


















Preview text:
ĐỀ TÀI
ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VÀ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH GIÁO DỤC HIỆN NAY
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, quá trình dạy và học ở bậc đại học không còn đơn thuần là việc truyền đạt tri thức một chiều từ giảng viên sang sinh viên, mà đòi hỏi người học phải chủ động, sáng tạo, có khả năng tương tác và tự học cao. Những thay đổi do công nghệ mang lại đã làm biến đổi sâu sắc mô hình lớp học truyền thống và phương thức tiếp cận tri thức. Sinh viên hiện nay có thể dễ dàng truy cập vào kho tài liệu, học liệu mở trên Internet để phục vụ cho việc học tập mà không còn phụ thuộc hoàn toàn vào giảng viên.
Tuy nhiên, song song với những cơ hội đó là những thách thức không nhỏ: sinh viên có xu hướng lạm dụng công nghệ, học tập bị động, giảm khả năng tư duy phản biện và tính kỷ luật trong học tập. Chính vì vậy, việc hình thành và duy trì động cơ học tập là một vấn đề cấp thiết, góp phần giúp sinh viên định hướng rõ mục tiêu học tập, nâng cao hiệu quả tiếp thu tri thức, cũng như phát triển toàn diện năng lực cá nhân.
Trong vai trò trung tâm của hoạt động giảng dạy, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà còn là người định hướng, khơi dậy nội lực học tập ở sinh viên thông qua việc vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực và phù hợp với đặc điểm tâm lý người học. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, các nguyên lý của tâm lý học – như lý thuyết về nhu cầu, động cơ, và luật tâm lý học sư phạm – trở thành cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả giáo dục đại học.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Động cơ học tập và biện pháp hình thành động cơ học tập cho sinh viên trong bối cảnh giáo dục hiện nay”, với mong muốn làm rõ vai trò của động cơ học tập trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm phát triển nội lực học tập cho sinh viên trong môi trường giáo dục đại học hiện đại.
2. Đối tượng và nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là động cơ học tập và các biện pháp hình thành động cơ học tập cho sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học hiện đại ngày nay.
Khách thể nghiên cứu là sinh viên bậc đại học thuộc nhiều ngành đào tạo khác nhau, đang học tập tại các trường đại học tại Việt Nam, đặc biệt là trong môi trường giáo dục có ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số mạnh mẽ. Đây là nhóm đối tượng chịu nhiều tác động từ sự thay đổi về phương pháp dạy học, môi trường học tập cũng như các yêu cầu mới về năng lực cá nhân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm làm rõ vai trò của động cơ học tập đối với sinh viên trong bối cảnh giáo dục hiện nay, từ đó đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm hình thành và phát triển động cơ học tập tích cực, bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên.
- Phân tích thực trạng động cơ học tập của sinh viên trong môi trường giáo dục đại học hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm hình thành và nâng cao động cơ học tập cho sinh viên phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và bối cảnh chuyển đổi số.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
4.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lý luận về động cơ học tập, làm rõ mối quan hệ giữa động cơ với hành vi học tập và sự phát triển năng lực cá nhân của sinh viên. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cung cấp những luận cứ khoa học để giảng viên và nhà quản lý giáo dục tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược giảng dạy lấy người học làm trung tâm.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài phản ánh một phần thực trạng động cơ học tập của sinh viên trong bối cảnh giáo dục hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả học tập. Những kết quả này có thể được ứng dụng trong giảng dạy, tư vấn học đường và thiết kế chương trình đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Động cơ
Trong tâm lý học, động cơ là một phạm trù cơ bản, dùng để chỉ nguồn gốc nội tại thúc đẩy con người hành động nhằm đạt được mục đích nhất định. Động cơ không chỉ trả lời cho câu hỏi “vì sao con người hành động”, mà còn thể hiện ý nghĩa, mục đích, hướng đi và mức độ nỗ lực của hành vi.
Động cơ là sự kết tinh của nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin... và được biểu hiện qua hành vi có mục đích. Nó vừa là lực đẩy, vừa là kim chỉ nam dẫn dắt con người hành động, đặc biệt trong các hoạt động có tính phức tạp và lâu dài như học tập, nghiên cứu hay lao động. Trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau về động cơ hoạt động của con người, song điểm chung thống nhất trong các cách nhìn nhận về hiện tượng tâm lý này là xem động cơ là sự định hướng, kích thích, thúc đẩy và duy trì hành vi của con người.
Theo Jean Piaget (1896-1980) - một nhà tâm lý học người Thuỵ Sĩ: “Động cơ là tất cả những yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó”.
Động cơ học tập
Vì động cơ học tập là một hệ thống các yếu tố vừa có tính chất định hướng, vừa có chức năng kích thích, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập, nên có quan niệm: “Động cơ học tập là yếu tố tâm lí phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người học, nó định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập của người học nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó”.
