Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến tranh) | Tiểu luận Quan hệ quốc tế đại cương

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới phát triển theo chiều hướng đa cực, sức  mạnh quốc gia trở thành một “vũ khí quyền lực”, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến  quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng  cao sức cạnh tranh và phạm vi ảnh hưởng của một quốc gia trên thế giới. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
14 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến tranh) | Tiểu luận Quan hệ quốc tế đại cương

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới phát triển theo chiều hướng đa cực, sức  mạnh quốc gia trở thành một “vũ khí quyền lực”, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến  quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng  cao sức cạnh tranh và phạm vi ảnh hưởng của một quốc gia trên thế giới. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

10 5 lượt tải Tải xuống
1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
-------------------------
MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẠI CƯƠNG
VIỆC SỬ DỤNG SỨC MẠNH QUỐC GIA TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
VẤN ĐỀ TOÀN CẦU CỦA CÁC NƯỚC LỚN (PHÂN TÍCH VỀ VẤN ĐỀ
CHIẾN TRANH)
Sinh viên: PHẠM HUYỀN NGỌC
Mã số sinh viên: 2151070031
Lớp tín chỉ: QT01001_K41.1
Lớp hành chính: Truyền Thông Quốc Tế K41
2
Hà Nội, tháng 06 năm 2022
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Khái niệm sức mạnh quốc gia một số vấn đề bản về những vấn đề
toàn
cầu........................................................................................................4
1. Khái niệm sức mạnh quốc gia...........................................................4
2. Quan niệm về nước lớn......................................................................4
3. Khái niệm về những vấn đề toàn cầu.................................................5
4. Nội dung của những vấn đề toàn cầu.................................................5
5. Nguyên nhân xuất hiện tổ hợp thứ nhất.............................................6
II. Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của
các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến
tranh)...........................................7
1. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh giữa các quốc gia........................7
2. Các nước lớn vận dụng sức mạnh quốc gia giải quyết vấn đề chiến
tranh.................................................................................................10
KẾT LUẬN.........................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................13
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới phát triển theo chiều hướng đa
cực, sức mạnh quốc gia trở thành một “vũ khí quyền lực”, có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia đóng một vai trò quan trọng
trong việc nâng cao sức cạnh tranh và phạm vi ảnh hưởng của một quốc gia trên
thế giới. Đồng thời, sức mạnh quốc gia đang ngày càng khẳng định vị thế của nó
trong đời sống kinh tế - chính trị thế giới và trong mối quan hệ quóc tế. Chính vì
thế mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm xây dựng, củng cố, khai
thác và phát huy sức mạnh như một nhiệm vụ mang tầm chiến lược quốc gia.
Muốn thành công trong các chiến lược xây dựng sức mạnh quốc gia, các
nước đều phải hướng tới những giá trị cốt lõi của nhân loại, đáp ứng khát vọng
của con người về giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng mục tiêu hòa bình, hợp
tác và phát triển trong một thời kỳ hội nhập thế giới.
Em lựa chọn đề tài “Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các
vấn đề toàn cầu của các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến tranh)” làm đề tài
tiểu luận để nghiên cứu về những đường lối, chính sách của các quốc gia lớn có
tầm ảnh hưởng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu nhằm nâng cao sức
mạnh quốc gia của họ và giải quyết hợp lý những vấn đề cấp bách trên thế giới,
hướng tới những giá trị cốt lõi cho nhân loại.
4
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM SỨC MẠNH QUỐC GIA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU:
1. Khái niệm sức mạnh quốc gia:
Sức mạnh quốc gia (hay còn gọi là Thực lực quốc gia) là một khái niệm
trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, dùng để chỉ toàn bộ thực lực đảm bảo cho sự tồn
tại và phát triển của một quốc gia bao gồm: các nhân tố vật chất (phần cứng),
tinh thần (phần mềm) và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế.
Có nhiều cách phân loại quyền lực của một quốc gia, mỗi cách phân loại
có một ý nghĩa ứng dụng nhất định trong nghiên cứu thực tiễn quan hệ quốc tế.
Cách phân loại phổ biến gần đây và dựa theo phương thức thực hiện quyền lực
là:
Quyền lực cứng (Hard Power): là thực lực về kinh tế, quốc phòng;
dùng những luật pháp, luật lệ, quy tắc, quy định mang tính pháp lý
hoặc những quy ước, cam kết mang tính ràng buộc để chủ thể phải
tuân theo một cách bắt buộc.
Quyền lực mềm (Soft Power): khả năng dùng sự ảnh hưởng hay sự
hấp dẫn để thuyết phục chủ thế khác làm theo ý mình.
Sự khác nhau giữa hai quyền lực này là phương thức thực hiện ép buộc
hay thuyết phục; công cụ sử dụng “cứng” hay “mềm”; tạo tâm lý sợ hay hay tin
tưởng để chủ thể làm theo;... Trên thực tế, hai loại quyền lực này có giá trị bổ
sung cho nhau và hay được sử dụng kết hợp.
2. Quan niệm về nước lớn:
5
Khái niệm “nước lớn” dùng để chỉ những quốc gia có vị thế lớn, có khả
năng tạo ảnh hưởng ở phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, khái niệm “nước lớn” có
điểm khác biệt đối với khái niệm “siêu cường” hay là “cường quốc”
“Cường quốc” là những quốc gia có ảnh hưởng mạng mẽ đối với một số
lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu hoặc trong phạm vi khu vực địa lý của họ. “Siêu
cường” là quốc gia có thể có sức nặng quyết định đối với toàn bộ các vấn đề có
tần quan trọng của thế giới như Mỹ. Như vậy, không phải cường quốc nào cũng
là nước lớn và không phải nước lớn nào cũng là siêu cường.
Một quốc gia được gọi là nước lớn khi đất nước đó có khả năng làm thay
đổi ý chí của các nước khác, có tác động định hình nền chính trị thế giới, duy trì
tình trạng ổn định và cân bằng các hệ thông quan hệ quốc tế, tạo cơ sở để các
quốc gia khác dựa vào đó làm cơ sở đề ra nguyên tắc ứng xử phù hợp.
