1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
---
---
BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU HOẠT CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TCBS
GIAI ĐOẠN 2020-2024
Giảng viên TS.Nguyễn Minh Thảo
Môn Quản trị các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Nhóm 11
Lớp học phần 251_FMGM2711_02
Hà Nội, năm 2025
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1. Khái quát về các tổ chức tài chính phi ngân hàng 7
1.1.1. Khái niệm và vai trò 7
1.1.2. Các loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng 9
1.1.3. Quy mô, cấu trúc ngành và xu hướng phát triển 12
1.2. Khái quát về công ty chứng khoán 19
1.2.1. Khái niệm 19
1.2.2. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 20
1.3. Các phương thức và chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động quản trị tài chính
của công ty chứng khoán 20
1.3.1. Đánh giá theo khả năng sinh lợi 20
1.3.2. Đánh giá theo quan điểm tối đa hoá hoá trị thị trường 28
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
TCBS GIAI ĐOẠN 2020-2024 31
2.1. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TCBS giai đoạn2020-
2024 31
2.1.1. Khái quát về lịch sử hình thành, quy mô, lĩnh vực hoạt động công ty
TCBS 31
2.1.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh vấn đề quản trị tài chính của
công ty TCBS giai đoạn 2020-2024 35
2.2. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TCBS giai đoạn 2020-
2024 36
2.2.1. Phân tích doanh thu, lợi nhuận 36
2.2.2. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn 41
2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động vị thế cạnh tranh của công ty TCBS trong
giai đoạn 2020-2024 46
2.3.1. Phân tích các chỉ số tài chính 46
2.3.2. Phân tích thị phần và so sánh với đối thủ 51
2.4. Đánh giá rủi ro tài chính của công ty TCBS giai đoạn 2020-2024 56
2.4.1. Rủi ro thanh khoản 56
3
2.4.2. Rủi ro đòn bẩy tài chính 56
2.4.3. Rủi ro lãi suất và đầu tư 57
2.4.4. Rủi ro thị trường 57
2.4.5. Rủi ro tín dụng 58
CHƯƠNG 3. CÁC VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TCBS 59
3.1 Luật, các nghị định và thông tư và các tác động đến công ty TCBS. 59
3.2 Các quy định về an toàn tài chính, tỷ lệ vốn khả dụng, công bố thông tin và
các tác động đến công ty TCBS 60
CHƯƠNG 4. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TCBS TRÊN THỊ
TRƯỜNG TÀI CHÍNH 61
4.1. Xu hướng của thị trường và chiến lược phát triển của TCBS 61
4.1.1. Bối cảnh Thị trường Tài chính Việt Nam 61
4.1.2. Chiến lược của TCBS 62
4.1.3. Triển vọng và các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng TCBS 64
4.2 Phân tích mô hình SWOT 65
4.2.1. Điểm mạnh 65
4.2.2. Điểm yếu 66
4.2.3. Cơ hội 67
4.2.4. Thách thức 68
4.3. Đề xuất kiến nghị và giải pháp cho công ty TCBS 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 73
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU
Hình 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TCBS 32
Hình 2.2. Hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty Chứng khoán TCBS giai đoạn 2015–2021
36
Hình 2.3. Tiền gốc và trái tức đến hạn thộc các trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đã được
thanh toán trong năm 2022 ( tỷ đồng) 38
Hình 2.4. Kết quả thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2023 của TCBS 39
Hình 2.5. Kết quả kinh doanh TCBS trong giai đoạn 2020-2024 40
Hình 2.6. Biểu đồ tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của TCBS giai đoạn 2020–2024 46
Hình 2.7. Biểu đồ tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE) của TCBS giai đoạn 2020–2024 47
Hình 2.8. Biểu đồ thu nhập trên một cổ phần thường (EPS) của TCBS giai đoạn 2020–2024 48
Hình 2.9. Thị phần môi giới cổ phiếu TCBS giai đoạn 2020-2024 50
Hình 2.10. Thị phần phát hành trái phiếu doanh nghiệp cảu TCBS giai đoạn 2020-2024 51
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Biến động chỉ tiêu EPS của TCBS giai đoạn 2020–2024 48
5
LỜI CẢM ƠN
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường
Đại học Thương mại, cùng khoa Tài chính- ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên
trong quá trình học tập và nghiên cứu. Những kiến thức, kỹ năng và môi trường học tập mà nhà
trường mang lại là nền tảng quan trọng giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
Đặc biệt, nhóm xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo
giảng viên phụ trách môn Quản trị các tổ chức tài chính phi ngân hàng, người đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo, cung cấp tài liệu góp ý quý báu cho nhóm trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Phân tích hoạt động của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) giai đoạn
2020–2024”.
