TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI: TÌNH HUỐNG 2, TÌNH HUỐNG 3
Nhóm: 03
Lớp HP: 232_SMGM0111_08
Chuyên ngành: Quản Trị Thương Hiệu
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt
HÀ NỘI – 2024
MỤC LỤC
PHẦN 1: TÌNH HUỐNG 2...................................................................................................3
1.1. Nhận dạng các thờivà thách thức từ môi trường vĩđối với các doanh nghiệp
logistics Việt Nam, trên sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tận dụng hiệu quả các yếu
tố thời cơ và thách thức này?............................................................................................3
1.1.1. Thời cơ từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam......3
1.1.2. Thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam.5
1.1.3. Giải pháp tận dụng những lợi thế của ngành Logistics cho doanh nghiệp Việt
Nam...............................................................................................................................7
1.1.4. Một số giải pháp giải quyết các thách thức từ môi trường đối với các
doanh nghiệp logistics Việt Nam..................................................................................8
1.2. Đánh giá tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam..............................................8
1.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường logistics Việt Nam.........................9
PHẦN 2: TÌNH HUỐNG 3.................................................................................................10
2.1. Phân tích đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam thông qua
mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter?............................................10
2.1.1. Phân tích cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam..........................10
2.1.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam...........................18
2.2. Đề xuất giải pháp và phân tích giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam....................18
2.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường bán lẻ Việt Nam...........................19
1
PHẦN 1: TÌNH HUỐNG 2
1.1. Nhận dạng các thời thách thức từ môi trường đối với các doanh
nghiệp logistics Việt Nam, trên sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tận dụng
hiệu quả các yếu tố thời cơ và thách thức này?
1.1.1. Thời cơ từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam
sở hạ tầng giao thông: Hạ tầng giao thông quốc gia đóng vai trò quan trọng
giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam.
- Hạ tầng giao thông đường bộ đang ngày càng được cải thiện. Đến năm 2022,
mạng lưới đường cao tốc đã đưa vào khai thác khoảng 23 đoạn tuyến (1239 km);
đang triển khai xây dựng khoảng 14 đoạn tuyến (840 km); nhiều dự án đã được đầu
tư, nâng cấp, hoàn thiện đưa vào khai thác góp phần tăng cường năng lực kết nối
mạng giao thông đường bộ.
- Đến tháng 6/2022, hệ thống cảng biển Việt Nam hiện 286 bến cảng, hơn 96
km tổng chiều dài cầu cảng, các cảng cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế tại phía
Bắc và phía Nam đã hình thành,..
- Tổng chiều dài đường thủy nội địa toàn quốc đang được khai thác 17.026
km, đã quy hoạch 45 tuyến vận tải thủy chính, toàn quốc 292 cảng thủy nội địa
(217 cảng hàng hóa, 12 cảng hành khách, 02 cảng tổng hợp và 63 cảng chuyên dùng.
- Mạng lưới đường sắt quốc gia tổng chiều dài 3.143 km 277 ga, trong
đó 2.703 km đường chính tuyến, 612 km đường ga đường nhánh, bao gồm 07
tuyến chính. Mật độ đường sắt đạt mức trung bình của khối ASEAN thế giới (9,5
km/1000 km2).
- Đến tháng 6/2022, cả nước 22 cảng hàng không đang khai thác với tổng
diện tích khoảng 11.859 ha, trong đó 9 càng hàng không quốc tế 13 cảng hàng
không quốc nội. Thị trường vận tải hàng hóa hàng không đã bước tăng trưởng
nhảy vọt với sản lượng đạt hơn 1,52 triệu tấn năm 2022 (tăng gần 83 lần so với năm
1991 và 21,2% so với năm 2019).
2
Tóm lại, hạ tầng giao thông cho logistics của Việt Nam trong thời gian qua đã
được chú trọng đầu đạt được những kết quả ấn tượng, từ đó góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh mở ra hội phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt
Nam.
Khoa học công nghệ: Tác động của công nghệ 4.0: Xu hướng robotics tự
động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR) thực tế tăng cường (AR), xu hướng IOT
(Internet vạn vật kết nối), giúp liên kết các khâu trong hoạt động logistics tự động
hóa toàn bộ bộ chuỗi cung ứng, lúc này con người chỉ đóng vai trò hỗ trợ điều
hành quá trình sản xuất, giúp giảm chi phí Logistics nâng cao khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Điều kiện tự nhiên: Các yếu tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến kết quả, hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Vị trí địa điều kiện đất
đai, tài nguyên,.. tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển vận tải đa phương
thức và trở thành nơi trung chuyển, trao đổi hàng hóa hàng đầu trong khu vực.
- Việt Nam nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương, diện tích vùng biển gần
1 triệu km2 với đường bờ biển dài 3.260 km. Ven biển nhiều cảng nước sâu lại
nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế tạo điều kiện cho tàu nước ngoài vận
chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, Việt Nam còn nằm trên trục đường bộ đường sắt
từ châu u sang Trung Quốc qua Campuchia, Lào, Thái Lan,.. đường bộ xuyên
châu Á, tuyến đường sắt xuyên Đông Dương,..
- Sông ngòi cũng phát triển đa dạ phong phú. Hai vùng châu thổ (đồng bằng
Bắc bộ Nam bộ) bằng phẳng rộng lớn được nối với nhau bởi dải đất Trung bộ tạo
điều kiện cho phát triển giao thông đường sắt và ô tô.
Hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam đã phát triển quan hệ kinh tế với nhiều tổ
chức quốc tế, công ty đa quốc gia; ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và
đa phương. Đến đầu năm 2022, Việt Nam đã tham gia đang đàm phán 17 FTA,
trong đó 15 FTA hiệu lực đang thực thi cam kết, 2 FTA đang đàm phán.
Điều này cho thấy Việt Nam đang ngày càng thúc đẩy thương mại tự do hội nhập
kinh tế, thương mại trên toàn thế giới, từ đó thu hút nhiều nhà đầu nước ngoài đến
3
tìm hiểu hội đầu kinh doanh, sản xuất hàng hóa dịch vụ, tăng nhu cầu vận
chuyển lưu kho nguyên liệu hàng hóa, thúc đẩy các doanh nghiệp Logistics Việt
Nam phát triển.
thể thấy, với những thời nêu trên, ngành logistics Việt Nam đang không
ngừng hoàn thiện và ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, thích nghi
với bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của các
ngành nghề khác, từ đó đóng góp mạnh mẽ vào nền kinh tế thương mại của đất
nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.1.2. Thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu sử dụng
dịch vụ Logistics của các doanh nghiệp. Năm 2022 GDP tăng 8,02% so với năm
trước do nền kinh tế hồi phục trở lại. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 3,36%, đóng góp 5,11%; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 7,78%, đóng
góp 38,24%; khu vực dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%. GDP tăng dẫn tới mức
sử dụng dịch vụ Logistics của các doanh nghiệp tăng ngược lại năm 2023 ảnh
hưởng bởi các tác động tiêu cực của suy thoái toàn cầu chiến tranh giữa các quốc
gia nền tăng trưởng của GDP chỉ đạt khoảng 5% ít hơn so với dự định( khoảng
6.5%). Trong năm 2023, 85.400 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh thời hạn,
57.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể.
Kim ngạch xuất/nhập khẩu của Việt Nam: Suy giảm do những biến động của
kinh tế thế giới trong nước đã phần nào làm giảm nhu cầu Logistics từ phía các
doanh nghiệp. Trong 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt
291,28 tỷ USD, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế
trong nước đạt 77,09 tỷ USD, giảm 4,1%; khu vực vốn đầu nước ngoài đạt
214,19 tỷ USD, giảm 8,1%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đặt 266,67 tỷ USD, giảm
12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 95,08 tỷ
USD, giảm 10,3%;khu vực vốn đầu nước ngoài đặt 171,59 tỷ USD, giảm
13,3%.
4
Những biến động chính trị trên thế giới : Khi các cuộc chiến tranh xảy ra, các
tuyến đường sẽ bị cấm vận, buộc các doanh nghiệp Logistics phải tìm các tuyến
đường thay thế, làm tăng chi phí. Năm 2023, thế giới đã xảy ra các cuộc chiến đe dọa
các tuyến đường thương mại của thế giới.
- Chiến tranh Nga Ukraine: Việc không phận Ukraine đóng cửa với các
chuyến bay dân sự và các hãng hàng không tránh bay không tránh bay qua không vận
Nga đã đẩy giá cước vận chuyển hàng không tăng đột biến dẫn tới giảm lượng cung
hàng hóa. Giá cước vận chuyển hàng không đã tăng 150% so với thời điểm trước đại
dịch, ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực và nền kinh tế trên toàn thế giới.
- Căng thẳng biển Đỏ: Trong một tháng hơn 100 vụ tấn công bằng tên lửa
máy bay không người lái đã được phong trào Houthi Yemen thực hiện vào các tàu
thuyền trên Biển Đỏ. Đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển khoảng 1.000 USD
giá trị hàng hóa toàn cầu. Mỹ đã phát động chiến dịch an ninh đa quốc gia tuần tra tại
vùng biển này. Hàng loạt hãng tải biển lớn đã tạm dừng lịch trình qua Biển Đỏ. Điều
này có thể khiến quãng đường dài thêm 6.000 hải lý và thời gian giao hàng kéo dài 3-
4 tuần, từ đó làm tăng đáng kể chi phí vận chuyển.
Có thể thấy yếu tố những biến động chính trị thế giới là yếu tố quan trọng có thể
ảnh hưởng tiêu cực tới ngành Logistics thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
sở hạ tầng giao thông : Tuy trong thời gian qua hạ tầng giao thông của Việt
Nam đã được đầu tư và đặt những kết quả ấn tượng nhưng vẫn tồn tại những hạn chế.
- Mạng lưới đường cao tốc nói chung còn thiếu, đặc biệt trên các trục đường vận
tải lưu lượng lớn như trục Bắc Nam, các tuyến Thủ đô Nội Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Hầu hết các tuyến đường sắt đều được xây dựng từ lâu nên tiêu chuẩn kỹ
thuật thấp, nhiều hạn chế về tải trọng, bình trắc nên tốc độ chạy tàu thấp, làm
giảm cạnh tranh so với các phương thức vận tải khác.
- Hệ thống cảng thủy nội địa chủ yếu phục vụ bốc xếp hàng rời, hàng chuyên
dùng với dây chuyền bốc xếp lạc hậu, năng suất thấp, trong khi đó các cảng thủy nội
5
địa tổng hợp, container mới được đầu hiện đại, tuy nhiên, hiệu quả khai thác chưa
cao. Hạn chế hiện nay của hệ thống cảng thủy đường bộ kết nối với các cảng
trọng tải thấp, không thuận lợi để trung chuyển hàng hóa bằng xe ô tô.
Yếu tố hạ tầng sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp tới ngành Logistics nên việc
đầu tư cải thiện hạ tầng giao thông sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
ngành logistics tại Việt Nam.