Để có động cơ học tập, trước hết phải có đối tượng học (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo). Đối tượng này là những cái có khả năng kích thích, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập. Như vậy, nguồn gốc thực sự của động cơ học tập không phải ở bên trong, mà ở bên ngoài người học, hóa thân vào sự vật là đối tượng mà người học có nhu cầu chiếm lĩnh. Khi nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng đượcngười học ý thức, đối tượng đó sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng và duy trì hoạt động học tập. Sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng càng lớn, động cơ thúc đẩy hoạt động học tập càng cao. Vì vậy, động cơ học tập giống như véc-tơ lực, xuất phát từ đối tượng và hướng về phía người học.
Động cơ học tập của sinh viên
Từ khái niệm về động cơ học tập và khái niệm sinh viên, có thể khái quát khái niệm về động cơ học tập của sinh viên là sự thể hiện nhu cầu mong muốn được học tập, được hoàn thiện, phát triển, tiến bộ trưởng thành, mong muốn nắm vững và làm chủ tri thức khoa học; mong muốn có những hiểu biết sâu về nghề nghiệp tương lai mà mình sẽ phục vụ suốt đời; và ngoài ra động cơ này còn là sự thể hiện các nhu cầu mang tính chất riêng tư của cá nhân sinh viên.
1.2. Sự hình thành động cơ học tập của sinh viên
Động cơ học tập không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của sinh viên dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giảng viên. Nhu cầu giải quyết được mâu thuẫn “giữa một bên là “phải hiểu biết” và bên kia là “chưa hiểu biết” (hoặc hiểu biết chưa đủ, chưa đúng)” là nguyên nhân chính yếu để hình thành động cơ học tập ở sinh viên.
Ngoài ra, động cơ nói chung và động cơ học tập nói riêng thường liên hệ mật thiết tới hứng thú của mỗi người. Nhờ có hứng thú mà động cơ ngày càng mạnh mẽ. Vì thế vai trò của hứng thú trong học tập là rất lớn. Trong học tập chẳng những cần có động cơ đúng đắn mà còn phải có hứng thú bền vững thì sinh viên mới có thể tiếp thu tri thức hiệu quả nhất.
Động cơ học tập của sinh viên giữ vai trò then chốt trong quá trình dạy học ở bậc đại học, vốn là sự tương tác hai chiều giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên. Mục tiêu chung của quá trình này là góp phần hình thành và phát triển nhân cách người học, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.
Hoạt động dạy trong môi trường đại học không đơn thuần là việc truyền đạt một số hiểu biết đời thường, mà là quá trình chuyên biệt do những người được đào tạo bài bản - giảng viên - đảm nhiệm. Họ không chỉ cung cấp tri thức khoa học, mà còn truyền đạt hệ thống kỹ năng, năng lực và phương pháp tư duy hiện đại, nhằm chuẩn bị cho sinh viên thích ứng và phát triển trong một thế giới đang không ngừng biến đổi.
Song song với đó, hoạt động học của sinh viên cũng giữ vai trò chủ động. Con người có thể học thông qua nhiều hình thức khác nhau như học ngẫu nhiên, tự học hay học tập trong nhà trường. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, hoạt động học trong môi trường đại học cần được dẫn dắt bởi động cơ học tập rõ ràng, đồng thời gắn liền với nội dung, phương pháp và phương tiện phù hợp.
Về bản chất, học là quá trình lĩnh hội những giá trị tinh thần, tri thức và kinh nghiệm mà nhân loại đã tích lũy, nhưng vẫn còn mới mẻ đối với từng cá nhân. Ở bậc đại học, học tập không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu tri thức một cách thụ động, mà còn là hành trình khám phá, hệ thống hóa, vận dụng và bước đầu tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học - nhằm hình thành năng lực nghề nghiệp và phát triển bản thân thành lực lượng lao động có chất lượng.
Mọi hoạt động đều cần có động cơ thúc đẩy, và học tập cũng không ngoại lệ. Động cơ chính là mục tiêu cuối cùng mà cá nhân hướng tới, chi phối hành vi và quyết định mức độ nỗ lực trong học tập. Động cơ không tồn tại một cách trừu tượng, mà luôn gắn liền với đối tượng cụ thể của hoạt động - trong trường hợp này là hệ thống tri thức, kỹ năng, giá trị, chuẩn mực mà người học tiếp nhận từ giảng viên và chương trình đào tạo. Từ đó đặt ra một vấn đề trung tâm: động cơ học tập nào đang thực sự được sinh viên hướng đến thông qua việc tiếp cận đối tượng học tập? Việc nhận diện đúng và tác động tích cực đến những động cơ này chính là chìa khóa để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo đại học.
