MỤC 1.
Campuchia mang tên chính thức Vương quốc Campuchia, một quốc gia độc
lập có chủ quyền nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á. Campuchia
giáp với vịnh Thái Lan phía tây nam, Thái Lan phía tây bắc, Lào phía đông
bắc và Việt Nam ở phía đông.
Diện tích: Campuchia có diện tích khoảng 181.035 km².
Dân số: Dân số của Campuchia vào năm 2021 được ước tính khoảng 16 triệu
người.
GDP: Theo dữ liệu năm 2020, GDP (sản phẩm quốc nội) của Campuchia là khoảng
27,08 tỷ USD. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng con số này có thể thay đổi theo thời gian.
Thủ đô: Thủ đô và thành phố lớn nhất của Campuchia là Phnom Penh. Đây là trung
tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của đất nước.
Mục 2: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và thiên nhiên của Campuchia
1. Vị trí địa lý.
Campuchia nằm trên bán đảo Đông Dương vùng Đông Nam Á. Cụ thể hơn,
Campuchia giáp ranh với vịnh Thái Lan phía Nam, Thái Lan phía Tây, Lào
phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông. Lãnh thổ của Campuchia có dạng hình vuông,
phần lớn là các phần địa hình gợn sóng và gần hầu như nằm ở trung tâm.
Campuchia diện tích đến 181.035 km², 2575 km là đường ranh biên giới,
trong đó với Thái Lan 803 km, Lào 541 km, 443 đường bờ biển cuối cùng
1228 km với Việt Nam. Campuchia con sông Kông chảy từ Bắc qua Nam
và con sông đó được cho là lớn thứ 12 trên thế giới.
2. Điều kiện tự nhiên
Địa Lý
Phần lớn Campuchia diện tích đất nước khoảng 75%, gồm vùng đất thấp
Kông bồn địa Tonle Sap. Khu vực bồn địa Tonle Sap đất thấp Công
chủ yếu các đồng bằng độ cao dưới 100 mét. những nơi cao, địa hình lượn
sóng bị cắt xẻ. Phnom Kravanh phía tây nam, chạy theo hướng chung tây
bắc-đông nam, nhiều nơi cao trên 1.500 mét. Đỉnh núi cao nhất Campuchia -
Phnom Aural, cao độ 1.771 mét - nằm phần phía đông của dãy núi này. Dãy
Damrei, phần kéo dài về phía namđông nam của Phnom Kravanh, có độ cao từ
500 đến 1.000 mét. phía tây của hai dãy núi này một vùng đồng bằng duyên
hải hẹp, bao gồm cả , là một phần của vịnh Kampong Saom vịnh Thái Lan.
Dãy núi Dangrek tại mép phía bắc của lưu vực sông Tonle Sap bao gồm một vách
núi dốc đứng với độ cao trung bình khoảng 500 m, điểm cao nhất trong số đó đạt
đến hơn 700 mét. Vách núi phải đối mặt với phía nam rìa phía nam của cao
nguyên Korat, Thái Lan. Lưu vực dọc theo vách đá đánh dấu ranh giới giữa Thái
Lan và Campuchia. Các con đường chính thông qua một vượt qua dãy núi Dangrek
O Smach kết nối Tây Bắc Campuchia với Thái Lan. Mặc con đường này
những người đang chạy qua một vài đường chuyền khác, nói chung vách cản trở
giao tiếp dễ dàng giữa hai nước.
Giữa các phần phía tây của Dangrek một phần phía bắc của các dãy núi
Cardamom, tuy nhiên, nằm một phần mở rộng của các lưu vực sông Tonle Sap sáp
nhập vào vùng đất thấp Thái Lan, cho phép truy cập dễ dàng từ biên giới đến
Bangkok. Thung lũng Mê Kông, một tuyến đường giao thương giữa Campuchia và
Lào, phân tách phần phía đông của dãy núi Dangrek cao nguyên đông bắc.
phía dông nam, đồng bằng châu thổ sông Mê Kông các tuyến giao thương bằng
cả đường bộ và đường thủy giữa hai nước.
Thuận lợi: Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng quanh năm phát triển nông nghiệp. Hệ
thống sông hồ cung cấp nước, thủy sản, bồi đắp cho đồng bằng màu mỡ
Khó khăn: Mùa khô thiếu nước, mùa mưa gây lũ lụt, thời tiết thất thường
Khí hậu
Campuchiakhí hậu nhiệt đợi ẩm khô theo màurệt do chịu ảnh hưởng của
gió mùa.Các luồng không khí của gió mùa tạo ra gây nên các áp thấp áp cao.
Vào mùa thì luồng khí từ gió mùa Tây Nam chứa đầy hơi nước thỏi đến từ Ấn
Độ Dương luồng khí đó sẽ được đảo ngược từ mùa đông gió mùa đông bắc
mang lại luồng không khí khô. Gió mùa tây nam kéo dài từ giữa thsng 5 đến giữa
tháng 9 hay đầu tháng 10, còn gió mùa đông bắc kéo từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau. Một phần ba phía nam của đất nước mùa khô kéo dài từ 2 đến 3 tháng.
Còn hai phần ba ở phía bắc có 4 tháng mùa khô.
Campuchia lượnga trung bình dao động từ khoảng 1000 15000 milimet,
lượng mưa trung bình từ tháng 4 đến tháng 9 bồn địa Tonle Sap vùng đất
thấp Kông 1300 đến 1500 milimet. Lượng mưa xung quanh bồn địa tăng
theo độ cao. Lượng mưa lớn nhất dãy núi dọc theo bờ biển tây nam từ 2500
milimet đến hơn 5000 milimet, khu vực này lượng mưa rất lớn nhưng do địa
hình nên hầu hết các lượng mưa đều đổ ra biển, chỉ còn một số lượng nhỏ chảy vào
các sông ngòi ở bồn địa.
Sông ngòi
Hầu hết các con sông hệ thống sông ngòi tại Campuchia đều đổ vào Tonle Sap
hay sông Kông. Từ biên giới Campuchia Lào, sông Kông chảy theo
hướng nam vào thành phố Kratie, sông chảy 50km về phía tây chuyển theo
hướng tây nam đến thủ đô Phnom Penh. Dòng sông Kampong Cham khá hiền
hòa hai khu vực bên bờ sông thường bị ngập lụt vào hai giai đoạn từ tháng 6
đến tháng 11.