Trong thời gian vừa qua nền kinh tế Việt Nam cùng các khu vực trên thế giới đã
đối diện với nhiều khủng hoảng từ các yếu tố mô, ảnh hưởng không ít tới phần lớn
các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề trong đó các ngành vận tải, vận kho,....
Ngành Logistics Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu cũng như đánh giá ngành
triển vọng lớn trong tương lai nhưng cũng cần được quan tâm hỗ trợ nhiều hơn
mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của các doanh nghiệp.
1.1.3. Giải pháp tận dụng những lợi thế của ngành Logistics cho doanh nghiệp
Việt Nam
Hạ tầng giao thông của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được chú trọng
đầu phát triển, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh mở ra hội
phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam. Các doanh nghiệp logistics cần
đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện vận chuyển, nâng cấp hệ thống kho
vận để, cập nhật nhanh chóng các lộ trình mới để tận dụng tối đa mạng lưới giao
thông đang phát triển nhanh chóng.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các xu hướng robotics và tự
động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR) thực tế tăng cường (AR), xu hướng IOT
(Internet vạn vật kết nối). Các doanh nghiệp cần tăng cường chuyển đổi số, áp dụng
các công nghệ vào việc tối ưu các quy trình như vận chuyển, phân loại hàng hóa, xếp
dỡ hàng hóa phân loại hàng hóa tại các kho, tối ưu tính toán lộ trình vận chuyển.
Cùng với đó tận dụng sự phát triển công nghệ để hiện đại hóa các phương tiện vận
chuyển, sử dụng các loại nhiên liệu mới để tối ưu chi phí.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, trải dài theo chiều dọc từ Bắc đến Nam, có đầy
đủ các loại địa hình hơn hết vị trí địa thuận lợi nằm gần Trung Quốc công
6
xưởng của thế giới, nằm gần các tuyến hàng hải nhộn nhịp bậc nhất thế giới. Các
doanh nghiệp Việt thể sử dụng đa dạng các loại hình vận chuyển để tối ưu thời
gian và chi phí, các doanh nghiệp có thể tận dụng việc gần các tuyến giao thương lớn,
thời gian vận chuyển ngắn để mở rộng nhanh chóng quy mạng lưới logistics
gia tăng khối lượng hàng hóa.
Với độ mở của nền kinh tế lớn gấp 200% GDP, các doanh nghiệp Việt Nam
thể tận dụng để mở rộng tối đa mạng lưới đối tác, khách hàng tìm kiếm thị trường
mới, từ đó giúp rút ngắn thời gian vận chuyển và chi phí vận chuyển.
1.1.4. Một số giải pháp giải quyết các thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các
doanh nghiệp logistics Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Trong bối cảnh nền kinh tế tốc độ tăng
trưởng không như kỳ vọng ảnh hưởng tiêu cực tới ngành các doanh nghiệp cần tối ưu
các chi phí vận hành của công ty, thu gọn quy hoạt động nếu cần mở rộng ra
những thị trường khác tiềm năng hơn.
Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam: Trong tình hình cả kim ngạch xuất và
nhập khẩu hàng hóa đều suy giảm do những biến động của kinh tế thế giới trong
nước đã phần nào làm giảm nhu cầu Logistics, các doanh nghiệp cần tập trung vào
nhu cầu Logistics nội địa tìm kiếm thêm những khách hàng mới thị trường quốc
nội.
Những biến động chính trị trên thế giới: Các doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ
tình hình địa chính trị biến động nhanh chóng của thế giới khu vực, từ đó đưa ra
các phương án khắc phục nhanh chóng như thay đổi tuyến đường vận chuyển, gia
tăng cước phí vận chuyển, tận dụng các mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với
các nước, tổ chức sở tại,...
sở hạ tầng giao thông: Tuy sở hạ tầng giao thông của Việt Nam đang
được đầu phát triển tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như đường sắt quá hay số
km đường cao tốc còn ít, các doanh nghiệp Logistics cần phát triển các tuyến vận
chuyển dựa trên các loại hình giao thông đã sở hạ tầng khá như hàng không,
đường thủy và tối ưu hóa tuyến đường bằng cách kết hợp nhiều loại hình vận tải.
7
1.2. Đánh giá tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam
Thị trường logistics Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn, điều đó được thể hiện
rất rõ trên thực tế. Với sở hạ tầng giao thông đã được đầu xây dựng không
những hệ thống giao thông đường bộ còn các hệ thống giao thông khác đạt
được những kết quả ấn tượng, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh mở ra
cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Việt Nam trong bối cảnh khoa học công nghệ, cách mạng 4.0 cũng mang lại
nhiều tiềm năng lớn, Xu hướng robotics và tự động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR)...
đã góp phần giảm chi phí Logistics nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp logistics Việt Nam.
Không những thế, điều kiện tự nhiên cũng góp phần tạo đà phát triển. Hội nhập
quốc tế giúp mở rộng quan hệ thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế, thương
mại trên toàn thế giới.
thể thấy, ngành logistics Việt Nam đang không ngừng hoàn thiện ngày
càng phát triển với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đây là một ngành tiềm năng phát
triển lớn trong tương lai, đóng góp to lớn vào nền kinh tế thương mại của đất
nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, thị trường logistics Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, như: sở hạ
tầng logistics còn hạn chế, chi phí logistics cao, năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp logistics còn thấp. Để phát huy tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam,
cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các quan chức năng, các doanh nghiệp logistics
và các tổ chức quốc tế.
1.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường logistics Việt Nam
thể nói trong những năm gần đây, thị trường Logistic đang đóng một vai trò
quan trọng trọng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Thị trường này chịu sự ảnh
hưởng lớn bởi các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, kim thạch, hạ tầng giao
thông, công nghệ, yếu tố từ biến động về chính trị thế giới các ưu thế tự
nhiên.
8
Điều đó đã mang lại nhiều cơ hội tích cực cho thị trường Logistic Việt Nam, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh tạo ra những kết quả ấn tượng cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Nhiều thành tựu tích cực trong việc xây dựng hạ tầng giao thông,
các yếu tố khoa học công nghệ phát triển bàn đạp lớn để góp phần tạo ra sự tăng
trưởng trong ngành Logistic. Bên cạnh đó với vị trí địa lý thuận lợi bao quanh bởi các
hệ thống sông ngòi, cảng biển cũng đã ủng hộ cho sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp trong ngành. Hội nhập kinh tế, xây dựng mối quan hệ giúp doanh nghiệp
nhiều đối tác nước ngoài, mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại hạn chế trong hệ thống cảng đường sắt, đòi hỏi sự đầu
cải thiện để nâng cao khả năng cạnh tranh của logistics Việt Nam. Hay như các
cuộc chiến tranh chính trị thế giới đã khiến cho hệ thống phát triển, xuất khẩu
Logistic bị ảnh hưởng nặng nề.
Tóm lại ngành Logistic Việt Nam đang tiềm năng rất phát triển trong tương
lai. Do vậy các doanh nghiệp nên tận dụng tốt các hội đồng thời vượt qua những
thách thức hiện tại để có thể đưa lĩnh vực Logistic Việt Nam phát triển hơn.
PHẦN 2: TÌNH HUỐNG 3
2.1. Phân tích đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam
thông qua mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter?
2.1.1. Phân tích cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam
Theo hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter, Porter đã chỉ ra
các đối thủ cạnh tranh của DN không chỉ (1) các đơn vị kinh doanh cùng ngành
(sản phẩm) còn (2) nhà cung cấp, (3) khách hàng, (4) các đối thủ cạnh tranh
gián tiếp (bằng các sản phẩm thay thế) (5) các đối thủ tiềm tàng (có thể gia nhập
ngành).
Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh
nào cũng phải chịu tác động của của năm lực lượng cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh
hiện tại, đối thủ cạnh tranh tiềm năng, nhà cung cấp, khách hàng sản phẩm thay
thế.
9
Theo Porter, các DN cần phân tích chuỗi giá trị xem xét năng lực thực tế của
DN để xác định lợi thế cạnh tranh; từ đó lựa chọn một trong ba dạng chiến lược cạnh
tranh “chi phí thấp”, “khác biệt hóa” hoặc “tập trung hóa”. Chuỗi giá trị chuỗi
các hoạt động bao gồm logistics đầu vào, vận hành, logistics đầu ra, marketing và bán
hàng, dịch vụ. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự tại mỗi
hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị gia tăng nào đó. Đi liền với chuỗi giá trị
còn các yếu tố hỗ trợ các hoạt động bao gồm: sở hạ tầng, quản nguồn nhân
lực, phát triển công nghệ thu mua. Để tăng lợi nhuận, DN cần nỗ lực tạo ra sự
khác biệt, tăng giá trị của sản phẩm với chi phí không đổi hoặc giảm chi phí với giá
trị không đổi (tức sản phẩm tương tự đối thủ cạnh tranh) hoặc kết hợp cả hai. Ngoài
ra, DN có thể phát hiện ra “ngách” thị trường mà nhu cầu khách hàng chưa được thỏa
mãn tập trung đápng tốt nhu cầu đó thì sẽ thu được lợi nhuận một cách dễ dàng
hơn cạnh tranh trực tiếp bằng những sản phẩm giống hệt nhau với các đối thủ trên
thị trường.
a. Đe dọa gia nhập thị trường mới:
những doanh nghiệp/ nhân chưa hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh của
doanh nghiệp bạn, tuy nhiên sẽ gia nhập ngay khi hội. Các doanh nghiệp mới
này là mối đe dọa tiềm ẩn rất lớn cho tổ chức.
Các đối thủ tiềm năng mới thể gia nhập thị trường gây sức ép cạnh tranh
lên các doanh nghiệp hiện có. Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh
của các đối thủ tiềm năng mới đang mức cao. Thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn
nhiều địa phát triển, thu hút các nhà đầu nước ngoài trong nước gia nhập thị
trường.
Với thị trường hơn 90 triệu người tiêu dùng, trong đó, đa phần người trẻ
và sự đô thị hóa mạnh mẽ nên ngành bán lẻ Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát
triển. Theo Tổ chức tư vấn AT Kearney (2022) nhận định thị trường bán lẻ Việt Nam
với mức tăng trưởng nhanh, với chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) năm 2022
đứng thứ 9, đang trở thành một thị trường hấp dẫn để các nhà bán lẻ nước ngoài đầu
tư, tìm kiếm lợi nhuận. Không chỉ vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế, nhà bán lẻ
10
nước ngoài được phép sở hữu 100% vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Điều này đã mở đường cho sự gia nhập của các ông lớn như Aeon, Lotte Mart,
Central Group. Đồng thời, hiệp định FTA thế hệ mới cũng đóng vai trò quan trọng,
dẫn đến làn sóng mua bán và sáp nhập, như Massan mua lại mảng bán lẻ Vinmart của
Vingroup.
Có thể thấy, với các nhà bán lẻ ngoại, không chỉ lợi thế về tiềm lực tài chính,
nguồn huy động vốn lãi suất tốt nước ngoài, việc vay vốn, lãi suất thuận
lợi cũng tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn đối với các đối thủ trong nước.