3. Khái niệm về những vấn đề toàn cầu:
Những vấn đề toàn cầu dùng để chỉ tổng thể những vấn đề cấp bách mà từ
nguyên nhân nảy sinh, phát triển đến phạm vi, quy mô tác động và việc khắc
phục những hậu quả của nó liên quan trực tiếp đến từng con người đến tất cả dân
tộc, quốc gia, đến toàn nhân loại.
Hiện nay việc giải quyết những vấn đề toàn cầu đều đụng chạm đến các
lợi ích: cá nhân với tập thể; cục bộ với toàn thể; địa phương với quốc gia; quốc
gia với nhân loại. Trong các loại lợi ích trên thì lợi ích nhân loại phải được đưa
lên hàng đầu.
Những vấn đề toàn cầu và cuộc đấu tranh để giải quyết chúng có tính chất
lịch sử, đòi hỏi con người có vai trò chủ động và trách nhiệm cao. Trong những
thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có những vấn đề toàn cầu khác nhau, do đó các
biện pháp giải quyết cũng sẽ khác nhau.
4. Nội dung của những vấn đề toàn cầu:
6
Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ
dẫn đến sự phân bố lại các lực lượng xã hội và đồng thời, quá trình đấu tranh và
hợp tác về quân sự, chính trị, kinh tế giữa các quốc gia, dân tộc đã tạo nên hàng
loạt những vấn đề toàn cầu gay gắt. Những vấn đề toàn cầu có xu hướng tiếp tục
gia tăng cả về số lương, quy mô và cả tính chất của nó trong những năm tới.
Hiện nay có hai tổ hợp những vấn đề toàn cầu, mỗi tổ hợp bao gồm một số
vấn đề toàn cầu hoặc có tính toàn cầu:
Tổ hợp thứ nhất: Những vấn đề có liên quan tới việc giải quyết giữa
con người với con người nảy sinh trong quan hệ giữa các quốc gia,
dân tộc về chính trị, quân sự và kinh tế.
Tổ hợp thứ hai: Bao gồm những vấn đề có liên quan đến mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên.
Trong bài luận này em sẽ tập trung phân tích về vệc sử dụng sức mạnh
quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của các nước lớn trong tổ hợp thứ
nhất, bao gồm các cuộc đấu tranh lớn – nhỏ trong đó có cuộc đấu tranh để ngăn
chặn chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình, khắc phục tình trạng lạc hậu và bùng
nổ dân số ở các nước đang phát triển, thiết lập trật tự kinh tế thế giới, cuộc đấu
tranh nhằm tạo điều kiện cho sự tiến bộ của mọi quốc gia (để chống đói nghèo và
bệnh tật).
5. Nguyên nhân xuất hiện tổ hợp thứ nhất:
Do cuộc đấu tranh giữa người với người:
Cuộc đấu tranh giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau
Các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo
Cuộc đấu tranh giữa các chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Trong đó
chủ nghĩa tư bản muốn sử dụng sức mạnh quân sự nhằm thủ tiêu chủ
nghĩa xã hội.
7
II. VIỆC SỬ DỤNG SỨC MẠNH QUỐC GIA TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
VẤN ĐỀ TOÀN CẦU CỦA CÁC NƯỚC LỚN (PHÂN TÍCH VỀ VẤN ĐỀ
CHIẾN TRANH):
1. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh giữa các quốc gia:
a. Lợi ích kinh tế:
Phần lớn các cuộc chiến tranh gây nên bởi một quốc gia đều mong muốn
kiểm soát sự giàu có của quốc gia khác. Dù nguyên nhân gây ra chiến tranh là gì
và mục tiêu của chiến tranh được truyền bá ra sao thì nguồn động lực về kinh tế
luôn nằm ẩn sâu dưới những mâu thuẫn giữa các quốc gia đó.
Ở mỗi một thời đại thì nguồn động lực về kinh tế dẫn đến chiến tranh sẽ
khác nhau. Trong thời kỳ tiền công nghiệp hóa, mục tiêu mà những quốc gia gây
chiến nhắm đến đó chính là vàng, bạc hoặc những vật nuôi gia súc như bò hay
ngựa. Trong thời kỳ hiện đại thì sự thèm khát của các quốc gia gây chiến lại là
tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu mỏ và nguyên vật liệu trong sản xuất.
Điển hình trong lịch sử về các cuộc chiến tranh giành lợi ích kinh tế là
cuộc chiến tranh Anh - Ấn (1766 – 1849). Chiến tranh Anh - Ấn là một chuỗi các
cuộc chiến tranh giữa cộng đồng người Anh ở Ấn Độ thuộc Anh và những vùng
khác ở Ấn Độ. Những cuộc chiến này dẫn đến việc thiết lập sự thống trị của thực
dân Anh tại Ấn Độ, khiến có người Anh không bị hạn chế tiếp cận nguồn tài
nguyên có giá trị ở Ấn Độ.
b. Lợi ích lãnh thổ:
Cuộc chiến tranh giành lãnh thổ sẽ diễn ra khi một quốc gia nhắm đến một
vùng đất đai để làm nơi sinh sống, để sử dụng cho nông nghiệp hoặc phục vụ cho
những mục đích khác nhau. Vùng lãnh thổ đó có thể được sử dụng như “vùng
đệm” giữa hai bên địch thủ và liên quan đến những cuộc chiến ủy nhiệm.
8
Các cuộc chiến ủy nhiệm là những xung đột được đấu tranh bằng cách
thông qua lực lượng của một hoặc nhiều nước khác, hay các tác nhân phi nhà
nước. Loại hình chiến tranh này được một số nước coi trọng sử dụng để can dự
vào các cuộc xung đột nhằm đạt mục tiêu chiến lược mà không sử dụng lực
lượng trực tiếp tham chiến.
Cuộc xung đột vũ trang Hoa Kỳ - Mexico (1846 – 1848) là cuộc xung đột
vũ trang điển hình trong lịch sử nhằm giành lãnh thổ Texas. Cuộc chiến diễn ra
sau khi Mỹ sáp nhập Texas năm 1845 nhưng chính phủ Mexico không công nhận
cuộc sáp nhập này. Hoa Kỳ đã thắng trận trong cuộc chiến với Mexico và sáp
nhập Texas thành một tiểu bang của quốc gia.