Mặc nhóm đã nỗ lực hoàn thiện bài tiểu luận một cách tốt nhất, song do hạn chế về
thời gian kiến thức, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận
được sự thông cảm, đóng góp chỉ dẫn thêm từ thầy/cô để bài nghiên cứu được hoàn thiện
hơn trong tương lai.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
6
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng số hóa,
thị trường tài chính chứng khoán đã trở thành một trong những kênh huy động phân bổ
vốn quan trọng nhất của nền kinh tế. Giai đoạn 2020–2024 một chặng đường đầy biến động
và thử thách đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, từ những đợt tăng trưởng bùng nổ chưa
từng đến những giai đoạn điều chỉnh sâu sắc. Trong bối cảnh đó, Công ty Cổ phần Chứng
khoán Kỹ Thương (TCBS) nổi lên như một trong những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, tiên
phong ứng dụng công nghệ vào dịch vụ tài chính và quản lý tài sản.
Kể từ khi thành lập đến nay, đặc biệt trong giai đoạn 2020–2024, TCBS liên tục ghi
nhận kết quả kinh doanh ấn tượng, duy trì vị thế công ty chứng khoán lợi nhuận cao nhất
Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp. Không chỉ dẫn đầu về vấn phát hành trái phiếu doanh
nghiệp, TCBS còn mở rộng mạnh mẽ sang các mảng như môi giới cổ phiếu, cho vay quỹ,
phát hành chứng quyền đầu công nghệ tài chính blockchain. Đợt IPO năm 2024 cũng
đánh dấu bước ngoặt quan trọng, giúp TCBS tăng cường năng lực tài chính, mở rộng quy
hoạt động và khẳng định tầm vóc trên thị trường vốn Việt Nam.
Với những thành tựu chiến lược phát triển nổi bật, bài tiểu luận này sẽ thực hiện
nhiệm vụ đi sâu vào "Nghiên cứu hoạt động của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương
(TCBS) giai đoạn 2020-2024". Mục tiêu của bài viết phân tích một cách hệ thống các
mảng hoạt động kinh doanh chính, đánh giá sự thành công những thách thức TCBS đã
đối mặt, từ đó làm các yếu tố đã giúp công ty định hình vị thế vượt qua giai đoạn thị
trường đầy biến động. Bài viết cũng sẽ đưa ra những nhận định bài học kinh nghiệm giá
trị, góp phần mang lại cái nhìn toàn cảnh về sự phát triển của một trong những công ty chứng
khoán tiêu biểu nhất Việt Nam hiện nay.
7
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái quát về các tổ chức tài chính phi ngân hàng
1.1.1. Khái niệm và vai trò
1.1.1.1. Khái niệm
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng thể được hiểu bộ phận các tổ chức tài chính
không thực hiện đầy đủ các chức năng hoạt động bản của một ngân hàng thương mại. Theo
Carmichael, Jeffrey & Michael Pomerleano, các tổ chức tài chính phi ngân hàng sẽ được thực
hiện một số hoạt động ngân hàng như hoạt động kinh doanh thường xuyên nhưng không
được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách
hàng.
Theo Ngô Hướng Kim Ngọc, tổ chức tài chính phi ngân hàng được hiểu các tổ
chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng
như nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không nhận tiền gửi không kỳ hạn làm
dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2. Vai trò
a. Chu chuyển các nguồn vốn và linh hoạt thời gian đáo hạn của dòng tiền.