Tuy vậy, sự phát triển mở rộng của các nhóm doanh nghiệp trong nước cũng
tạo ra nhiều hội cho các các chủ doanh nghiệp bằng việc các nhà bán lẻ nội địa
đang ngày một đông đảo về số lượng lớn mạnh dần về quy mô với sự hình thành
phát triển một số nhà phân phối lớn với các thương hiệu như Saigon Co-op (110
siêu thị, 4 đại siêu thị, 4 trung tâm thương mại), Massan (132 siêu thị Winmart
3000 cửa hàng Winmart'), Thế giới di động & Bách hoá xanh (2000 cửa hàng), BRG
(75 siêu thị).... Đây là những doanh nghiệp bán lẻ trong nước trình độ khá chuyên
nghiệp mạng lưới hệ thống phân phối khá rộng rãi đều khắp trên nhiều tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương trong cả nước.
Nguyên nhân một phần cũng do doanh nghiệp trong nước cũng những lợi
thế nhất định, như hiểu tâm người tiêu dùng Việt, am hiểu thị trường của mình
hơn, từ đó cung cách phục vụ, chọn lọc hàng hóa để phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.
Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã đề xuất chính sách khuyến khích người dân ưu tiên
sử dụng hàng hóa nội địa, nhằm giảm sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu. Điều
này được thể hiện qua khẩu hiệu "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".
Chính sách này nhấn mạnh sự đặc biệt của sản phẩm nội địa, với cam kết rằng hàng
hóa sản xuất trong nước ngày càng có chất lượng cao hơn và đa dạng chủng loại.
Không chỉ sự khích lệ sử dụng hàng Việt Nam, còn động viên cho
doanh nghiệp nội địa liên tục cải tiến sản phẩm, đưa ra thị trường những sản phẩm
mới, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và hiện đại của người dân.
11
Tuy vậy, gia nhập ngành bán lẻ Việt Nam đối mặt với những thách thức, bao
gồm cần số ợng cửa hàng lớn để lợi thế thương mại yêu cầu sở hữu nội địa
50%. Điều này tạo ra ưu thế cho doanh nghiệp tham gia trước, giành được vị trí kinh
doanh lợi hơn. Tuy nhiên, với biên lợi nhuận thấp, nhà bán lẻ cần hiểu thị trường
và người tiêu dùng để tránh rủi ro lỗ.
b. Đe dọa từ các dịch vụ và sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế những sản phẩm hoặc dịch vụ cùng chức năng hoặc
tương tự mang lại lợi ích cho một sản phẩm hoặc dịch vụ riêng của ngành, nhưng
bản chất khác. Đặc biệt, những sản phẩm thay thế thường có tính năng, công dụng
đa dạng, chất lượng tốt hơn giá cả lại cạnh tranh bởi lẽ sản phẩm thay thế kết
quả của những cải tiến về công nghệ. vậy sự xuất hiện của các sản phẩm thay
thế sẽ làm giảm số lượng sản phẩm tiêu thụ được, giá thành từ đó làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp, thậm chí nguy hiểm hơn thể xóa bỏ hoàn toàn các hàng hóa,
dịch vụ hiện tại. Sản phẩm thay thế có thể làm hạn chế mức độ tăng trưởng, làm giảm
lợi nhuận thu được của ngành
Đối với ngành bán lẻ, các nhà bán lẻ thực hiện chức năng bán lại hàng hóa
cung cấp dịch vụ kèm theo cho người tiêu dùng. Trong đó, sản phẩm chủ yếu của nhà
bán lẻ ngoài việc cung cấp các loại mặt hàng hàng hóa thì chính các dịch vụ được
họ cung cấp cho người tiêu dùng. Do đó, áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm
thay thế trong ngành bán lẻ chủ yếu là dịch vụ bán hàng và dịch vụ có liên quan nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng như dịch vụ bán hàng online,
cung cấp thông tin về sản phẩm qua mạng… Các yếu tố khác như sự thay đổi của môi
trường văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới áp lực cạnh tranh từ sản
phẩm thay thế.
Nhắc tới thị trường ngành bán lẻ Việt Nam, với sự gia tăng của hàng hóa nhập
khẩu từ nhiều quốc gia, đặc biệt các đại gia bán lẻ ớc ngoài đang mở rộng hoạt
động tại Việt Nam, lựa chọn của người dân ngày càng đa dạng. Thị phần tiêu thụ
hàng Việt thể giảm do sự đa dạng cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu, được
thúc đẩy bởi quá trình hội nhập m cửa thị trường. Việt Nam, thông qua các hiệp
12
định thương mại tự do, đã giảm thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa
nước ngoài, tăng cường sự cạnh tranh trong thị trường nội địa.
Tại các cửa hàng của doanh nghiệp bán lẻ, hàng hóa nguồn gốc sản xuất nội địa
vẫn chiếm đa số trong các cửa hàng. Điều này thể lý giải do các doanh nghiệp bán
lẻ trong nước có lợi thế là hiểu biết thói quen mua sắm tiêu dùng của người dân trong
nước. Chính phủ Việt Nam cũng luôn định hướng chính sách khuyến khích người
dân dùng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập khẩu với khẩu hiệu “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Hàng Việt Nam ngày càng chất lượng cao hơn, đa
dạng chủng loại không ngừng cải tiến sản phẩm, tăng sản phẩm mới ra thị trường,
phục vụ nhu cầu hiện đại của người dân. Hiện nay nhiều doanh nghiệp bán lẻ đã sử
dụng nhãn hàng riêng bán cho khách hàng
Tuy vậy, trong các cửa hàng của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam, hàng hóa
nguồn gốc sản xuất nội địa vẫn chiếm đa số, điều này thể giải thích bởi sự lợi thế
của doanh nghiệp địa phương trong việc hiểu thói quen mua sắm của người dân
trong ớc. Chính phủ Việt Nam cũng đặt ra chính sách khuyến khích việc sử dụng
hàng hóa nội địa thông qua khẩu hiệu "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam". Hàng hóa Việt Nam không chỉ chiếm thị phần lớn mà còn ngày càng nâng cao
chất lượng, đa dạng chủng loại, không ngừng cải tiến sản phẩm để đáp ng nhu
cầu hiện đại của người tiêu dùng. Điều này thể hiện qua việc nhiều doanh nghiệp bán
lẻ đã áp dụng nhãn hàng riêng, tăng tính nhận diện tạo sự tin tưởng từ phía khách
hàng.
c. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành:
Phân tích đối thủ cạnh tranh trong ngành hiện tại những nhân, tổ chức,
doanh nghiệp đang kinh doanh các mặt hàng, sản phẩm giống với doanh nghiệp của
bạn, cùng mức giá, cùng phân khúc khách hàng, chất lượng sánh ngang nhau.
Đây lực lượng quan trọng nhất tác động đến cường độ cạnh tranh trong một
ngành. Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh của các đối thủ cạnh
tranh hiện tại đang mức cao. rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ tham gia vào thị
13
trường, với quy nguồn lực khác nhau. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau
về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng,...
Theo số liệu Statista (2023), Thương mại điện tử xuyên biên giới Đông Nam Á
tăng từ 74 tỷ USD (2021) lên 120 tỷ USD (2022), với tốc độ tăng trưởng 37,7%/năm
(2017-2022), cao hơn mức trung bình toàn cầu (27,4%/năm). Dự kiến năm 2025,
doanh thu tại khu vực sẽ đạt 234 tỷ USD. Trong năm 2022, hơn 51 triệu người Việt
mua sắm trực tuyến, chi tiêu đạt 12,42 tỷ USD. Việt Nam đứng đầu với 104 đơn
hàng/năm, chiếm 15% thị trường mua sắm trực tuyến Đông Nam Á, dự kiến sẽ thị
trường thứ 2 lớn nhất trước năm 2025.
Cũng theo Statista (2023), Việt Nam dự kiến thị trường thương mại điện t
lớn thứ 2 tại Đông Nam Á trước năm 2025, chỉ sau Indonesia. Mức quy mô mua hàng
trung bình (ABS) tại Việt Nam 26 USD, vượt cao hơn Thái Lan (25 USD)
Indonesia (18 USD). Hiện 66 triệu người dùng Internet (67% dân số), 64 triệu
người dùng mạng hội (65% dân số), 149 triệu thuê bao di động, với 74% sử
dụng điện thoại thông minh, theo Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam
(2022).
Từ các số liệu trên cũng cho thấy một xu hướng của người trẻ Việt Nam đang
chuyển mình sang việc mua sắm hiện đại trực tuyến thay các hành vi tiêu dùng
theo truyền thống như trước đây, từ đó cũng khiến cho thị trường ngành bán lẻ của
Việt Nam đang dần được mở rộng thương mại điện tử hiện nay đang dẫn đầu các
xu thế tiêu dùng của các tệp khách hàng, đặc biệt người trẻ, mở ra hội lớn cho
các nhà đầu đến từ các quốc gia châu Á khác với tiềm lực mạnh về tài chính. Hai
năm trở lại đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ của các kênh bán lẻ online của Shopee, Tiki, Lazada, Sendo. Các kênh bán hàng
trực tuyến vốn tiện lợi hơn và phù hợp với giới trẻ.
Nghiên cứu, lắng nghe, thấu hiểu và "bắt đúng mạch" người dùng là những bước
đi cần thiết để các doanh nghiệp TMĐT phát triển những chiến lược thích hợp phục
vụ khách hàng giành vị trí nổi bật trên thị trường. Chính bởi thế, bán hàng trực
14
tuyến sẽ rủi ro lớn nhất với các công ty bán l hiện đại kiểu thương mại truyền
thống thời điểm hiện tại.
Mặt khác, cạnh tranh ở các khu vực thành thị trở nên mạnh mẽ giữa các siêu thị,
chuỗi bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử trong khi ở khu vực nông thôn chủ yếu
sự cạnh tranh giữa các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống và chuỗi cửa hàng hiện đại.
Có thể nói, “chiếc bánh” thị trường bán lẻ hiện đang được phân ra làm hai phần:
Các kênh bán lẻ truyền thống như chợ hay cửa hàng tạp hóa các kênh bán lẻ hiện
đại như siêu thị hay trung tâm thương mại
Theo Bangkok Post, mới đây, Tập đoàn bán lẻ lớn nhất Thái Lan, Tập đoàn
Central Retail Corporation (CRC) đã công bố khoản đầu trị giá 50 tỷ Baht (1,45 tỷ
USD) vào Việt Nam giai đoạn 2023 - 2027.
Bên cạnh Central Retail, Aeon (tập đoàn bán lẻ Nhật Bản) cũng dự định đẩy
mạnh mở rộng tại Việt Nam, tăng gấp 3 lần số lượng trung tâm thương mại vào năm
2025 nhằm tìm kiếm lợi thế trong lĩnh vực thực phẩm.