Chiến trang Whisky – cuộc tranh chấp “lịch sự” nhất trên thế giới giữa
Canada và Đan Mạch về việc Đảo Hans thuộc về quốc gia nào. Đảo Hans nằm
ngay giữa đảo Ellesmere thuộc Canada và Greenland thuộc Đan Mạch, đảo Hans
gây tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ giữa hai quốc gia này vì nó nằm trong giới
hạn lãnh thổ 12 dặm của cả Canada và Greenland – đủ gần để mỗi quốc gia liên
quan có thể yêu sách theo luật pháp quốc tế. Cho đến tận ngày 14/6/2022 thì
cuộc chiến Whisky mới kết thúc bằng việc Canada và Đan Mạch phân chia hòn
đảo Hans không người này thành hai phần gần như bằng nhau dọc theo một khe
nứt tự nhiên. Cả Canada và Đan Mạch chính thức công bố thỏa thuận phân chia
đảo Hans tại lễ ký kết ở Ottawa với sự thâm sự của ngoại trưởng của cả hai quốc
gia này.
c. Xung đột về tôn giáo:
Các cuộc chiến tranh về tôn giáo thường có nguồn gốc sâu xa và âm ỉ
trong nhiều thập kỳ liền. Các cuộc xung đột chỉ nổ ra trong vài năm và gắn liền
với các lý do khác nhưng hậu quả để lại rất nặng nề.
9
Nguyên nhân của chiến tranh có thể là sự xung đột của các tôn giáo khác
nhau những cũng có thể là do sự xung đột của các phái giáo khác nhau trong
cùng một tôn giáo.
Cuộc xung đột tôn giáo không thể không kể đến là cuộc xung đột giữa
Phật giáo Tây Tạng, Trung Quốc vào năm 2008 gây thiệt hại về cả mạng người
lẫn kinh tế một cách nặng nề. Hơn chín tháng sau đó, tại Tây Tạng liên tiếp diễn
ra các cuộc biểu tình và điều này dẫn đến cuộc xung đột với người Duy Ngô Nhĩ
theo Hồi giáo ở vùng Tân Cương cùng với người Hán và chính quyền địa
phương vào năm 2009. Cuộc xung đột tôn giáo năm 2009 đã làm hơn 1.600
người bị thương vong.
d. Chủ nghĩa dân tộc:
Chủ nghĩa dân tộc trong bối cảnh này chính là việc dùng bạo lực để chứng
minh sự vượt trội của đất nước mình so với quốc gia khác. Liên quan đến chủ
nghĩa dân tộc chính là chủ nghĩa đế quốc – việc chinh phục các quốc gia khác là
niềm vinh quang và mang lại danh dự, sự quý trọng cho người chinh phục.
Trong Thế chiến thứ nhất, vì lòng trung thành và yêu nước cực độ mà
nhiều quốc gia tham gia và cuộc chiến tranh. Người Châu Âu trước chiến tranh
họ tin vào uy quyền tối cao về văn hóa, kinh tế và quân sự của quốc gia họ. Tuy
nhiên, không một quốc gia Châu Âu nào thực sự chiến thắng trong cuộc chiến
tranh này, tất cả đều bị tổn hại nặng nề về người và của.
e. Chiến tranh trả thù:
Đây là cuộc chiến nhằm trừng phạt, giải quyết sự bất bình hoặc đơn giản
là đánh trả lại sự xem thường của quốc gia khác đối với quốc gia họ. Điều này có
thể dân đến một chuỗi các cuộc chiến tranh trả đũa bất tận rất khó để dừng lại.
Trong lịch sử cuộc Thế chiến thứ hai, sự trỗi dậy của Đảng Đức Quốc xã
và sự thống trị cuối cùng của Đức đối với lục địa Châu Âu là kết quả trực tiếp
của Hiệp ước Versailles khi hiệp ước này áp đặt các hình hạt nghiêm khắc đối
10
với Đức. Tuy nhiên, chiến tranh thế giới thứ hai đã thay đổi cục diện chính trị lẫn
cấu trúc xã hội toàn cầu.
f. Chiến tranh cách mạng:
Chiến tranh cách mạng xảy ra khi một bộ phận lớn dân số của một quốc
gia nổi dậy chống lại cá nhân hoặc một nhóm thống trị đất nước vì họ không hài
lòng với sự lãnh đạo của người thống trị. Các cuộc cách mạng có thể bắt đầu vì
nhiều lý do, bao gồm khó khăn kinh tế giữa các bộ phận dân cư nhất định hoặc
nhận thấy sự bất công do nhóm cầm quyền không thực hiện đúng cam kết. Trong
nhiều trường hợp, cuộc chiến tranh cách mạng có thể trở thành nội chiến.
Điển hình trong lịch sử là chiến tranh Cách mạng Pháp (1792 – 1820) giữa
chính phủ Cách mạng Pháp với nhiều quốc gia Châu Âu. Cùng với tinh thần
cách mạng Pháp và những đổi mới về mặt quân sự, quân đội Cách mạng Pháp đã
đánh bại các khối liên minh của đối phương trong các chiến dịch và mở rộng
quyền kiểm soát của nước Pháp lên với các quốc gia Vùng đất thấp, Ý và vùng
Rhineland.
g. Chiến tranh phòng thủ:
Các cuộc chiến tranh phòng thủ xảy ra khi một đất nước cảm thấy họ bị đe
dọa hoặc có nguy cơ bị xâm lược. Do đó cuộc chiến tranh phòng thủ của họ là vì
chính nghĩa. Nhiều cuộc diễn tập trong Chiến tranh Lạnh có thể được coi là
phòng thủ, điển hình là sự kiện Vịnh Con Heo thất bại ở bờ biển phía Tây Nam
Cuba năm 1961, các lực lượng Hoa Kỳ cố gắng xâm chiếm Cuba để ngăn chặn
việc thành lập các đầu đạn hạt nhân ở đó.