Sông Kông chảy từ hướng đông bắc xuống sông Tonle nối với Tonle Sap ơ
tây bắcc. Chúng hợp lưu ròi phân ngay thành 2 dòng nước sông Kông ( tức
sông Tiền) và sông Basak ( sông Hậu) chảy độc lập với nhau qua vùng đồng
bằng châu thổ tại Campuchia và Việt Nam rồi ra Biển Đông
Tài nguyên thiên nhiên
Rừng: Campuchia một hệ thống rừng rậm nguyên sinh rộng lớn, với diện tích
rừng chiếm khoảng 57% diện tích đất của quốc gia. Rừng Dâmrei, tọa lạc phía
đông nam Campuchia, một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng
nhất. Nó là nhà của nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, gấu trúc và khỉ.
Sông hồ: Sông Mekong con sông lớn nhất Campuchia, chảy qua các tỉnh
Kratie, Stung Treng Kandal. Sông này không chỉ cung cấp nước thúc đẩy
hoạt động nông nghiệp, còn một tuyến giao thông quan trọng nơi sinh
sống của nhiều loài quan trọng. Hồ Tonle Sap, tọa lạc trung tâm Campuchia,
hồ lớn nhất Đông Nam Á và có vai trò quan trọng trong cung cấp lương thực
đời sống đốt sinh thái.
Biển bờ biển: Campuchia khoảng 450 km bờ biển giáp biển Đông. Các bãi
biển như Sihanoukville, Kep Koh Rong những điểm du lịch phổ biến thu
hút du khách bởi cảnh quan tuyệt đẹp với cát trắng nước biển trong xanh. Đồng
thời, Campuchia có tiềm năng phát triển kinh tế biển và chăn nuôi hải sản.
Khoáng sản: Campuchia các tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, quặng
mangan, quặng đá vôi, chì, đá granit, cao su các loại đá khác. Tuy nhiên, việc
khai thác và sử dụng tài nguyên này vẫn còn hạn chế và cần được quản lý cẩn thận
để đảm bảo bền vững và tôn trọng môi trường.
Công viên quốc gia khu bảo tồn: Campuchia nhiều khu vực bảo tồn quan
trọng, bao gồm Công viên quốc gia Ream, Công viên quốc gia Bokor, Khu bảo tồn
Phnom Kulen Khu bảo tồn Mondulkiri. Các khu vực này giúp bảo vệ đa dạng
sinh học đất nước và là nơi sinh sống của nhiều loài động và thực vật quý hiếm.
MỤC 3.
MỤC 4. Đặc sắc văn hóa Campuchia
4.1. Văn hóa tín ngưỡng
Văn hóa truyền thống Campuchia một lịch sử đa dạng, phong phú trải qua
nhiều thế kỷ. Văn hóa của Campuchia cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Ấn
Độ. Tôn giáo đóng vai trò lớn trong các hoạt động văn hóa, một phần không thể
thiếu trong cuộc sống của người Campuchia. Tôn giáo du nhập vào Campuchia từ
rất sớm. Đạo Hindu mặt tại Campuchia từ thời kỳ khai nhanh chóng đã
chiếm được sự tín ngưỡng của người dân Campuchia. Cho đến thế kỷ thứ VII thì
đạo Phật du nhập vào đất nước của những con người bản chất hiền lành này
nhanh chóng trở thành quốc giáo với trên 90% người dân Campuchia là Phật tử. Và
cũng từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của người dân
Campuchia từ các chuẩn mực đạo đức xã hội cho đến cách ứng giữa các thành viên
trong gia đình. Vì lợi ích của bản thân đạo Phật sau đólợi của quốc gia, cho
nên Phật giáo đã hợp tác với vương quyền, trở thành một công cụ hiệu lực cho việc
thống nhất tưởng của các quốc gia phong kiến Đông Nam Á. Với tất cả sự nỗ
lực không mệt mỏi trong hoạt động của mình, Phật giáo trong thời kỳ hưng thịnh
của các vương triều Đông Nam Á, điển hình như đất nước Campuchia đã tôn Phật
giáo lên địa vị độc tôn với vai trò đó, đã những đóng góp quan trọng vào
việc củng cố quốc gia thống nhất, vun đắp sự đoàn kết nội bộ giai cấp cầm quyền,
thậm chí đóng góp phần lựa chọn cả những con người ngồi trên ngai vàng của
vương quốc. Đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn đến nhiều mặt văn hóa - hội
như văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, luật pháp...
Phật giáo đã gắn liền với sự hưng vong của vương quốc Campuchia, khi quốc gia
cường thịnh, Phật giáo được phát triển đến đỉnh cao, còn khi độc lập chủ quyền đã
bị mất thì Phật giáo cũng chịu chung số phận với đất nước. Sự mặt của Phật
giáo Campuchia đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa riêng của nước
nhà, ngôi chùa ngoài việc trung tâm văn hóa của bản làng còn là nơi bảo vệ
nền văn hóa lâu đời của dân tộc, bảo vệ xây dựng vẻ đẹp cho cuộc sống mọi
người. Ngày nay, Phật giáo vẫn nền tảng văn hóa - hội của đất nước
Campuchia nói riêng cả Đông Nam Á nói chung điều này thể thấy qua
kiến trúc đình, chùa trên khắp đất nước Campuchia, như quần thể di tích Angkor,
trong đó nổi tiếng là đền Angkor Wat, Angkor Thom.
4.2. Kiến trúc Khmer
Kiến trúc Khmer phần lớn được biết đến nhờ vào những công trình được xây dựng
từ thời Vương quốc Khmer (khoảng cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13). Phật giáo, Ấn
Độ giáo duy huyền thoại ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật trang trí các công
trình kiến trúc vĩ đại này. Đặc trưng cơ bản của kiến trúc thời này là được xây dựng
từ vật liệu gỗ, tre nứa hoặc rơm rạ đá. Nhưng những còn lại ngày nay các
công trình bằng đá tảng như các bức tường thành, đường sá,… các ngôi đền.
