Trần Quang Khải
MSSV : 31231026391
CÂU HỎI ÔN TẬP
Chương 10
Bài tập 7/ 236: Tại sao GDP lớn lại điều đáng mong muốn đối với một quốc gia?
Cho dụ về một hoạt động làm tăng GDP nhưng lại không đáng mong muốn.
Định nghĩa: GDP ( Gross Domestic Product ) một chỉ số kinh tế đo lường tổng số
nhất định. GDP lớn phản ánh sự tăng trưởng kinh tế tốt, thu hút nhiều nguồn đầu tư,
hội việc làm gia tăng thu nhập của nhân cũng tăng.
Tuy nhiên, không phải lúc hoạt động nào làm gia tăng chỉ số GDP cũng mang lại lợi
ích cho toàn bộ hội. Một dụ điển hình đó việc khai thác khoáng sản quý hiếm
sẽ mang lại lợi nhuận cao cho các công ty khai thác nhưng lại gây ảnh hưởng đến môi
trường sức khỏe người dân. Do đó, việc đo lường đánh giá GDP cần phải được
xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo không gây ra hậu quả xấu cho hội môi trường.
BÀI TẬP VẬN DỤNG
chương 10:
Bài tập 6/ 238: Những hàng hóa dịch vụ không được bán trên thị trường chẳng hạn
như thực phẩm được sản xuất tiêu dùng tại nhà, thì nói chung không được tính
vào GDP. Bạn nghĩ xem điều này làm cho các con số trong cột thứ 2 của bảng 3 trở
nên sai lệch khi so sánh phúc lợi kinh tế giữa Hoa Kỳ Ấn Độ không ?
Điều này làm cho các con số trong cột 2 Bảng 3 trở nên sai lệch khi so sánh phúc lợi
kinh tế giữa Hoa Kỳ Ấn Độ Ấn Độ nhiều hoạt động phi thương mại hơn
Hoa Kỳ một quốc gia phát triển dẫn đến tính chuyên môn hóa cao hoạt động trao
đổi mua bán sẽ diễn ra nhiều hơn Ấn Độ. lẽ đó GDP thước đo tốt nhưng chưa
phải thước đo hoàn hảo về phúc lợi kinh tế.
Bài tập 9/ 238:
a) GDP của nền kinh tế này 180 USD
đây giá thị trường của bánh mì, hàng hóa cuối cùng từ lúa ban đầu.
b) Giá trị gia tăng của từng nhà sản xuất:
P1 = 100 USD
P2 = 150 100 = 50 USD
P3 = 180 150 = 30 USD
c) Tổng giá trị gia tăng = 180 USD = GDP
thể tính GDP bằng cách tính tổng giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
Bài tập 10/ 238:
a) 400 USD Barry thu được mức tiêu thụ của khách hàng, hay còn
mức giá cuối cùng. Do đó, Barry đã đóng góp 400 USD vào tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
b) Sản phẩm quốc gia ròng: NNP = GNP Khấu hao.
Trong trường hợp này GDP=GNP => NNP = 400 50 = 350 USD.
c) Thu nhập quốc gia (NI) bao gồm tổng thu nhập kiếm được bởi các dân của
đất nước. Đóng góp cho thu nhập quốc gia giống như NNP => NI = 350 USD.
d) Thu nhập nhân: PI = NI Thu nhập dữ lại Thuế thu nhập
= 350 100 30 = 220 USD
e) Thu nhập nhân khả dụng: DI = PI Thuế doanh thu = 220 70 = 150 USD
Chương 11:
Bài tập 3/ 254: dân Vedopia đã chi tiêu hết thu nhập của họ cho cải bẹ, cải xanh
rốt. Năm 2010, họ mua 100 cải bẹ hết 200 USD, 50 cải xanh hết 75 USD,
500 củ rốt hết 50 USD. Năm 2011, họ mua 75 cải bẹ hết 225 USD, 80 cải
xanh hết 120 USD 500 củ rốt hết 100 USD.
a. Tính giá mỗi loại rau trong từng năm.
Giá của mỗi loại rau trong năm 2010
Cải bẹ: 200 / 100 = 2 USD
Cải xanh: 75 / 50 = 1,5 USD
rốt: 50 / 500 = 0,1 USD
Giá của mỗi loại rau trong năm 2011
Cải bẹ: 225 / 75 = 3 USD
Cải xanh: 120 / 80 = 1,5 USD
rốt: 100 / 500 = 0,2 USD
b. Lấy 2010 làm năm gốc, tính CPI cho từng năm.
+ Chi phí giỏ hàng năm 2010 = 325 USD
+ Chi phí giỏ hàng năm 2011 = 445 USD
CPI năm 2010 = (325 / 325) x 100 = 100 %
CPI năm 2011 = (445 / 325) x 100 = 146,15 %
c. Tỷ lệ lạm phát năm 2011
I(LP)= (146,15 - 100))/100 x 100% = 46,15 %
Bài tập 4/ 254: Một đất nước nhỏ dân số 10 người say chương trình American
Idol. Tất cả những họ sản xuất tiêu thụ dàn âm thanh karaoke đĩa CD, với
số lượng như sau:
a. Lấy năm 2011 làm năm gốc, cố định giỏ hàng với một dàn âm thanh karaoke
3 đĩa CD.
+ Chi phí giỏ hàng năm gốc 2011 = (1 x 40) + (3 x 10) = 70 USD
+ Chi phí giỏ hàng năm 2012 = (1 x 60) + (3 x 12) = 96 USD
+ CPI năm 2011 = (70 / 70) x 100 = 100%
+ CPI năm 2012 = (96 / 70) x 100 = 137,14%
+ %ΔP = 137,14% - 100% = 37,14% Phần trăm thay đổi của mức giá chung:
Tăng lên 37% so với năm gốc
b. Tính phần trăm thay đổi của mức giá chung
+ D 2011= (10x40+30x10)/(40x10+10x30)x100=100.
+ D 2012= (12x60+50x12)/(40x12+10x50)x100=135
Tỷ lệ lạm phát năm 2012 = 135% - 100% = 35%
Phần trăm thay đổi của mức giá chung: 35%
c. Tỷ lệ lạm phát năm 2012 tính theo 2 phương pháp khác nhau vì:
Chỉ số giảm phát GDP phản ánh giá của tất cả các hàng hoá dịch vụ
được sản xuất trong nước. Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh giá của tất cả các
hàng hoá dịch vụ được người tiêu dùng mua. Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu
dùng so sánh giá của một giỏ hàng hoá dịch vụ cố định với giá của giỏ hàng
hoá đó trong năm gốc. Còn chỉ số giảm phát GDP so sánh giá của các hàng
hoá dịch vụ hiện đang được sản xuất với giá của cũng các hàng hoá dịch
vụ đó trong năm gốc. Do đó, chỉ số giá tiêu dùng thước đo lạm phát thông
dụng hiệu quả hơn chỉ số giảm phát GDP.
Bài tập 7/ 255: Vấn đề nào trong việc xây dựng chỉ số giá tiêu dùng CPI thể minh
họa được bằng từng tình huống sau? Giải thích.
a) Sự phát minh ra iPod.
b) Sự giới thiệu túi khí trong xe hơi.
c) Số lượng mua sắm máy tính nhân tăng lên khi giá của chúng giảm xuống
d) Thêm một muỗng nho khô trong mỗi gói hàng của hãng Raisin Bran.e. Việc sử
dụng xe hơi tiết kiệm nhiên liệu tăng lên sau khi giá xăng tăng
a) Sự giới thiệu hàng hóa mới
=> Sự ra đời của Ipod làm cho người tiêu dùng thêm sự lựa chọn làm cho 1 USD
giá trị hơn.
b) Sự thay đổi về mặt chất lượng không đo lường được.
=> chất lượng của xe hơi tăng lên làm cho 1 USD giá trị hơn.
c) Dùng hàng hóa rẻ hơn.
=> người tiêu dùng thay đổi duy mua sắm sang những hàng hóa ít tốn kém hơn.
d) Sự thay đổi về mặt chất lượng không đo lường được.
=> thêm 1 muỗng nho kho trong mỗi gói hàng của hãng Raisin Bran làm cho người
tiêu dùng mua nhiều hàng hóa của nhãn này lên làm cho giá trị của 1 USD tăng lên.
e) Dùng hàng hóa rẻ hơn.
=> khi giá xăng tăng lên người tiêu dùng xu hướng thay thế 1 chiếc xe ít tốn
nhiên liệu hơn để giảm bớt chi tiêu trong tương lai.
Bài tập 9/ 255: Giả sử rằng người đi vay người cho vay đã thỏa thuận mức lãi suất
danh nghĩa trả cho khoản vay. Sau đó lạm phát đã tăng cao hơn mức cả hai bên dự
đoán.
a) Lãi suất thực của khoản vay này cao hơn hay thấp hơn kỳ vọng?
b) Người cho vay được lợi hay bị thiệt khi lạm phát cao hơn dự đoán? Người đi vay
được lợi hay bị thiệt?
c) Lạm phát trong những năm 1970 cao hơn mức hầu hết người dân dự đoán khi
thập niên này bắt đầu. Điều này tác động như thế nào đến những người sở hữu nhà đã
nhận được khoản vay thế chấp với lãi suất Cố định suốt thập niên 1960? Điều này tác
động như thế nào đến những ngân hàng đã cho vay tiền?
a) Lãi suất thực của khoản vay này thấp hơn kỳ vọng.
Vì: - Lạm phát. lạm phát tăng cao hơn Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa
mức dự đoán => Lãi suất thực sẽ thấp hơn mức dự đoán.
b) Người cho vay bị thiệt khi lạm phát cao hơn dự đoán.
Người đi vay được lợi khi lạm phát cao hơn dự đoán khi đó lãi suất thực thấp hơn
dự đoán. Số tiền lãi người cho vay kiếm được, sẽ mua được những hàng hóa
dịch vụ ít giá trị hơn so với khi lạm phát bằng dự đoán.
c) Những người sở hữu nhà đã nhận được khoản vay thế chấp với lãi suất cố định
suốt thập niên 1960 đã được lợi. Những ngân hàng đã cho vay tiền bị thiệt.
khi lạm phát vào năm 1970 cao hơn mức hầu hết người dân dự đoán vẫn
giữ lãi suất cố định suốt thập niên 1960 thì lãi suất thực sẽ thấp hơn lãi suất dự đoán.
Người dân sẽ phải trả lãi ít hơn so với số tiền lãi họ phải thực trả trong giai đoạn
đó. Còn những ngân hàng đó sẽ nhận được mức lãi suất thực thấp hoặc khi bị lỗ
Chương 12:
Bài tập 1/ 283:
tả 3 cách các nhà hoạch định chính sách của chính phủ thể nâng cao mức
sống trong hội. Những hạn chế của các chính sách này gì?
Cách 1: Thúc đẩy tăng trưởng dân số. Nếu như nhiều người hơn, khi đó nhiều
nhà khoa học, nhà phát minh, kỹ với nhiều cống hiến tiến bộ hơn cho công nghệ.
thể nói tăng trưởng dân số cỗ máy tiến bộ công nghệ sự phồn thịnh kinh tế.
+ Hạn chế: Tăng trưởng dân số nhanh thể gánh nặng cho hệ thống giáo dục.
Ngoài ra thể gây khó khăn cho việc cung cấp công cụ, kỹ năng cần thiết cho
người lao động để họ đạt năng suất cao hơn.
Cách 2: Đầu vào giáo dục (vốn nhân lực)
+ Hạn chế: 1 số nước nghèo gặp phải vấn đề “chảy máu chất xám” đầu
nhiều tiền bạc vào lớp trẻ tài, tài trợ học bổng, du học nhưng nhiều người
chọn phương án lại nước ngoài nơi họ thể tận hưởng mức sống cao
hơn, chứ không về nước làm việc cống hiến, tình trạng này làm giảm trữ
lượng vốn của các quốc gia nghèo nhiều hơn nữa
Cách 3: Nhận đầu từ nước ngoài
+ Hạn chế: Các doanh nghiệp non trẻ trong nước sẽ bị cạnh tranh cao hơn dễ
bị phá sản nếu không những chiến lược đúng đắn. Ngoài ra nếu các doanh
nghiệp nước ngoài chiếm phần lớn nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ của người
dân trong nước thì quốc gia đó thể sẽ bị phụ thuộc vào hàng hóa, dịch vụ
của các quốc gia khác.
Bài tập 2/ 285: Giả sử một hội quyết định giảm tiêu dùng gia tăng đầu tư:
a) Sự thay đổi này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
Năng suất thu nhập hội đó tăng lên nhưng bị chi phối bởi sinh lợi giảm dần do
yếu tố chi tiêu thay đổi. Bởi khi gia tăng đầu thì vốn tăng thêm => sản lượng
tăng thêm nhưng mức tăng của sản lượng sẽ giảm dần đi yếu tố tiêu dùng thay đổi.
b) Khi hội cắt giảm tiêu dùng, hội đó sẽ thu hẹp quy sản xuất hàng hóa
dịch vụ để mở rộng quy đầu tư, sản xuất vốn. Trước tiên nhóm người sản
xuất sẽ bị ảnh hưởng. nguồn lực giới hạn nên một bộ phận sản xuất bị cắt giảm
chuyển sang lĩnh vực sản xuất vốn. Tiếp đó nhóm người tiêu dùng bị ảnh hưởng
giờ đây số lượng hàng hóa dịch vụ hạn nên buộc họ phải giảm thiểu nhu cầu
của bản thân để thích nghi với sự thiếu hụt tạm thời đó.
Bài tập 3/ 285: Hầu hết các quốc gia đều nhập khẩu, tuy nhiên các quốc gia chỉ
mức sống cao khi tự sản xuất nhiều hàng hóa?
Không hẳn chỉ tự sản xuất hàng hóa thì mới mức sống cao, khi một quốc gia cố
gắng sản xuất tất cả hàng hóa thì sẽ những hàng hóa quốc gia đó không lợi
thế so sánh, đây một sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên sức lao động không
cần thiết thể được tiết kiệm nếu như quốc gia này nhập khẩu từ một nước
lợi thế so sánh tốt hơn. Vậy nên nhập khẩu không hẳn một chuyện xấu. Bên cạnh
đó, một trong mười nguyên kinh tế học đề cập đến quyền lợi của mọi người khi
hoạt động thương mại nên nhập khẩu vẫn góp phần tăng mức sống của một quốc gia.
Cuối cùng, để ổn định GDP, ta nên cân bằng cán cân xuất nhập khẩu để cấu được
ổn định với chỉ số xuất khẩu ròng cân bằng.

Preview text:

Trần Quang Khải MSSV : 31231026391 CÂU HỎI ÔN TẬP Chương 10
Bài tập 7/ 236: Tại sao GDP lớn lại là điều đáng mong muốn đối với một quốc gia?
Cho ví dụ về một hoạt động làm tăng GDP nhưng lại không đáng mong muốn.
Định nghĩa: GDP ( Gross Domestic Product ) là một chỉ số kinh tế đo lường tổng số
hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian
nhất định. GDP lớn phản ánh sự tăng trưởng kinh tế tốt, thu hút nhiều nguồn đầu tư,
cơ hội việc làm gia tăng và thu nhập của cá nhân cũng tăng.
Tuy nhiên, không phải lúc hoạt động nào làm gia tăng chỉ số GDP cũng mang lại lợi
ích cho toàn bộ xã hội. Một ví dụ điển hình đó là việc khai thác khoáng sản quý hiếm
sẽ mang lại lợi nhuận cao cho các công ty khai thác nhưng lại gây ảnh hưởng đến môi
trường và sức khỏe người dân. Do đó, việc đo lường đánh giá GDP cần phải được
xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo nó không gây ra hậu quả xấu cho xã hội và môi trường. BÀI TẬP và VẬN DỤNG chương 10:
Bài tập 6/ 238: Những hàng hóa và dịch vụ không được bán trên thị trường chẳng hạn
như thực phẩm được sản xuất và tiêu dùng tại nhà, thì nói chung là không được tính
vào GDP. Bạn nghĩ xem điều này có làm cho các con số trong cột thứ 2 của bảng 3 trở
nên sai lệch khi so sánh phúc lợi kinh tế giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ không ?
Điều này làm cho các con số trong cột 2 Bảng 3 trở nên sai lệch khi so sánh phúc lợi
kinh tế giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ vì Ấn Độ có nhiều hoạt động phi thương mại hơn và
Hoa Kỳ là một quốc gia phát triển dẫn đến tính chuyên môn hóa cao và hoạt động trao
đổi mua bán sẽ diễn ra nhiều hơn Ấn Độ. Vì lẽ đó GDP là thước đo tốt nhưng chưa
phải là thước đo hoàn hảo về phúc lợi kinh tế. Bài tập 9/ 238:
a) GDP của nền kinh tế này là 180 USD
vì đây là giá thị trường của bánh mì, là hàng hóa cuối cùng từ lúa mì ban đầu.
b) Giá trị gia tăng của từng nhà sản xuất: P1 = 100 USD P2 = 150 – 100 = 50 USD P3 = 180 – 150 = 30 USD
c) Tổng giá trị gia tăng = 180 USD = GDP
Có thể tính GDP bằng cách tính tổng giá trị gia tăng trong nền kinh tế. Bài tập 10/ 238:
a) Vì 400 USD mà Barry thu được là mức tiêu thụ của khách hàng, hay còn là
mức giá cuối cùng. Do đó, Barry đã đóng góp 400 USD vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
b) Sản phẩm quốc gia ròng: NNP = GNP – Khấu hao.
Trong trường hợp này GDP=GNP => NNP = 400 – 50 = 350 USD.
c) Thu nhập quốc gia (NI) bao gồm tổng thu nhập kiếm được bởi các cư dân của
đất nước. Đóng góp cho thu nhập quốc gia giống như NNP => NI = 350 USD.
d) Thu nhập cá nhân: PI = NI – Thu nhập dữ lại – Thuế thu nhập
= 350 – 100 – 30 = 220 USD
e) Thu nhập cá nhân khả dụng: DI = PI – Thuế doanh thu = 220 – 70 = 150 USD Chương 11:
Bài tập 3/ 254: Cư dân Vedopia đã chi tiêu hết thu nhập của họ cho cải bẹ, cải xanh
và cà rốt. Năm 2010, họ mua 100 bó cải bẹ hết 200 USD, 50 bó cải xanh hết 75 USD,
và 500 củ cà rốt hết 50 USD. Năm 2011, họ mua 75 bó cải bẹ hết 225 USD, 80 bó cải
xanh hết 120 USD và 500 củ cà rốt hết 100 USD.
a. Tính giá mỗi loại rau trong từng năm.
Giá của mỗi loại rau trong năm 2010 Cải bẹ: 200 / 100 = 2 USD Cải xanh: 75 / 50 = 1,5 USD Cà rốt: 50 / 500 = 0,1 USD
Giá của mỗi loại rau trong năm 2011 Cải bẹ: 225 / 75 = 3 USD
Cải xanh: 120 / 80 = 1,5 USD
Cà rốt: 100 / 500 = 0,2 USD
b. Lấy 2010 làm năm gốc, tính CPI cho từng năm.
+ Chi phí giỏ hàng năm 2010 = 325 USD
+ Chi phí giỏ hàng năm 2011 = 445 USD
CPI năm 2010 = (325 / 325) x 100 = 100 %
CPI năm 2011 = (445 / 325) x 100 = 146,15 %
c. Tỷ lệ lạm phát năm 2011
I(LP)= (146,15 - 100))/100 x 100% = 46,15 %
Bài tập 4/ 254: Một đất nước nhỏ có dân số 10 người say mê chương trình American
Idol. Tất cả những gì họ sản xuất và tiêu thụ là dàn âm thanh karaoke và đĩa CD, với số lượng như sau:
a. Lấy năm 2011 làm năm gốc, cố định giỏ hàng với một dàn âm thanh karaoke và 3 đĩa CD.
+ Chi phí giỏ hàng năm gốc 2011 = (1 x 40) + (3 x 10) = 70 USD
+ Chi phí giỏ hàng năm 2012 = (1 x 60) + (3 x 12) = 96 USD
+ CPI năm 2011 = (70 / 70) x 100 = 100%
+ CPI năm 2012 = (96 / 70) x 100 = 137,14%
+ Phần trăm thay đổi của mức giá chung: %ΔP = 137,14% - 100% = 37,14%
Tăng lên 37% so với năm gốc
b. Tính phần trăm thay đổi của mức giá chung
+ D 2011= (10x40+30x10)/(40x10+10x30)x100=100.
+ D 2012= (12x60+50x12)/(40x12+10x50)x100=135
Tỷ lệ lạm phát năm 2012 = 135% - 100% = 35%
Phần trăm thay đổi của mức giá chung: 35%
c. Tỷ lệ lạm phát năm 2012 tính theo 2 phương pháp là khác nhau vì:
Chỉ số giảm phát GDP phản ánh giá của tất cả các hàng hoá và dịch vụ
được sản xuất trong nước. Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh giá của tất cả các
hàng hoá và dịch vụ được người tiêu dùng mua. Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu
dùng so sánh giá của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định với giá của giỏ hàng
hoá đó trong năm gốc. Còn chỉ số giảm phát GDP so sánh giá của các hàng
hoá và dịch vụ hiện đang được sản xuất với giá của cũng các hàng hoá và dịch
vụ đó trong năm gốc. Do đó, chỉ số giá tiêu dùng là thước đo lạm phát thông
dụng và hiệu quả hơn chỉ số giảm phát GDP.
Bài tập 7/ 255: Vấn đề nào trong việc xây dựng chỉ số giá tiêu dùng CPI có thể minh
họa được bằng từng tình huống sau? Giải thích. a) Sự phát minh ra iPod.
b) Sự giới thiệu túi khí trong xe hơi.
c) Số lượng mua sắm máy tính cá nhân tăng lên khi giá của chúng giảm xuống
d) Thêm một muỗng nho khô trong mỗi gói hàng của hãng Raisin Bran.e. Việc sử
dụng xe hơi tiết kiệm nhiên liệu tăng lên sau khi giá xăng tăng
a) Sự giới thiệu hàng hóa mới
=> Sự ra đời của Ipod làm cho người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn làm cho 1 USD có giá trị hơn.
b) Sự thay đổi về mặt chất lượng không đo lường được.
=> Vì chất lượng của xe hơi tăng lên làm cho 1 USD có giá trị hơn.
c) Dùng hàng hóa rẻ hơn.
=> Vì người tiêu dùng thay đổi tư duy mua sắm sang những hàng hóa ít tốn kém hơn.
d) Sự thay đổi về mặt chất lượng không đo lường được.
=> Vì thêm 1 muỗng nho kho trong mỗi gói hàng của hãng Raisin Bran làm cho người
tiêu dùng mua nhiều hàng hóa của nhãn này lên làm cho giá trị của 1 USD tăng lên.
e) Dùng hàng hóa rẻ hơn.
=> Vì khi giá xăng tăng lên người tiêu dùng có xu hướng thay thế 1 chiếc xe ít tốn
nhiên liệu hơn để giảm bớt chi tiêu trong tương lai.
Bài tập 9/ 255: Giả sử rằng người đi vay và người cho vay đã thỏa thuận mức lãi suất
danh nghĩa trả cho khoản vay. Sau đó lạm phát đã tăng cao hơn mức mà cả hai bên dự đoán.
a) Lãi suất thực của khoản vay này là cao hơn hay thấp hơn kỳ vọng?
b) Người cho vay được lợi hay bị thiệt khi lạm phát cao hơn dự đoán? Người đi vay
được lợi hay bị thiệt?
c) Lạm phát trong những năm 1970 cao hơn mức mà hầu hết người dân dự đoán khi
thập niên này bắt đầu. Điều này tác động như thế nào đến những người sở hữu nhà đã
nhận được khoản vay thế chấp với lãi suất Cố định suốt thập niên 1960? Điều này tác
động như thế nào đến những ngân hàng đã cho vay tiền?
a) Lãi suất thực của khoản vay này là thấp hơn kỳ vọng.
Vì: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Lạm phát. Mà lạm phát tăng cao hơn
mức dự đoán => Lãi suất thực sẽ thấp hơn mức dự đoán.
b) Người cho vay bị thiệt khi lạm phát cao hơn dự đoán.
Người đi vay được lợi khi lạm phát cao hơn dự đoán Vì khi đó lãi suất thực thấp hơn
dự đoán. Số tiền lãi mà người cho vay kiếm được, sẽ mua được những hàng hóa và
dịch vụ ít giá trị hơn so với khi lạm phát bằng dự đoán.
c) Những người sở hữu nhà đã nhận được khoản vay thế chấp với lãi suất cố định
suốt thập niên 1960 đã được lợi. Những ngân hàng đã cho vay tiền bị thiệt.
Vì khi lạm phát vào năm 1970 cao hơn mức mà hầu hết người dân dự đoán mà vẫn
giữ lãi suất cố định suốt thập niên 1960 thì lãi suất thực sẽ thấp hơn lãi suất dự đoán.
Người dân sẽ phải trả lãi ít hơn so với số tiền lãi mà họ phải thực trả trong giai đoạn
đó. Còn những ngân hàng đó sẽ nhận được mức lãi suất thực thấp hoặc có khi bị lỗ Chương 12: Bài tập 1/ 283:
Mô tả 3 cách mà các nhà hoạch định chính sách của chính phủ có thể nâng cao mức
sống trong xã hội. Những hạn chế của các chính sách này là gì?
Cách 1: Thúc đẩy tăng trưởng dân số. Nếu như có nhiều người hơn, khi đó có nhiều
nhà khoa học, nhà phát minh, kỹ sư với nhiều cống hiến tiến bộ hơn cho công nghệ.
Có thể nói tăng trưởng dân số là cỗ máy tiến bộ công nghệ và sự phồn thịnh kinh tế.
+ Hạn chế: Tăng trưởng dân số nhanh có thể là gánh nặng cho hệ thống giáo dục.
Ngoài ra có thể gây khó khăn cho việc cung cấp công cụ, kỹ năng cần thiết cho
người lao động để họ đạt năng suất cao hơn.
Cách 2: Đầu tư vào giáo dục (vốn nhân lực)
+ Hạn chế: Ở 1 số nước nghèo gặp phải vấn đề “chảy máu chất xám” đầu tư
nhiều tiền bạc vào lớp trẻ có tài, tài trợ học bổng, du học nhưng nhiều người
chọn phương án ở lại nước ngoài – nơi mà họ có thể tận hưởng mức sống cao
hơn, chứ không về nước làm việc và cống hiến, và tình trạng này làm giảm trữ
lượng vốn của các quốc gia nghèo nhiều hơn nữa
Cách 3: Nhận đầu tư từ nước ngoài
+ Hạn chế: Các doanh nghiệp non trẻ trong nước sẽ bị cạnh tranh cao hơn và dễ
bị phá sản nếu không có những chiến lược đúng đắn. Ngoài ra nếu các doanh
nghiệp nước ngoài chiếm phần lớn nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ của người
dân trong nước thì quốc gia đó có thể sẽ bị phụ thuộc vào hàng hóa, dịch vụ của các quốc gia khác.
Bài tập 2/ 285: Giả sử một xã hội quyết định giảm tiêu dùng và gia tăng đầu tư:
a) Sự thay đổi này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
Năng suất và thu nhập xã hội đó tăng lên nhưng bị chi phối bởi sinh lợi giảm dần do
yếu tố chi tiêu thay đổi. Bởi vì khi gia tăng đầu tư thì vốn tăng thêm => sản lượng
tăng thêm nhưng mức tăng của sản lượng sẽ giảm dần đi yếu tố tiêu dùng thay đổi.
b) Khi xã hội cắt giảm tiêu dùng, xã hội đó sẽ thu hẹp quy mô sản xuất hàng hóa
– dịch vụ để mở rộng quy mô đầu tư, sản xuất vốn. Trước tiên là nhóm người sản
xuất sẽ bị ảnh hưởng. Vì nguồn lực có giới hạn nên một bộ phận sản xuất bị cắt giảm
và chuyển sang lĩnh vực sản xuất vốn. Tiếp đó là nhóm người tiêu dùng bị ảnh hưởng
vì giờ đây số lượng hàng hóa và dịch vụ có hạn nên buộc họ phải giảm thiểu nhu cầu
của bản thân để thích nghi với sự thiếu hụt tạm thời đó.
Bài tập 3/ 285: Hầu hết các quốc gia đều nhập khẩu, tuy nhiên các quốc gia chỉ có
mức sống cao khi tự sản xuất nhiều hàng hóa?
Không hẳn chỉ tự sản xuất hàng hóa thì mới có mức sống cao, khi một quốc gia cố
gắng sản xuất tất cả hàng hóa thì sẽ có những hàng hóa mà quốc gia đó không có lợi
thế so sánh, đây là một sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên và sức lao động không
cần thiết vì nó có thể được tiết kiệm nếu như quốc gia này nhập khẩu từ một nước có
lợi thế so sánh tốt hơn. Vậy nên nhập khẩu không hẳn là một chuyện xấu. Bên cạnh
đó, một trong mười nguyên lý kinh tế học có đề cập đến quyền lợi của mọi người khi
hoạt động thương mại nên nhập khẩu vẫn góp phần tăng mức sống của một quốc gia.
Cuối cùng, để ổn định GDP, ta nên cân bằng cán cân xuất – nhập khẩu để cơ cấu được
ổn định với chỉ số xuất khẩu ròng cân bằng.