2. Các nước lớn vận dụng sức mạnh quốc gia giải quyết vấn đề chiến tranh:
Thứ nhất, trong tình hình thế giới biến đối theo xu hướng đa cực, các
cường quốc vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp để bảo đảm lợi ích, vị thế và tầm ảnh
11
hưởng của mình; vừa kiếm chế, ngăn chặn sự ảnh hưởng của các quốc gia khác
trong khu vực và trên thế giới. Dù vậy, các nước lớn vẫn phải tuân thủ theo luật
pháp và công ước quốc tế đã ký kết; tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích, thể chế
chính trị của các quốc gia khác. Đấy chính là mục tiêu, lợi ích và trách nhiệm,
nguyện vọng chung của cộng đồng quốc tế.
Thứ hai, sự cạnh tranh chiến lược của các nước lớn thúc đẩy hợp tác sâu
rộng, mang lại môi trường và điều kiện thuận lợi cho các quốc gia phát triển đa
lĩnh vực. Sự cạnh tranh này cũng sẽ mang đến nhiều bất lợi mà buộc các quốc
gia phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt tình hình và dự báo chính xác chiến lược
của các cường quốc để đưa ra các đối sách hoặc giải pháp phù hợp nhằm ngăn
chặn các tác động tiêu cực đến mối quan hệ ngoại giao và đặc biệt là đến tình
hình quan hệ quốc tế.
Thứ ba, cần vận dụng phương thức vừa hợp tác, vừa đấu tranh một cách
linh hoạt; có đối sách phù hợp với từng nước lớn để quan hệ với nước này không
làm ảnh hưởng tới quan hệ với nước khác. Chính sách “cân bằng nước lớn” là
lựa chọn tất yếu trong duy trì quan hệ với các cường quốc và cần có cách tiếp
cận linh hoạt để đạt được lợi ích tối đa.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh với các quốc gia trên thế
giới. Các nước lớn có lợi thế trong quan hệ quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, nhất
là về chính trị, quân sự, tiềm lực khoa học công - nghệ và đều là các trung tâm
kinh tế thế giới. Vì thế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh với các
nước lớn là vấn đề cần thiết và quan trọng. Một mặt nhằm tăng cường hiểu biết,
xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế, góp phần duy trì môi trường hòa bình,
hợp tác cùng phát triển, nâng cao vị thế, uy tín đất nước. Mặt khác, tranh thủ mọi
nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm từ các nước này để xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Đó chính là
12
một định hướng chiến lược, kế sách bảo vệ an ninh quốc gia từ sơm bằng biện
pháp hòa bình.
KẾT LUẬN
Hiện nay, vấn đề về chiến tranh là một trong những vấn đề toàn cầu, mang
tính cấp bách và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới. Tương tự
như các vấn đề về kinh tế - xã hội, vấn đề chiến tranh và bảo vệ hòa bình và vấn
đề cần có sự quan tâm và hợp tác giữa các quốc gia với nhau. Từ những nguyên
nhân dẫn đến xung đột có thể thấy mối quan hệ ngoại giao và đàm phán trên bàn
tròn quốc tế giữa các quốc gia chính là điều kiện tốt nhất để ngăn chặn chiến
tranh nổ ra. Các nước đều hướng về giá trị chung là hòa bình nhân loại, mềm dẻo
và linh hoạt trong ngoại giao và đưa ra tiếng nói chung nhằm thúc đẩy mối quan
hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, đẩy lùi những cuộc xung đột vũ trang.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Khắc Nam, , NXB Đại học QuốcGiáo trình nhập môn Quan hệ quốc tế
gia Hà Nội, 2018.
http://thuvien.ajc.edu.vn/ViewPDFOnline/document.php?
loc=0&doc=54086999809419920366515459537511193771
2. PGS, TS Phạm Minh Sơn, Những vấn đề cơ bản trong quan hệ quốc tế hiện
đại, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viên Báo chí và Tuyên truyền, 2016.
http://thuvien.ajc.edu.vn/ViewPDFOnline/document.php?
loc=0&doc=120370422345045778468437201773735524371
3. Nguyễn Hoa, Sức mạnh mềm trong một thế giới đang thay đổi, Tạo chí Cộng
sản (09/01/2020).
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-
ngoai1/-/2018/815776/suc-manh-mem-trong-mot-the-gioi-dang-thay-doi.aspx
4. PGS, TS Trần Minh Sơn, , Chiến tranh ủy nhiệm và giải pháp phòng, chống
Tạp chí Quốc phòng toàn dân (13/11/2014).
http://tapchiqptd.vn/vi/nghien-cuu-trao-doi/chien-tranh-uy-nhiem-va-giai-phap-
phong-chong/6500.html
5. Paul Goodman, The 8 Main Reasons for War, Owlcation (06/01/2022).
https://owlcation.com/social-sciences/The-Main-Reasons-For-War
6. , Redsvn (09/07/2018).Hiện trạng xung đột dân tộc, tôn giáo trên thế giới
http://redsvn.net/hien-trang-xung-dot-dan-toc-ton-giao-tren-the-gioi/#:~:text=Nh
%C6%B0%3A%20xung%20%C4%91%E1%BB%99t%20gi%E1%BB%AFa
14
%20nh%E1%BB%AFng,Nam%20Th%C3%A1i%20Lan%2C%20Myanmar
%2C%E2%80%A6
7. Bình An, Canada – Đan Mạch chấm dứt “cuộc chiến rượu Whisky”: Hình
mẫu giải quyết tranh chấp lãnh thổ, Tuổi trẻ online (15/06/2022).
https://tuoitre.vn/canada-dan-mach-cham-dut-cuoc-chien-ruou-whisky-hinh-
mau-giai-quyet-tranh-chap-lanh-tho-20220615120132694.htm
8. PGS, TS Trần Việt Khoa, Chiến lược của một số cường quốc tác động đến
quốc phòng, an ninh khu vực và Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân
(18/05/2021).
http://tapchiqptd.vn/vi/bao-ve-to-quoc/chien-luoc-cua-mot-so-cuong-quoc-tac-
dong-den-quoc-phong-an-ninh-khu-vuc-va-viet-nam/17107.html
9. Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Xử lý đúng đắn mối quan hệ với các
nước lớn - yếu tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia
trong quá trình tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, Tạp chí Quốc phòng toàn
dân (11/12/2017).