Đối với doanh nghiệp bán lẻ trong nước, một số đội ngũ doanh nghiệp bán lẻ nội
địa đang trải qua những đổi mới ch cực, không chỉ về số lượng còn về quy mô.
Các tổ chức này đang phát triển mạnh mẽ và thu hút sự chú ý, hình thành nên các nhà
phân phối lớn với những thương hiệu nổi tiếng. Đáng chú ý trong số này Saigon
Co-op, với mạng lưới bao gồm 110 siêu thị, 4 đại siêu thị4 trung tâm thương mại,
cùng Massan với 132 siêu thị Winmart và 3000 cửa hàng Winmart.
Cũng đáng kể Thế giới di động & Bách hoá xanh với hơn 2000 cửa hàng
BRG với 75 siêu thị. Những doanh nghiệp này không chỉ thể hiện sự chuyên nghiệp
còn xây dựng mạng lưới phân phối mở rộ, lan tỏa trên nhiều tỉnh thành trên toàn
quốc. Điều này cho thấy sự đa dạng sức mạnh của thị trường bán lẻ nội địa, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành này.
thể thấy sự cạnh tranh đang ngày càng trở nên đa dạng không chỉ về mặt
hàng sản phẩm hay sự chuyển mình của các doanh nghiệp do sự thay đổi hành vi mua
15
của người tiêu dùng còn sự cạnh tranh từ phân khúc truyền thống tới hiện đại
cho đến các doanh nghiệp nội và ngoại
d. Quyền lực của người mua:
Khách hàng đây được hiểu người tiêu dùng cuối, nhà phân phối hoặc đại
nhỏ. Mỗi doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì trước tiên phải lấy
được sự yêu thích của khách hàng.
Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh của các khách hàng đang
mức cao. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin và lựa chọn hơn, khiến các doanh
nghiệp bán lẻ phải cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng. thế, doanh nghiệp
luôn phải đối mặt với áp lực tối ưu sản phẩm và giá cả để thu hút được khách hàng.
Doanh thu của doanh nghiệp bán lẻ luôn đặt mức độ chặt chẽ với nhóm đối
tượng khách hàng, việc coi khách hàng như kim chỉ nam quan trọng nhất trong
kinh doanh điều không thể phủ nhận. Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, khách hàng
không chỉ là đối tượng được phục vụ còn nguồn áp lực đặc biệt, chi phí
chuyển đổi để thay đổi thói quen mua sắm hoặc chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ bán
lẻ rất thấp. vậy, các yếu tố như giá bán chăm sóc khách hàng trở thành quan
trọng nhất để duy trì và phát triển doanh nghiệp bán lẻ. Đối với cửa hàng bán lẻ, việc
thu hút giữ chân khách hàng càng nhiều, thì hoạt động kinh doanh càng trở nên
hiệu quả. Trong bối cảnh này, tăng thu nhập của người dân Việt Nam việc nâng
cao đời sống, người tiêu dùng đặt sự quan tâm lớn vào an toàn thực phẩm xuất xứ
của hàng hoá, tạo ra một yếu tố quan trọng trong quyết định mua sắm của họ.
Trong bối cảnh hình kinh doanh mới, người tiêu dùng không chỉ những
đối tượng mua sắm, họ đã nổi lên như người chủ thực sự. Quy trình mua hàng
không chỉ giới hạn trong một kênh duy nhất, ngược lại, người tiêu dùng hiện đại
thường xuyên tự do lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau, quản lý trải nghiệm mua sắm
của họ thậm chí tham gia vào việc quảng cáo bán lại sản phẩm. Sự tin tưởng
truyền thống vào một nhà bán lẻ duy nhất đã chuyển hóa thành việc người tiêu dùng
linh hoạt chuyển đổi giữa các nguồn thông tin so sánh giá công khai để đảm bảo
họ nhận được giá trị tốt nhất. Trong ngữ cảnh này, các nền tảng trực tuyến đã trở
16
thành đối tác không thể thiếu của các nhà bán lẻ, đặt ra thách thức và cơ hội cần được
khai thác để tạo ra nhiều giá trị và đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng.
Bởi vậy, vai trò của người tiêu dùng đã thay đổi, họ trở thành nhân vật chính
xuyên suốt quá trình mua hàng, tất cả điểm chạm. Chính thế, hành trình trải
nghiệm dịch vụ cần được thiết kế lại. Các nhà bán lẻ cần nhanh chóng chuyển việc
tiếp thị tại cửa hàng sang các nền tảng số. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng có cơ hội
tận dụng hệ sinh thái số mở để giảm bớt gánh nặng, mở ra nhiều hội, cung cấp
nhiều lựa chọn hơn và tạo ra các kỳ vọng dịch vụ mới trên thị trường.
e. Sức mạnh của các nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp là những người cung cấp cho tổ chức những gì tổ chức cần để
sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ. Các yếu tố làm tăng sức mạnh của nhà cung cấp t
ngược lại với những yếu tố làm tăng sức mạnh của người mua. Do đó, sức mạnh của
nhà cung cấp có thể sẽ cao khi có:
- Tập trung nhà cung cấp: Khi chỉ một vài nhà sản xuất thống trị nguồn cung,
các nhà cung cấp có nhiều hơn quyền lực đối với người mua.
- Chi phí chuyển đổi cao: Nếu việc chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung
cấp khác tốn kém hoặc gián đoạn, sau đó người mua trở nên tương đối phụ thuộc
và yếu đi tương ứng.
thị trường bán lẻ tại Việt Nam, chi phí chuyển đổi để thay đổi thói quen hay
chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ rất thấp. Bởi vậy, khách hàng đối tượng
tạo ra nhiều sức ép. Do đó, các yếu tố như giá bán chăm sóc khách hàng một
trong những yếu tố quan trọng nhất để một doanh nghiệp bán lẻ đứng vững. Cửa hàng
bán lẻ càng có nhiều khách hàng thì các nhà bán lẻ mới càng hoạt động tốt.
- Nguy cạnh tranh của nhà cung cấp: Các nhà cung cấp đã tăng quyền lực
những nơi họ có thể tham gia ngành hoặc loại bỏ những người mua đóng vai trò trung
gian.
- Sản phẩm khác biệt: Khi các sản phẩm hoặc dịch vụ được phân biệt cao, các
nhà cung cấp sẽ mạnh mẽ hơn.
17
2.1.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam
Qua những phân tích về các yếu tố cạnh tranh tác động lên thị trường bán lẻ Việt
Nam, có thể thấy mức độ cạnh tranh đối với thị trường bán lẻ ở Việt Nam nằm ở mức
cao.
Mặc vẫn còn nhiều địa để phát triển thu hút các nhà đầu nước ngoài
như Central Retail hay Aeon, tuy nhiên trên thực tế những doanh nghiệp đi trước
trong mảng này như Massan hay Saigon Co-op đã và đang cho thấy sự bành trướng
lớn trong thị trường bán lẻ. Với việc là những doanh nghiệp đi trước, kết hợp với việc
những doanh nghiệp Việt Nam, hiểu tâm tiêu dùng của người Việt, được
sự ủng hộ từ Chính phủ, một cái tên mới sẽ khó đánh bật được những ông lớn này.
Không những thế, các doanh nghiệp mới muốn chen chân vào thị trường Việt
Nam cũng phải được tiềm lực tài chính tốt, khi những doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam thường hệ thống chi nhánh rất lớn, phủ rộng, để theo được trong cuộc đua
này sẽ áp lực không nhỏ t chi phí vận hành của những doanh nghiệp mới, đồng
thời những doanh nghiệp đi trước trong mảng này cũng sẽ được lợi thế về địa
khi họ đã có được những địa điểm tốt để đặt chi nhánh.
Tuy nhiên thị trường thương mại điện tử lại đang bước nhảy vọt về tốc độ
tăng trưởng. Thay bị chi phối nhiều từ yếu tố địa như hình thức bán lẻ truyền
thống, khách hàng mua sắm trực tuyến đa dạng sự lựa chọn hơn không bị ảnh
hưởng bởi quyết định từ địa điểm gần nhà hay gần công ty,... chỉ cần internet các
quyết định mua hàng sẽ hoàn toàn linh hoạt. Vậy nên mức độ cạnh tranh đối với
mảng bán lẻ trên môi trường trực tuyến sẽ dễ thở hơn so với các hình thức thuần túy.
2.2. Đề xuất giải pháp và phân tích giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam
Đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩmdịch vụ: Đây giải pháp bản
quan trọng nhất. Nếu không chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt, doanh nghiệp
bán lẻ sẽ khó thể giữ chân được khách hàng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của khách hàng, các doanh nghiệp bán lẻ cần đổi mới, nâng cao chất lượng sản
phẩm và dịch vụ. Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và
dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
18
Đẩy mạnh đầu vào công nghệ: Công nghệ yếu tố quan trọng giúp các
doanh nghiệp bán lẻ nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của khách hàng. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào các công nghệ hiện đại như thương
mại điện tử, trí tuệ nhân tạo,... điều này giúp doanh nghiệp bán lẻ dễ dàng tiếp cận
khách hàng, mở rộng thị trường, đồng thời giúp cho khách hàng cho trải nghiệm tốt
nhất.
Tăng cường khả năng quản trị: Các doanh nghiệp bán lẻ cần nâng cao khả năng
quản trị, bao gồm quản trị doanh nghiệp, quản trị marketing, quản trị nhân sự,... Các
doanh nghiệp cần xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, khả năng đáp ứng
yêu cầu của thị trường. Giải pháp này giúp cho doanh nghiệp bán lẻ nâng cao hiệu
quả hoạt động, giảm thiểu chi phí và tăng khả năng cạnh tranh.
Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng: quan quản nhà nước cần tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp bán lẻ, cả trong nước nước
ngoài. Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường bán lẻ.
Hỗ trợ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước: quan quản nhà nước cần hỗ
trợ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều
này bao gồm các chính sách về thuế, tài chính, tín dụng,...
Để thực hiện các giải pháp này hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các
doanh nghiệp bán lẻ, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác.
2.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường bán lẻ Việt Nam
Về thị trường bán lẻ Việt Nam cho thấy sự phát triển nhanh chóng tiềm năng
lớn. Sự hội nhập quốc tế đã mở cửa cho các nhãn hiệu bán lẻ nước ngoài, như Aeon,
Lotte MartCentral Group, gia nhập thị trường. Cạnh tranh trong ngànhkhá cao,
đặc biệt các khu vực thành thị nông thôn. Doanh nghiệp bán lẻ trong nước
như Saigon Co-op, Massan và Thế giới di động & Bách hoá xanh đang ngày càng mở
rộng và cạnh tranh chuyên nghiệp.