1.3. Phân loại các động cơ học tập của sinh viên
1.3.1. Động cơ hoàn thiện tri thức
Về động cơ hoàn thiện tri thức, thường thấy ở sinh viên có lòng khao khát mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê với bản thân quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập... Tất cả những biểu hiện này đều do sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức, cũng như phương pháp dành lấy tri thức đó. Mỗi lần dành được cái mới ở đối tượng học thì sinh viên cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức của mình được thỏa m n một phần. Trường hợp này, nguyện vọng hoàn thiện tri thức hiện thân ở đối tượng học. Do đó, người ta gọi loại động cơ học tập này là “động cơ hoàn thiện tri thức”.
Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong. Nó cũng có thể xuất hiện những sự khắc phục khó khăn trong tiến trình học tập và đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí. Đó là những nỗ lực hướng vào việc khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt nguyện vọng đã nảy sinh, chứ không phải hướng vào việc đấu tranh với chính bản thân mình. Do đó, chủ thể của hoạt động học tập thường không có những căng thẳng tâm lý. Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi loại động cơ này là tối ưu theo quan điểm sư phạm.
1.3.2. Động cơ quan hệ xã hội
Về loại động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy sinh viên say sưa học tập nhưng sự say sưa đó lại vì sức hấp dẫn, lôi cuốn của một “cái khác” ở ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập. Những cái đó lại chỉ có thể đạt được trong điều kiện mà sinh viên chiếm lĩnh được tri thức khoa học. Những ví dụ về những “cái khác” đó là thưởng và phạt, đe dọa và yêu cầu, thi đua và áp lực, lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai, cũng như sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè... Đây là những mối quan hệ xã hội khác nhau của sinh viên. Những tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi... đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác. Trong trường hợp này, những mối quan hệ xã hội của cá nhân được hiện thân ở đối tượng học tập. Do đó, ta gọi loại động cơ học tập này là động cơ quan hệ xã hội (động cơ quan hệ xã hội và động cơ hoàn thiện tri thức tương ứng với nhau. .V.Petropxky gọi là động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong là động cơ do những yếu tố kích thích xuất phát từ mục đích học tập. Động cơ bên ngoài là động cơ do yếu tố kích thích ở bên ngoài đối với mục đích học tập).
Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở một mức độ nào đấy mang tính chất cư ng bách và có lúc xuất hiện như là một vật cản cần khắc phục trên con đường đi tới mục đích cơ bản. Nét đặc trưng của hoạt động này là có những lực chống đối nhau như kết quả học tập không đáp ứng mong ước về địa vị của cá nhân trong xã hội sau này. Vì thế, đôi khi nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lý đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, đôi khi cả sự đấu tranh với chính bản thân mình.
1.4. Các yếu tố tác động đến động cơ học tập của sinh viên
Động cơ học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau, có thể chia thành ba nhóm chính: yếu tố cá nhân, yếu tố từ môi trường giáo dục và yếu tố xã hội. Trước hết, từ phía cá nhân người học, các đặc điểm tâm lý như nhận thức, nhu cầu, hứng thú, thái độ đối với môn học và định hướng nghề nghiệp có ảnh hưởng rõ nét đến động cơ học tập. Sinh viên có nhận thức tích cực về vai trò của các môn lý luận chính trị, hiểu rõ tầm quan trọng của tri thức chính trị trong việc định hướng tư tưởng và hành vi xã hội sẽ có động cơ học tập mạnh mẽ hơn so với những sinh viên học chỉ để đối phó hoặc vì áp lực điểm số. Ngoài ra, sự tự tin, tinh thần cầu tiến và khả năng tự học cũng góp phần nâng cao động cơ học tập nội tại.
Tiếp theo, môi trường giáo dục – bao gồm chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, thái độ của giảng viên, cách thức kiểm tra – đánh giá và điều kiện học tập – có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và duy trì động cơ học tập. Nếu chương trình học được thiết kế khoa học, nội dung gần gũi với thực tiễn, phương pháp giảng dạy sinh động, khơi gợi tư duy phản biện, thì sinh viên sẽ cảm thấy hứng thú và chủ động hơn trong học tập. Trái lại, cách dạy truyền thống, khô cứng, nặng về lý thuyết hoặc đánh giá mang tính hình thức dễ khiến sinh viên cảm thấy chán nản, từ đó làm giảm động cơ học tập. Thái độ của giảng viên – sự nhiệt tình, công tâm, truyền cảm hứng – cũng có vai trò lớn trong việc thúc đẩy tinh thần học tập tích cực của sinh viên.
