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà nó là hệ thống mở
tương ứng với điều kiện lịch sử của con người.
Cho nên có thể nói rằng, sự vận động và phát triển của lịch sử sẽ đưa ra quy định
tương xứng với sự vận động và phát triển của con người thông qua những mối
quan hệ xã hội trong lịch sử.
Ph.Ăngghen cho rằng :“Thú vật cũng có nguồn gốc lịch sử, chính là lịch sử nguồn
gốc của chúng ta và lịch sử phát triển dần dần cho tới trạng thái của chúng ta hiện
nay. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng
tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và
không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu
theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình
một cách có ý thức bấy nhiêu.” [3, 476]. Như vậy với tư cách là thực thể xã hội,
con người tác động vào sự phát triển của lịch sử xã hội. 3.
Bản chất của con người là sự tổng hòa về mặt xã hội
Con người nổi trội hơn các sinh vật với ba phương diện thể hiện bản tính xã hội
của con người: quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân con người.
Sự khác biệt ấy thể hiện bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội. Bởi
vì, cả ba mối quan hệ ấy đều mang tính xã hội giữa người và người là quan hệ bản
chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác của con người. Các quan hệ xã hội khi
đã hình thành thì có vai trò chi phối các phương diện khác của đời sống con người
khiến con người trở thành động vật xã hội. Con người “bẩm sinh đã là sinh vật có
tính xã hội” [1, 200]. Đặc biệt là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội, không có
nghĩa phủ nhận mặt tự nhiên trong cuộc sống con người mà điều đó muốn nhấn
mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật ở bản chất xã hội và đó
cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác về bản chất xã hội của con người. 4.
Vai trò của chủ nghĩa Mác về con người trong đời sống xã hội
Đảng và nhà nước Việt Nam ta đã và đang rất quan tâm đến vấn đề con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có nhiều chiến lược phát
triển được lập ra chẳng hạn: tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn giáo, sáng
tạo ra tư tưởng tôn giáo mới cho phù hợp người Việt Nam. Song nhìn lại một cách
khoa học thì ta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là tiền đề cho đường lối nước ta
trong sự nghiệp phát triển con người trong xã hội Việt Nam. Với những lý luận
đanh thép cùng những dẫn chứng khoa học có cơ sở, chủ nghiac Mác-Lênin đã
vạch rõ được những yếu tố phi khoa học, phi nhân đạo trong những học thuyết lệch
lạc của thời kì trước đó. Với một nước còn nhiều khó khăn trong kinh tế xã hội,
trong hoàn cảnh những tư tưởng lạc hậu - tàn dư của các xã hội cũ để lại thì Chủ
nghĩa Mac Lenin là ngọn đèn soi sáng cho con đường của đất nước.
Muốn xây dựng một đất nước phát triển về nhiều mặt, ta cần phải đào tạo con
người một cách có chiều sâu và lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở. Áp dụng
chiến lược đó, Đại hội Đảng VI nước ta đã đạt những thành tựu như: thấy nhiều
điểm ưu việt hơn trong nhận thức về Chủ nghĩa xã hội, thấy được nhưng cái sai
trong chủ nghĩa cũ, tư duy kinh tế có sự đổi mới quan trọng. Đảng ta còn rút ra bài
học “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.”
Thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt
Nam đã làm nên thắng lợi cách mạng giải phòng dân tộc (1945), thống nhất đất
nước (1975) thể hiện ý chí độc lập tự do con người việt Nam. Tư tưởng Mác-Lênin
đã được vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh đất nước, trở thành hệ thống tư tưởng
chính thống của toàn xã hội. Tóm lại, chủ nghĩa Mác- Lênin là ngọn đèn soi sáng
cho con đường của đất nước và cũng là người dẫn đường cho đảng và chính phủ
cũng như hơn 80 triệu dân Việt Nam. Và chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định lĩnh
vực phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa loài người tới
một kỷ nguyên mới, mở ra nhiều con đường cho sự nghiệp phát triển con người
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.