Với con đường thì đó là những bao lơn tạc hình rắn Naga chín đầu, vươn cao từ 2-
3 mét, xòe rộng phủ bóng xuống mặt đường dạo. Còn hình thức chung của các
ngôi đền đỉnh chóp nhọn, bốn mặt đền được chạm trổ các bức phù điêu miêu
tả cuộc sống con người thế giới bên kia, hoặc cuộc sống hiện tại của người dân
Vương quốc Khmer bấy giờ, hay cuộc chiến với nước láng giềng Chăm Pa.
Người ta như thấy được sự sống động, náo nhiệt của ngày hội Angkor hàng năm
qua hình ảnh các nữ thần Apsaras với thân hình mềm mại, cân đối đang uyển
chuyển múa, sự tham gia của cả những con khỉ, con ngựa trong sử thi
Ramanaya của Ấn Độ.
Bên cạnh đó, hình thức khắc những tự hay con số cũng rất phổ biến công
trình. Các ngôi đền thường một cửa chính, còn ba phía còn lại của đền cũng
cửa nhưng chỉ giả, để tạo cảm giác đối xứng cho ngôi đền. Công trình nổi
tiếng nhất thiết kế biệt thự đây ngôi đền Bayon với 200 gương mặt của Quán
Thế Âm.
Chiêm ngưỡng những công trình này, du khách không thể không khâm phục sức
mạnh phi thường bàn tay tài hoa của những người dân Khmer xưa. Kiến trúc
Khmer cũng ảnh hưởng lớn đén thiết kế kiến trúc của Thái Lan kiến trúc
Chăm Pa tại Việt Nam.
4.3. Múa Khmer
Với hơn 90% người dân Campuchia theo đạo Phật vậy lhội chùa chiền với
người dân Campuchia diễn ra rất nhiều. Những điệu nhảy, điệu múa những bài ca
trong các dịp lễ hội cũng mang hơi thở và linh hồn của Phật giáo. Nhưng trong các
lễ hội của đạo Hindu vẻ phong phú hơn về các điệu nhảy, các bài nhạc như
dàn nhạc cổ “Pin Peat” với đầy đủ nhạc cụ chủ yếu làm từ tre, lứa, gỗ… Nghệ
thuật múa cổ xưa ca ngợi đấng tạo hóa của Hindu giáo, nghệ thuật múa cung đình
nguồn gốc từ nhân vật “Apsara” trong truyền thuyết của đạo Hindu…
Campuchia với hàng chục dân tộc anh em, mỗi dân tộc những làn điệu nhảy
múa khác nhau chắc chắn du khách sẽ những bữa tiệc nghệ thuật văn hóa khó
quên.
4.4. Văn hóa ẩm thực
Campuchia một trong những nơi tuyệt vời nhất trên thế giới để cho những ai
tình yêu dành cho ẩm thực Phương Đông ghé thăm. Ẩm thực Campuchia, cũng
như thói quen ẩm thực của nhiều dân tộc thuộc nền văn minh lúa nước trong khu
vực châu Á, cho thấy những đặc điểm riêng biệt. Người dân Campuchia thói
quen ăn gạo tẻ ăn nhiều hơn thịt. Vào các ngày lễ tết, nông thôn cũng như
thành thị đều gói bánh tét, bánh ít. Phần lớn trong mỗi gia đình đều mắm bồ
hóc để ăn quanh năm. Ẩm thực Campuchia ảnh hưởng phong cách mạnh mẽ của
Ấn Độ và Trung Hoa, hầu hết các món ăn có vị lạt, ngọt và béo. Món ăn Ấn Độ tìm
thấy hầu hết các gia vị được dùng chủ yếu cay như sa tế, ớt, tiêu, nhục, hồi
v.v... Món ăn Trung Hoa được tìm thấy nhiều với vị lạt khá béo, nhiều dầu mỡ
nhất mang phong cách ẩm thực vùng Tứ Xuyên. Nhưng trên hết văn hóa ẩm
thực Campuchia vẫn tạo cho mình những nét độc đáo riêng, những ấn tượng riêng
cũng đủ làm hài lòng những thực khách sành ăn nhất. ri đỏ Khmer cũng
một đặc sản Campuchia gây ấn tượng mạnh với các tín đồ ẩm thực. Món ăn này
thường làm từ thịt gà, thịt hoặc cá. Nguyên liệu nấu cùng đậu xanh, khoai
tây, tím, nước cốt dừa, sả. Đặc biệt, ri đỏ nấu cùng ớt kroeung nên cay
lưỡi.
một "Biển Hồ" mênh mông tôm cá, một bờ biển dài số hải sản quý hiếm
dường như không bao giờ cạn kiệt. Đó là lý do tại sao những món ăn truyền thống
của người Campuchia đa số được làm từ cá và các loại hải sản khác. Từ nướng,
hấp, kho cho đến những món mắm thơm ngon, nổi tiếng chinh phục biết bao
nhiêu "tâm hồn ăn uống" của du khách quốc tế khi đến nơi đây. ví dụ Amok là một
trong những món ăn truyền thống nổi tiếng nhất của người dân đất nước chùa tháp.
Nguyên liệu chính làm nên món ăn này lóc tươi vùng biển hồ, trê hoặc
quả tươi. Amok đặc biệt bởi những hương vị đặc trưng của người dân xứ này như
mắm prohok, khượng, đường thốt nốt, chùm ruột, kroeung Khmer. Ngoài ra,
nước cốt dừa, trứng, gừng, sả, hẹ…cũng nguyên liệu không thể thiếu trong món
ăn này.
Ngoài ra còn rất nhiều nhiều món ăn khác nữa rất mới lạ như Các món chiên từ bọ
xít, gián, dế, bọ cạp, cuống… kết hợp cùng với gia vị vừa miệng được cho
ngon nhất. Du khách thể mua côn trùng chiên theo xiên với giá chỉ khoảng 10
ngàn đồng.