Trong bối cảnh hội nhập, tổ chức tài chính phi ngân hàng không chỉ kênh chuyển tải
nguồn lực tài chính từ các chủ thể thừa vốn đến các chủ thể thiếu vốn trong nước còn
kênh chuyển tải nguồn lực từ những nhà đầu quốc tế đến những người đi vay quốc tế. Bằng
cách đa dạng hóa hoạt động đầu tư khiến họ có thể chắn được rủi ro tốt hơn các hộ gia đình khi
không có sự ăn khớp về thời gian đáo hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ.
b. Khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính.
Trong một tiến trình giao dịch vốn, người cần vốn bao giờ cũng nắm rõ thông tin về mức
độ rủi ro tỷ suất sinh lợi của dự án đầu tư anh ta đang tiến hành hơn người cấp vốn. Vấn
đề này gọi là “thông tin bất cân xứng”. Thông tin bất cân xứng làm nảy sinh lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức khiến người thừa vốn không sẵn lòng cung cấp vốn cho người cần vốn.
8
Tính hợp cho sự tồn tại của các tổ chức tài chính phi ngân hàng khả năng vượt trội
của trong việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng hai “hệ quả” sự lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng chuyên môn hóa trong việc đánh
giá rủi ro tiềm năng của người đi vay. Chúng thể tiếp cận các thông tin nhân của người
vay (như tiền gửi, thu nhập, tài sản, nợ phải trả và tín dụng) kiểm soát những hoạt động đầu
của họ. Hay nói cách khác các tổ chức tài chính phi ngân hàng ưu thế để đưa ra quyết
định cung cấp các khoản nợ một cách hợp lý.
c. Góp phần làm giảm chi phí giao dịch của xã hội.
Chi phí giao dịch chi phí liên quan đến tiền thời gian để thực hiện giao dịch tài
chính. Sự ra đời của các tổ chức tài chính phi ngân hàng góp phần làm giảm chi phí giao dịch
do chúng ưu thế về kinh tế quy mô, thông qua việc tập trung các nguồn tiền tệ tiết kiệm
quy nhỏ đa dạng hóa các nghiệp vụ sử dụng vốn. Do lợi thế về kinh tế quy mô, các tổ
chức tài chính phi ngân hàng thể tiết kiệm được chi phí giao dịch cho khách hàng. Thông
thường những người đầu nhỏ sẽ phải trả chi phi hoa hồng cho các giao dịch đầu chứng
khoán cao hơn mức chi phí giao dịch bình quân của các nhà đầu mua buôn. Nhưng khi các
nhân đưa tiết kiệm vào các tổ chức tài chính phi ngân hàng (như quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí)
để họ thực hiện hoạt động đầu vào thị trường chứng khoán, do tổng lượng đầu đủ lớn để
trở thành nhà đầu mua buôn nên khiến nhóm các hộ gia đình này thể giảm chi phí giao
dịch mua tài sản của họ.
d. Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng cuộc sống.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng tiền tệ nhàn rỗi
của hội dịch chuyển từ người thừa sang người thiếu, cải thiện tính hiệu quả kinh tế của quá
trình này. Dòng tiền được lưu thông sẽ làm cho chi tiêu vốn gia tăng nâng cao năng suất lao
động. Dưới góc độ của hội điều này khiến phúc lợi hội tiêu chuẩn cuộc sống được
nâng lên, tức lợi ích thuần đối với hội được nảy sinh từ hoạt động của các tổ chức tài
chính.
e. Kích thích và tập trung các nguồn vốn tiết kiệm trong dân chúng.
9
Với mạng lưới rộng lớn sự linh hoạt trong hoạt động, các tổ chức tài chính phi ngân
hàng đã tập trung được những nguồn tiết kiệm trong xã hội, nhất là những khoản tiền nhỏ, lẻ để
đưa vào thị trường tài chính. Bởi họ nắm bắt được tâm lý của người tiết kiệm đó là sử dụng các
khoản tiền tiết kiệm được nhằm mục đích dự phòng sinh lãi, nên các hoạt động đầu
tính thuận tiện sinh lời sẽ thu hút được người tiết kiệm ủy thác dòng tiền của mình cho các
tổ chức này kinh doanh hộ. Đặc biệt, khi cần hút vốn, các tổ chức này thường nâng mức lãi suất
cao hơn, gây hấp dẫn với người tiết kiệm chấp nhận giảm chi tiêu để gia tăng dự trữ chuyển
khoản tiết kiệm đó tới các tổ chức này.
g. Thúc đẩy đầu tư, cạnh tranh và sáng tạo trong lĩnh vực tài chính.
Sự tham gia tích cực của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã khiến cho thị trường tài
chính trở nên sôi động, không chỉ “sân chơi” duy nhất của các ngân hàng các nhà đầu
nhân lớn. Chúng giúp tăng tính cạnh tranh cả bên cầu lẫn bên cung vốn, khiến người cung
vốn người cầu vốn nhiều sự lựa chọn lợi hơn phù hợp hơn. Với sự xuất hiện đa
dạng các loại hình tổ chức phi ngân hàng khiến ngày càng nhiều các sản phẩm tài chính, đáp
ứng yêu cầu của các chủ thể tham gia. Áp lực cạnh tranh trên thị trường gia tăng khiến các tổ
chức luôn thực hành mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, chi phí vốn cho người
vay hợp lý hơn và tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho khách hàng.
h. Đáp ứng các nhu cầu trong phòng ngừa rủi ro và đầu tư tài chính
Do bất trắc trong đời sống con người thể bất ngờ xảy ra gây tổn hại về mặt vật
chất tinh thần, điều đó khiến con người luôn phải tự ý thức được việc phòng ngừa, nhất
phòng ngừa cho các tổn hại tài chính thể xảy ra. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng nơi
giúp con người một loạt công cụ phòng vệ khá hữu hiệu thông qua các hợp đồng dịch vụ
bảo hiểm (do các công ty bảo hiểm cung ứng), các sản phẩm hưu trí (do các quỹ hưu trí cung
cấp).
1.1.2. Các loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện nay, nhiều loại tổ chức tài chính phi ngân hàng, nếu xét theo
đặc trưng hoạt động bản, người ta thể chia thành 4 nhóm: (1) các tổ chức nhận tiền gửi,
(2) các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, (3) các trung gian đầu (4) các tổ chức tài chính
phi ngân hàng khác.
10
1.1.2.1. Các tổ chức nhận tiền gửi
Hiệp hội tiết kiệm cho vay (Savings and Loan Asociatons - S&L): với nguyên tắc
hoạt động sở hoạt động tài chính mang tính tương trợ. Theo đó, một nhóm người chấp
nhận đem số tiền tiết kiệm của mình cam kết đóng góp một khoản tiền nhất định theo một
thời biểu lịch đã được đồng thuận nhất trí để đủ ngân sách cho một vài người trong nhóm
vay đầu tư, mua sắm tài sản, xây dựng nhà cửa… Những hội viên được vay tiền cam kết hoàn
tiền lại đều đặn cho Hội để Hội có đủ tiền tài trợ cho những hội viên khác thực hiện đầu tư. Khi
mọi hội viên đã được thỏa mãn nhu cầu đầu của mình, Hội sẽ tự giải thể (chấm dứt hoạt
động).
Ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Savings Bank - SBs) được thành lập với mục đích huy
động các khoản tiền tiết kiệm của các nhân trong hội. Chủ nhân của các ngân hàng tiết
kiệm chính là người gửi tiền tiết kiệm. Theo đó, có một nhóm người đứng ra khởi xướng thành
lập ngân hàng. Sau khi đủ số người tham gia, họ tiến hành họp đại hội cổ đông, soạn thả ra điều
lệ hoạt động xin giấy phép thành lập. Những cổ đông này những người bỏ vốn tiết kiệm
đầu tiên để tạo vốn hoạt động của ngân hàng. Kể từ đó về sau, mỗi khi thêm một khoản
tiền tiết kiệm mới, họ lại tiếp tục gửi vào ngân hàng khi cần tiền để kinh doanh hoặc tiêu
dùng, họ lại đi vay từ chính ngân hàng đó.