http://tapchiqptd.vn/vi/nghien-cuu-thuc-hien-nghi-quyet/xu-ly-dung-dan-moi-
quan-he-voi-cac-nuoc-lon-yeu-to-quan-trong-de-giu-vung-doc-lap-tu-chu-
v/10942.html.
| 1/14

Preview text:

1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ -------------------------
MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẠI CƯƠNG
VIỆC SỬ DỤNG SỨC MẠNH QUỐC GIA TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
VẤN ĐỀ TOÀN CẦU CỦA CÁC NƯỚC LỚN (PHÂN TÍCH VỀ VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH)
Sinh viên: PHẠM HUYỀN NGỌC
Mã số sinh viên: 2151070031
Lớp tín chỉ: QT01001_K41.1
Lớp hành chính: Truyền Thông Quốc Tế K41 2 Hà Nội, tháng 06 năm 2022 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................4 I.
Khái niệm sức mạnh quốc gia và một số vấn đề cơ bản về những vấn đề toàn
cầu........................................................................................................4
1. Khái niệm sức mạnh quốc gia...........................................................4
2. Quan niệm về nước lớn......................................................................4
3. Khái niệm về những vấn đề toàn cầu.................................................5
4. Nội dung của những vấn đề toàn cầu.................................................5
5. Nguyên nhân xuất hiện tổ hợp thứ nhất.............................................6 II.
Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của
các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến
tranh)...........................................7
1. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh giữa các quốc gia........................7
2. Các nước lớn vận dụng sức mạnh quốc gia giải quyết vấn đề chiến
tranh.................................................................................................10
KẾT LUẬN.........................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................13 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới phát triển theo chiều hướng đa
cực, sức mạnh quốc gia trở thành một “vũ khí quyền lực”, có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia đóng một vai trò quan trọng
trong việc nâng cao sức cạnh tranh và phạm vi ảnh hưởng của một quốc gia trên
thế giới. Đồng thời, sức mạnh quốc gia đang ngày càng khẳng định vị thế của nó
trong đời sống kinh tế - chính trị thế giới và trong mối quan hệ quóc tế. Chính vì
thế mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm xây dựng, củng cố, khai
thác và phát huy sức mạnh như một nhiệm vụ mang tầm chiến lược quốc gia.
Muốn thành công trong các chiến lược xây dựng sức mạnh quốc gia, các
nước đều phải hướng tới những giá trị cốt lõi của nhân loại, đáp ứng khát vọng
của con người về giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng mục tiêu hòa bình, hợp
tác và phát triển trong một thời kỳ hội nhập thế giới.
Em lựa chọn đề tài “Việc sử dụng sức mạnh quốc gia trong giải quyết các
vấn đề toàn cầu của các nước lớn (phân tích về vấn đề chiến tranh)” làm đề tài
tiểu luận để nghiên cứu về những đường lối, chính sách của các quốc gia lớn có
tầm ảnh hưởng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu nhằm nâng cao sức
mạnh quốc gia của họ và giải quyết hợp lý những vấn đề cấp bách trên thế giới,
hướng tới những giá trị cốt lõi cho nhân loại. 4 NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM SỨC MẠNH QUỐC GIA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU:
1. Khái niệm sức mạnh quốc gia:
Sức mạnh quốc gia (hay còn gọi là Thực lực quốc gia) là một khái niệm
trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, dùng để chỉ toàn bộ thực lực đảm bảo cho sự tồn
tại và phát triển của một quốc gia bao gồm: các nhân tố vật chất (phần cứng),
tinh thần (phần mềm) và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế.
Có nhiều cách phân loại quyền lực của một quốc gia, mỗi cách phân loại
có một ý nghĩa ứng dụng nhất định trong nghiên cứu thực tiễn quan hệ quốc tế.
Cách phân loại phổ biến gần đây và dựa theo phương thức thực hiện quyền lực là:
Quyền lực cứng (Hard Power): là thực lực về kinh tế, quốc phòng;
dùng những luật pháp, luật lệ, quy tắc, quy định mang tính pháp lý
hoặc những quy ước, cam kết mang tính ràng buộc để chủ thể phải
tuân theo một cách bắt buộc.
Quyền lực mềm (Soft Power): khả năng dùng sự ảnh hưởng hay sự
hấp dẫn để thuyết phục chủ thế khác làm theo ý mình.
Sự khác nhau giữa hai quyền lực này là phương thức thực hiện ép buộc
hay thuyết phục; công cụ sử dụng “cứng” hay “mềm”; tạo tâm lý sợ hay hay tin
tưởng để chủ thể làm theo;... Trên thực tế, hai loại quyền lực này có giá trị bổ
sung cho nhau và hay được sử dụng kết hợp.
2. Quan niệm về nước lớn: 5
Khái niệm “nước lớn” dùng để chỉ những quốc gia có vị thế lớn, có khả
năng tạo ảnh hưởng ở phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, khái niệm “nước lớn” có
điểm khác biệt đối với khái niệm “siêu cường” hay là “cường quốc”
“Cường quốc” là những quốc gia có ảnh hưởng mạng mẽ đối với một số
lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu hoặc trong phạm vi khu vực địa lý của họ. “Siêu
cường” là quốc gia có thể có sức nặng quyết định đối với toàn bộ các vấn đề có
tần quan trọng của thế giới như Mỹ. Như vậy, không phải cường quốc nào cũng
là nước lớn và không phải nước lớn nào cũng là siêu cường.
Một quốc gia được gọi là nước lớn khi đất nước đó có khả năng làm thay
đổi ý chí của các nước khác, có tác động định hình nền chính trị thế giới, duy trì
tình trạng ổn định và cân bằng các hệ thông quan hệ quốc tế, tạo cơ sở để các
quốc gia khác dựa vào đó làm cơ sở đề ra nguyên tắc ứng xử phù hợp.