4.5. Văn hóa giao tiếp
Người Campuchia rất nhiều cách chào hỏi, phụ thuộc vào mối quan hệ, thứ bậc
tuổi tác giữa người với người. Nhưng cách chào hỏi truyền thống của người
Campuchia chào "Sompiah" (giao tiếp truyền thống): hai tay chắp vào nhau để
trước ngực như cầu nguyện đầu hơi cúi nhẹ. Một người muốn thể hiện sự kính
cẩn với người đối diện sẽ cúi người thấp hơn chắp tay vị trí cao hơn. Đây
được gọi là kiểu chào sompiah được người Khmer sử dụng đối với những người có
cùng địa vị hội hoặc cao hơn. Lẽ tất nhiên du khách cũng nên đáp lại như vậy
khi chào hỏi. Ngoài ra, du khách cũng có thể bắt tay khi chào hỏi, nhưng tốt nhất là
nên chào sompiah trước khi bắt tay.
Cách ứng xử
Theo quan niệm của người Campuchia; đầu trẻ em nơi linh thiêng chỉ thánh
thần và cha mẹ của chúng mới được chạm vào nên việc xoa đầu trẻ em là điều thất
lễ khi đến với đất nước này. Theo văn hóa của người Campuchia; tay trái tay
không sạch sẽ, không nên đưa tiền; đưa đồ hay bất cứ gì bằng tay trái. Thay vào đó
nên tạo thiện cảm với người dân nơi đây bằng việc sử dụng tay phải khi đưa
nhận đồ. Khi đến chùa hoặc nhà của người Khmer; chúng ta không nên ngồi bắt
chéo chân mà thay vào đó là ngồi với hai chân ở cùng một bên (dạng đuôi cá). Đạo
Phật được xem Quốc đạo Campuchia; nên khi đi viếng chùa; nên bỏ nón;
giày dép bên ngoài; hơn nữa cũng không được đứng gần cũng như chạm vào nhà
sư.
4.6. Văn hóa tặng quà
Người Campuchia chỉ thường tặng quà cho nhau vào dip tết cổ truyền của dân tộc
(Chaul Cham).
Khi được mời đến nhà bạn bè hoặc người khác dự tiệc thì khách thường mang đến
cho gia chủ một số món quà nhỏ.
Qùa thường được gói cẩn thận trong những tờ giấy đầy màu sắc.
Những điều cần tránh khi tặng quà và nhận quà:
Tặng dao là điều cấm kị trong văn hóa của người Campuchia.
Tránh trao quà bằng một tay.
Không được mở quà ngay sau khi nhận.
4.7. Những lễ hội truyền thống ở Campuchia
Lễ hội lớn nhất Campuchia lễ Bom Chaul Chnam (lễ hội mừng thu hoạch lúa
thành công) được tổ chức vào ngày 13 đến ngày 15 tháng 4 dương lịch. Đây lễ
hội lớn nhất trong năm của người dân Campuchia. Trong những ngày này mọi
người gặp nhau và té nước vào nhau nhằm tin tưởng vào một vụ mùa bội thu trong
năm tới. Lễ hội này cũng được tổ chức ở Lào, Thái lan, và Myanmar – những nước
có nền văn minh nông nghiệp.
Trong lễ hội này, mọi người gặp gỡ nhau nước giật gân với nhau trong niềm hy
vọng của một loại cây trồng năng suất cao hơn trong năm tới. Sau nghi lễ tôn giáo
trong các đền thờ, mọi người đến với đường phố, sử dụng súng xô, bồn rửa, vòi
nước hoặc nước hỏng với nhau, sau đó giật gân vào nhà, động vật công cụ
sản xuất. Những thoải mái tắm trong nước, tiếp nhận nước giảm càng nhiều càng
tốt bởi vì họ tin rằng sẽ có may mắn hơn trong năm mới.
Lễ hội lấy ruộng
Được tổ chức vào ngày 6 tháng 5. Người ta lấy một con bò làm biểu tượng cho một
vụ mùa mới của những người trộng lúa. Lễ hội này được t chức tại Hoàng cung
thể hiện sự quan tâm của nhà vua đối với nhân dân và mùa màng.
Lễ hội Bam Dak Ben và Pchonum Ben
Được tổ chức vào ngày 11 đến ngày 13 tháng 10 hàng năm. Lễ hội này được tổ
chức để tưởng nhớ đến những người đã khuất. Trong những ngày này mọi người
đến chùa cúng tế, đồng thời tạ ơn các nhà sư. Các nhà cũng được nghỉ lễ trong
15 ngày không đi khất thực mà người dân đem thức ăn đến cho các nhà sư.
Lễ Bonn Prathen
Thường được tổ chức vào tháng 10 suốt 29 ngày đêm liền. Đây lễ hội của Phật
Giáo lớn nhất trong năm. Mọi người tổ chức thành một đám rước lớn đến chùa mà
các nhà sư đang đợi thay đổi trang phục màu vàng.
Tết cổ truyền
Trong ngày đầu năm mới, khắp Campuchia tưng bừng lễ đón năm mới Tết Chol
Chnam Thmay. Trong suốt 3 ngày lễ (13 15/4 hàng năm), không khí cả đất nước
Campuchia náo nhiệt, đèn hoa sáng rực từ các ngôi chùa kéo dài đến các nẻo
đường dẫn đến Hoàng Cung.
Đêm giao thừa mọi gia đình làm những chiếc đèn lồng thật đẹp rồi đem ra thả trên
mặt hồ. Hàng ngàn ngọn đèn trôi lung linh thành một hội hoa đăng người ta tin
rằng đèn của nhà nào vừa đẹp vừa sáng suốt đêm thì nhà ấy sang năm mới gặp
nhiều điều tốt lành.
Những ngày tháng 4 này, hàng triệu người dân du lịch Campuchia đang mong chờ
Lễ hội té nước đặc sắc trong dịp lễ Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay (Campuchia)
diễn ra t 13-15/4 dương lịch. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân
nước này sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức nghi dội nước lên người
nhau.
MỤC 5. TÌNH HÌNH KINH TẾ CAMPUCHIA
5.1. Trước khi gia nhập ASEAN
Trước khi gia nhập ASEAN, tình hình kinh tế Campuchia đã trải qua nhiều khó
khăn. Sau cuộc chiến tranh và chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot (1975-1979), nền kinh
tế Campuchia bị suy yếu nặng nề và phá hủy.

Preview text:

MỤC 1.
Campuchia mang tên chính thức là Vương quốc Campuchia, là một quốc gia độc
lập có chủ quyền nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á. Campuchia
giáp với vịnh Thái Lan ở phía tây nam, Thái Lan ở phía tây bắc, Lào ở phía đông
bắc và Việt Nam ở phía đông.