Cuối cùng, các yếu tố xã hội như gia đình, bạn bè, dư luận xã hội và môi trường thông tin cũng góp phần hình thành và định hướng động cơ học tập. Sự kỳ vọng của cha mẹ, sự cổ vũ của bạn bè, hay tấm gương những người đi trước có thể tạo động lực mạnh mẽ cho sinh viên nỗ lực học tập. Bên cạnh đó, mạng xã hội và truyền thông cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến thái độ và cách tiếp cận tri thức của sinh viên. Những thông tin sai lệch hoặc quan điểm lệch lạc về các môn lý luận chính trị có thể làm giảm niềm tin và sự hứng thú học tập nếu sinh viên không có khả năng phân tích, chọn lọc và định hướng tư tưởng vững vàng. Như vậy, động cơ học tập của sinh viên là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó việc kết hợp hài hòa giữa tác động bên ngoài và sự tự thân là điều kiện cần thiết để duy trì động lực học tập tích cực và bền vững.
1.5. Ý nghĩa sư phạm của động cơ học tập của sinh viên
Động cơ học tập giữ vai trò then chốt trong quá trình giáo dục và đào tạo sinh viên, bởi nó không chỉ quyết định đến chất lượng tiếp thu tri thức mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ, hành vi và sự phát triển toàn diện của người học. Về mặt sư phạm, động cơ học tập tích cực chính là nền tảng để sinh viên chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ đó phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng tự học – những phẩm chất cốt lõi cần thiết trong thời đại học tập suốt đời. Khi sinh viên học tập với động cơ nội tại như mong muốn hoàn thiện tri thức, yêu thích môn học, khao khát được khám phá thì quá trình học trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả và ít bị lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, nếu động cơ học tập chủ yếu xuất phát từ áp lực thi cử, bằng cấp hay sự kỳ vọng từ người khác thì dù vẫn có thể đạt được kết quả học tập nhất định, nhưng tính bền vững và khả năng chuyển hóa tri thức vào thực tiễn thường không cao.
Từ góc độ người dạy, việc nhận diện và phát huy động cơ học tập đúng đắn của sinh viên có ý nghĩa thiết thực trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và tạo lập môi trường học tập tích cực. Giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn cần khơi dậy hứng thú, tạo điều kiện cho sinh viên cảm thấy việc học là cần thiết, có giá trị và mang tính ứng dụng cao trong cuộc sống. Ngoài ra, hiểu rõ động cơ học tập của sinh viên còn giúp nhà trường và giảng viên có định hướng đúng đắn trong việc điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá học tập sao cho phù hợp với nhu cầu, năng lực và đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Đồng thời, việc phát triển động cơ học tập phù hợp cũng góp phần hình thành nhân cách người học, đặc biệt là phẩm chất chính trị, đạo đức và tinh thần trách nhiệm với xã hội – những yếu tố cốt lõi trong mục tiêu giáo dục toàn diện hiện nay.
Như vậy, động cơ học tập không chỉ là một hiện tượng tâm lý đơn thuần, mà còn mang giá trị sư phạm sâu sắc trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy, xây dựng tinh thần học tập chủ động và phát triển con người toàn diện. Việc tạo lập và nuôi dưỡng động cơ học tập tích cực cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình giáo dục đại học, đặc biệt là đối với các môn lý luận chính trị – nơi trang bị cho sinh viên thế giới quan, phương pháp luận khoa học và lập trường tư tưởng vững vàng.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1. Bối cảnh giáo dục đại học và yêu cầu đối với sinh viên ngày nay
Trong những năm gần đây, nền giáo dục đại học Việt Nam đang trải qua quá trình đổi mới mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại và xu thế toàn cầu hóa. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động và yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Giáo dục đại học không còn đơn thuần là quá trình truyền thụ tri thức mà ngày càng nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực toàn diện cho người học, bao gồm năng lực tự học, tư duy phản biện, sáng tạo, thích ứng và giải quyết vấn đề trong bối cảnh đa dạng và phức tạp.
Trong bối cảnh đó, sinh viên không thể tiếp tục học tập một cách thụ động, chỉ nhằm vượt qua các kỳ thi hay hoàn thành chương trình học để lấy bằng cấp. Họ cần trở thành chủ thể tích cực trong quá trình học tập, biết đặt ra mục tiêu học rõ ràng, lựa chọn phương pháp học phù hợp, đồng thời chủ động tìm kiếm và xử lý thông tin. Điều này đòi hỏi ở sinh viên một động cơ học tập thực sự rõ ràng, bền vững và xuất phát từ nhu cầu tự thân chứ không chỉ từ các yếu tố bên ngoài.
Đồng thời, chuyển đổi số trong giáo dục và sự hội nhập quốc tế sâu rộng cũng tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mới cho sinh viên. Việc học không còn giới hạn trong phạm vi giảng đường hay giáo trình truyền thống, mà có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi thông qua các nền tảng học trực tuyến, học liệu mở, công nghệ hỗ trợ dạy học. Trong môi trường học tập mới này, sinh viên cần có khả năng tự quản lý việc học, chủ động tương tác, hợp tác, đồng thời giữ được sự tập trung và động lực dài hạn để hoàn thành mục tiêu cá nhân và nghề nghiệp.