Mặc nguồn gốc sản phẩm nội địa vẫn chiếm đa số, nhưng thị trường đang
chứng kiến sự gia nhập mạnh mẽ của hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia khác, đặc
biệt qua thương mại điện tử. Với tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử nhanh chóng,
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI: TÌNH HUỐNG 2, TÌNH HUỐNG 3 Nhóm: 03
Lớp HP: 232_SMGM0111_08
Chuyên ngành: Quản Trị Thương Hiệu
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt HÀ NỘI – 2024 MỤC LỤC
PHẦN 1: TÌNH HUỐNG 2...................................................................................................3
1.1. Nhận dạng các thời cơ và thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp
logistics Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tận dụng hiệu quả các yếu
tố thời cơ và thách thức này?............................................................................................3
1.1.1. Thời cơ từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam......3
1.1.2. Thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam. 5
1.1.3. Giải pháp tận dụng những lợi thế của ngành Logistics cho doanh nghiệp Việt
Nam...............................................................................................................................7
1.1.4. Một số giải pháp giải quyết các thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các
doanh nghiệp logistics Việt Nam..................................................................................8
1.2. Đánh giá tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam..............................................8
1.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường logistics Việt Nam.........................9
PHẦN 2: TÌNH HUỐNG 3.................................................................................................10
2.1. Phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam thông qua
mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter?............................................10
2.1.1. Phân tích cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam..........................10
2.1.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam...........................18
2.2. Đề xuất giải pháp và phân tích giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam....................18
2.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường bán lẻ Việt Nam...........................19 1 PHẦN 1: TÌNH HUỐNG 2
1.1. Nhận dạng các thời cơ và thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh
nghiệp logistics Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tận dụng
hiệu quả các yếu tố thời cơ và thách thức này?
1.1.1. Thời cơ từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Cơ sở hạ tầng giao thông: Hạ tầng giao thông quốc gia đóng vai trò quan trọng
giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam.
- Hạ tầng giao thông đường bộ đang ngày càng được cải thiện. Đến năm 2022,
mạng lưới đường cao tốc đã đưa vào khai thác khoảng 23 đoạn tuyến (1239 km);
đang triển khai xây dựng khoảng 14 đoạn tuyến (840 km); nhiều dự án đã được đầu
tư, nâng cấp, hoàn thiện và đưa vào khai thác góp phần tăng cường năng lực kết nối
mạng giao thông đường bộ.
- Đến tháng 6/2022, hệ thống cảng biển Việt Nam hiện có 286 bến cảng, hơn 96
km tổng chiều dài cầu cảng, các cảng cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế tại phía
Bắc và phía Nam đã hình thành,..
- Tổng chiều dài đường thủy nội địa toàn quốc đang được khai thác là 17.026
km, đã quy hoạch 45 tuyến vận tải thủy chính, toàn quốc có 292 cảng thủy nội địa
(217 cảng hàng hóa, 12 cảng hành khách, 02 cảng tổng hợp và 63 cảng chuyên dùng.
- Mạng lưới đường sắt quốc gia có tổng chiều dài 3.143 km và có 277 ga, trong
đó 2.703 km đường chính tuyến, 612 km đường ga và đường nhánh, bao gồm 07
tuyến chính. Mật độ đường sắt đạt mức trung bình của khối ASEAN và thế giới (9,5 km/1000 km2).
- Đến tháng 6/2022, cả nước có 22 cảng hàng không đang khai thác với tổng
diện tích khoảng 11.859 ha, trong đó có 9 càng hàng không quốc tế và 13 cảng hàng
không quốc nội. Thị trường vận tải hàng hóa hàng không đã có bước tăng trưởng
nhảy vọt với sản lượng đạt hơn 1,52 triệu tấn năm 2022 (tăng gần 83 lần so với năm
1991 và 21,2% so với năm 2019). 2
Tóm lại, hạ tầng giao thông cho logistics của Việt Nam trong thời gian qua đã
được chú trọng đầu tư và đạt được những kết quả ấn tượng, từ đó góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh và mở ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Khoa học công nghệ: Tác động của công nghệ 4.0: Xu hướng robotics và tự
động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR), xu hướng IOT
(Internet vạn vật kết nối), giúp liên kết các khâu trong hoạt động logistics và tự động
hóa toàn bộ bộ chuỗi cung ứng, lúc này con người chỉ đóng vai trò hỗ trợ và điều
hành quá trình sản xuất, giúp giảm chi phí Logistics và nâng cao khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Điều kiện tự nhiên: Các yếu tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến kết quả, hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Vị trí địa lý và điều kiện đất
đai, tài nguyên,.. tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển vận tải đa phương
thức và trở thành nơi trung chuyển, trao đổi hàng hóa hàng đầu trong khu vực.
- Việt Nam nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương, diện tích vùng biển gần
1 triệu km2 với đường bờ biển dài 3.260 km. Ven biển có nhiều cảng nước sâu lại
nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế tạo điều kiện cho tàu bè nước ngoài vận
chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, Việt Nam còn nằm trên trục đường bộ và đường sắt
từ châu u sang Trung Quốc qua Campuchia, Lào, Thái Lan,.. và đường bộ xuyên
châu Á, tuyến đường sắt xuyên Đông Dương,..
- Sông ngòi cũng phát triển đa dạ và phong phú. Hai vùng châu thổ (đồng bằng
Bắc bộ và Nam bộ) bằng phẳng rộng lớn được nối với nhau bởi dải đất Trung bộ tạo
điều kiện cho phát triển giao thông đường sắt và ô tô.
Hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam đã phát triển quan hệ kinh tế với nhiều tổ
chức quốc tế, công ty đa quốc gia; ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và
đa phương. Đến đầu năm 2022, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA,
trong đó có 15 FTA có hiệu lực và đang thực thi cam kết, 2 FTA đang đàm phán.
Điều này cho thấy Việt Nam đang ngày càng thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập
kinh tế, thương mại trên toàn thế giới, từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến 3
tìm hiểu cơ hội đầu tư kinh doanh, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, tăng nhu cầu vận
chuyển và lưu kho nguyên liệu hàng hóa, thúc đẩy các doanh nghiệp Logistics Việt Nam phát triển.
Có thể thấy, với những thời cơ nêu trên, ngành logistics Việt Nam đang không
ngừng hoàn thiện và ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, thích nghi
với bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của các
ngành nghề khác, từ đó đóng góp mạnh mẽ vào nền kinh tế và thương mại của đất
nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.1.2. Thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu sử dụng
dịch vụ Logistics của các doanh nghiệp. Năm 2022 GDP tăng 8,02% so với năm
trước do nền kinh tế hồi phục trở lại. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 3,36%, đóng góp 5,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng
góp 38,24%; khu vực dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%. GDP tăng dẫn tới mức
sử dụng dịch vụ Logistics của các doanh nghiệp tăng và ngược lại năm 2023 ảnh
hưởng bởi các tác động tiêu cực của suy thoái toàn cầu và chiến tranh giữa các quốc
gia nền tăng trưởng của GDP chỉ đạt khoảng 5% ít hơn so với dự định( khoảng
6.5%). Trong năm 2023, 85.400 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn,
57.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể.
Kim ngạch xuất/nhập khẩu của Việt Nam: Suy giảm do những biến động của
kinh tế thế giới và trong nước đã phần nào làm giảm nhu cầu Logistics từ phía các
doanh nghiệp. Trong 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt
291,28 tỷ USD, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế
trong nước đạt 77,09 tỷ USD, giảm 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt
214,19 tỷ USD, giảm 8,1%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đặt 266,67 tỷ USD, giảm
12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 95,08 tỷ
USD, giảm 10,3%;khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đặt 171,59 tỷ USD, giảm 13,3%. 4
Những biến động chính trị trên thế giới : Khi các cuộc chiến tranh xảy ra, các
tuyến đường sẽ bị cấm vận, buộc các doanh nghiệp Logistics phải tìm các tuyến
đường thay thế, làm tăng chi phí. Năm 2023, thế giới đã xảy ra các cuộc chiến đe dọa
các tuyến đường thương mại của thế giới.
- Chiến tranh Nga và Ukraine: Việc không phận Ukraine đóng cửa với các
chuyến bay dân sự và các hãng hàng không tránh bay không tránh bay qua không vận
Nga đã đẩy giá cước vận chuyển hàng không tăng đột biến dẫn tới giảm lượng cung
hàng hóa. Giá cước vận chuyển hàng không đã tăng 150% so với thời điểm trước đại
dịch, ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực và nền kinh tế trên toàn thế giới.
- Căng thẳng ở biển Đỏ: Trong một tháng hơn 100 vụ tấn công bằng tên lửa và
máy bay không người lái đã được phong trào Houthi ở Yemen thực hiện vào các tàu
thuyền trên Biển Đỏ. Đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển khoảng 1.000 USD
giá trị hàng hóa toàn cầu. Mỹ đã phát động chiến dịch an ninh đa quốc gia tuần tra tại
vùng biển này. Hàng loạt hãng tải biển lớn đã tạm dừng lịch trình qua Biển Đỏ. Điều
này có thể khiến quãng đường dài thêm 6.000 hải lý và thời gian giao hàng kéo dài 3-
4 tuần, từ đó làm tăng đáng kể chi phí vận chuyển.
Có thể thấy yếu tố những biến động chính trị thế giới là yếu tố quan trọng có thể
ảnh hưởng tiêu cực tới ngành Logistics thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Cơ sở hạ tầng giao thông : Tuy trong thời gian qua hạ tầng giao thông của Việt
Nam đã được đầu tư và đặt những kết quả ấn tượng nhưng vẫn tồn tại những hạn chế.
- Mạng lưới đường cao tốc nói chung còn thiếu, đặc biệt trên các trục đường vận
tải có lưu lượng lớn như trục Bắc Nam, các tuyến Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hầu hết các tuyến đường sắt đều được xây dựng từ lâu nên có tiêu chuẩn kỹ
thuật thấp, có nhiều hạn chế về tải trọng, bình trắc nên tốc độ chạy tàu thấp, làm
giảm cạnh tranh so với các phương thức vận tải khác.
- Hệ thống cảng thủy nội địa chủ yếu phục vụ bốc xếp hàng rời, hàng chuyên
dùng với dây chuyền bốc xếp lạc hậu, năng suất thấp, trong khi đó các cảng thủy nội 5
địa tổng hợp, container mới được đầu tư hiện đại, tuy nhiên, hiệu quả khai thác chưa
cao. Hạn chế hiện nay của hệ thống cảng thủy là đường bộ kết nối với các cảng có
trọng tải thấp, không thuận lợi để trung chuyển hàng hóa bằng xe ô tô.
Yếu tố hạ tầng cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp tới ngành Logistics nên việc
đầu tư và cải thiện hạ tầng giao thông sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
ngành logistics tại Việt Nam.
Trong thời gian vừa qua nền kinh tế Việt Nam cùng các khu vực trên thế giới đã
đối diện với nhiều khủng hoảng từ các yếu tố vĩ mô, ảnh hưởng không ít tới phần lớn
các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề trong đó có các ngành vận tải, vận kho,....
Ngành Logistics Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu cũng như đánh giá là ngành
có triển vọng lớn trong tương lai nhưng cũng cần được quan tâm và hỗ trợ nhiều hơn
mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của các doanh nghiệp.
1.1.3. Giải pháp tận dụng những lợi thế của ngành Logistics cho doanh nghiệp Việt Nam
Hạ tầng giao thông của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được chú trọng
đầu tư và phát triển, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra cơ hội
phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam. Các doanh nghiệp logistics cần
đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện vận chuyển, nâng cấp hệ thống kho
vận để, cập nhật nhanh chóng các lộ trình mới để tận dụng tối đa mạng lưới giao
thông đang phát triển nhanh chóng.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các xu hướng robotics và tự
động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR), xu hướng IOT
(Internet vạn vật kết nối). Các doanh nghiệp cần tăng cường chuyển đổi số, áp dụng
các công nghệ vào việc tối ưu các quy trình như vận chuyển, phân loại hàng hóa, xếp
dỡ hàng hóa và phân loại hàng hóa tại các kho, tối ưu tính toán lộ trình vận chuyển.
Cùng với đó là tận dụng sự phát triển công nghệ để hiện đại hóa các phương tiện vận
chuyển, sử dụng các loại nhiên liệu mới để tối ưu chi phí.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, trải dài theo chiều dọc từ Bắc đến Nam, có đầy
đủ các loại địa hình và hơn hết là vị trí địa lý thuận lợi nằm gần Trung Quốc công 6
xưởng của thế giới, nằm gần các tuyến hàng hải nhộn nhịp bậc nhất thế giới. Các
doanh nghiệp Việt có thể sử dụng đa dạng các loại hình vận chuyển để tối ưu thời
gian và chi phí, các doanh nghiệp có thể tận dụng việc gần các tuyến giao thương lớn,
thời gian vận chuyển ngắn để mở rộng nhanh chóng quy mô mạng lưới logistics và
gia tăng khối lượng hàng hóa.
Với độ mở của nền kinh tế lớn gấp 200% GDP, các doanh nghiệp Việt Nam có
thể tận dụng để mở rộng tối đa mạng lưới đối tác, khách hàng và tìm kiếm thị trường
mới, từ đó giúp rút ngắn thời gian vận chuyển và chi phí vận chuyển.
1.1.4. Một số giải pháp giải quyết các thách thức từ môi trường vĩ mô đối với các
doanh nghiệp logistics Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Trong bối cảnh nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng không như kỳ vọng ảnh hưởng tiêu cực tới ngành các doanh nghiệp cần tối ưu
các chi phí vận hành của công ty, thu gọn quy mô hoạt động nếu cần và mở rộng ra
những thị trường khác tiềm năng hơn.
Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam: Trong tình hình cả kim ngạch xuất và
nhập khẩu hàng hóa đều suy giảm do những biến động của kinh tế thế giới và trong
nước đã phần nào làm giảm nhu cầu Logistics, các doanh nghiệp cần tập trung vào
nhu cầu Logistics nội địa và tìm kiếm thêm những khách hàng mới ở thị trường quốc nội.
Những biến động chính trị trên thế giới: Các doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ
tình hình địa chính trị biến động nhanh chóng của thế giới và khu vực, từ đó đưa ra
các phương án khắc phục nhanh chóng như thay đổi tuyến đường vận chuyển, gia
tăng cước phí vận chuyển, tận dụng các mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với
các nước, tổ chức sở tại,...
Cơ sở hạ tầng giao thông: Tuy cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam đang
được đầu tư phát triển tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như đường sắt quá cũ hay số
km đường cao tốc còn ít, các doanh nghiệp Logistics cần phát triển các tuyến vận
chuyển dựa trên các loại hình giao thông đã có cơ sở hạ tầng khá như hàng không,
đường thủy và tối ưu hóa tuyến đường bằng cách kết hợp nhiều loại hình vận tải. 7
1.2. Đánh giá tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam
Thị trường logistics Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn, điều đó được thể hiện
rất rõ trên thực tế. Với cơ sở hạ tầng giao thông đã được đầu tư và xây dựng không
những là hệ thống giao thông đường bộ mà còn các hệ thống giao thông khác và đạt
được những kết quả ấn tượng, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra
cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Việt Nam trong bối cảnh khoa học công nghệ, cách mạng 4.0 cũng mang lại
nhiều tiềm năng lớn, Xu hướng robotics và tự động hóa, Công nghệ thực tế ảo (VR)...
đã góp phần giảm chi phí Logistics và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Không những thế, điều kiện tự nhiên cũng góp phần tạo đà phát triển. Hội nhập
quốc tế giúp mở rộng quan hệ thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế, thương
mại trên toàn thế giới.
Có thể thấy, ngành logistics Việt Nam đang không ngừng hoàn thiện và ngày
càng phát triển với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đây là một ngành có tiềm năng phát
triển lớn trong tương lai, đóng góp to lớn vào nền kinh tế và thương mại của đất
nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, thị trường logistics Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, như: cơ sở hạ
tầng logistics còn hạn chế, chi phí logistics cao, năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp logistics còn thấp. Để phát huy tiềm năng của thị trường logistics Việt Nam,
cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp logistics
và các tổ chức quốc tế.
1.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường logistics Việt Nam
Có thể nói trong những năm gần đây, thị trường Logistic đang đóng một vai trò
quan trọng trọng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Thị trường này chịu sự ảnh
hưởng lớn bởi các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, kim thạch, hạ tầng giao
thông, công nghệ, và cá yếu tố từ biến động về chính trị thế giới và các ưu thế tự nhiên. 8
Điều đó đã mang lại nhiều cơ hội tích cực cho thị trường Logistic Việt Nam, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra những kết quả ấn tượng cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Nhiều thành tựu tích cực trong việc xây dựng hạ tầng giao thông,
các yếu tố khoa học công nghệ phát triển là bàn đạp lớn để góp phần tạo ra sự tăng
trưởng trong ngành Logistic. Bên cạnh đó với vị trí địa lý thuận lợi bao quanh bởi các
hệ thống sông ngòi, cảng biển cũng đã ủng hộ cho sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp trong ngành. Hội nhập kinh tế, xây dựng mối quan hệ giúp doanh nghiệp có
nhiều đối tác nước ngoài, mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại hạn chế trong hệ thống cảng và đường sắt, đòi hỏi sự đầu
tư và cải thiện để nâng cao khả năng cạnh tranh của logistics Việt Nam. Hay như các
cuộc chiến tranh chính trị thế giới đã khiến cho hệ thống phát triển, xuất khẩu
Logistic bị ảnh hưởng nặng nề.
Tóm lại ngành Logistic Việt Nam đang có tiềm năng rất phát triển trong tương
lai. Do vậy các doanh nghiệp nên tận dụng tốt các cơ hội đồng thời vượt qua những
thách thức hiện tại để có thể đưa lĩnh vực Logistic Việt Nam phát triển hơn. PHẦN 2: TÌNH HUỐNG 3
2.1. Phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam
thông qua mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter?
2.1.1. Phân tích cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam

Theo mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Porter, Porter đã chỉ ra
các đối thủ cạnh tranh của DN không chỉ là (1) các đơn vị kinh doanh cùng ngành
(sản phẩm) mà còn có (2) nhà cung cấp, (3) khách hàng, (4) các đối thủ cạnh tranh
gián tiếp (bằng các sản phẩm thay thế) và (5) các đối thủ tiềm tàng (có thể gia nhập ngành).
Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh
nào cũng phải chịu tác động của của năm lực lượng cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh
hiện tại, đối thủ cạnh tranh tiềm năng, nhà cung cấp, khách hàng và sản phẩm thay thế. 9
Theo Porter, các DN cần phân tích chuỗi giá trị và xem xét năng lực thực tế của
DN để xác định lợi thế cạnh tranh; từ đó lựa chọn một trong ba dạng chiến lược cạnh
tranh là “chi phí thấp”, “khác biệt hóa” hoặc “tập trung hóa”. Chuỗi giá trị là chuỗi
các hoạt động bao gồm logistics đầu vào, vận hành, logistics đầu ra, marketing và bán
hàng, dịch vụ. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi
hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị gia tăng nào đó. Đi liền với chuỗi giá trị
còn có các yếu tố hỗ trợ các hoạt động bao gồm: cơ sở hạ tầng, quản lý nguồn nhân
lực, phát triển công nghệ và thu mua. Để tăng lợi nhuận, DN cần nỗ lực tạo ra sự
khác biệt, tăng giá trị của sản phẩm với chi phí không đổi hoặc giảm chi phí với giá
trị không đổi (tức sản phẩm tương tự đối thủ cạnh tranh) hoặc kết hợp cả hai. Ngoài
ra, DN có thể phát hiện ra “ngách” thị trường mà nhu cầu khách hàng chưa được thỏa
mãn và tập trung đáp ứng tốt nhu cầu đó thì sẽ thu được lợi nhuận một cách dễ dàng
hơn là cạnh tranh trực tiếp bằng những sản phẩm giống hệt nhau với các đối thủ trên thị trường.
a. Đe dọa gia nhập thị trường mới:
Là những doanh nghiệp/ cá nhân chưa hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh của
doanh nghiệp bạn, tuy nhiên sẽ gia nhập ngay khi có cơ hội. Các doanh nghiệp mới
này là mối đe dọa tiềm ẩn rất lớn cho tổ chức.
Các đối thủ tiềm năng mới có thể gia nhập thị trường và gây sức ép cạnh tranh
lên các doanh nghiệp hiện có. Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh
của các đối thủ tiềm năng mới đang ở mức cao. Thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn
nhiều dư địa phát triển, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước gia nhập thị trường.
Với thị trường hơn 90 triệu người tiêu dùng, trong đó, đa phần là người trẻ
và sự đô thị hóa mạnh mẽ nên ngành bán lẻ Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát
triển. Theo Tổ chức tư vấn AT Kearney (2022) nhận định thị trường bán lẻ Việt Nam
với mức tăng trưởng nhanh, với chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) năm 2022
đứng thứ 9, đang trở thành một thị trường hấp dẫn để các nhà bán lẻ nước ngoài đầu
tư, tìm kiếm lợi nhuận. Không chỉ vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế, nhà bán lẻ 10
nước ngoài được phép sở hữu 100% vốn và thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Điều này đã mở đường cho sự gia nhập của các ông lớn như Aeon, Lotte Mart,
Central Group. Đồng thời, hiệp định FTA thế hệ mới cũng đóng vai trò quan trọng,
dẫn đến làn sóng mua bán và sáp nhập, như Massan mua lại mảng bán lẻ Vinmart của Vingroup.
Có thể thấy, với các nhà bán lẻ ngoại, không chỉ có lợi thế về tiềm lực tài chính,
có nguồn huy động vốn lãi suất tốt ở nước ngoài, mà việc vay vốn, có lãi suất thuận
lợi cũng tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn đối với các đối thủ trong nước.
Tuy vậy, sự phát triển và mở rộng của các nhóm doanh nghiệp trong nước cũng
tạo ra nhiều cơ hội cho các các chủ doanh nghiệp bằng việc các nhà bán lẻ nội địa
đang ngày một đông đảo về số lượng và lớn mạnh dần về quy mô với sự hình thành
và phát triển một số nhà phân phối lớn với các thương hiệu như Saigon Co-op (110
siêu thị, 4 đại siêu thị, 4 trung tâm thương mại), Massan (132 siêu thị Winmart và
3000 cửa hàng Winmart'), Thế giới di động & Bách hoá xanh (2000 cửa hàng), BRG
(75 siêu thị).... Đây là những doanh nghiệp bán lẻ trong nước có trình độ khá chuyên
nghiệp và mạng lưới hệ thống phân phối khá rộng rãi đều khắp trên nhiều tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương trong cả nước.
Nguyên nhân một phần cũng là do doanh nghiệp trong nước cũng có những lợi
thế nhất định, như hiểu tâm lý người tiêu dùng Việt, am hiểu thị trường của mình
hơn, từ đó cung cách phục vụ, chọn lọc hàng hóa để phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.
Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã đề xuất chính sách khuyến khích người dân ưu tiên
sử dụng hàng hóa nội địa, nhằm giảm sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu. Điều
này được thể hiện qua khẩu hiệu "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".
Chính sách này nhấn mạnh sự đặc biệt của sản phẩm nội địa, với cam kết rằng hàng
hóa sản xuất trong nước ngày càng có chất lượng cao hơn và đa dạng chủng loại.
Không chỉ là sự khích lệ sử dụng hàng Việt Nam, mà còn là động viên cho
doanh nghiệp nội địa liên tục cải tiến sản phẩm, đưa ra thị trường những sản phẩm
mới, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và hiện đại của người dân. 11
Tuy vậy, gia nhập ngành bán lẻ Việt Nam đối mặt với những thách thức, bao
gồm cần số lượng cửa hàng lớn để có lợi thế thương mại và yêu cầu sở hữu nội địa
50%. Điều này tạo ra ưu thế cho doanh nghiệp tham gia trước, giành được vị trí kinh
doanh lợi hơn. Tuy nhiên, với biên lợi nhuận thấp, nhà bán lẻ cần hiểu rõ thị trường
và người tiêu dùng để tránh rủi ro lỗ.
b. Đe dọa từ các dịch vụ và sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm hoặc dịch vụ có cùng chức năng hoặc
tương tự và mang lại lợi ích cho một sản phẩm hoặc dịch vụ riêng của ngành, nhưng
có bản chất khác. Đặc biệt, những sản phẩm thay thế thường có tính năng, công dụng
đa dạng, chất lượng tốt hơn mà giá cả lại cạnh tranh bởi lẽ sản phẩm thay thế là kết
quả của những cải tiến về công nghệ. Vì vậy mà sự xuất hiện của các sản phẩm thay
thế sẽ làm giảm số lượng sản phẩm tiêu thụ được, giá thành từ đó làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp, thậm chí nguy hiểm hơn nó có thể xóa bỏ hoàn toàn các hàng hóa,
dịch vụ hiện tại. Sản phẩm thay thế có thể làm hạn chế mức độ tăng trưởng, làm giảm
lợi nhuận thu được của ngành
Đối với ngành bán lẻ, các nhà bán lẻ thực hiện chức năng bán lại hàng hóa và
cung cấp dịch vụ kèm theo cho người tiêu dùng. Trong đó, sản phẩm chủ yếu của nhà
bán lẻ ngoài việc cung cấp các loại mặt hàng hàng hóa thì chính là các dịch vụ được
họ cung cấp cho người tiêu dùng. Do đó, áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm
thay thế trong ngành bán lẻ chủ yếu là dịch vụ bán hàng và dịch vụ có liên quan nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng như dịch vụ bán hàng online,
cung cấp thông tin về sản phẩm qua mạng… Các yếu tố khác như sự thay đổi của môi
trường văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế.
Nhắc tới thị trường ngành bán lẻ Việt Nam, với sự gia tăng của hàng hóa nhập
khẩu từ nhiều quốc gia, đặc biệt là các đại gia bán lẻ nước ngoài đang mở rộng hoạt
động tại Việt Nam, lựa chọn của người dân ngày càng đa dạng. Thị phần tiêu thụ
hàng Việt có thể giảm do sự đa dạng và cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu, được
thúc đẩy bởi quá trình hội nhập và mở cửa thị trường. Việt Nam, thông qua các hiệp 12
định thương mại tự do, đã giảm thuế quan và tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa
nước ngoài, tăng cường sự cạnh tranh trong thị trường nội địa.
Tại các cửa hàng của doanh nghiệp bán lẻ, hàng hóa nguồn gốc sản xuất nội địa
vẫn chiếm đa số trong các cửa hàng. Điều này có thể lý giải do các doanh nghiệp bán
lẻ trong nước có lợi thế là hiểu biết thói quen mua sắm tiêu dùng của người dân trong
nước. Chính phủ Việt Nam cũng luôn định hướng và chính sách khuyến khích người
dân dùng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập khẩu với khẩu hiệu “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Hàng Việt Nam ngày càng có chất lượng cao hơn, đa
dạng chủng loại và không ngừng cải tiến sản phẩm, tăng sản phẩm mới ra thị trường,
phục vụ nhu cầu hiện đại của người dân. Hiện nay nhiều doanh nghiệp bán lẻ đã sử
dụng nhãn hàng riêng bán cho khách hàng
Tuy vậy, trong các cửa hàng của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam, hàng hóa có
nguồn gốc sản xuất nội địa vẫn chiếm đa số, điều này có thể giải thích bởi sự lợi thế
của doanh nghiệp địa phương trong việc hiểu rõ thói quen mua sắm của người dân
trong nước. Chính phủ Việt Nam cũng đặt ra chính sách khuyến khích việc sử dụng
hàng hóa nội địa thông qua khẩu hiệu "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam". Hàng hóa Việt Nam không chỉ chiếm thị phần lớn mà còn ngày càng nâng cao
chất lượng, đa dạng chủng loại, và không ngừng cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu
cầu hiện đại của người tiêu dùng. Điều này thể hiện qua việc nhiều doanh nghiệp bán
lẻ đã áp dụng nhãn hàng riêng, tăng tính nhận diện và tạo sự tin tưởng từ phía khách hàng.
c. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành:
Phân tích đối thủ cạnh tranh trong ngành hiện tại là những cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp đang kinh doanh các mặt hàng, sản phẩm giống với doanh nghiệp của
bạn, cùng mức giá, cùng phân khúc khách hàng, chất lượng sánh ngang nhau.
Đây là lực lượng quan trọng nhất tác động đến cường độ cạnh tranh trong một
ngành. Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh của các đối thủ cạnh
tranh hiện tại đang ở mức cao. Có rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ tham gia vào thị 13
trường, với quy mô và nguồn lực khác nhau. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau
về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng,...
Theo số liệu Statista (2023), Thương mại điện tử xuyên biên giới Đông Nam Á
tăng từ 74 tỷ USD (2021) lên 120 tỷ USD (2022), với tốc độ tăng trưởng 37,7%/năm
(2017-2022), cao hơn mức trung bình toàn cầu (27,4%/năm). Dự kiến năm 2025,
doanh thu tại khu vực sẽ đạt 234 tỷ USD. Trong năm 2022, hơn 51 triệu người Việt
mua sắm trực tuyến, chi tiêu đạt 12,42 tỷ USD. Việt Nam đứng đầu với 104 đơn
hàng/năm, chiếm 15% thị trường mua sắm trực tuyến Đông Nam Á, dự kiến sẽ là thị
trường thứ 2 lớn nhất trước năm 2025.
Cũng theo Statista (2023), Việt Nam dự kiến là thị trường thương mại điện tử
lớn thứ 2 tại Đông Nam Á trước năm 2025, chỉ sau Indonesia. Mức quy mô mua hàng
trung bình (ABS) tại Việt Nam là 26 USD, vượt cao hơn Thái Lan (25 USD) và
Indonesia (18 USD). Hiện có 66 triệu người dùng Internet (67% dân số), 64 triệu
người dùng mạng xã hội (65% dân số), và 149 triệu thuê bao di động, với 74% sử
dụng điện thoại thông minh, theo Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam (2022).
Từ các số liệu trên cũng cho thấy một xu hướng của người trẻ Việt Nam đang
chuyển mình sang việc mua sắm hiện đại trực tuyến thay vì các hành vi tiêu dùng
theo truyền thống như trước đây, từ đó cũng khiến cho thị trường ngành bán lẻ của
Việt Nam đang dần được mở rộng và thương mại điện tử hiện nay đang dẫn đầu các
xu thế tiêu dùng của các tệp khách hàng, đặc biệt là người trẻ, mở ra cơ hội lớn cho
các nhà đầu tư đến từ các quốc gia châu Á khác với tiềm lực mạnh về tài chính. Hai
năm trở lại đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ của các kênh bán lẻ online của Shopee, Tiki, Lazada, Sendo. Các kênh bán hàng
trực tuyến vốn tiện lợi hơn và phù hợp với giới trẻ.
Nghiên cứu, lắng nghe, thấu hiểu và "bắt đúng mạch" người dùng là những bước
đi cần thiết để các doanh nghiệp TMĐT phát triển những chiến lược thích hợp phục
vụ khách hàng và giành vị trí nổi bật trên thị trường. Chính bởi vì thế, bán hàng trực 14
tuyến sẽ là rủi ro lớn nhất với các công ty bán lẻ hiện đại kiểu thương mại truyền
thống thời điểm hiện tại.
Mặt khác, cạnh tranh ở các khu vực thành thị trở nên mạnh mẽ giữa các siêu thị,
chuỗi bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử trong khi ở khu vực nông thôn chủ yếu là
sự cạnh tranh giữa các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống và chuỗi cửa hàng hiện đại.
Có thể nói, “chiếc bánh” thị trường bán lẻ hiện đang được phân ra làm hai phần:
Các kênh bán lẻ truyền thống như chợ hay cửa hàng tạp hóa và các kênh bán lẻ hiện
đại như siêu thị hay trung tâm thương mại
Theo Bangkok Post, mới đây, Tập đoàn bán lẻ lớn nhất Thái Lan, Tập đoàn
Central Retail Corporation (CRC) đã công bố khoản đầu tư trị giá 50 tỷ Baht (1,45 tỷ
USD) vào Việt Nam giai đoạn 2023 - 2027.
Bên cạnh Central Retail, Aeon (tập đoàn bán lẻ Nhật Bản) cũng dự định đẩy
mạnh mở rộng tại Việt Nam, tăng gấp 3 lần số lượng trung tâm thương mại vào năm
2025 nhằm tìm kiếm lợi thế trong lĩnh vực thực phẩm.
Đối với doanh nghiệp bán lẻ trong nước, một số đội ngũ doanh nghiệp bán lẻ nội
địa đang trải qua những đổi mới tích cực, không chỉ về số lượng mà còn về quy mô.