Diện tích: Campuchia có diện tích khoảng 181.035 km².
Dân số: Dân số của Campuchia vào năm 2021 được ước tính khoảng 16 triệu người.
GDP: Theo dữ liệu năm 2020, GDP (sản phẩm quốc nội) của Campuchia là khoảng
27,08 tỷ USD. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng con số này có thể thay đổi theo thời gian.
Thủ đô: Thủ đô và thành phố lớn nhất của Campuchia là Phnom Penh. Đây là trung
tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của đất nước.
Mục 2: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và thiên nhiên của Campuchia 1. Vị trí địa lý.
Campuchia nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á. Cụ thể hơn,
Campuchia giáp ranh với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Lào ở
phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông. Lãnh thổ của Campuchia có dạng hình vuông,
phần lớn là các phần địa hình gợn sóng và gần hầu như nằm ở trung tâm.
Campuchia có diện tích đến 181.035 km², có 2575 km là đường ranh biên giới,
trong đó với Thái Lan 803 km, Lào 541 km, 443 đường bờ biển và cuối cùng là
1228 km với Việt Nam. Campuchia có con sông Mê Kông chảy từ Bắc qua Nam
và con sông đó được cho là lớn thứ 12 trên thế giới. 2. Điều kiện tự nhiên Địa Lý
Phần lớn Campuchia có diện tích đất nước khoảng 75%, gồm có vùng đất thấp
Mê Kông và bồn địa Tonle Sap. Khu vực bồn địa Tonle Sap và đất thấp Mê Công
chủ yếu là các đồng bằng có độ cao dưới 100 mét. Ở những nơi cao, địa hình lượn
sóng và bị cắt xẻ. Phnom Kravanh ở phía tây nam, chạy theo hướng chung là tây
bắc-đông nam, có nhiều nơi cao trên 1.500 mét. Đỉnh núi cao nhất Campuchia -
Phnom Aural, cao độ 1.771 mét - nằm ở phần phía đông của dãy núi này. Dãy
Damrei, phần kéo dài về phía nam và đông nam của Phnom Kravanh, có độ cao từ
500 đến 1.000 mét. Ở phía tây của hai dãy núi này là một vùng đồng bằng duyên
hải hẹp, bao gồm cả vịnh Kampong Saom, là một phần của vịnh Thái Lan.
Dãy núi Dangrek tại mép phía bắc của lưu vực sông Tonle Sap bao gồm một vách
núi dốc đứng với độ cao trung bình khoảng 500 m, điểm cao nhất trong số đó đạt
đến hơn 700 mét. Vách núi phải đối mặt với phía nam và là rìa phía nam của cao
nguyên Korat, Thái Lan. Lưu vực dọc theo vách đá đánh dấu ranh giới giữa Thái
Lan và Campuchia. Các con đường chính thông qua một vượt qua dãy núi Dangrek
O Smach kết nối Tây Bắc Campuchia với Thái Lan. Mặc dù con đường này và
những người đang chạy qua một vài đường chuyền khác, nói chung vách cản trở
giao tiếp dễ dàng giữa hai nước.
Giữa các phần phía tây của Dangrek và một phần phía bắc của các dãy núi
Cardamom, tuy nhiên, nằm một phần mở rộng của các lưu vực sông Tonle Sap sáp
nhập vào vùng đất thấp ở Thái Lan, cho phép truy cập dễ dàng từ biên giới đến
Bangkok. Thung lũng Mê Kông, một tuyến đường giao thương giữa Campuchia và
Lào, phân tách phần phía đông của dãy núi Dangrek và cao nguyên đông bắc. Ở
phía dông nam, đồng bằng châu thổ sông Mê Kông có các tuyến giao thương bằng
cả đường bộ và đường thủy giữa hai nước.
Thuận lợi: Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng quanh năm phát triển nông nghiệp. Hệ
thống sông hồ cung cấp nước, thủy sản, bồi đắp cho đồng bằng màu mỡ
Khó khăn: Mùa khô thiếu nước, mùa mưa gây lũ lụt, thời tiết thất thường Khí hậu
Campuchia có khí hậu nhiệt đợi ẩm và khô theo màu rõ rệt do chịu ảnh hưởng của
gió mùa.Các luồng không khí của gió mùa tạo ra gây nên các áp thấp và áp cao.
Vào mùa hè thì luồng khí từ gió mùa Tây Nam chứa đầy hơi nước thỏi đến từ Ấn
Độ Dương và luồng khí đó sẽ được đảo ngược từ mùa đông và gió mùa đông bắc
mang lại luồng không khí khô. Gió mùa tây nam kéo dài từ giữa thsng 5 đến giữa
tháng 9 hay đầu tháng 10, còn gió mùa đông bắc kéo từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau. Một phần ba ở phía nam của đất nước có mùa khô kéo dài từ 2 đến 3 tháng.
Còn hai phần ba ở phía bắc có 4 tháng mùa khô.
Campuchia có lượng mưa trung bình dao động từ khoảng 1000 và 15000 milimet,
có lượng mưa trung bình từ tháng 4 đến tháng 9 ở bồn địa Tonle Sap và vùng đất
thấp Mê Kông là 1300 đến 1500 milimet. Lượng mưa xung quanh bồn địa tăng
theo độ cao. Lượng mưa lớn nhất là ở dãy núi dọc theo bờ biển tây nam từ 2500
milimet đến hơn 5000 milimet, khu vực này có lượng mưa rất lớn nhưng do địa
hình nên hầu hết các lượng mưa đều đổ ra biển, chỉ còn một số lượng nhỏ chảy vào
các sông ngòi ở bồn địa. Sông ngòi
Hầu hết các con sông và hệ thống sông ngòi tại Campuchia đều đổ vào Tonle Sap
hay sông Mê Kông. Từ biên giới Campuchia và Lào, sông Mê Kông chảy theo
hướng nam vào thành phố Kratie, sông chảy 50km về phía tây và chuyển theo
hướng tây nam đến thủ đô Phnom Penh. Dòng sông ở Kampong Cham khá hiền
hòa và hai khu vực bên bờ sông thường bị ngập lụt vào hai giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11.