Như vậy, trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay, động cơ học tập của sinh viên đóng vai trò nền tảng, định hướng và thúc đẩy toàn bộ hoạt động học tập. Việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao động cơ học tập là yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời giúp sinh viên phát triển toàn diện và hội nhập hiệu quả với xã hội hiện đại.
2.2. Những yếu tố tác động đến động cơ học tập của sinh viên
2.2.1. Hoàn cảnh gia đình
Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên chính là gia đình. Yếu tố gia đình bao gồm hoàn cảnh gia đình và sự mong đợi từ gia đình. Trong xã hội, có những hoàn cảnh gia đình khác nhau. Những sinh viên có hoàn cảnh gia đình khô khăn, ba mẹ phải lao động cật lực để trang trải học phí cho con em mình. Cũng có những trường hợp các em mồ côi cha hoặc mẹ, đặc biệt trong đợt dịch COVID-19 vừa qua. Chính hoàn cảnh khó khăn đã thôi thúc sinh viên phải tập trung vào việc học, phần đầu học giỏi để sau khi tốt nghiệp các em có thể tìm được công việc với mức lương cao, giúp gia đình thoát khỏi sự nghèo khô, giảm sự vất và của cha mẹ. Tuy nhiên, sẽ có những trường hợp hoàn cảnh gia đình có điều kiện để lo đầy đủ vật chất, cha mẹ hay ông bà chỉ mong sinh viên đạt kết quả cao, mang lại niềm tự hào cho gia đình. Xuất phát từ sự mong đợi của gia đình, sinh viên phải cố gắng học và học đạt kết quả cao để gia đình có thể hãnh diện với mọi người xung quanh.
2.2.2. Hoàn thiện bản thân
Yếu tố hoàn thiện bản thân còn được thể hiện ở tỉnh thần trách nhiệm của sinh viên đối với bản thân, với gia đình và xã hội. Nghiên cứu của Klein và cộng sự (2006) cho thấy rằng, yếu tố bản thân sinh viên, cụ thể là việc sinh viên có xác định mục tiêu học tập rõ ràng ngay từ ngày đầu bước chân vào giảng đường đại học sẽ góp phần ảnh hưởng đến động lực học tập. Bản thân sinh viên cảm thấy việc có việc làm ổn định, phù hợp, có thể phát huy được những gì lĩnh hội trong quá trình học tập, đạt được mức lương mà có thể tự lo cho bản thân, thậm chí lo cho gia đình. Đây chính là sự tự khẳng định bản thân là người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, tự khẳng định bản thân thể hiện qua việc học tập xuất sắc, đạt kết quả cao cũng chính là động lực để sinh viên học tập nghiêm túc.
2.2.3. Công tác sinh viên
Công tác sinh viên bao gồm các nội dung như kết quả đánh giá điểm rèn luyện, chế độ chính sách, chế độ học bồng, giải quyết khiếu nại tố cáo, trợ giúp sinh viên trong học tập và rèn luyện... Bài viết này tập trung vào chế độ học bổng dành cho sinh viên. Mỗi học kì, nhà trường đều phát hành công văn phát học bổng khuyến khích học tập hay các học bồng từ các nhà tài trợ. Học bổng dành cho sinh viên thường có giới hạn, những sinh viên đứng đầu danh sách lớp về kết quả học tập và rèn luyện luôn được ưu tiên nhận học bông. Chính yếu tố này là động lực thúc đẩy sinh viên học tập nghiêm túc mang lại kết quả cao để có thể nhận được những suất học bổng giá trị.
2.2.4. Chất lượng giảng viên
Giảng viên là những người trực tiếp truyền cảm hứng học tập và sáng tạo, truyền đạt kiến thức chuyên môn và giúp định hướng nghề nghiệp tương lai để sinh viên xác định mục tiêu và động lực học tập đúng đắn, để biết cách mải giữa và luôn phấn đấu để hoàn thiện bản thân. Theo Williams (2011), ở bậc đại học, nếu giảng viên là người có năng lực giảng dạy, phương pháp sư phạm, thái độ quan tâm đúng đắn đến sinh viên sẽ góp phần thúc đẩy động lực học tập. Do đó, giảng viên phải là người đi đầu trong nhiệm vụ giảng dạy, phải có chuẩn mực đạo đức và trình độ chuyên môn, lấy lợi ích của sinh viên làm trung tâm, luôn có sự công bằng trong việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Đồng thời, mỗi giảng viên cần phải tự điều chỉnh, trau dồi và thể hiện chuẩn mực đạo đức, gương mẫu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, giảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, phải thường xuyên cập nhật kiến thức để nắm bắt được những thay đổi trong lĩnh vực mình giảng dạy cũng như bồi dưỡng những kiến thức thực tế trong xã hội để giúp sinh viên lĩnh hội đầy đủ kiến thức không những về lí thuyết từ nhà trường mà còn cả những vẫn đề thực tế.
