



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ BÀI THẢO LUẬN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Việt Nam trong tiến trình Hội nhập quốc tế. Những thời cơ và thách thức. Học phần
: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Nhóm : 5 Lớp : 231_HCMI0131_04
Giáo viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thúy Năm học: 2023 – 2024 DANH SÁCH NHÓM STT Mã sinh viên Họ và tên Nhiệm vụ 56 21D300015 Nguyễn Thị Ly 57 21D290176 Đặng Thanh Mai 58 21D160181 Nguyễn Phương Mai 59 21D290177 Nguyễn Thị Thảo Mai 60 21D150134 Nguyễn Thị Xuân Mai 61 21D120025 Nguyễn Tiến Mạnh 62 21D150135 Phạm Trà Mi 63 21D160183 Lê Xuân Minh 64 21D220229 Nguyễn Doãn Minh 65 21D160339 Dương Hà My 66 21D160235 Nguyễn Hoàng Nam 67 21D160132 Phạm Hải Nam 68 21D220231 Lê Thị Phương Nga 69 21D160236 Phạm Tuyết Ngân 2 MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................................... 3
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 4
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ....................................... 5
1. Khái niệm hội nhập quốc tế .......................................................................................... 5
2. Các đặc trưng của hội nhập quốc tế .............................................................................. 5
3. Sự cần thiết của hội nhập quốc tế ................................................................................. 6
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC
TẾ ......................................................................................................................................... 8
1. Quan điểm của Đảng .................................................................................................... 8
2. Những thời cơ và thách thức khi tham gia hội nhập quốc tế ...................................... 11
2.1. Thời cơ ................................................................................................................. 11
2.2. Thách thức ........................................................................................................... 21
3. Kết quả đạt được ......................................................................................................... 28
PHẦN 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT
NAM ................................................................................................................................... 31
1. Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam ............................................................... 31
2. Trách nhiệm, bổn phận của sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế ..................... 32
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 35 3 LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang chứng kiến một hành trình phấn đấu
đầy gian nan và đổi mới không ngừng, đồng hành cùng với sự phát triển của quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc tham gia vào tiến trình hội nhập quốc
tế đã và đang đặt ra những thách thức quan trọng, đồng thời cung cấp những cơ hội tiềm năng cho Việt Nam.
Việc mở cửa kinh tế, hội nhập quốc tế đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong
lịch sử phát triển của Việt Nam. Từ những bước đi đầu tiên vào thập kỷ 1980 với chính
sách Đổi Mới, cho đến những bước tiến vượt bậc vào thế kỷ 21, Việt Nam đã không ngừng
mở rộng quan hệ với thế giới, tham gia vào các tổ chức và hiệp định quốc tế. Tuy nhiên,
việc hội nhập không chỉ là việc mở cửa thị trường và thu hút đầu tư, mà còn đòi hỏi sự nắm
bắt toàn diện về các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phải đối mặt với áp lực cạnh
tranh khốc liệt và thay đổi không ngừng trong môi trường kinh doanh toàn cầu.
Những thời cơ quý báu và những thách thức đầy cam go trong quá trình hội nhập đã
đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta phải đưa ra những quyết định mạnh mẽ
và linh hoạt. Từ việc thúc đẩy cải cách kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, duy
trì và tăng cường vai trò của quốc gia trong bối cảnh thế giới liên kết ngày càng chặt chẽ -
tất cả đều là những thách thức đồng thời cũng là những cơ hội phải được khai thác một cách tốt nhất.
Trong bối cảnh hiện nay, khi sự biến đổi nhanh chóng của thế giới đặt ra nhiều thách
thức mới, việc hiểu rõ về những thời cơ và những thách thức mà chúng ta vẫn đang phải
đối mặt trong tiến trình hội nhập quốc tế là vô cùng quan trọng. Do đó, nhóm 5 đã lựa chọn
tìm hiểu đề tài "Việt Nam trong tiến trình Hội nhập quốc tế. Những thời cơ và thách
thức". Qua đây, chúng ta sẽ không chỉ nắm vững về lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản
Việt Nam, mà còn hiểu rõ hơn về những xu hướng và tương lai của quốc gia ta trong bối
cảnh toàn cầu hóa ngày càng phức tạp. 4
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1. Khái niệm hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với
nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì
mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức
mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế
theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc
tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.