3. Khái niệm về những vấn đề toàn cầu:
Những vấn đề toàn cầu dùng để chỉ tổng thể những vấn đề cấp bách mà từ
nguyên nhân nảy sinh, phát triển đến phạm vi, quy mô tác động và việc khắc
phục những hậu quả của nó liên quan trực tiếp đến từng con người đến tất cả dân
tộc, quốc gia, đến toàn nhân loại.
Hiện nay việc giải quyết những vấn đề toàn cầu đều đụng chạm đến các
lợi ích: cá nhân với tập thể; cục bộ với toàn thể; địa phương với quốc gia; quốc
gia với nhân loại. Trong các loại lợi ích trên thì lợi ích nhân loại phải được đưa lên hàng đầu.
Những vấn đề toàn cầu và cuộc đấu tranh để giải quyết chúng có tính chất
lịch sử, đòi hỏi con người có vai trò chủ động và trách nhiệm cao. Trong những
thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có những vấn đề toàn cầu khác nhau, do đó các
biện pháp giải quyết cũng sẽ khác nhau.
4. Nội dung của những vấn đề toàn cầu: 6
Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ
dẫn đến sự phân bố lại các lực lượng xã hội và đồng thời, quá trình đấu tranh và
hợp tác về quân sự, chính trị, kinh tế giữa các quốc gia, dân tộc đã tạo nên hàng
loạt những vấn đề toàn cầu gay gắt. Những vấn đề toàn cầu có xu hướng tiếp tục
gia tăng cả về số lương, quy mô và cả tính chất của nó trong những năm tới.
Hiện nay có hai tổ hợp những vấn đề toàn cầu, mỗi tổ hợp bao gồm một số
vấn đề toàn cầu hoặc có tính toàn cầu:
Tổ hợp thứ nhất: Những vấn đề có liên quan tới việc giải quyết giữa
con người với con người nảy sinh trong quan hệ giữa các quốc gia,
dân tộc về chính trị, quân sự và kinh tế.
Tổ hợp thứ hai: Bao gồm những vấn đề có liên quan đến mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên.
Trong bài luận này em sẽ tập trung phân tích về vệc sử dụng sức mạnh
quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu của các nước lớn trong tổ hợp thứ
nhất, bao gồm các cuộc đấu tranh lớn – nhỏ trong đó có cuộc đấu tranh để ngăn
chặn chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình, khắc phục tình trạng lạc hậu và bùng
nổ dân số ở các nước đang phát triển, thiết lập trật tự kinh tế thế giới, cuộc đấu
tranh nhằm tạo điều kiện cho sự tiến bộ của mọi quốc gia (để chống đói nghèo và bệnh tật).
5. Nguyên nhân xuất hiện tổ hợp thứ nhất:
Do cuộc đấu tranh giữa người với người:
Cuộc đấu tranh giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau
Các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo
Cuộc đấu tranh giữa các chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Trong đó
chủ nghĩa tư bản muốn sử dụng sức mạnh quân sự nhằm thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. 7
II. VIỆC SỬ DỤNG SỨC MẠNH QUỐC GIA TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
VẤN ĐỀ TOÀN CẦU CỦA CÁC NƯỚC LỚN (PHÂN TÍCH VỀ VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH):
1. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh giữa các quốc gia: a. Lợi ích kinh tế:
Phần lớn các cuộc chiến tranh gây nên bởi một quốc gia đều mong muốn
kiểm soát sự giàu có của quốc gia khác. Dù nguyên nhân gây ra chiến tranh là gì
và mục tiêu của chiến tranh được truyền bá ra sao thì nguồn động lực về kinh tế
luôn nằm ẩn sâu dưới những mâu thuẫn giữa các quốc gia đó.
Ở mỗi một thời đại thì nguồn động lực về kinh tế dẫn đến chiến tranh sẽ
khác nhau. Trong thời kỳ tiền công nghiệp hóa, mục tiêu mà những quốc gia gây
chiến nhắm đến đó chính là vàng, bạc hoặc những vật nuôi gia súc như bò hay
ngựa. Trong thời kỳ hiện đại thì sự thèm khát của các quốc gia gây chiến lại là
tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu mỏ và nguyên vật liệu trong sản xuất.
Điển hình trong lịch sử về các cuộc chiến tranh giành lợi ích kinh tế là
cuộc chiến tranh Anh - Ấn (1766 – 1849). Chiến tranh Anh - Ấn là một chuỗi các
cuộc chiến tranh giữa cộng đồng người Anh ở Ấn Độ thuộc Anh và những vùng
khác ở Ấn Độ. Những cuộc chiến này dẫn đến việc thiết lập sự thống trị của thực
dân Anh tại Ấn Độ, khiến có người Anh không bị hạn chế tiếp cận nguồn tài
nguyên có giá trị ở Ấn Độ. b. Lợi ích lãnh thổ:
Cuộc chiến tranh giành lãnh thổ sẽ diễn ra khi một quốc gia nhắm đến một
vùng đất đai để làm nơi sinh sống, để sử dụng cho nông nghiệp hoặc phục vụ cho
những mục đích khác nhau. Vùng lãnh thổ đó có thể được sử dụng như “vùng
đệm” giữa hai bên địch thủ và liên quan đến những cuộc chiến ủy nhiệm. 8
Các cuộc chiến ủy nhiệm là những xung đột được đấu tranh bằng cách
thông qua lực lượng của một hoặc nhiều nước khác, hay các tác nhân phi nhà
nước. Loại hình chiến tranh này được một số nước coi trọng sử dụng để can dự
vào các cuộc xung đột nhằm đạt mục tiêu chiến lược mà không sử dụng lực
lượng trực tiếp tham chiến.
Cuộc xung đột vũ trang Hoa Kỳ - Mexico (1846 – 1848) là cuộc xung đột
vũ trang điển hình trong lịch sử nhằm giành lãnh thổ Texas. Cuộc chiến diễn ra
sau khi Mỹ sáp nhập Texas năm 1845 nhưng chính phủ Mexico không công nhận
cuộc sáp nhập này. Hoa Kỳ đã thắng trận trong cuộc chiến với Mexico và sáp
nhập Texas thành một tiểu bang của quốc gia.