2.2.5. Chương trình đào tạo
Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, chương trình đào tạo là một trong những yếu tổ quan trọng thúc đẩy niềm đam mê học tập của sinh viên. Đối với một ngành học, chương trình đào tạo không được thường xuyên cập nhật theo nhu cầu xã hội, dẫn đến việc có học phần không phù hợp với ngành học. Đồng thời, có những học phần bị trùng lắp về nội dung, đặc biệt đối với các ngành bên lĩnh vực kinh tế, nếu không có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, sẽ không tạo được hứng thú cho sinh viên, dẫn đến việc sinh viên sẽ chán, không còn động lực để học tập đạt kết quả như mong muốn.
2.2.6. Môi trường học tập
Yếu tố môi trường học tập bao gồm quy mô lớp học, mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên, mối quan hệ giữa sinh viên với nhau. Nếu một nhóm học có quy mô khá lớn, giảng viên khó có thể bao quát tất cả sinh viên. Chính điều này dẫn đến việc giảng viên không thể kiểm soát trường hợp sinh viên không tập trung vào bài giảng, điều này khiến sinh viên lơ là việc học tập. Đồng thời, sinh viên có thể hỗ trợ việc học tập cho nhau thể hiện qua việc giúp đỡ nhau trong học tập, chia sẻ kinh nghiệm học tập để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập. Một giảng viên tận tâm với nghề biết giúp đỡ những sinh viên khó khăn thông qua việc biết lắng nghe tâm tư của sinh viên trong việc học tập, giải đáp tất cả thắc mắc của sinh viên cũng như chỉ ra những hạn chế mà sinh viên gặp phải trong quá trình tiếp thu kiến thức. Từ những suy luận trên, ta thấy một môi trường học tập tốt có thể kích thích tính sáng tạo, sự chủ động và niềm yêu thích học tập của sinh viên.
2.2.7. Cơ sở vật chất
Việc trang bị đầy đủ và chất lượng cơ sở vật chất hỗ trợ việc học tập của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy động lực học tập. Cụ thể, việc cung cấp đầy đủ máy tính ở các phòng thực hành và phần mềm hỗ trợ một số kiến thức chuyên ngành để sinh viên được thoả mãn niềm đam mê thực hành dành cho nhóm các học phần Tìn học ứng dụng, Kinh tế lượng, Thị trường chứng khoán... Bên cạnh việc trang bị phòng thực hành, thư viện là một trong những yếu tố quan trọng hỗ trợ việc học tập của sinh viên. Thư viện phải thường xuyên cập nhật và bổ sung nguồn tài liệu tham khảo phủ hợp với chuyên ngành. Đồng thời, việc cung cấp trang thiết bị hỗ trợ việc học như mạng wifi ở các toà nhà, dụng cụ thí nghiệm, phòng tự học... sẽ giúp sinh viên tự mở rộng kiến thức, nghiên cứu cũng như được thoá niềm đam mê thực hành những gì được tiếp thu trong quá trình học tập. Sau giờ học, để giảm áp lực nghiên cứu và học tập và để rèn luyện sức khoẻ, sinh viên cần một nơi ở trưởng để tham gia các hoạt động thể thao. Việc trang bị đầy đủ sơ sở vật chất sẽ tạo được sự yên tâm và động lực để sinh viên thoả sức thể hiện bản thân để học tập tốt cũng như rèn luyện thân thể.
CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
Rõ ràng, động cơ nội tâm có ưu điểm hơn nhiều so với động cơ xã hội. Nên người giảng viên cần phải chú trọng xây dựng cho sinh viên loại động cơ quý báu này. Hơn nữa, ở lứa tuổi sinh viên, “tất cả các em điều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập” nên đây là một thuận lợi rất lớn cho giảng viên khi xây dựng loại động lực học tập này cho sinh viên. Và để hình thành được loại động cơ này, người giảng viên cần phải:
Giúp sinh viên xác định được mục đích học tập. Sinh viên phải xác định được, sau quá trình miệt mài đèn sách, chúng sẽ nhận được những cái gì. Cụ thể như học xong một môn học chúng sẽ lĩnh hội được những cái gì và nếu không học thì chúng không thể nào có được. Có như thế, sinh viên mới cố gắng để nỗ lực mà học được. Và cách thức cụ thể cho việc này là trong buổi gặp mặt đầu tiên với sinh viên, giảng viên hãy cho sinh viên biết mục tiêu học tập và phác họa cho chúng thấy nội dung chúng cần học để đạt được mục tiêu ấy.