Hội nhập quốc tế thường được thực hiện thông qua việc ký kết các thỏa thuận thương
mại, tham gia vào tổ chức kinh tế và chính trị quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), các hiệp định thương mại tự do, hiệp định hợp tác khu vực, và nhiều hình thức khác.
Hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương.
Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội. Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên 3 lĩnh vực chính
gồm: Hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và
hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác.
2. Các đặc trưng của hội nhập quốc tế
- Phát triển tất yếu và cao nhất của phân công lao động quốc tế: Hội nhập quốc tế
thường đi kèm với sự phân công lao động quốc tế, trong đó các quốc gia tham gia hợp tác
tập trung vào sản xuất những mặt hàng hoặc dịch vụ mà họ có lợi thế cạnh tranh. Điều này
dẫn đến việc tăng cường hiệu suất lao động và sự phát triển của cả khu vực hoặc thế giới.
- Tham gia tự nguyện và tuân thủ điều khoản: Hội nhập quốc tế thường dựa trên việc
các quốc gia tự nguyện tham gia và cam kết tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận. Điều
này bảo đảm tính tự chủ và chủ quyền của mỗi quốc gia trong việc tham gia vào hợp tác quốc tế. 5
- Phối hợp quốc gia: Hội nhập quốc tế thường liên quan đến sự phối hợp giữa các nhà
nước độc lập và có chủ quyền. Các quốc gia phải hợp tác để đạt được mục tiêu chung và
quản lý những vấn đề liên quan đến thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế quốc tế khác.
- Giải pháp trung hòa giữa tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại: Hội nhập
quốc tế thường phải đối mặt với cuộc tranh cãi giữa các quốc gia về việc tăng cường tự do
hóa thương mại và việc bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Giải pháp thường nằm ở
việc thiết lập các hiệp định thương mại có điều khoản linh hoạt để bảo vệ các ngành công
nghiệp nhạy cảm trong nước.
- Góp phần giảm xung đột và duy trì hòa bình: Hội nhập quốc tế có thể góp phần giảm
bớt xung đột cục bộ bằng cách tạo ra sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia. Khi các quốc
gia phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế, họ có ít kỳ thị và xung đột hơn, thúc đẩy hòa bình
và ổn định trong khu vực và toàn thế giới
3. Sự cần thiết của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn
gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với
con người. Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ
với nhau. Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác.
Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh
tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực
và quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực của đời sống xã hội
và xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất. Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở
mức độ cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu
sắc. Sự quốc tế hoá như vậy thông qua việc hợp tác ngày càng sâu giữa các quốc gia ở tầm
song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu. Hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế 6
chủ đạo trong sự phát triển của thế giới ngày nay. Hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ chi phối,
quyết định toàn bộ các quan hệ quốc tế và làm thay đổi cấu trúc toàn cầu, dù cho thế giới
vẫn còn tồn tại những bất đồng và chia rẽ. 7
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Quan điểm của Đảng
Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã
được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà. Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã
không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hội nhập quốc tế. Sau khi thống nhất đất
nước, qua các kỳ Đại hội của Đảng đã đánh dấu những bước phát triển mới trong chủ trương
hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, thể hiện tầm
nhìn chiến lược toàn diện của Đảng.
Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc
tế được nêu tại các kỳ Đại hội Đảng; Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đã ban
hành ba Nghị quyết chuyên đề về hội nhập kinh tế quốc tế:
Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Cũng
chính từ Đại hội VI, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế của Đảng ta được hình thành.
Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta
phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên Xô, Lào và
Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở
mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công
nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng
cùng có lợi”. Nghị quyết Đại hội cũng xác định nội dung chính của chính sách kinh tế đối
ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn,
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài...
Tiếp đến Đại hội VII (1991), tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng
định, đó là, "cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi
sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng
quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp". Đảng đã
xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” với 8
phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong
giai đoạn mới của nước ta. Được thực tiễn kiểm chứng về sự đúng đắn của đường lối, chiến
lược nói chung, chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền độc lập tự
chủ nói riêng, phát huy những thành quả đạt được.
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ "Hội nhập" chính thức được đề cập
trong Văn kiện của Đảng, đó là: "Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và
thế giới". Đại hội chỉ rõ: tình hình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời
sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta, đưa đến những thuận lợi lớn, đồng thời cũng làm
xuất hiện những thách thức và nguy cơ lớn. Do đó, "Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới
là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Đại hội khẳng định: “Tiếp tục thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan
hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế
giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa
phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”.
Bước vào thế kỷ mới, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn ở Đại
hội IX (2001) của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: "Gắn chặt việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Để cụ thể hóa tinh thần này, ngày
27/11/2001 Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW "Về hội nhập kinh
tế quốc tế". Đại hội đã khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển". Đồng thời, Đảng nhấn mạnh quan điểm Việt Nam, không chỉ "sẵn sàng là bạn"
mà còn sẵn sàng “là đối tác tin cậy của các nước" và "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. 9
Đây là sự phản ánh một nấc thang cao hơn trong nhận thức và tư duy về đối ngoại nói chung
và về hội nhập quốc tế nói riêng của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Đến Đại hội X (2006), tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát triển và
nâng lên một bước cao hơn. Đại hội tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trương “chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực
khác”, “lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu cao nhất”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với
các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương”, “chuẩn bị tốt các điều kiện để ký
kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương”. Sau khi Việt Nam gia
nhập WTO vào tháng 1 năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 5 tháng 2 năm 2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền
kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), tư duy nhận thức của Đảng về hội
nhập đã có một bước phát triển toàn diện hơn, đó là từ "Hội nhập kinh tế quốc tế" trong các
kỳ Đại hội trước chuyển thành "Hội nhập quốc tế" đây là một bước phát triển quan trọng
về tư duy đối ngoại của Đảng ta. Đảng đã khẳng định, "Chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế". Khẳng định và làm sâu sắc hơn tinh thần này, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị khóa XI đã
ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW "Về hội nhập quốc tế". Chủ trương “chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng.
Đây không chỉ là sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực
khác, mà là sự tích cực mở rộng hội nhập với quy mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh… Bước phát triển này trong nhận thức và
tư duy đối ngoại của Đảng phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng
nước ta trong bối cảnh quốc tế mới. Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng
và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa
đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo,
khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn
đề, trường hợp, thời điểm cụ thể. Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập quốc tế với yêu
cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước. 10
Đến Văn kiện Đại hội lần thứ XII (2018) của Đảng đã nêu rõ những quan điểm chỉ
đạo cụ thể về hội nhập quốc tế, trong đó khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm
và định hướng rõ trong 5 năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế tập trung vào quá trình triển khai
các cam kết đã ký kết. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ phương hướng đẩy
mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế, đó là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đa
dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một
đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ. Đây cũng là một trong những phương hướng được văn kiện Đại hội XII xác định
để hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nhiệm
kỳ tới. Như vậy, đường lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay được Đảng ta khởi
xướng từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới.
Đại hội XIII (2021) đã khẳng định rõ Việt Nam cần tiếp tục kiên trì đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng
hóa và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Đây là nội dung hết sức quan trọng, xuyên
suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ Đổi mới. Độc lập tự chủ vừa là mục tiêu,
vừa là nền tảng của đối ngoại Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là
kim chỉ nam cho việc triển khai công tác đối ngoại, thể hiện mạnh mẽ tính kế thừa và tinh
thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn, cũng như với thế lực mới của đất nước.
Qua mỗi kỳ đại hội, những nhận định, đánh giá, định hướng chính sách luôn có sự bổ
sung, phát triển mới. Thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những kết quả vững chắc, từng bước khẳng định vai trò
của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Những thời cơ và thách thức khi tham gia hội nhập quốc tế 2.1. Thời cơ
a. Khi hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mở rộng thị trường, đẩy mạnh
xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản 11
lý và các nguồn lực quan trọng khác; tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
* Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố như nguồn vốn, công nghệ sản xuất tiên
tiến và khoa học quản lý hiện đại có sự lưu chuyển tự do nhanh chóng, cho nên các nước
đều có khả năng tiếp cận, sử dụng với mức độ khác nhau. Cùng với dòng chảy khổng lồ về
vốn, hàng loạt các hoạt động chuyển giao công nghệ sản xuất và khoa học quản lý tiên tiến
được thực hiện, góp phần hữu hiệu vào sự lan toả rộng rãi của các làn sóng tăng trưởng
hiện đại. Việc Việt Nam gia nhập các định chế, tổ chức kinh tế, tài chính khu vực cũng như
toàn cầu, nhất là WTO tạo cơ hội tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước
thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước
mở cửa theo quy định. Nước ta có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước mở
rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở lớn,
kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng,
là yếu tố bảo đảm tăng trưởng của nước ta.
Đây là tiền đề rất quan trọng để phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trong
nước, là cơ hội để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tốc độ tăng trưởng bền
vững hơn và rút ngắn khoảng cách phát triển. Mặt khác, gia nhập WTO đánh dấu bước phát
triển về chất của tiến trình hội nhập, giúp nước ta có được vị thế bình đẳng như các thành
viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, tiếng nói được tôn trọng
hơn, có quyền thương lượng và khiếu nại công bằng hơn đối với các tranh chấp thương mại
trong khuôn khổ WTO, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.
Đồng thời, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước,
bảo đảm cho tiến trình cải cách của nước ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn tạo ra động lực
lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng vững mạnh.
* Hội nhập kinh tế quốc tế giúp nâng cao đời sống xã hội, cải thiện vấn đề lao động, việc làm 12
Phân công lao động quốc tế cho phép các quốc gia khai thác lợi thế của mình khi tham
gia thị trường thế giới. Vì thế hội nhập quốc tế cho phép Việt Nam xuất khẩu được nhiều
lao động ra nước ngoài. Đây được coi là cơ hội để thu về nguồn ngoại tệ lớn, tăng thu nhập,
đồng thời cải thiện đời sống dân cư, giải quyết việc làm và đào tạo được lực lượng lao động
có chuyên môn tốt cho công cuộc xây dựng đất nước.
Hội nhập quốc tế về lao động và xã hội ngày càng mở rộng về phạm vi, phong phú về
nội dung, đa dạng về hình thức. Từ những hợp tác ban đầu đơn thuần nhằm cứu trợ xã hội
cho các nhóm dễ bị tổn thương, đến nay đã chuyển dần từ phương thức viện trợ sang chuyển
giao tri thức, xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực lao động, việc làm, phát triển nguồn
nhân lực, an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 3,75% năm 2019 xuống
còn khoảng 2,23% vào năm 2021.
Sự tham gia các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA và các thỏa thuận
hợp tác lao động song phương đã mở rộng cơ hội việc làm cả trong nước và ngoài nước
cho người lao động. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang làm thay
đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất và chế tạo dẫn đến nhu cầu lao động có kỹ năng, trình
độ cao tăng mạnh. Công nghệ mới cũng sẽ thay thế nhiều việc làm cũ đồng thời tạo nên
nhiều việc làm mới. Người lao động trong nước, nhất là những lao động có trình độ, tay
nghề sẽ có điều kiện tiếp cận với thị trường lao động rộng lớn hơn cả trong nước và quốc tế.
* Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước
Do tính chất quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển lực lượng sản xuất ngày càng
mạnh mẽ, phân công lao động và trao đổi nhanh chóng vượt khỏi phạm vi quốc gia, chuyên
môn hóa và hợp tác sản xuất trở thành yêu cầu của sự phát triển nên mở rộng phát triển
kinh tế đối ngoại trở thành xu hướng tất yếu và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế của một quốc gia. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn
cầu hoá mở ra khả năng cho nước ta, nhất là khi đã là thành viên chính thức của WTO,
tham gia nhanh và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn
lực phục vụ mục tiêu phát triển. Do vậy, chúng ta có cơ hội thuận lợi đẩy nhanh quá trình 13
điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và rút ngắn thời gian vật chất của
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
* Xu thế toàn cầu hoá tạo điều kiện cho tất cả các nước tham gia vào đời sống quốc tế
Xu thế toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các nước bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích, tập
hợp lực lượng... nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của mình. Quá trình hội nhập quốc tế
làm cho các nước ngày càng phụ thuộc l ẫn nhau. Đây là cơ hội tích cực để có thể loại bỏ các
biểu hiện của ý đồ thiết lập mối quan hệ một chiều chứa đựng sự áp đặt, chi phối của các
cường quốc đối với đông đảo các quốc gia dân tộc khác trên thế giới, thúc đẩy sự hình thành
một trật tự thế giới mới với cơ chế sinh hoạt quốc tế dân chủ, công bằng, bình đẳng hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và
tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Dưới ảnh hưởng đó, tri thức loài người, kết tinh cô đọng ở các phát minh, sáng chế khoa
học, kỹ thuật, công nghệ... được phổ biến rộng rãi toàn thế giới, tạo động lực cho sự bùng
nổ trí tuệ nhân loại. Cũng như nhiều nước khác, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta tạo
ra cơ hội thuận lợi để chúng ta chia sẻ lợi ích do toàn cầu hoá đưa lại, đồng thời đóng góp
thiết thực vào tiến trình phát triển hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, dân chủ hoá các sinh
hoạt quốc tế, tham gia đấu tranh thiết lập trật tự kinh tế quốc tế công bằng hơn, hợp lý hơn.
* Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Kể từ khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện nhập khẩu những
trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, những sản phẩm thân thiện với môi trường, đồng thời
nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát
triển, tạo điều kiện thuận lợi thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường. Nhờ dòng đầu tư
trực tiếp của nước ngoài, Việt Nam được tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, “xanh”
và “thân thiện” hơn với môi trường, ít gây ô nhiễm và sử dụng nguyên liệu hiệu quả hơn
trong quá trình sản xuất. Với sự trợ giúp của quốc tế đã có một số dự án sản xuất sạch được
thực hiện thành công tại Việt Nam.
Trong bối cảnh dịch Covid-19, nhiều quốc gia đang thúc đẩy phục hồi tăng trưởng 14
kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh hay “phục hồi xanh”. Với Việt Nam, việc chuyển
hướng sang kinh tế xanh và tăng trưởng xanh không chỉ là lựa chọn tất yếu mà còn là cơ
hội để trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực, bắt kịp xu thế phát triển của thế giới.
Việc phát triển kinh tế xanh trong lĩnh vực công nghiệp đã giúp hạn chế phát thải khí CO2,
hóa chất độc hại từ các khu công nghiệp, khu chế xuất ra ngoài môi trường; đồng thời,
nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, máy móc kỹ thuật mới thân thiện với môi
trường. Xanh hóa sản xuất và xanh hóa lối sống, tiêu dùng hay xanh hóa trong giao thông
và xây dựng cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn.
Tính đến cuối tháng 8/2020, cả nước đã đưa vào vận hành 102 dự án điện mặt trời với
tổng công suất 6.314 MWp (tương đương 5.245 MWac). Tính đến hết tháng 5/2021 có 130
dự án điện gió đã ký hợp đồng mua bán điện với EVN, trong đó số dự án đã đưa vào vận
hành thương mại là 12 dự án với tổng công suất là 581,93 MW. Trong năm 2021 sẽ có 105
dự án vận hành thương mại trước ngày 01/11/2021 để kịp hưởng giá bán điện ưu đãi 8,5
cent/kWh (khoảng 1.927 đồng) với điện gió trên đất liền và 9,8 cent/kWh (khoảng 2.223
đồng) với điện gió ngoài khơi.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không ngừng nỗ lực phát triển, sáng tạo trong lĩnh vực
này, không nói đâu xa, ngày 18/5/2023, Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển Kinh tế xanh
ở Việt Nam” đã được tổ chức thành công tại trường Đại học Thương mại với sự tham gia
của các giáo sư trong và ngoài nước cùng hàng trăm cán bộ giảng viên và sinh viên tiêu
biểu của một số trường Đại học nước ta.
b. Khi hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh
Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng luôn đặt trong việc giải quyết tốt
mối quan hệ lớn giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, vừa tận dụng được những cơ hội,
vừa tránh được các tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần bảo vệ
vững chắc Tổ quốc. Việc khai thác được lợi ích từ hội nhập quốc tế phụ thuộc nhiều vào sự
ổn định, phát triển trong nước, cũng như năng lực xử lý quan hệ với các nước lớn, các trung
tâm quyền lực thế giới, bảo đảm cân bằng lợi ích của nước ta trong quan hệ quốc tế. Trong
môi trường toàn cầu, hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho đất nước phát triển nhưng cũng là
điều kiện để một số thế lực thù địch nhân danh “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do tôn giáo”… 15
can thiệp vào công việc nội bộ của ta, thực hiện “diễn biến hòa bình”, kích động, xúi giục
các hoạt động bạo loạn, lật đổ, đe dọa an ninh quốc gia. Vì vậy, cần tỉnh táo, kiên định với
những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhưng khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử,
xử lý các mối quan hệ, xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất
trong quá trình hội nhập quốc tế, mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đối ngoại và hội nhập
quốc tế phải được soi chiếu từ lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia
- dân tộc là giá trị cốt lõi trong quan hệ quốc tế. Thực hiện nhất quán phương châm đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, lấy nguyên tắc của luật pháp quốc tế để xử lý quan hệ đối ngoại.
Thông qua những vấn đề cơ bản đó chúng ta có thể thấy được một số điểm về thời cơ
mà Việt Nam có được trong quá trình hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh:
* Cơ hội hợp tác quân sự
Việc hội nhập quốc phòng và an ninh đòi hỏi sự tìm kiếm cơ hội hợp tác quân sự với
các quốc gia khác. Việc tham gia vào các cuộc tập trận chung, diễn đàn an ninh khu vực và
quốc tế, cũng như trao đổi thông tin và kỹ thuật quân sự giữa các quốc gia có thể tăng cường
khả năng phản ứng và ứng phó với các thách thức an ninh đa dạng như khủng bố, tội phạm
quốc tế và biển đảo. Các cuộc tập trận như Khaan Quest (Mongolia), Cobra Gold (Thái
Lan), hay Rim of the Pacific Exercise (RIMPAC) tại Thái Bình Dương hay sự thúc đẩy hợp
tác quốc phòng giữa Việt Nam - Nga, Việt Nam - Mỹ, Việt Nam - Israel,... cung cấp cơ hội
cho Việt Nam học hỏi từ các quốc gia có kinh nghiệm quân sự và xây dựng mối quan hệ đối tác quốc tế.
* Cơ hội tham gia vào cơ chế quốc tế
Việc tham gia và tuân thủ các cơ chế quốc tế liên quan đến quốc phòng và an ninh có
thể tạo ra môi trường ổn định hơn và giúp ngăn ngừa xung đột như ASEAN Defense
Ministers' Meeting (ADMM), ADMM Plus, Liên Hiệp Quốc. Đây bao gồm việc tham gia
vào Hiệp ước Kiểm soát vũ khí hạt nhân và các thỏa thuận kiểm soát vũ khí khác, cũng như
việc tham gia vào các cơ chế giải quyết xung đột và duy trì hòa bình. Trong năm 2022, Việt 16
Nam tiếp tục tham gia ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025.
Theo đó, chúng ta được các thành viên của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này; đồng thời cũng là ứng
cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ. Các hiệp ước quốc tế trong lĩnh vực
quốc phòng và an ninh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường ổn định và bảo
vệ an ninh quốc gia. Điển hình là Hiệp ước Kiểm soát vũ khí hạt nhân, nơi các quốc gia
cam kết kiểm soát sự gia tăng vũ khí hạt nhân và giảm nghèo vũ khí. Việc tham gia và tuân
thủ các hiệp ước như này giúp giảm nguy cơ xung đột và đóng góp vào hòa bình toàn cầu.
Các cơ chế quốc tế để giải quyết xung đột như thông qua Liên Hợp Quốc, Tòa án Quốc tế
và trọng tâm đàm phán có thể giúp các quốc gia giải quyết các tranh chấp một cách hòa
bình và theo quy định của luật pháp quốc tế. Việc tham gia vào các cuộc đàm phán và thỏa
thuận giúp tránh xung đột vũ trang và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác. * An ninh vùng miền
Hội nhập quốc phòng và an ninh cũng liên quan đến việc tham gia vào các cơ chế an
ninh vùng miền. Việc tham gia vào các hiệp định an ninh vùng miền như trong khu vực
ASEAN có thể tạo ra môi trường ổn định và tạo điều kiện cho hợp tác an ninh chung trong
khu vực. Hội nhập giúp Việt Nam tăng cường khả năng ứng phó với các mối đe dọa an ninh
vùng miền như tấn công khủng bố, tội phạm chuyên nghiệp và biển đảo. Tham gia vào các
cuộc tập trận và diễn đàn an ninh khu vực cung cấp cơ hội để học hỏi từ các quốc gia khác
về cách ứng phó với những mối đe dọa này và tối ưu hóa khả năng của mình. An ninh vùng
miền cũng gắn liền với sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững trong khu vực. Hội nhập
trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh giúp tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hợp tác kinh
tế, thương mại và đầu tư trong vùng miền, đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung.