Chiến trang Whisky – cuộc tranh chấp “lịch sự” nhất trên thế giới giữa
Canada và Đan Mạch về việc Đảo Hans thuộc về quốc gia nào. Đảo Hans nằm
ngay giữa đảo Ellesmere thuộc Canada và Greenland thuộc Đan Mạch, đảo Hans
gây tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ giữa hai quốc gia này vì nó nằm trong giới
hạn lãnh thổ 12 dặm của cả Canada và Greenland – đủ gần để mỗi quốc gia liên
quan có thể yêu sách theo luật pháp quốc tế. Cho đến tận ngày 14/6/2022 thì
cuộc chiến Whisky mới kết thúc bằng việc Canada và Đan Mạch phân chia hòn
đảo Hans không người này thành hai phần gần như bằng nhau dọc theo một khe
nứt tự nhiên. Cả Canada và Đan Mạch chính thức công bố thỏa thuận phân chia
đảo Hans tại lễ ký kết ở Ottawa với sự thâm sự của ngoại trưởng của cả hai quốc gia này.
c. Xung đột về tôn giáo:
Các cuộc chiến tranh về tôn giáo thường có nguồn gốc sâu xa và âm ỉ
trong nhiều thập kỳ liền. Các cuộc xung đột chỉ nổ ra trong vài năm và gắn liền
với các lý do khác nhưng hậu quả để lại rất nặng nề. 9
Nguyên nhân của chiến tranh có thể là sự xung đột của các tôn giáo khác
nhau những cũng có thể là do sự xung đột của các phái giáo khác nhau trong cùng một tôn giáo.
Cuộc xung đột tôn giáo không thể không kể đến là cuộc xung đột giữa
Phật giáo Tây Tạng, Trung Quốc vào năm 2008 gây thiệt hại về cả mạng người
lẫn kinh tế một cách nặng nề. Hơn chín tháng sau đó, tại Tây Tạng liên tiếp diễn
ra các cuộc biểu tình và điều này dẫn đến cuộc xung đột với người Duy Ngô Nhĩ
theo Hồi giáo ở vùng Tân Cương cùng với người Hán và chính quyền địa
phương vào năm 2009. Cuộc xung đột tôn giáo năm 2009 đã làm hơn 1.600 người bị thương vong. d. Chủ nghĩa dân tộc:
Chủ nghĩa dân tộc trong bối cảnh này chính là việc dùng bạo lực để chứng
minh sự vượt trội của đất nước mình so với quốc gia khác. Liên quan đến chủ
nghĩa dân tộc chính là chủ nghĩa đế quốc – việc chinh phục các quốc gia khác là
niềm vinh quang và mang lại danh dự, sự quý trọng cho người chinh phục.
Trong Thế chiến thứ nhất, vì lòng trung thành và yêu nước cực độ mà
nhiều quốc gia tham gia và cuộc chiến tranh. Người Châu Âu trước chiến tranh
họ tin vào uy quyền tối cao về văn hóa, kinh tế và quân sự của quốc gia họ. Tuy
nhiên, không một quốc gia Châu Âu nào thực sự chiến thắng trong cuộc chiến
tranh này, tất cả đều bị tổn hại nặng nề về người và của. e. Chiến tranh trả thù:
Đây là cuộc chiến nhằm trừng phạt, giải quyết sự bất bình hoặc đơn giản
là đánh trả lại sự xem thường của quốc gia khác đối với quốc gia họ. Điều này có
thể dân đến một chuỗi các cuộc chiến tranh trả đũa bất tận rất khó để dừng lại.
Trong lịch sử cuộc Thế chiến thứ hai, sự trỗi dậy của Đảng Đức Quốc xã
và sự thống trị cuối cùng của Đức đối với lục địa Châu Âu là kết quả trực tiếp
của Hiệp ước Versailles khi hiệp ước này áp đặt các hình hạt nghiêm khắc đối 10
với Đức. Tuy nhiên, chiến tranh thế giới thứ hai đã thay đổi cục diện chính trị lẫn
cấu trúc xã hội toàn cầu. f. Chiến tranh cách mạng:
Chiến tranh cách mạng xảy ra khi một bộ phận lớn dân số của một quốc
gia nổi dậy chống lại cá nhân hoặc một nhóm thống trị đất nước vì họ không hài
lòng với sự lãnh đạo của người thống trị. Các cuộc cách mạng có thể bắt đầu vì
nhiều lý do, bao gồm khó khăn kinh tế giữa các bộ phận dân cư nhất định hoặc
nhận thấy sự bất công do nhóm cầm quyền không thực hiện đúng cam kết. Trong
nhiều trường hợp, cuộc chiến tranh cách mạng có thể trở thành nội chiến.
Điển hình trong lịch sử là chiến tranh Cách mạng Pháp (1792 – 1820) giữa
chính phủ Cách mạng Pháp với nhiều quốc gia Châu Âu. Cùng với tinh thần
cách mạng Pháp và những đổi mới về mặt quân sự, quân đội Cách mạng Pháp đã
đánh bại các khối liên minh của đối phương trong các chiến dịch và mở rộng
quyền kiểm soát của nước Pháp lên với các quốc gia Vùng đất thấp, Ý và vùng Rhineland. g. Chiến tranh phòng thủ:
Các cuộc chiến tranh phòng thủ xảy ra khi một đất nước cảm thấy họ bị đe
dọa hoặc có nguy cơ bị xâm lược. Do đó cuộc chiến tranh phòng thủ của họ là vì
chính nghĩa. Nhiều cuộc diễn tập trong Chiến tranh Lạnh có thể được coi là
phòng thủ, điển hình là sự kiện Vịnh Con Heo thất bại ở bờ biển phía Tây Nam
Cuba năm 1961, các lực lượng Hoa Kỳ cố gắng xâm chiếm Cuba để ngăn chặn
việc thành lập các đầu đạn hạt nhân ở đó.
2. Các nước lớn vận dụng sức mạnh quốc gia giải quyết vấn đề chiến tranh:
Thứ nhất, trong tình hình thế giới biến đối theo xu hướng đa cực, các
cường quốc vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp để bảo đảm lợi ích, vị thế và tầm ảnh 11
hưởng của mình; vừa kiếm chế, ngăn chặn sự ảnh hưởng của các quốc gia khác
trong khu vực và trên thế giới. Dù vậy, các nước lớn vẫn phải tuân thủ theo luật
pháp và công ước quốc tế đã ký kết; tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích, thể chế
chính trị của các quốc gia khác. Đấy chính là mục tiêu, lợi ích và trách nhiệm,
nguyện vọng chung của cộng đồng quốc tế.
Thứ hai, sự cạnh tranh chiến lược của các nước lớn thúc đẩy hợp tác sâu
rộng, mang lại môi trường và điều kiện thuận lợi cho các quốc gia phát triển đa
lĩnh vực. Sự cạnh tranh này cũng sẽ mang đến nhiều bất lợi mà buộc các quốc
gia phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt tình hình và dự báo chính xác chiến lược
của các cường quốc để đưa ra các đối sách hoặc giải pháp phù hợp nhằm ngăn
chặn các tác động tiêu cực đến mối quan hệ ngoại giao và đặc biệt là đến tình hình quan hệ quốc tế.
Thứ ba, cần vận dụng phương thức vừa hợp tác, vừa đấu tranh một cách
linh hoạt; có đối sách phù hợp với từng nước lớn để quan hệ với nước này không
làm ảnh hưởng tới quan hệ với nước khác. Chính sách “cân bằng nước lớn” là
lựa chọn tất yếu trong duy trì quan hệ với các cường quốc và cần có cách tiếp
cận linh hoạt để đạt được lợi ích tối đa.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh với các quốc gia trên thế
giới. Các nước lớn có lợi thế trong quan hệ quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, nhất
là về chính trị, quân sự, tiềm lực khoa học công - nghệ và đều là các trung tâm
kinh tế thế giới. Vì thế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh với các
nước lớn là vấn đề cần thiết và quan trọng. Một mặt nhằm tăng cường hiểu biết,
xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế, góp phần duy trì môi trường hòa bình,
hợp tác cùng phát triển, nâng cao vị thế, uy tín đất nước. Mặt khác, tranh thủ mọi
nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm từ các nước này để xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Đó chính là 12
một định hướng chiến lược, kế sách bảo vệ an ninh quốc gia từ sơm bằng biện pháp hòa bình. KẾT LUẬN
Hiện nay, vấn đề về chiến tranh là một trong những vấn đề toàn cầu, mang
tính cấp bách và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới. Tương tự
như các vấn đề về kinh tế - xã hội, vấn đề chiến tranh và bảo vệ hòa bình và vấn
đề cần có sự quan tâm và hợp tác giữa các quốc gia với nhau. Từ những nguyên
nhân dẫn đến xung đột có thể thấy mối quan hệ ngoại giao và đàm phán trên bàn
tròn quốc tế giữa các quốc gia chính là điều kiện tốt nhất để ngăn chặn chiến
tranh nổ ra. Các nước đều hướng về giá trị chung là hòa bình nhân loại, mềm dẻo
và linh hoạt trong ngoại giao và đưa ra tiếng nói chung nhằm thúc đẩy mối quan
hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, đẩy lùi những cuộc xung đột vũ trang. 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Khắc Nam, Giáo trình nhập môn Quan hệ quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018.
http://thuvien.ajc.edu.vn/ViewPDFOnline/document.php?
loc=0&doc=54086999809419920366515459537511193771
2. PGS, TS Phạm Minh Sơn, Những vấn đề cơ bản trong quan hệ quốc tế hiện
đại, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viên Báo chí và Tuyên truyền, 2016.
http://thuvien.ajc.edu.vn/ViewPDFOnline/document.php?
loc=0&doc=120370422345045778468437201773735524371
3. Nguyễn Hoa, Sức mạnh mềm trong một thế giới đang thay đổi, Tạo chí Cộng sản (09/01/2020).
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-
ngoai1/-/2018/815776/suc-manh-mem-trong-mot-the-gioi-dang-thay-doi.aspx
4. PGS, TS Trần Minh Sơn, Chiến tranh ủy nhiệm và giải pháp phòng, chống,
Tạp chí Quốc phòng toàn dân (13/11/2014).
http://tapchiqptd.vn/vi/nghien-cuu-trao-doi/chien-tranh-uy-nhiem-va-giai-phap- phong-chong/6500.html
5. Paul Goodman, The 8 Main Reasons for War, Owlcation (06/01/2022).
https://owlcation.com/social-sciences/The-Main-Reasons-For-War
6. Hiện trạng xung đột dân tộc, tôn giáo trên thế giới, Redsvn (09/07/2018).
http://redsvn.net/hien-trang-xung-dot-dan-toc-ton-giao-tren-the-gioi/#:~:text=Nh
%C6%B0%3A%20xung%20%C4%91%E1%BB%99t%20gi%E1%BB%AFa 14
%20nh%E1%BB%AFng,Nam%20Th%C3%A1i%20Lan%2C%20Myanmar %2C%E2%80%A6
7. Bình An, Canada – Đan Mạch chấm dứt “cuộc chiến rượu Whisky”: Hình
mẫu giải quyết tranh chấp lãnh thổ, Tuổi trẻ online (15/06/2022).
https://tuoitre.vn/canada-dan-mach-cham-dut-cuoc-chien-ruou-whisky-hinh-
mau-giai-quyet-tranh-chap-lanh-tho-20220615120132694.htm
8. PGS, TS Trần Việt Khoa, Chiến lược của một số cường quốc tác động đến
quốc phòng, an ninh khu vực và Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân (18/05/2021).
http://tapchiqptd.vn/vi/bao-ve-to-quoc/chien-luoc-cua-mot-so-cuong-quoc-tac-
dong-den-quoc-phong-an-ninh-khu-vuc-va-viet-nam/17107.html
9. Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Xử lý đúng đắn mối quan hệ với các
nước lớn - yếu tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia
trong quá trình tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, Tạp chí Quốc phòng toàn dân (11/12/2017).
http://tapchiqptd.vn/vi/nghien-cuu-thuc-hien-nghi-quyet/xu-ly-dung-dan-moi-
quan-he-voi-cac-nuoc-lon-yeu-to-quan-trong-de-giu-vung-doc-lap-tu-chu- v/10942.html.