Bên cạnh việc xác định mục tiêu học tập, giảng viên cần phải tăng hứng thú học tập cho học viên bằng cách chuẩn bị giáo án thật tốt, các phương tiện dạy học phải hấp dẫn như lời nói uyển chuyển, lối cuốn, hình ảnh trực quan sinh động...Ví dụ như các môn kiến chức chung. Sinh viên nào cũng ý thức được tầm quan trọng của chúng, nhưng phương pháp dạy ở nhà trường của chúng ta chưa thật thu hút sinh viên nên sinh viên đến lớp với tư tưởng đối phó. Giảng viên vào lớp thì chỉ như một người đọc sớ cung cấp cho sinh viên những nội dung khô khan và lạt nhách thì dù có muốn học đến đâu cũng bị “gây mê không hồi sức”. Nên để làm kích thích động lực học tập của sinh viên đối với những môn này thì người giảng viên bên việc cho sinh viên những con số thì giảng viên cần cung cấp cho sinh viên những câu chuyện hay, những sự kiện cụ thể gắn với những con số đó. Đồng thời kết hợp với với hình ảnh minh họa sống động. Những phương tiện và phương pháp này giúp cho sinh viên có hứng thú để khám phá tri thức.
Ngoài ra còn có một phương pháp dùng để kích thích hứng thú học tập của sinh viên rất hiệu quả nữa là đánh vào mâu thuẩn giữa “cái chưa biết” và “cái phải biết” của sinh viên. Nghĩa là đặt ra các tình huống có vấn đề để sinh viên bị kích thích mà mày mò, khám phá tìm câu trả lời. Những bài toán nhận thức thường được đưa ra cho sinh viên khi chuyển sang nghiên cứu vấn đề mới, kích thích suy nghĩ sinh viên, nhờ đó rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo của họ. Học tập như vậy sẽ hào hứng vì sinh viên cảm thấy niềm vui của nhận thức và của hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, giảng viên cần chú ý khi đặt vấn đề cho sinh viên. Vấn đề đưa ra phải có nội dung chứa đựng những khó khăn, đòi hỏi một sự tìm tòi căng thẳng nhưng phải vừa sức với tiềm năng nhận thức của sinh viên. Hơn nữa, giảng viên cần “tạo ra một hệ thống những nhiệm vụ tăng dần, phức tạp hóa những nhiệm vụ nhận thức và tổ chức cho sinh viên giải quyết tự lực các bài toán ấy”. Hay nói tóm lại, để tăng hứng thú cho sinh viên, người giảng viên nên áp dụng các phương pháp đổi mới dạy học.
Không những thế, để tăng cường động lực và hứng thú học tập cho sinh viên người giảng viên cần phải tăng cường tích cực hoá trong hoạt động học tập. Đây là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Để có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên trong quá trình học tập chúng ta cần phải chú ý đến một số biện pháp chẳng hạn như: Tạo ra và duy trì không khí dạy học thoải mái trong lớp; xây dựng động cơ hứng thú học tập cho sinh viên; giải phóng sự lo sợ sinh viên… Bởi chúng ta không thể tích cực hoá trong khi sinh viên vẫn mang tâm lý lo sợ, khi các em không có động cơ và hứng thú học tập và đặt biệt là thiếu không khí thỏa mái. Do đó với vai trò của mình, thầy giáo phải là người góp phần quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện tốt nhất để cho sinh viên học tập, rèn luyện và phát triển. Cụ thể như khởi động tư duy bằng một vài trò chơi hay câu đó đầu giờ, khai thác và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệu quả, đặc biệt chú trọng tới các phương pháp dạy học tích cực sẽ gây hứng thú học tập cho sinh viên.
Tuy nhiên, sẽ hiệu quả hơn khi người giảng viên biết kết hợp những cách thức để hình thành động cơ học tập mang tính xã hội để hình thành động cơ học tập cho sinh viên. Bằng thái độ ân cần, niềm nở và thái độ vui mừng khi sinh viên hoàn thành nhiệm vụ, những lời khen, những điểm thưởng khi sinh viên giải quyết xuất sắc vấn đề cũng là một niềm động lực to lớn để sinh viên cố gắng nổ lực hơn trong những lần sau. Cũng chính vì thế mà người giảng viên cần theo dõi và thông báo lên nhà trường để khen thưởng những em có thành tích xuất sắc nhất để nhà trường khen thưởng mà nhờ thế mà hình thành ở các em một nguồn động lực học tập rất lớn.
Bên cạnh đó, cha mẹ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển tính tò mò, ham hiểu biết của sinh viên. Tính tò mò được biểu hiện ngay từ khi trẻ còn rất nhỏ. Cùng với việc chơi với đồ vật là cả một thế giới mà trẻ muốn khám phá. Khi bắt đầu đến trường trẻ được tiếp xúc với nhiều tri thức mới mẻ khiến trẻ không khỏi bỡ ngỡ. Cha mẹ và thầy cô giáo là người giúp trẻ tháo gỡ những vướng mắc và chiếm lĩnh dần những tri thức mới. Đó chính là sự kích thích trẻ trong học tập. Phát triển tính tò mò ham hiểu biết ở trẻ là một trong những động lực tốt nhất để phát triển trí thông minh và phát huy khả năng sáng tạo ở trẻ. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng, ở các phụ huynh thường xuyên quan tâm đến việc kích thích tính tò mò ham hiểu biết của con cái thì kết quả học tập của những trẻ này cao hơn so với những trẻ không được cha mẹ quan tâm đến vấn đề này. Không những thế, niềm tin, sự tôn trọng, sự động viên khích lệ và sự hiểu biết... của cha mẹ đối với con cái trong học tập cũng như trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày là những công cụ hữu ích giúp trẻ nhằm giúp trẻ hình thành và phát triển trí thông minh. Nên người giảng viên phải biết thường xuyên liên lạc, kết hợp với gia đình để cùng làm nảy sinh và duy trì nhu cầu và hứng thú học cho sinh viên.