Sông Mê Kông chảy từ hướng đông bắc xuống và sông Tonle nối với Tonle Sap ơ
tây bắcc. Chúng hợp lưu ròi phân ngay thành 2 dòng nước là sông Mê Kông ( tức
là sông Tiền) và sông Basak ( sông Hậu) và chảy độc lập với nhau qua vùng đồng
bằng châu thổ tại Campuchia và Việt Nam rồi ra Biển Đông Tài nguyên thiên nhiên
Rừng: Campuchia có một hệ thống rừng rậm nguyên sinh rộng lớn, với diện tích
rừng chiếm khoảng 57% diện tích đất của quốc gia. Rừng Dâmrei, tọa lạc ở phía
đông nam Campuchia, là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng
nhất. Nó là nhà của nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, gấu trúc và khỉ.
Sông và hồ: Sông Mekong là con sông lớn nhất ở Campuchia, chảy qua các tỉnh
Kratie, Stung Treng và Kandal. Sông này không chỉ cung cấp nước và thúc đẩy
hoạt động nông nghiệp, mà còn là một tuyến giao thông quan trọng và là nơi sinh
sống của nhiều loài cá quan trọng. Hồ Tonle Sap, tọa lạc ở trung tâm Campuchia,
là hồ lớn nhất Đông Nam Á và có vai trò quan trọng trong cung cấp lương thực và
đời sống đốt sinh thái.
Biển và bờ biển: Campuchia có khoảng 450 km bờ biển giáp biển Đông. Các bãi
biển như Sihanoukville, Kep và Koh Rong là những điểm du lịch phổ biến và thu
hút du khách bởi cảnh quan tuyệt đẹp với cát trắng và nước biển trong xanh. Đồng
thời, Campuchia có tiềm năng phát triển kinh tế biển và chăn nuôi hải sản.
Khoáng sản: Campuchia có các tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, quặng
mangan, quặng đá vôi, chì, đá granit, cao su và các loại đá khác. Tuy nhiên, việc
khai thác và sử dụng tài nguyên này vẫn còn hạn chế và cần được quản lý cẩn thận
để đảm bảo bền vững và tôn trọng môi trường.
Công viên quốc gia và khu bảo tồn: Campuchia có nhiều khu vực bảo tồn quan
trọng, bao gồm Công viên quốc gia Ream, Công viên quốc gia Bokor, Khu bảo tồn
Phnom Kulen và Khu bảo tồn Mondulkiri. Các khu vực này giúp bảo vệ đa dạng
sinh học đất nước và là nơi sinh sống của nhiều loài động và thực vật quý hiếm. MỤC 3.
MỤC 4. Đặc sắc văn hóa Campuchia 4.1. Văn hóa tín ngưỡng
Văn hóa và truyền thống Campuchia có một lịch sử đa dạng, phong phú trải qua
nhiều thế kỷ. Văn hóa của Campuchia cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Ấn
Độ. Tôn giáo đóng vai trò lớn trong các hoạt động văn hóa, là một phần không thể
thiếu trong cuộc sống của người Campuchia. Tôn giáo du nhập vào Campuchia từ
rất sớm. Đạo Hindu có mặt tại Campuchia từ thời kỳ sơ khai và nhanh chóng đã
chiếm được sự tín ngưỡng của người dân Campuchia. Cho đến thế kỷ thứ VII thì
đạo Phật du nhập vào đất nước của những con người có bản chất hiền lành này và
nhanh chóng trở thành quốc giáo với trên 90% người dân Campuchia là Phật tử. Và
cũng từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của người dân
Campuchia từ các chuẩn mực đạo đức xã hội cho đến cách ứng giữa các thành viên
trong gia đình. Vì lợi ích của bản thân đạo Phật và sau đó là lợi của quốc gia, cho
nên Phật giáo đã hợp tác với vương quyền, trở thành một công cụ hiệu lực cho việc
thống nhất tư tưởng của các quốc gia phong kiến Đông Nam Á. Với tất cả sự nỗ
lực không mệt mỏi trong hoạt động của mình, Phật giáo trong thời kỳ hưng thịnh
của các vương triều Đông Nam Á, điển hình như đất nước Campuchia đã tôn Phật
giáo lên địa vị độc tôn và với vai trò đó, nó đã có những đóng góp quan trọng vào
việc củng cố quốc gia thống nhất, vun đắp sự đoàn kết nội bộ giai cấp cầm quyền,
thậm chí đóng góp phần lựa chọn cả những con người ngồi trên ngai vàng của
vương quốc. Đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn đến nhiều mặt văn hóa - xã hội
như văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, luật pháp...
Phật giáo đã gắn liền với sự hưng vong của vương quốc Campuchia, khi quốc gia
cường thịnh, Phật giáo được phát triển đến đỉnh cao, còn khi độc lập chủ quyền đã
bị mất thì Phật giáo cũng chịu chung số phận với đất nước. Sự có mặt của Phật
giáo Campuchia đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa riêng của nước
nhà, ngôi chùa ngoài việc là trung tâm văn hóa của bản làng mà còn là nơi bảo vệ
nền văn hóa lâu đời của dân tộc, bảo vệ và xây dựng vẻ đẹp cho cuộc sống mọi
người. Ngày nay, Phật giáo vẫn là nền tảng văn hóa - xã hội của đất nước
Campuchia nói riêng và cả Đông Nam Á nói chung điều này có thể thấy rõ qua
kiến trúc đình, chùa trên khắp đất nước Campuchia, như quần thể di tích Angkor,
trong đó nổi tiếng là đền Angkor Wat, Angkor Thom. 4.2. Kiến trúc Khmer
Kiến trúc Khmer phần lớn được biết đến nhờ vào những công trình được xây dựng
từ thời Vương quốc Khmer (khoảng cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13). Phật giáo, Ấn
Độ giáo và tư duy huyền thoại có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật trang trí các công
trình kiến trúc vĩ đại này. Đặc trưng cơ bản của kiến trúc thời này là được xây dựng
từ vật liệu gỗ, tre nứa hoặc rơm rạ và đá. Nhưng những gì còn lại ngày nay là các
công trình bằng đá tảng như các bức tường thành, đường sá,… và các ngôi đền.
Với con đường thì đó là những bao lơn tạc hình rắn Naga chín đầu, vươn cao từ 2-
3 mét, xòe rộng phủ bóng xuống mặt đường dạo. Còn hình thức chung của các
ngôi đền là có đỉnh chóp nhọn, bốn mặt đền được chạm trổ các bức phù điêu miêu
tả cuộc sống con người ở thế giới bên kia, hoặc cuộc sống hiện tại của người dân
Vương quốc Khmer bấy giờ, hay cuộc chiến với nước láng giềng Chăm Pa.
Người ta như thấy được sự sống động, náo nhiệt của ngày hội Angkor hàng năm
qua hình ảnh các nữ thần Apsaras với thân hình mềm mại, cân đối đang uyển
chuyển múa, và sự tham gia của cả những con khỉ, con ngựa trong sử thi Ramanaya của Ấn Độ.
Bên cạnh đó, hình thức khắc những ký tự hay con số cũng rất phổ biến ở công
trình. Các ngôi đền thường có một cửa chính, còn ở ba phía còn lại của đền cũng
có cửa nhưng chỉ là giả, để tạo cảm giác đối xứng cho ngôi đền. Công trình nổi
tiếng nhất thiết kế biệt thự ở đây là ngôi đền Bayon với 200 gương mặt của Quán Thế Âm.
Chiêm ngưỡng những công trình này, du khách không thể không khâm phục sức
mạnh phi thường và bàn tay tài hoa của những người dân Khmer xưa. Kiến trúc
Khmer cũng có ảnh hưởng lớn đén thiết kế kiến trúc của Thái Lan và kiến trúc Chăm Pa tại Việt Nam. 4.3. Múa Khmer
Với hơn 90% người dân Campuchia theo đạo Phật vì vậy lễ hội và chùa chiền với
người dân Campuchia diễn ra rất nhiều. Những điệu nhảy, điệu múa những bài ca
trong các dịp lễ hội cũng mang hơi thở và linh hồn của Phật giáo. Nhưng trong các
lễ hội của đạo Hindu có vẻ phong phú hơn về các điệu nhảy, và các bài nhạc như
dàn nhạc cổ “Pin Peat” với đầy đủ nhạc cụ chủ yếu làm từ tre, lứa, gỗ… Nghệ
thuật múa cổ xưa ca ngợi đấng tạo hóa của Hindu giáo, nghệ thuật múa cung đình
có nguồn gốc từ nhân vật “Apsara” trong truyền thuyết của đạo Hindu…
Campuchia với hàng chục dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những làn điệu nhảy
múa khác nhau chắc chắn du khách sẽ có những bữa tiệc nghệ thuật văn hóa khó quên. 4.4. Văn hóa ẩm thực
Campuchia là một trong những nơi tuyệt vời nhất trên thế giới để cho những ai có
tình yêu dành cho ẩm thực Phương Đông ghé thăm. Ẩm thực Campuchia, cũng
như thói quen ẩm thực của nhiều dân tộc thuộc nền văn minh lúa nước trong khu
vực châu Á, cho thấy những đặc điểm riêng biệt. Người dân Campuchia có thói
quen ăn gạo tẻ và ăn nhiều cá hơn thịt. Vào các ngày lễ tết, nông thôn cũng như
thành thị đều có gói bánh tét, bánh ít. Phần lớn trong mỗi gia đình đều có mắm bồ
hóc để ăn quanh năm. Ẩm thực Campuchia ảnh hưởng phong cách mạnh mẽ của
Ấn Độ và Trung Hoa, hầu hết các món ăn có vị lạt, ngọt và béo. Món ăn Ấn Độ tìm
thấy hầu hết ở các gia vị được dùng chủ yếu là cay như sa tế, ớt, tiêu, nhục, hồi
v.v... Món ăn Trung Hoa được tìm thấy nhiều với vị lạt và khá béo, nhiều dầu mỡ
nhất là mang phong cách ẩm thực vùng Tứ Xuyên. Nhưng trên hết văn hóa ẩm
thực Campuchia vẫn tạo cho mình những nét độc đáo riêng, những ấn tượng riêng
và cũng đủ làm hài lòng những thực khách sành ăn nhất. Cà ri đỏ Khmer cũng là
một đặc sản Campuchia gây ấn tượng mạnh với các tín đồ ẩm thực. Món ăn này
thường làm từ thịt gà, thịt bò hoặc cá. Nguyên liệu nấu cùng có đậu xanh, khoai
tây, cà tím, nước cốt dừa, sả. Đặc biệt, cà ri đỏ nấu cùng ớt kroeung nên cay tê lưỡi.
Có một "Biển Hồ" mênh mông tôm cá, một bờ biển dài vô số hải sản quý hiếm và
dường như không bao giờ cạn kiệt. Đó là lý do tại sao những món ăn truyền thống
của người Campuchia đa số được làm từ cá và các loại hải sản khác. Từ cá nướng,
cá hấp, cá kho cho đến những món mắm thơm ngon, nổi tiếng chinh phục biết bao
nhiêu "tâm hồn ăn uống" của du khách quốc tế khi đến nơi đây. ví dụ Amok là một
trong những món ăn truyền thống nổi tiếng nhất của người dân đất nước chùa tháp.
Nguyên liệu chính làm nên món ăn này là cá lóc tươi vùng biển hồ, cá trê hoặc cá
quả tươi. Amok đặc biệt bởi những hương vị đặc trưng của người dân xứ này như
mắm prohok, khượng, đường thốt nốt, lá chùm ruột, kroeung Khmer. Ngoài ra,
nước cốt dừa, trứng, gừng, sả, hẹ…cũng là nguyên liệu không thể thiếu trong món ăn này.
Ngoài ra còn rất nhiều nhiều món ăn khác nữa rất mới lạ như Các món chiên từ bọ
xít, gián, dế, bọ cạp, cà cuống… kết hợp cùng với gia vị vừa miệng được cho là
ngon nhất. Du khách có thể mua côn trùng chiên theo xiên với giá chỉ khoảng 10 ngàn đồng. 4.5. Văn hóa giao tiếp
Người Campuchia có rất nhiều cách chào hỏi, phụ thuộc vào mối quan hệ, thứ bậc
và tuổi tác giữa người với người. Nhưng cách chào hỏi truyền thống của người
Campuchia là chào "Sompiah" (giao tiếp truyền thống): hai tay chắp vào nhau để
trước ngực như cầu nguyện và đầu hơi cúi nhẹ. Một người muốn thể hiện sự kính
cẩn với người đối diện sẽ cúi người thấp hơn và chắp tay ở vị trí cao hơn. Đây
được gọi là kiểu chào sompiah được người Khmer sử dụng đối với những người có
cùng địa vị xã hội hoặc cao hơn. Lẽ tất nhiên du khách cũng nên đáp lại như vậy
khi chào hỏi. Ngoài ra, du khách cũng có thể bắt tay khi chào hỏi, nhưng tốt nhất là
nên chào sompiah trước khi bắt tay. Cách ứng xử
Theo quan niệm của người Campuchia; đầu trẻ em là nơi linh thiêng chỉ có thánh
thần và cha mẹ của chúng mới được chạm vào nên việc xoa đầu trẻ em là điều thất
lễ khi đến với đất nước này. Theo văn hóa của người Campuchia; tay trái là tay
không sạch sẽ, không nên đưa tiền; đưa đồ hay bất cứ gì bằng tay trái. Thay vào đó
nên tạo thiện cảm với người dân nơi đây bằng việc sử dụng tay phải khi đưa và
nhận đồ. Khi đến chùa hoặc nhà của người Khmer; chúng ta không nên ngồi bắt
chéo chân mà thay vào đó là ngồi với hai chân ở cùng một bên (dạng đuôi cá). Đạo
Phật được xem là Quốc đạo ở Campuchia; nên khi đi viếng chùa; nên bỏ mũ nón;
giày dép bên ngoài; hơn nữa cũng không được đứng gần cũng như chạm vào nhà sư. 4.6. Văn hóa tặng quà
Người Campuchia chỉ thường tặng quà cho nhau vào dip tết cổ truyền của dân tộc (Chaul Cham).
Khi được mời đến nhà bạn bè hoặc người khác dự tiệc thì khách thường mang đến
cho gia chủ một số món quà nhỏ.
Qùa thường được gói cẩn thận trong những tờ giấy đầy màu sắc.
Những điều cần tránh khi tặng quà và nhận quà:
Tặng dao là điều cấm kị trong văn hóa của người Campuchia.
Tránh trao quà bằng một tay.
Không được mở quà ngay sau khi nhận.
4.7. Những lễ hội truyền thống ở Campuchia
Lễ hội lớn nhất ở Campuchia là lễ Bom Chaul Chnam (lễ hội mừng thu hoạch lúa
thành công) được tổ chức vào ngày 13 đến ngày 15 tháng 4 dương lịch. Đây là lễ
hội lớn nhất trong năm của người dân Campuchia. Trong những ngày này mọi
người gặp nhau và té nước vào nhau nhằm tin tưởng vào một vụ mùa bội thu trong
năm tới. Lễ hội này cũng được tổ chức ở Lào, Thái lan, và Myanmar – những nước
có nền văn minh nông nghiệp.
Trong lễ hội này, mọi người gặp gỡ nhau và nước giật gân với nhau trong niềm hy
vọng của một loại cây trồng năng suất cao hơn trong năm tới. Sau nghi lễ tôn giáo
trong các đền thờ, mọi người đến với đường phố, sử dụng súng xô, bồn rửa, vòi
nước hoặc nước hư hỏng với nhau, sau đó giật gân vào nhà, động vật và công cụ
sản xuất. Những thoải mái tắm trong nước, tiếp nhận nước giảm càng nhiều càng
tốt bởi vì họ tin rằng sẽ có may mắn hơn trong năm mới. Lễ hội lấy ruộng
Được tổ chức vào ngày 6 tháng 5. Người ta lấy một con bò làm biểu tượng cho một
vụ mùa mới của những người trộng lúa. Lễ hội này được tổ chức tại Hoàng cung
thể hiện sự quan tâm của nhà vua đối với nhân dân và mùa màng.
Lễ hội Bam Dak Ben và Pchonum Ben
Được tổ chức vào ngày 11 đến ngày 13 tháng 10 hàng năm. Lễ hội này được tổ
chức để tưởng nhớ đến những người đã khuất. Trong những ngày này mọi người
đến chùa cúng tế, đồng thời tạ ơn các nhà sư. Các nhà sư cũng được nghỉ lễ trong
15 ngày không đi khất thực mà người dân đem thức ăn đến cho các nhà sư. Lễ Bonn Prathen
Thường được tổ chức vào tháng 10 suốt 29 ngày đêm liền. Đây là lễ hội của Phật
Giáo lớn nhất trong năm. Mọi người tổ chức thành một đám rước lớn đến chùa mà
các nhà sư đang đợi thay đổi trang phục màu vàng. Tết cổ truyền
Trong ngày đầu năm mới, khắp Campuchia tưng bừng lễ đón năm mới – Tết Chol
Chnam Thmay. Trong suốt 3 ngày lễ (13 – 15/4 hàng năm), không khí cả đất nước
Campuchia náo nhiệt, đèn hoa sáng rực từ các ngôi chùa kéo dài đến các nẻo
đường dẫn đến Hoàng Cung.
Đêm giao thừa mọi gia đình làm những chiếc đèn lồng thật đẹp rồi đem ra thả trên
mặt hồ. Hàng ngàn ngọn đèn trôi lung linh thành một hội hoa đăng và người ta tin
rằng đèn của nhà nào vừa đẹp vừa sáng suốt đêm thì nhà ấy sang năm mới gặp nhiều điều tốt lành.
Những ngày tháng 4 này, hàng triệu người dân du lịch Campuchia đang mong chờ
Lễ hội té nước đặc sắc trong dịp lễ Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay (Campuchia)
diễn ra từ 13-15/4 dương lịch. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân
nước này sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức nghi dội nước lên người nhau.
MỤC 5. TÌNH HÌNH KINH TẾ CAMPUCHIA
5.1. Trước khi gia nhập ASEAN
Trước khi gia nhập ASEAN, tình hình kinh tế Campuchia đã trải qua nhiều khó
khăn. Sau cuộc chiến tranh và chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot (1975-1979), nền kinh
tế Campuchia bị suy yếu nặng nề và phá hủy.