* Quản lý biên giới và biển đảo
Hội nhập quốc phòng và an ninh đặt ra thách thức về việc quản lý biên giới và biển
đảo. Việc tham gia vào các cơ chế quốc tế như Công ước Luật Biển (UNCLOS) có thể giúp
định rõ chủ quyền và quyền lợi trên biển, giúp duy trì an ninh biển và tránh xung đột. Cùng
với đó là kết hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của
Tổ quốc. Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng 17
quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan
Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài
liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển,
trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài.
* Phát triển khả năng tự vệ
Hội nhập cũng cần kết hợp với việc phát triển khả năng tự vệ và quốc phòng trong
nước. Việc nâng cao năng lực quân đội, cải tiến công nghệ quốc phòng và đảm bảo an ninh
nội bộ là yếu tố quan trọng để đối mặt với các thách thức an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc
gia. Việt Nam xây dựng quân đội hòa bình, tự vệ, theo nguyên tắc “Người trước, súng sau”
và “ không liên kết với nước này để chống lại nước kia”. Phát triển khả năng tự vệ trong
lĩnh vực quốc phòng yêu cầu nâng cao khả năng quân đội. Điều này bao gồm cải tiến, mở
rộng và hiện đại hóa các lực lượng quân đội, cung cấp trang bị hiện đại và đảm bảo sự đào
tạo chất lượng cho nhân viên quân sự. Phát triển và đào tạo các chuyên gia trong các lĩnh
vực như tình báo, kỹ thuật quân sự và tài chính quốc phòng cũng là phần quan trọng của
việc nâng cao khả năng tự vệ. Phát triển khả năng tự vệ không chỉ dựa vào nội bộ mà còn
yêu cầu hợp tác quốc tế. Việc hợp tác quân sự, trao đổi thông tin an ninh và kỹ thuật, cùng
với việc tham gia vào các cơ chế an ninh khu vực, có thể tăng cường khả năng ứng phó với
các thách thức an ninh đa dạng. Phát triển khả năng tự vệ cũng liên quan đến việc bảo vệ
các nguồn tài nguyên và lợi ích quốc gia. Việc đảm bảo an ninh biên giới, biển đảo và các
cơ sở hạ tầng quan trọng là mục tiêu quan trọng để đảm bảo sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia.
Tóm lại, hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh đòi hỏi sự cân nhắc tỉ mỉ, tìm
kiếm cơ hội hợp tác với các quốc gia khác và tham gia tích cực vào các cơ chế quốc tế.
Việc này không chỉ giúp nâng cao khả năng ứng phó với các thách thức an ninh đa dạng
mà còn đóng góp vào sự ổn định và hòa bình toàn cầu.
c. Khi hội nhập trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác
* Hội nhập quốc tế giúp phát triển văn hóa đa phương 18
Việc mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện thúc
đẩy giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nhiều
hoạt động, như ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam, lễ hội văn hóa - du lịch, chiếu phim,
triển lãm sách, ảnh, sản phẩm văn hóa - nghệ thuật, hội thảo, xúc tiến, quảng bá du lịch...
nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam liên tục được tổ chức ở nhiều quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tại các tổ chức như: Tổ chức Du lịch thế giới của Liên
hợp quốc (UNWTO), Tổ chức Văn hóa - Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc
(UNESCO), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)…, đại diện Việt Nam đã
thể hiện được sự năng động, tinh thần trách nhiệm, đóng góp một số sáng kiến được ghi
nhận, góp phần nâng cao vị thế đất nước.
Không chỉ tổ chức ở nước ngoài, các cơ quan văn hóa còn chủ động phối hợp tổ chức
nhiều sự kiện, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế ngay tại Việt Nam, để các tổ chức quốc
tế, đoàn ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nghệ sĩ, doanh nhân, du khách,…có thể tiếp xúc,
tương tác với văn hóa, con người Việt Nam. Gần đây nhất là đêm đại nhạc hội 8Wonder
được tổ chức tại Vinpearl Nha Trang với sự tham gia của siêu sao thế giới Charlie Puth hay
là 2 đêm concert Born Pink của nhóm nhạc Kpop Hàn Quốc Blackpink tại Sân vận động
quốc gia Mỹ Đình đã thu hút hàng chục ngàn khán giả cả trong và ngoài nước đến thưởng
thức. Theo sau đó là cơ hội để những buổi đại nhạc hội tầm cỡ thế giới sẽ được cân nhắc tổ
chức ở Việt Nam trong tương lai.
Thông qua nhiều hoạt động, Việt Nam từng bước nâng cao khả năng hội nhập văn
hóa; tiếp nhận hiệu quả những giá trị văn hóa, nghệ thuật và phương thức thể hiện hiện đại,
hấp dẫn, tiêu biểu của thế giới, làm phong phú và nâng tầm về cả hình thức, nội dung, giá
trị các sản phẩm văn hóa dân tộc. Cùng với đó các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng
chuyên nghiệp, hiệu quả góp phần nâng tầm vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
trên trường quốc tế. Giao lưu văn hóa không chỉ đẩy mạnh quan hệ với cộng đồng nước
ngoài, mà còn truyền bá văn hóa nước nhà đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,
gắn kết kiều bào với quê hương, đất nước.
* Hội nhập quốc tế giúp nâng cao trình độ giáo dục và đào tạo
Giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay là vấn đề tương đối bức xúc, yêu cầu cấp 19
thiết phải cải cách cơ bản, tìm hướng đi mới để nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo
ngang tầm quốc tế. Một trong những hướng đi của cải cách giáo dục – đào tạo là hội nhập
quốc tế sâu sắc về vấn đề này. Hội nhập quốc tế về giáo dục được xem là tất yếu trong xu
thế phát triển chung hiện nay. Nhất là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nó mở ra nhiều cơ hội mới cho nền giáo dục
nước nhà. Đầu tiên là chúng ta có điều kiện để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ phát triển
giáo dục trên các bình diện có quy mô lớn, chất lượng và hiệu quả cao. Thứ hai là có điều
kiện đẩy mạnh quá trình hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, đa
dạng và hiện đại. Đồng thời, tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục theo
hướng tiếp cận các tiêu chuẩn tiên tiến quốc tế. Thứ ba là có khả năng nâng cao năng lực
quản lý giáo dục cho hệ thống giáo dục nước nhà cũng như tạo điều kiện tốt cho mọi người
trong thụ hưởng giáo dục, nhằm mục tiêu cuối cùng là sớm đưa giáo dục nước ta lên trình độ tiên tiến.
Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, nhưng
vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc trong giáo dục con người Việt Nam với những đặc trưng
riêng. Việc hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo có thể thông qua nhiều kênh khác nhau,
từ việc ký kết điều ước quốc tế thực hiện hợp tác giáo dục, đến việc trao đổi, tham gia các
hoạt động quốc tế khác nhằm nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn giáo dục, đào tạo trong nước.
Giai đoạn 2016-2020, nước ta đã có hơn 70 thỏa thuận quốc tế và 23 điều ước quốc tế được
ký kết, góp phần tạo hành lang pháp lý triển khai nhiều chương trình hợp tác, như: Trao đổi
học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên; hợp tác giáo dục, nghiên cứu, đào tạo, trao đổi
chuyên gia... Ngành giáo dục và các cơ sở đại học đã phê duyệt, ký kết trên 530 chương
trình liên kết đào tạo với nước ngoài, với khoảng 85.000 người đã theo học, trong đó hơn
45.000 người đã hoàn thành chương trình và được cấp bằng. Đây là nguồn nhân lực chất
lượng cao góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
* Hội nhập quốc tế thúc đẩy khoa học và công nghệ
Việc hội nhập quốc tế làm cho lĩnh vực khoa học - công nghệ trong nước tiếp cận,
theo kịp trình độ tiên tiến của thế giới, thông qua đó nâng cao trình độ nghiên cứu, sử dụng
thành tự khoa học – công nghệ ở trong nước, rút ngắn khoảng cách công nghệ của Việt 20