Mặt khác, giai đoạn tuổi sinh viên, tình bạn đối với họ là một điều rất thiêng liêng và có ảnh hưởng rất lớn. Nên người giảng viên cũng cần phải chú ý để điều phối, dẫn dắt các mối quan hệ trong lớp, để sinh viên có thể có hứng thú học khi cùng bạn bè đi khám phá trí thức. Chẳng hạn như thanh lập các nhóm học cùng tiến, phân công công việc theo nhóm...
Ngoài ra yếu tố cơ sở vật chất nhà trường … cũng có ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên. Vì vậy, mà người giảng viên cũng cần xem xét và kiến nghị với nhà trường để trang bị những cơ sở, phương tiện dạy học tốt nhất cho sinh viên trong điều kiện có thể.
Trên đây là một số phương cách cụ thể để giúp tăng cường động lực học tập cho sinh viên. Tuy nhiên, để duy trì được hứng thú và động cơ học tập của sinh viên trong suốt quá trình giảng dạy không phải là một điều đơn giản. Nên người giảng viên cần phải cố gắng rất nhiều trong việc trau dồi cho mình các năng lực, phẩm chất nghề nghiệp, cùng với tấm lòng kiên nhẫn và tình yêu tha thiết sinh viên cũng như biết kết hợp nhuần nhuyễn, khéo lẽo giữa hai loại động lực bên trong và bên ngoài thì mới có thể khiến sinh viên có hứng thú để đi khám phá vốn tri thức to lớn của nhân loại được.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh giáo dục hiện đại – nơi mà tri thức liên tục đổi mới, kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt và việc học không còn dừng lại trong khuôn viên nhà trường – thì động cơ học tập càng trở nên quan trọng và không thể xem nhẹ. Động cơ không chỉ là thứ giúp sinh viên chăm chỉ học tập, mà còn là yếu tố cốt lõi để họ học sâu, học chủ động, và tự mình đi tìm ý nghĩa trong từng môn học.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy không ít sinh viên học chỉ để "vượt môn", học vì áp lực từ bên ngoài chứ không thực sự thấy hứng thú hay hiểu rõ lý do mình phải học. Đây là một vấn đề không thể xem nhẹ, bởi nếu không được thay đổi kịp thời, nó sẽ ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng nguồn nhân lực và cả sự phát triển cá nhân của người học.
Chính vì vậy, việc áp dụng các biện pháp để khơi dậy và nuôi dưỡng động cơ học tập là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các trường đại học, giảng viên và cả gia đình. Từ việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng tính tương tác, thiết kế các hoạt động học tập sáng tạo, đến việc tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở – tất cả đều cần hướng đến mục tiêu chung: giúp sinh viên thấy được giá trị của việc học và chủ động dấn thân vào hành trình ấy.
Thúc đẩy động cơ học tập không phải là việc làm trong một ngày, cũng không phải là trách nhiệm của riêng ai, nhưng chắc chắn là điều bắt buộc nếu chúng ta muốn xây dựng một nền giáo dục chất lượng, nhân văn và thực sự vì con người. Và khi sinh viên học với tinh thần hứng khởi, với mục tiêu rõ ràng và mong muốn tự thân phát triển, thì giáo dục mới thật sự có ý nghĩa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Lý Thi Minh Hằng (2014): Giáo trình tâm lý học sư phạm (Giáo trình nội bộ), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa Tâm lý Giáo dục và Nghiệp vụ sư phạm.
2. Lê Văn Hồng (chủ biên): Tâm lí học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB. ĐH Quốc gia.
3. Dương Thị Kim Oanh (2013), Một số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Thanh Thảo: Nhu cầu và điều kiện học tập lý luận chính trị của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
5. Nguyễn Quốc Thái (Chủ biên): Tâm lí học một số vấn đề lí luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn Thị Thanh Tùng: Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của người học trong bối cảnh đại dịch Covid-19: một tiếp cận hệ thống lịch sử nghiên cứu, Nxb Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
7. Châu Thị Ngọc Thuỳ & Trần Minh Hiếu: Các yếu tố tác động đến động lực học tập của sinh viên trường Đại học An Giang, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM.