



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI -- -- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: VIỆT NAM VỚI CUỘC CÁCH MẠNG 4.0 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Thị Thúy Nhóm : 08 Mã lớp HP : 231HCMI013104 Hà Nội, tháng 10 năm 2023 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên Nhiệm vụ 97 Vũ Ngọc Tâm Tổng hợp Word (Thư ký) Nội dung V 98 Nguyễn Phương Thảo Nội dung 1.2 + 1.3 99
Phạm Thị Phương Thảo (F1) Nội dung 2.1 100
Phạm Thị Phương Thảo (F5) Thuyết trình 101 Nguyễn Đức Thái Thuyết trình 102 Nguyễn Tất Thăng Nội dung 1.1 103 Lê Thị Hồng Thắm Nội dung IV 105 Bùi Thị Thu Lời mở đầu Nội dung III 106 Lương Thị Minh Thu Nội dung 2.2 + Word (Nhóm trưởng) 107 Nguyễn Diệu Thúy Powerpoint 108 Đỗ Linh Trang Nội dung 2.3 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP 4.0 .................................................................................................................... 4
1.1. Khái quát về các cuộc Cách mạng công nghiệp trong lịch sử. ....................... 4
1.1.1. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất: ........................................ 4
1.1.2. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai:........................................... 4
1.1.3. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba: ............................................ 5
1.2. Khái niệm cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. .................................................. 6
1.3. Những đặc trưng cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. ................... 7
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG 4.0 TỚI VIỆT NAM . 10
2.1. Thực trạng Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam. ................................. 10
2.1.1. Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới: .......................................... 10
2.1.2. Cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam: ............................................ 11
2.2. Những thuận lợi của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tới Việt Nam. ........ 13
2.2.1. Về an ninh – chính trị: ......................................................................... 13
2.2.2. Về kinh tế: ............................................................................................. 14
2.2.3. Về xã hội: .............................................................................................. 15
2.3. Những khó khăn Việt Nam phải đối mặt từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. 17
2.3.1. Về an ninh – chính trị: ......................................................................... 17
2.3.2. Về kinh tế: ............................................................................................. 18
2.3.3. Về xã hội: .............................................................................................. 19
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ KHAI THÁC CƠ HỘI VÀ VƯỢT
QUA KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TỪ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP
4.0 TẠI VIỆT NAM ..................................................................................................... 21
3.1. Đối với Chính phủ. ........................................................................................... 21
3.2. Đối với doanh nghiệp. ....................................................................................... 22
3.3. Đối với người dân. ............................................................................................ 22
CHƯƠNG IV: TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC GÓP PHẦN
THỰC HIỆN THÀNH CÔNG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP 4.0 TẠI VIỆT NAM .................................................................................... 24
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 31 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời buổi hội nhập nền kinh tế toàn cầu, cách mạng công nghiệp là điều tất
yếu giúp thay đổi cục diện trong cả nền kinh tế và các lĩnh vực khác. Tác động của
cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng. Những cuộc cách mạng đó không chỉ làm
thay đổi đời sống con người, cách mạng công nghiệp còn dẫn tới sự thay đổi toàn diện
hình thái kinh tế - xã hội. Về mặt lịch sử cho đến nay, nhân loại đã chứng kiến bốn
cuộc cách mạng công nghiệp. Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện những nội
dung cốt lõi về tư liệu lao động, chính sự phát triển của tư liệu lao động đã thúc đẩy sự
phát triển của nền văn minh nhân loại.
Cũng giống như các quốc gia trên toàn thế giới, Việt Nam cũng chịu những tác
động có sức ảnh hưởng không hề nhỏ từ các cuộc cách mạng công nghiệp và công
nghiệp hóa. Đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đưa
tới nền kinh tế thông minh, đã đem đến những cơ hội và thách thức lớn cho Việt Nam.
Vì vậy nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Việt Nam với cuộc Cách mạng 4.0.
Thuận lợi và khó khăn” để nhằm tìm hiểu rõ hơn về những thuận lợi và những khó
khăn, thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt do cuộc cách mạng công nghiệp này
mang lại. Đồng thời, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm khai thác hiệu quả những cơ
hội và vượt qua những thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam. 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
1.1. Khái quát về các cuộc Cách mạng công nghiệp trong lịch sử.
1.1.1. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX, mở đầu từ ngành dệt ở Anh, sau đó lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất khác và
tới nhiều nước khác, trước hết là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản. Đặc trưng của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất này là việc sử dụng năng lượng nước, hơi
nước và cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng được chia thành 3 sự kiện chính là:
+ Ngành dệt may: Vào năm 1784, Giêm Oát sáng chế máy hơi nước, tạo động lực
cho sự phát triển máy dệt, mở đầu quá trình cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt.
+ Ngành luyện kim: Henry Cort vào năm 1784 đã tạo ra cách luyện sắt đời đầu
đáp ứng được chất lượng của sắt nhưng không đáp ứng được độ bền. Thế nên Henry
Bessemer đã phát minh ra lò cao dùng để luyện gang thành thép. Khắc phục được
nhược điểm của các đời máy trước.
+ Ngành giao thông vận tải: Năm 1804, William Murdoch đã chế tạo ra chiếc
đầu máy xe lửa đầu tiên dựa bằng hơi nước. Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu
thủy chạy bằng hơi nước và thay thế cho những mái chèo, cánh buồm.
Cuộc Cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử
nhân loại – kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa, giúp thay thế hệ thống kỹ thuật cũ
có tính truyền thống của thời đại nông nghiệp kéo dài 17 thế kỷ, chủ yếu dựa vào gỗ,
sức mạnh cơ bắp (lao động thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một
hệ thống kỹ thuật mới với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên
vật liệu và năng lượng mới là sắt và than đá. Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc
đẩy phát triển mạnh mẽ, tạo nên tình thế phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế.
Cuộc Cách mạng đã nhanh chóng lan rộng ra phạm vi thế giới và trở thành hiện
tượng phổ biến đồng thời mang tính tất yếu đối với tất cả các quốc gia tư bản.
1.1.2. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai: 4
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra từ khoảng năm 1870 và kết thúc
vào năm 1914, khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Cuộc Cách mạng diễn ra sôi nổi
nhất tại Anh, Đức, Mỹ và một số quốc gia khác như Pháp, Ý, Nhật Bản.
Đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụng năng lượng
điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn. Cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa
học, sản xuất thép, và đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt. Giai đoạn này được
gọi là giai đoạn của những phát minh, điển hình có thể kể đến như: tín hiệu tự động,
điện thoại, đèn điện, máy đánh chữ vào những năm 1870; hay là thép thay thế trong
xây dựng vào những năm 1880; còn vào những năm 1990 là máy quay đĩa, máy phát
điện, động cơ đốt trong giúp tạo ra xe ô tô và chiếc máy bay đầu tiên. Nhờ những phát
minh trong cuộc Cách mạng này đã giúp năng suất được cải thiện đáng kể, giá cả giảm
mạng, chất lượng đời sống được đi lên. Từ đó, tạo nên những tiền đề mới và cơ sở
vững chắc để phát triển nền công nghiệp ở mức cao hơn nữa.
Trong cuộc Cách mạng này thì yếu tố quyết định là chuyển sang sản xuất trên cơ
sở điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất, tạo ra các ngành
mới trên cơ sở khoa học thuần túy, biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt.
Cuộc cách mạng lần thứ hai đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi
sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp.
1.1.3. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 hay còn gọi là cuộc cách mạng kỹ thuật
số bắt đầu xuất hiện không lâu sau Thế chiến thứ 2, vào nửa sau thế kỷ XX, với sự ra
đời và lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự
động hóa sản xuất. Khác với hai cuộc Cách mạng trước đó, khi trung tâm cuộc cách
mạng là xuất phát từ Anh thì cuộc Cách mạng lần thứ ba này do Mỹ, các nước phía
Tây Châu Âu và Nhật Bản dẫn đầu.
Trọng tâm của cuộc Cách mạng này là sản xuất hàng loạt và sử dụng logic kỹ
thuật số, MOSFET và chip mạch tích hợp, các công nghệ dẫn xuất bao gồm: máy
tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980), bộ vi xử lý, điện thoại di động kỹ thuật số và
Internet (thập niên 1990). Những phát minh từ cuộc Cách mạng này dần len lỏi và
trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Cuộc Cách mạng lần 5
thứ 3 đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội,
cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất để tạo ra cùng một khối
lượng hàng hóa tiêu dùng. Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã
hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I (nông - lâm - thủy sản), khu
vực II (công nghiệp và xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) của nền sản xuất xã hội
cũng như làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất. Cuộc Cách mạng hiện đại đã tác
động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người, nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc Cách mạng này.
Nảy nở từ cuộc Cách mạng lần ba, cũng chính là tiền đề cho cuộc Cách mạng
công nghiệp 4.0 xuất hiện. Cuộc Cách mạng công nghiệp thứ tư kết hợp các công nghệ
lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Khi so sánh với các
cuộc Cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiến
triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Hơn nữa, nó đang phá
vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Và chiều rộng và chiều sâu của những
thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.
1.2. Khái niệm cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Klaus Schwab - người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới
mang đến cái nhìn đơn giản hơn về Cách mạng công nghiệp 4.0 như sau: “Cách mạng
công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hoá sản xuất.
Cuộc Cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc
Cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hoá sản xuất. Bây
giờ, cuộc Cách mạng công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc Cách mạng lần ba, nó
kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học"
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0”
là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra
những khả năng sản xuất hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội của thế giới. Đây là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự
động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo. Nó được định nghĩa là “một cụm thuật
ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các 6
hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các
dịch vụ (IoS). Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên nền tảng các
thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ; là sự tích hợp của nhiều loại hình công nghệ và những thành tựu
mới của nhiều lĩnh vực nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh học làm xóa nhòa đi ranh giới
giữa các lĩnh vực khoa học này. Trong đó thì đặc trưng của cách mạng công nghệ lần
thứ tư công nghệ nền tảng là công nghệ số, các lĩnh vực mũi nhọn là trí tuệ nhân tạo,
công nghệ thông tin, Internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn
(Big data), Blockchain, công nghệ nano, công nghệ gen, công nghệ vật liệu, công nghệ in 3D…
1.3. Những đặc trưng cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 gồm các đặc trưng cơ bản như sau:
Sự kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể: Cách mạng công nghiệp 4.0 đặc trưng
bởi sự hợp nhất không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật số, vật lý và
sinh học. Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối
(IoT) và các hệ thống kết nối (IoS). Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện tạo ra các nhà máy
thông minh. Trong các nhà máy thông minh máy móc và quy trình sản xuất có thể tự
động hóa và tối ưu hóa. Các máy móc được kết nối Internet và được kết nối với nhau
qua một hệ thống có thể tự vận hành phần lớn với khả năng tự điều chỉnh để ảnh
hưởng đến tất cả các giai đoạn sản xuất.
Có tốc độ và quy mô phát triển đột phá “không có tiền lệ lịch sử”: Khi so sánh
với các cuộc Cách mạng công nghiệp trước đây thì công nghiệp 4.0 đang phát triển
theo hàm số mũ chứ không phải là theo tốc độ tuyến tính. Thời gian kể từ khi các ý
tưởng về công nghệ và đổi mới sáng tạo bắt đầu nảy ra, được hiện thực hóa trong
phòng thí nghiệm đến khi thương mại hóa ở quy mô lớn đã được rút ngắn một cách
đáng kể. Những đổi mới, sáng tạo công nghệ diễn ra trên mọi lĩnh vực với tốc độ
nhanh chóng đã thúc đẩy tạo ra một thế giới được số hóa, tự động hóa và càng trở nên
thông minh hiệu quả hơn.
Có tác động mạnh mẽ và toàn diện đến mọi quốc gia, mọi chính phủ, mọi
doanh nghiệp: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ có tác động mạnh mẽ tới tất
cả mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp từ toàn cầu, từng 7
khu vực, từng quốc gia đến từng doanh nghiệp, các nhân…Với kinh tế là những thay
đổi về tăng trưởng, việc làm và bản chất công việc. Đối với chính phủ là những tác
động tới việc chỉ đạo điều hành trong thời đại số, sự tương tác giữa chính quyền và
người dân. Đối với doanh nghiệp là những kì vọng của người tiêu dùng, dữ liệu thông
tin sản phẩm, các dịch vụ và mô hình kinh doanh. Đối với cá nhân là quan hệ giữa
người với người, quan hệ đạo đức và quản lí thông tin cá nhân…
Một số xu hướng chính của Cách mạng công nghiệp 4.0:
Trí tuệ nhân tạo (AI): là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với các mục tiêu giúp
máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người: biết suy nghĩ, biết
lập luận giải quyết vấn đề, biết giao tiếp, tự học và tự thích nghi…
Internet of Things: là một kịch bản của thế giới khi tất cả các thiết bị có khả năng kết
nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó
mà không cần sự tương tác trực tiếp giữa người với người hoặc người với máy tính.
Big Data: là tập hợp dữ liệu lớn, đa dạng, thay đổi nhanh đòi hỏi phải có công nghệ
mới để xử lí hiệu quả nhằm đưa ra dự đoán tốt hơn trong tương lai và đưa ra những
quyết định thông minh hơn.
Điện toán đám mây: Mô hình cung cấp các tài nguyên máy tính thông qua Internet,
các tài nguyên sẽ nằm tại các máy chủ ảo. Người dùng có thể truy cập vào bất cứ tài
nguyên nào trên đám mây vào bất cứ địa điểm nào, thời điểm nào chỉ cần kết nối với Internet
Blockchain (Chuỗi khối): Đây được xem là một phương thức ghi và chia sẻ dữ liệu
hiệu quả và an toàn. Blockchain có đặc tính phi tập trung, minh bạch và không phụ
thuộc vào bên thứ 3. Ví dụ điển hình của chuỗi khối là Bitcoin – đồng tiền kỹ thuật số
được ứng dụng phổ biến nhất. Ngoài ra, Blockchain còn được sử dụng cho những mục
đích khác như: bảo mật dữ liệu y tế, chống gian lận trong bầu cử, theo dõi được chuỗi cung ứng,…
Công nghệ sinh học: Hoạt động chính của công nghệ sinh học là phân tích và khai
thác tế bào, phân tử sinh học. Sau đó, những dữ liệu này được dùng để phát triển công
nghệ. Chúng có khả năng phục vụ cho nhiều mục đích như tạo ra dược liệu, vật phẩm 8
mới. Bên cạnh đó, công nghệ sinh học có thể mở ra quy trình sản xuất công nghiệp tân
tiến với nguồn năng lượng sạch hơn.
In 3D: Công nghệ này cho phép doanh nghiệp sản xuất in ra các sản phẩm mang đặc
trưng riêng. So với phương thức in truyền thống, in 3D tốn ít công cụ và chi phí với
hiệu suất nhanh hơn. Ngoài ra, quy trình này còn được bổ sung các tùy chỉnh nhằm tạo
ra những tính năng hoàn hảo hơn.
RPA (Tự động hóa quy trình robot): Công nghệ này giúp các robot hoạt động thông
qua AI có khả năng tự động hóa những nhiệm vụ kinh doanh đơn giản. Những hoạt
động của con người được thay thế bởi các robot thông minh, chúng đảm nhiệm một số
vai trò phổ biến như: xử lý giao dịch, quản lý nhân sự, hỗ trợ tiếp thị,…
Robot: Phần lớn robot được ứng dụng trong thiết kế , sản xuất hoặc phục vụ cho mục
đích cá nhân và thương mại. Hiện nay, robot ngày càng có các tính năng phức tạp và
tinh vi hơn. Chúng thường có mặt trong các lĩnh vực chuyên dụng như: chăm sóc sức
khỏe, sản xuất, dịch vụ,… 9
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG 4.0 TỚI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam.
2.1.1. Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới:
Trong thời đại ngày nay, mọi hoạt động diễn ra trong thế giới thực được sự hỗ trợ
ngày càng mạnh mẽ bởi các hoạt động trên không gian số, giúp thế giới trở nên ngày
một hiệu quả và thông minh hơn. Những đột phá công nghệ trong Cách mạng công
nghiệp 4.0 đang làm thay đổi những nền tảng phát triển kinh tế và xã hội như sở hữu,
qui mô sản xuất, các khâu trung gian, tầm quan trọng tương đối của các loại nguồn lực.
Trong lĩnh vực kinh tế, sự thay đổi đáng kể về tầm quan trọng của các nguồn lực đang
vẽ lại bản đồ kinh tế thế giới có lợi cho các nền kinh tế “thâm dụng” công nghệ gắn
với cuộc Cách mạng số (cốt lõi của Cách mạng công nghiệp 4.0), và làm giảm vị thế
của các nền kinh tế “thâm dụng” tài nguyên khoáng sản hay “thâm dụng” lao động. Do
vậy các quốc gia thuộc hai nhóm sau phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi
mô hình tăng trưởng để không bị bỏ lại phía sau trong cuộc chạy đua toàn cầu.
Bản đồ doanh nghiệp cũng đang được vẽ lại với sự gia tăng mạnh vai trò của các
doanh nghiệp công nghệ hoạt động chủ yếu trên không gian số: nếu vào năm 2006,
trong 6 tập đoàn có vốn hoá lớn nhất thế giới thì chỉ có 1 tập đoàn công nghệ
(Microsoft) thì đến đầu năm 2018, cả 7 tập đoàn có vốn hoá lớn nhất thế giới đều là
các công ty công nghệ đang dẫn dắt cuộc cách mạng số và là chủ nhân của các nền
tảng (platforms) giúp các tập đoàn này nắm trong tay những nguồn tài nguyên số
khổng lồ và vẫn tiếp tục tăng nhanh chóng.
Trong lĩnh vực xã hội và chính trị, nhờ dựa vào các nền tảng số, mạng truyền
thông xã hội (social media) đang lấn lướt truyền thông đại chúng để chi phối nhiều
lĩnh vực của cuộc sống đương đại. Tuy nhiên, cũng giống như trong lĩnh vực kinh tế,
bên cạnh những lợi ích to lớn mà các nền tảng số mang lại, nhiều chuyên gia có quan
ngại rằng các tập đoàn nắm giữ các nền tảng này đang có vị thế độc quyền kiểm soát
dữ liệu cá nhân của hàng triệu người, các luồng tin tức và thông tin trực tuyến. Các vụ
vi phạm dữ liệu, tấn công mạng, lừa đảo, vi phạm quyền riêng tư, phá hoại bầu cử…
cho thấy sự cấp thiết phải có một mô hình mới về quản trị nhà nước ở nhiều nước trên
thế giới để nắm bắt cơ hội và giảm thiểu thách thức trong kỷ nguyên số. 10
Cuộc Cách mạng này có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là ở khả
năng phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế người lao động bằng máy
móc có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch giữa lợi nhuận so với vốn đầu tư và lợi
nhuận so với sức lao động. Mặt khác, tri thức sẽ là yếu tố quan trọng của sản xuất
trong tương lai và làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt thành các
mảng "kỹ năng thấp/lương thấp" và "kỹ năng cao/lương cao", do đó dễ dẫn đến sự
phân tầng xã hội ngày càng trầm trọng thêm.
Nhìn chung bất cứ quốc gia hay doanh nghiệp nào cũng đều phải nỗ lực đẩy
mạnh quá trình chuyển đổi số (digital transformation) để tận dụng và phát triển nguồn
tài nguyên số có vai trò ngày càng gia tăng trong tương quan so sánh với với các
nguồn tài nguyên truyền thống như đất đai, tài nguyên khoáng sản, vốn, lao động,…
2.1.2. Cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam:
Với việc nhấn mạnh cả vào mức độ ứng dụng công nghệ cũng như các yếu tố bổ
sung như chất lượng của thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và tinh thần khởi nghiệp,
một số chuyên gia đã xây dựng phương pháp để định vị mức độ tham gia của các quốc
gia vào quá trình chuyển đổi số. Điều này cũng phù hợp với tính quy luật về mối quan
hệ giữa mức độ ứng dụng công nghệ cũng như chất lượng của các yếu tố bổ trợ với thu
nhập bình quân đầu người ở các quốc gia. Trong phương pháp này, công nghệ được đo
bằng Chỉ số ứng dụng Kỹ thuật số (Digital Adoption Index - DAI). DAI dựa trên ba
chỉ số phụ bao gồm các doanh nghiệp, người dân và chính phủ, với mỗi chỉ số phụ
được gán một trọng số như nhau: DAI (Kinh tế) = DAI (Doanh nghiệp) + DAI (Người
dân) + DAI (Chính phủ). Mỗi chỉ số phụ là mức trung bình đơn giản của một số các
chỉ số được chuẩn hóa đo lường tỷ lệ áp dụng công nghệ của các nhóm có liên quan.
Tương tự như vậy, các yếu tố bổ trợ được đo bằng giá trị trung bình của ba chỉ số phụ:
khởi nghiệp của doanh nghiệp; số năm học được điều chỉnh theo kỹ năng; và chất lượng của thể chế.
Bằng việc ứng dụng phương pháp nêu trên, báo cáo của Ngân hàng thế giới đã
xếp hạng các quốc gia trên thế giới trong quá trình chuyển đổi số. Trong hình này, các
nước trên thế giới được chia làm 3 nhóm theo thứ tự tăng dần về mức độ chuyển đổi
số: mới bắt đầu; quá độ; chuyển đổi. Các nước cũng được phân loại làm 4 nhóm theo
mức thu nhập bình quân đầu người: thu nhập thấp; thu nhập trung bình thấp; thu nhập 11
trung bình cao; thu nhập cao. Việt Nam được phân loại thuộc nhóm nước ở trong giai
đoạn quá độ của quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, cho dù Việt Nam có vị trí khá tích
cực trong tương quan với các nước có cùng trình độ phát triển, đất nước vẫn ở trong
nhóm quá độ trong quá trình số hóa và do vậy cần phải có nhiều nỗ lực để có thể nắm
bắt cơ hội trong cuộc Cách mạng số - nội dung cốt lõi của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư. Liên quan đến năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp,
nghiên cứu gần đây về mức độ sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 của các
doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp do Bộ Công thương cho thấy chỉ có một tỷ
lệ nhỏ các doanh nghiệp công nghiệp của Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng các công
nghệ điển hình của Cách mạng công nghiệp 4.0.
Với sự chuyển động nhanh của cách mạng này, Việt Nam đã có những thay đổi nhất định:
Phát triển nền tảng công nghệ: Việt Nam đã chú trọng vào phát triển hạ tầng công
nghệ thông tin và viễn thông, đặc biệt là mạng Internet và viễn thông di động. Sự phát
triển này là một bước quan trọng để hỗ trợ Cách mạng công nghiệp 4.0.
Các dự án cụ thể: Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy nhiều dự án liên quan đến Cách
mạng công nghiệp 4.0, bao gồm việc xây dựng các khu công nghiệp 4.0 và khu chế
xuất công nghệ cao. Các khu vực này được thiết kế để thu hút các doanh nghiệp công
nghệ và nghiên cứu phát triển.
Hợp tác quốc tế: Việt Nam đã tìm kiếm hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế để
học hỏi và thúc đẩy Cách mạng công nghiệp 4.0.
Các lĩnh vực ứng dụng: Cách mạng công nghiệp 4.0 đã có sự ảnh hưởng lớn đến
nhiều lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam. Cụ thể, một số lĩnh vực quan trọng bao gồm:
Công nghệ sản xuất: Các nhà máy thông minh và tự động háo đang trở nên phổ
biến hơn. Sử dụng các công nghệ như IoT (Internet of Things) và trí tuệ nhân tạo để tối
ưu hóa sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng.
Nông nghiệp thông minh: Sự ứng dụng của Cách mạng công nghiệp 4.0 đã giúp
nâng cao năng suất trong lĩnh vực nông nghiệp thông qua việc sử dụng cảm biến, hệ
thống quản lý trí tuệ và tự động hóa quy trình nông nghiệp.
Chăm sóc sức khỏe: Sự phát triển của cơ sở hạ tầng điện toán đám mây và ứng
dụng y tế trực tuyến đã cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe và quản lý dữ liệu y tế. 12
Nhìn chung, Việt Nam đang nỗ lực để nắm bắt cơ hội từ Cách mạng công nghiệp
4.0 và đảm bảo rằng nó có thể cải thiện sự phát triển bền vững vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt.
2.2. Những thuận lợi của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tới Việt Nam.
2.2.1. Về an ninh – chính trị:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy
mô toàn cầu. Các công nghệ đột phá trong cuộc Cách mạng này đã tác động tới nhiều
khía cạnh, lĩnh vực trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Nhờ sự chủ động tạo dựng môi trường phát triển công nghệ với nguồn nhân lực
chất lượng cao về công nghệ, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có khả
năng thích ứng tương đối tốt đối với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong
thời gian qua thì tỷ lệ ứng dụng thành của cuộc Cách mạng công nghiệp này cũng đang
được đưa vào trang bị trong các ngành, nghề. Điển hình có thể thấy, trong cuộc chiến
phòng chống Đại dịch COVID-19, nhờ có sự phát triển của lĩnh vực công nghệ sinh
học mà thế giới đã nghiên cứu, phát minh các loại vắc-xin ngăn chặn sự lây lan nhanh
chóng của vi-rút và các biến thể của chúng hạn chế tối đa những bất ổn ảnh hưởng đối
với an ninh – chính trị. Việt Nam cũng đã tiếp thu được thành quả công nghệ nghiên
cứu và tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm và điều chế ra các loại vắc-xin. Bên cạnh đó,
những công nghệ đột phá trong lĩnh vực AI cùng với sự hỗ trợ của mạng 5G cũng góp
phần tạo ra những công cụ hiệu quả để nhận diện, ứng phó và có biện pháp xử lý kịp
thời đối với thách thức, rủi ro an ninh mạng hay là dịch bệnh, các thảm hoạ thiên nhiên như bão lũ, hạn hán,…
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng là sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ thông tin, trong đó chủ yếu là công nghệ mạng xã hội, di động, dữ liệu
lớn, vạn vật kết nối Internet, phân tích và điện toán đám mây. Điều này góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho các cơ quan hành chính Nhà nước đẩy mạnh ứng dụng các
thành tựu công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý. Cách mạng công nghiệp tạo điều
kiện cho các nước trao đổi kinh nghiệm tổ chức quản lý kinh tế- xã hội. Chính điều
đó giúp Việt Nam có cơ hội tiếp thu từ những nước khác cũng như hạn chế sai lầm
thất bại trong quá trình phát triển. Ngoài ra, còn tạo điều kiện cho việc mở rộng 13
quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, huy động các nguồn lực bên ngoài cho
việc phát triển, nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế,…
Việc ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính cũng là mục tiêu của Chính
phủ điện tử mà chúng ta đang triển khai xây dựng theo Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày
15-10-2015. Việc triển khai thực hiện các mục tiêu của Chính phủ điện tử ở nước ta
cũng có nhiều thuận lợi với lợi thế hạ tầng Internet tương đối tốt, giá rẻ trong khi
thiết bị di động cấu hình cao, giá thấp đang trở nên phổ biến cũng như sự khuyến
khích phát triển của Chính phủ, Việt Nam có tiềm năng phát triển công nghệ SMAC
rất lớn. Một yếu tố thuận lợi nữa là Việt Nam có các đối tác quan trọng là các tập
đoàn công nghệ lớn và có nhiều kinh nghiệm như Microsoft trong quá trình tư vấn,
xây dựng, và phát triển SMAC nói chung và điện toán đám mây tại Việt Nam.
Những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là thành tựu
trong phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tạo điều kiện thuận lợi để bảo
đảm tính dân chủ, minh bạch trong hầu hết các hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Công nghệ và thiết bị hạ tầng số cho phép việc tương tác hai chiều giữa người dân
và Chính phủ. Chẳng hạn, trong việc xây dựng thể chế, chính sách, hầu hết các dự
thảo văn bản pháp luật đều cần lấy ý kiến góp ý của người dân. Khi đó, người dân
có thể tham gia đóng góp ý kiến, phản biện các dự thảo thể chế, chính sách một cách
thuận lợi bằng nhiều hình thức khác nhau như là thông qua mạng Internet. Hay trong
tổ chức thực thi chính sách, pháp luật, người dân có thể tham gia giám sát việc thực
hiện thông qua cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình các hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước. Việc thực hiện cơ chế này rất thuận lợi và hiệu
quả nhờ Internet và truyền thông. 2.2.2. Về kinh tế:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm thay đổi nền tảng, thúc đẩy các
nền kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Thực
tiễn cho thấy, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trước đều góp phần quan
trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, cũng mở ra nhiều cơ hội cho các
nước trong khu vực, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nhờ tiềm
năng to lớn của chuyển đổi số và sự cải thiện đáng kể của các trụ cột chính để tiếp 14
cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như hạ tầng công nghệ thông tin,
nguồn nhân lực và thể chế trong thời gian qua chính là điều kiện để Việt Nam có thể
tận dụng tối đa các cơ hội mà cuộc Cách mạng mang lại. Khi có chiến lược phát
triển đúng hướng thì nhiều lĩnh vực sẽ được hưởng lợi từ cuộc cách mạng này, như
là thương mại điện tử, du lịch, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, giáo dục,
y tế, chính phủ điện tử... Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới, với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới, quy mô lớn và chất lượng cao, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu
- Việt Nam (EVFTA),... sẽ tạo điều kiện tiếp cận thành tựu công nghệ sản xuất mới
để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu, tạo cơ sở để Việt Nam có thể đổi mới
mô hình tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động cũng như là góp phần rút ngắn
khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ đã làm gia tăng các yếu tố sản xuất - kinh
doanh, kéo theo tăng thu nhập và dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng dân cư, tăng đầu tư cho
cả nền kinh tế và tăng năng suất lao động. Cùng với đó, nhờ ứng dụng công nghệ, chi
phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc đã được giảm xuống, chuỗi cung ứng trở
nên hiệu quả hơn, các chi phí thương mại được giảm bớt.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được phân loại là thuộc nhóm
nước ở trong giai đoạn quá độ của quá trình chuyển đổi số. Nhờ lợi thế về địa chính
trị của mình, Việt Nam hiện đang là một điểm đến ưa thích của làn sóng đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) mới, qua đó có thể tham gia nhiều hơn vào các chuỗi giá trị
toàn cầu. Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp chế tạo thâm dụng
lao động có định hướng xuất khẩu đang có tác động đáng kể đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Quá trình này giúp Việt Nam chuyển đổi cơ cấu lao động từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ với năng suất và thu nhập cao hơn. Từ đó,
thúc đẩy thực hiện hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô
hình tăng trưởng, bước sang quỹ đạo tăng trưởng nhanh và bền vững hơn. 2.2.3. Về xã hội:
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có vai trò vô cùng to lớn trong việc phát
triển nguồn nhân lực, nó vừa đặt ra những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày 15
càng cao nhưng đồng thời lại tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực. Sau nhiều
năm áp dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp thì chất lượng nguồn nhân
lực đã được nâng cao; thúc đẩy gia tăng năng suất lao động, của cải vật chất, cải thiện
sức khoẻ và đời sống tinh thần của người dân. Hay nói cách khác, nó đã góp phần phát
triển phúc lợi xã hội cho nhân dân. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, tạo ra những thay đổi về việc làm, cả về cơ
cấu lẫn bản chất công việc với sự xuất hiện ngày càng đông đảo các tầng lớp sáng tạo
trong các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo
dục, y tế,... Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng đã và đang góp phần đẩy mạnh phân công
lao động theo hướng các ngành, nghề đòi hỏi khả năng đổi mới sáng tạo. Cùng với đó
là giảm thiểu các công việc chân tay có thu nhập thấp và các công việc có tính chất lặp đi, lặp lại.
Có 2 lĩnh vực được nhắc đến trong Cách mạng công nghiệp 4.0 thuộc về y học là
cấy ghép và in 3D thì Việt Nam đã có được những thành tựu nhất định. Năm 2016, các
bác sĩ của Bệnh viện Chợ Rẫy đã in một mảnh sọ nhân tạo bằng methyl methacrylate
để vá sọ cho bệnh nhân L.N.T 17 tuổi. Bệnh nhân này bị chấn thương sọ não với một
lỗ thủng trên hộp sọ rộng gần 140 mm. Sau khi được phẫu thuật ghép mảnh sọ nhân
tạo, bệnh nhân đã hồi phục. Trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI), một trong những đặc
trưng chủ yếu của Cách mạng công nghiệp 4.0, chúng ta cũng đã có những sản phẩm
AI “Made in Vietnam” như “Hệ thống Săn dữ liệu mạng xã hội” của Lê Công Thành
và các cộng sự thuộc Topica AI Labs. Hệ thống AI này được các ngân hàng, Tổng cục
Du lịch và nhiều doanh nghiệp sử dụng để định vị thương hiệu. Đây là những cơ sở
bước đầu để Việt Nam tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Với những tiến bộ đột phá gần đây, Việt Nam đã có thể ứng phó tốt hơn với các
thách thức như trong lĩnh vực môi trường, công nghệ sinh học được ứng dụng vào xử
lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường... Trong lĩnh vực y dược, công
nghệ sinh học cũng được ứng dụng để nghiên cứu, phát triển sản xuất các vắc-xin thiết
yếu, vắc-xin thế hệ mới, chế phẩm chẩn đoán và thuốc chữa bệnh... Đặc biệt, trong bối
cảnh dịch bệnh COVID-19, việc sản xuất nhanh chóng các loại vắc-xin phòng, chống
dịch bệnh đã cho thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của ngành công nghệ sinh học. 16
2.3. Những khó khăn Việt Nam phải đối mặt từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
2.3.1. Về an ninh – chính trị:
Bên cạnh những thuận lợi mà cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang
mang lại thì Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách trong
nhiều phương diện như: an ninh – chính trị, kinh tế, xã hội. Trước hết, Cách mạng
công nghiệp 4.0 ảnh hưởng đến an ninh chính trị bằng cách tạo ra những thách thức
mới về an ninh mạng. Các cuộc tấn công mạng trở nên phổ biến hơn và nguy hiểm hơn
khi các thiết bị kết nối Internet vạn vật (IoT) được sử dụng rộng rãi. Các cuộc tấn công
này có thể gây ra thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân, đặc biệt là các tổ chức chính
phủ và quân đội. Ngoài ra, các cuộc tấn công mạng cũng có thể được sử dụng để can
thiệp vào các hoạt động chính trị và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho an ninh quốc gia.
Tình hình an ninh mạng nước ta ngày càng diễn biến phức tạp, đặt ra nhiều nguy
cơ thách thức không chỉ đối với nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh đối với các hoạt động
sử dụng không gian mạng để kích động biểu tình, phát tán thông tin xấu độc, vu
khống, sai sự thật; bảo vệ bí mật nhà nước trong không gian mạng; phòng chống lợi
dụng mạng để tiến hành các hoạt động khủng bố, tuyên truyền chống phá chế độ.
Nhiều hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (hệ thống thông tin của Chính
phủ, các bộ, các tổ chức, ngân hàng, năng lượng, hàng không...) đã trở thành mục tiêu
tấn công thường xuyên của tin tặc. Mỗi năm có hàng chục ngàn cuộc tấn công nhằm
vào các cơ quan chính phủ, các hệ thống tài chính, ngân hàng, hạ tầng thông tin trọng
yếu, trang web của các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam... nhằm đánh cắp
thông tin, bí mật nhà nước, thành tựu khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ. Các loại
virus, mã độc, vũ khí mạng xuất hiện ngày càng nhiều, một số loại được thiết kế
chuyên biệt, hết sức nguy hiểm. Trong khi đó, hệ thống mạng thông tin nước ta còn
nhiều lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng, không được kiểm tra, đánh giá thường xuyên.
Khả năng phòng, chống tấn công mạng của hệ thống thông tin, sản phẩm, dịch vụ
mạng còn yếu kém, chưa ngăn chặn được các cuộc tấn công mạng cường độ cao. Các
cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, hệ thống thông tin ở nước ta không theo
một tiêu chuẩn thống nhất, thiếu sự thẩm định về an ninh mạng. 17 2.3.2. Về kinh tế:
Theo như một số chuyên gia kinh tế nhận định, trong khi thế giới đang tiến vào
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tương ứng
với trình độ cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ hai với công nghệ lạc hậu, thâm dụng
lao động và chủ yếu tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu ở một số khâu đơn
giản, giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp,... Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp
của Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ đang phải đối mặt với nhiều rào
cản trong quá trình chuyển đổi số. Trong báo cáo của Tập đoàn Cisco (2018) về chỉ số
phát triển kỹ thuật số của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực châu Á - Thái Bình
Dương cho thấy, các rào cản của các doanh nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ Việt Nam bao gồm
thiếu kỹ năng số và nhân lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để
cho phép chuyển đổi kỹ thuật số (16,7%), thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức
về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp (15,7%)...
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra sức ép lớn đối với một số
ngành hay nhóm ngành như là: năng lượng, công nghiệp chế tạo, dệt may, điện tử...
trong trung hạn, bởi lẽ những ngành này chịu tác động lớn của quá trình tự động hoá.
Đặc biệt, có thể thấy nhóm ngành công nghiệp chế tạo phải chịu tác động mạnh nhất vì
những đột phá về công nghệ, đặc biệt là những tiến bộ vượt bậc trong tự động hóa và
công nghệ in 3D đang làm đảo ngược dòng thương mại theo hướng bất lợi cho các
nước như Việt Nam do làm giảm mạnh lợi thế lao động giá rẻ tại đây. Cụ thể, những
tiến bộ vượt bậc trong quá trình tự động hóa và số hóa đã và đang giúp giảm mạnh chi
phí chế tạo và vận hành người máy, và do vậy làm tăng khả năng công nghiệp chế tạo
quay trở lại các nước phát triển để gần hơn với thị trường tiêu thụ lớn và các trung tâm
nghiên cứu và phát triển (R&D) ở các nước này. Còn đối với ngành dệt may, công
nhân trong các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam đang bị kẹt ở giữa trong cuộc cạnh
tranh khốc liệt trên toàn cầu, với một bên là nhân công rẻ hơn từ các nước Campuchia,
Bangladesh, Myanmar,…và bên kia là người máy đang được ứng dụng ngày một rộng
rãi ở các nước phát triển và cả ở Trung Quốc. Triển vọng của ngành dệt may hiện nay
hết sức bấp bênh, dẫn đến việc các doanh nghiệp hiện đang hoạt động kêu gọi không
đầu tư thêm vào ngành này nữa. 18
Báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới (WB) về "Chuyển đổi nông nghiệp
Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào" đã chỉ ra xu hướng chung gần đây là GDP
nông nghiệp Việt Nam đang giảm, tốc độ tăng năng suất lao động chậm lại, trong
khi khoảng cách về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đang
mở rộng. Báo cáo khẳng định để thay đổi được điều này, ngành nông nghiệp Việt
Nam cần có cách làm khác, trên cơ sở đổi mới tư duy và cách tiếp cận, cần tập trung
chú trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Khi ứng dụng công nghệ
số, thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ dẫn đến sự thay đổi về mô hình
sản xuất, văn hóa kinh doanh, mô hình tổ chức … điều này đòi hỏi các doanh nghiệp
phải xử lý, thích ứng sự thay đổi này. 2.3.3. Về xã hội:
Các thành tựu khoa học - công nghệ trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm
cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế. Việc áp
dụng công nghệ số và quá trình robot hóa đã dẫn tới tình trạng mất việc làm nghiêm
trọng đối với người lao động, đặc biệt là những lao động phổ thông, không có trình độ
chuyên môn, không được đào tạo ngày càng gia tăng. Những việc làm có nguy cơ bị
loại bỏ hoặc cắt giảm mạnh bao gồm: Công việc lặp đi, lặp lại; các giao dịch mà nhân
viên không cần bằng cấp, chỉ dựa trên quy trình chuẩn như các giao dịch tài chính...
Nguy cơ thất nghiệp đối với những lao động phổ thông ngày càng gia tăng, không
được đào tạo làm cho sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống
giữa các tầng lớp xã hội trong nước ta cũng có xu hướng ngày càng tăng, làm phát sinh
nhiều vấn đề xã hội phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội.
Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (2019), trong 10 năm tới Việt Nam
sẽ phải đối mặt với sự thay thế lao động khi ứng dụng công nghệ số, dẫn đến sự thay
đổi về mô hình sản xuất, văn hóa kinh doanh, mô hình tổ chức… Có tới 70% số việc
làm ở mức rủi ro cao (có xác suất bị thay thế trên 70%), 18% có rủi ro trung bình (có
xác suất bị thay thế từ 30-70%) và 12% có rủi ro thấp (có xác suất bị thay thế dưới
30%). Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xử lý, thích ứng với sự thay đổi này. Có
thể thấy, nguy cơ lao động ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp
chế biến, chế tạo... bị thay thế là rất lớn. Đây là những ngành, nghề đã và đang tạo ra
rất nhiều công ăn việc làm, góp phần cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong đó, 19