Các tổ chức này đang phát triển mạnh mẽ và thu hút sự chú ý, hình thành nên các nhà
phân phối lớn với những thương hiệu nổi tiếng. Đáng chú ý trong số này là Saigon
Co-op, với mạng lưới bao gồm 110 siêu thị, 4 đại siêu thị và 4 trung tâm thương mại,
cùng Massan với 132 siêu thị Winmart và 3000 cửa hàng Winmart.
Cũng đáng kể là Thế giới di động & Bách hoá xanh với hơn 2000 cửa hàng và
BRG với 75 siêu thị. Những doanh nghiệp này không chỉ thể hiện sự chuyên nghiệp
mà còn xây dựng mạng lưới phân phối mở rộ, lan tỏa trên nhiều tỉnh thành trên toàn
quốc. Điều này cho thấy sự đa dạng và sức mạnh của thị trường bán lẻ nội địa, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành này.
Có thể thấy sự cạnh tranh đang ngày càng trở nên đa dạng không chỉ về mặt
hàng sản phẩm hay sự chuyển mình của các doanh nghiệp do sự thay đổi hành vi mua 15
của người tiêu dùng mà còn là sự cạnh tranh từ phân khúc truyền thống tới hiện đại
cho đến các doanh nghiệp nội và ngoại
d. Quyền lực của người mua:
Khách hàng ở đây được hiểu là người tiêu dùng cuối, là nhà phân phối hoặc đại
lý nhỏ. Mỗi doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì trước tiên phải lấy
được sự yêu thích của khách hàng.
Trong ngành bán lẻ Việt Nam, lực lượng cạnh tranh của các khách hàng đang ở
mức cao. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin và lựa chọn hơn, khiến các doanh
nghiệp bán lẻ phải cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng. Vì thế, doanh nghiệp
luôn phải đối mặt với áp lực tối ưu sản phẩm và giá cả để thu hút được khách hàng.
Doanh thu của doanh nghiệp bán lẻ luôn đặt ở mức độ chặt chẽ với nhóm đối
tượng khách hàng, và việc coi khách hàng như kim chỉ nam quan trọng nhất trong
kinh doanh là điều không thể phủ nhận. Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, khách hàng
không chỉ là đối tượng được phục vụ mà còn là nguồn áp lực đặc biệt, vì chi phí
chuyển đổi để thay đổi thói quen mua sắm hoặc chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ bán
lẻ rất thấp. Vì vậy, các yếu tố như giá bán và chăm sóc khách hàng trở thành quan
trọng nhất để duy trì và phát triển doanh nghiệp bán lẻ. Đối với cửa hàng bán lẻ, việc
thu hút và giữ chân khách hàng càng nhiều, thì hoạt động kinh doanh càng trở nên
hiệu quả. Trong bối cảnh này, tăng thu nhập của người dân Việt Nam và việc nâng
cao đời sống, người tiêu dùng đặt sự quan tâm lớn vào an toàn thực phẩm và xuất xứ
của hàng hoá, tạo ra một yếu tố quan trọng trong quyết định mua sắm của họ.
Trong bối cảnh mô hình kinh doanh mới, người tiêu dùng không chỉ là những
đối tượng mua sắm, mà họ đã nổi lên như người chủ thực sự. Quy trình mua hàng
không chỉ giới hạn trong một kênh duy nhất, mà ngược lại, người tiêu dùng hiện đại
thường xuyên tự do lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau, quản lý trải nghiệm mua sắm
của họ và thậm chí tham gia vào việc quảng cáo và bán lại sản phẩm. Sự tin tưởng
truyền thống vào một nhà bán lẻ duy nhất đã chuyển hóa thành việc người tiêu dùng
linh hoạt chuyển đổi giữa các nguồn thông tin và so sánh giá công khai để đảm bảo
họ nhận được giá trị tốt nhất. Trong ngữ cảnh này, các nền tảng trực tuyến đã trở 16
thành đối tác không thể thiếu của các nhà bán lẻ, đặt ra thách thức và cơ hội cần được
khai thác để tạo ra nhiều giá trị và đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng.
Bởi vậy, vai trò của người tiêu dùng đã thay đổi, họ trở thành nhân vật chính
xuyên suốt quá trình mua hàng, ở tất cả điểm chạm. Chính vì thế, hành trình trải
nghiệm dịch vụ cần được thiết kế lại. Các nhà bán lẻ cần nhanh chóng chuyển việc
tiếp thị tại cửa hàng sang các nền tảng số. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng có cơ hội
tận dụng hệ sinh thái số mở để giảm bớt gánh nặng, mở ra nhiều cơ hội, cung cấp
nhiều lựa chọn hơn và tạo ra các kỳ vọng dịch vụ mới trên thị trường.
e. Sức mạnh của các nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp là những người cung cấp cho tổ chức những gì tổ chức cần để
sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ. Các yếu tố làm tăng sức mạnh của nhà cung cấp thì
ngược lại với những yếu tố làm tăng sức mạnh của người mua. Do đó, sức mạnh của
nhà cung cấp có thể sẽ cao khi có:
- Tập trung nhà cung cấp: Khi chỉ một vài nhà sản xuất thống trị nguồn cung,
các nhà cung cấp có nhiều hơn quyền lực đối với người mua.
- Chi phí chuyển đổi cao: Nếu việc chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung
cấp khác là tốn kém hoặc gián đoạn, sau đó người mua trở nên tương đối phụ thuộc và yếu đi tương ứng.
Ở thị trường bán lẻ tại Việt Nam, chi phí chuyển đổi để thay đổi thói quen hay
chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ rất thấp. Bởi vậy, khách hàng là đối tượng
tạo ra nhiều sức ép. Do đó, các yếu tố như giá bán và chăm sóc khách hàng là một
trong những yếu tố quan trọng nhất để một doanh nghiệp bán lẻ đứng vững. Cửa hàng
bán lẻ càng có nhiều khách hàng thì các nhà bán lẻ mới càng hoạt động tốt.
- Nguy cơ cạnh tranh của nhà cung cấp: Các nhà cung cấp đã tăng quyền lực ở
những nơi họ có thể tham gia ngành hoặc loại bỏ những người mua đóng vai trò trung gian.
- Sản phẩm khác biệt: Khi các sản phẩm hoặc dịch vụ được phân biệt cao, các
nhà cung cấp sẽ mạnh mẽ hơn. 17
2.1.2. Đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ Việt Nam
Qua những phân tích về các yếu tố cạnh tranh tác động lên thị trường bán lẻ Việt
Nam, có thể thấy mức độ cạnh tranh đối với thị trường bán lẻ ở Việt Nam nằm ở mức cao.
Mặc dù vẫn còn nhiều dư địa để phát triển và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
như Central Retail hay Aeon, tuy nhiên trên thực tế những doanh nghiệp đi trước
trong mảng này như Massan hay Saigon Co-op đã và đang cho thấy sự bành trướng
lớn trong thị trường bán lẻ. Với việc là những doanh nghiệp đi trước, kết hợp với việc
là những doanh nghiệp Việt Nam, hiểu tâm lý tiêu dùng của người Việt, và có được
sự ủng hộ từ Chính phủ, một cái tên mới sẽ khó đánh bật được những ông lớn này.
Không những thế, các doanh nghiệp mới muốn chen chân vào thị trường Việt
Nam cũng phải có được tiềm lực tài chính tốt, khi những doanh nghiệp bán lẻ ở Việt
Nam thường có hệ thống chi nhánh rất lớn, phủ rộng, để theo được trong cuộc đua
này sẽ là áp lực không nhỏ từ chi phí vận hành của những doanh nghiệp mới, đồng
thời những doanh nghiệp đi trước trong mảng này cũng sẽ có được lợi thế về địa lý
khi họ đã có được những địa điểm tốt để đặt chi nhánh.
Tuy nhiên thị trường thương mại điện tử lại đang có bước nhảy vọt về tốc độ
tăng trưởng. Thay vì bị chi phối nhiều từ yếu tố địa lý như hình thức bán lẻ truyền
thống, khách hàng mua sắm trực tuyến có đa dạng sự lựa chọn hơn và không bị ảnh
hưởng bởi quyết định từ địa điểm gần nhà hay gần công ty,... chỉ cần internet và các
quyết định mua hàng sẽ hoàn toàn linh hoạt. Vậy nên mức độ cạnh tranh đối với
mảng bán lẻ trên môi trường trực tuyến sẽ dễ thở hơn so với các hình thức thuần túy.
2.2. Đề xuất giải pháp và phân tích giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam
Đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ: Đây là giải pháp cơ bản
và quan trọng nhất. Nếu không có chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt, doanh nghiệp
bán lẻ sẽ khó có thể giữ chân được khách hàng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của khách hàng, các doanh nghiệp bán lẻ cần đổi mới, nâng cao chất lượng sản
phẩm và dịch vụ. Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và
dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của thị trường. 18
Đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ: Công nghệ là yếu tố quan trọng giúp các
doanh nghiệp bán lẻ nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của khách hàng. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào các công nghệ hiện đại như thương
mại điện tử, trí tuệ nhân tạo,... điều này giúp doanh nghiệp bán lẻ dễ dàng tiếp cận
khách hàng, mở rộng thị trường, đồng thời giúp cho khách hàng cho trải nghiệm tốt nhất.
Tăng cường khả năng quản trị: Các doanh nghiệp bán lẻ cần nâng cao khả năng
quản trị, bao gồm quản trị doanh nghiệp, quản trị marketing, quản trị nhân sự,... Các
doanh nghiệp cần xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có khả năng đáp ứng
yêu cầu của thị trường. Giải pháp này giúp cho doanh nghiệp bán lẻ nâng cao hiệu
quả hoạt động, giảm thiểu chi phí và tăng khả năng cạnh tranh.
Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng: Cơ quan quản lý nhà nước cần tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp bán lẻ, cả trong nước và nước
ngoài. Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường bán lẻ.
Hỗ trợ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước: Cơ quan quản lý nhà nước cần hỗ
trợ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều
này bao gồm các chính sách về thuế, tài chính, tín dụng,...
Để thực hiện các giải pháp này hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
doanh nghiệp bán lẻ, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác.
2.3. Đưa ra quan điểm đánh giá chung về thị trường bán lẻ Việt Nam
Về thị trường bán lẻ Việt Nam cho thấy sự phát triển nhanh chóng và tiềm năng
lớn. Sự hội nhập quốc tế đã mở cửa cho các nhãn hiệu bán lẻ nước ngoài, như Aeon,
Lotte Mart và Central Group, gia nhập thị trường. Cạnh tranh trong ngành là khá cao,
đặc biệt là ở các khu vực thành thị và nông thôn. Doanh nghiệp bán lẻ trong nước
như Saigon Co-op, Massan và Thế giới di động & Bách hoá xanh đang ngày càng mở
rộng và cạnh tranh chuyên nghiệp.
Mặc dù nguồn gốc sản phẩm nội địa vẫn chiếm đa số, nhưng thị trường đang
chứng kiến sự gia nhập mạnh mẽ của hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia khác, đặc
biệt qua thương mại điện tử. Với tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử nhanh chóng, 19