Liên hiệp tín dụng (Credit Union – CUs, Hợp tác xã tín dụng/Quỹ tín dụng – Việt Nam):
ra đời với nguyên tắc hoạt động sở mang tính tương trợ rất cao, thực hiện thông qua việc
góp vốn cổ phần. Những người cổ phiếu hoặc mua được cổ phiếu của tổ chức này sẽ được
quyền vay tiền của tổ chức khi cần. Số tiền vay nhiều hay ít tùy thuộc vào số cổ phiếu
người đó sở hữu.
1.1.2.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các công ty bảo hiểm (Insurance Companies - ICs): Đây các tổ chức ra đời do nhu
cầu ổn định sản xuất, kinh doanh đời sống, với chức năng chủ yếu “lá chắn” phòng ngừa
sự mất ổn định trong đời sống kinh tế hội, khắc phục những rủi ro hoặc những tai nạn bất
ngờ. Hoạt động bảo hiểm rất rộng đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - hội. các
nước phát triển, hầu như mọi tài sản hoạt động đều được bảo hiểm. Chính nhờ đó các
công ty bảo hiểm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho thị trường
11
vốn. Hiện nay, ICs 2 loại: Công ty bảo hiểm nhân thọ công ty bảo hiểm tài sản trách
nhiệm(còn gọi là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ).
Quỹ hưu trí (PFs - Tên đầy đủ là quỹ trợ cấp và hưu trí – Retirement and Pension Funds-
R&PFs, một số tài liệu sử dụng thuật ngữ Pension Unions PUs): Xu hướng gia tăng lương hưu
xuất hiện từ năm 1870 tại Hoa Kỳ rồi lan rộng ra các nước khác trên thế giới từ đầu thế kỷ 20.
Theo đó, những người nghỉ hưu hoặc đang nhận trợ cấp từ chính phủ thể gửi tiền vào quỹ
này thông qua việc đề xuất đối với cơ quan thanh toán hàng tháng. Những người đang làm việc
cũng thể yêu cầu tổ chức sử dụng lao động chuyển số tiền góp vào quỹ lương hưu của mình
vào một PF nào đó họ (người lao động) chỉ định. Nguyên tắc hoạt động sở của PFs
thực hiện huy động từng khoản tiền nhỏ của người lao động trong suốt thời gian họ làm việc và
gia tăng số tiền gửi góp đó để tạo ra thu nhập cho người lao động tham gia PFs khi họ về hưu
hoặc mất sức lao động.
1.1.2.3. Các tổ chức trung gian đầu tư
Công ty tài chính (Financial Companies - FCs): Khi các tập đoàn kinh tế đủ lớn mạnh,
họ sẽ tạo lập một FC cho mình, công ty này có nhiệm vụ huy động vốn cho công ty mẹ và thực
hiện việc kinh doanh tiền tệ. Mặc công ty này nằm ngoài hệ thống ngân hàng nhưng chúng
cũng thực hiện cung cấp các khoản cho vay phục vụ sản xuất và tiêu dùng.
Quỹ đầu (Mutual Funs MFs, còn gọi Quỹ Tương trợ): được hình thành từ ý nghĩ
mang tính công ích của một số nhà từ thiện vào thế kỷ 19. Theo đó, đại đa số công chúng kiếm
được rất ít lợi tức từ số tiền tiết kiệm nên các nhà từ thiện mong muốn việc này được “thay đổi”
nhằm khích lệ việc tiết kiệm này trong dân chúng giúp tạo nguồn cung vốn cho hội. Các
nhân tiết kiệm thì mong muốn đầu khoản tiền nhàn rỗi vào nơi khả năng sinh lợi,
nhưng phải an toàn và thanh khoản. Thêm vào đó, quốc gia cũng sẽ được hưởng lợi khi dùng số
tiền này đầu tư vào những nơi có mức rủi ro tối thiểu (tính an toàn cao). Do vậy, quỹ này ra đời
nhằm đáp ứng các yêu cầu của cá nhân và xã hội.
1.1.2.4. Các tổ chức tài chính khác
Ngân hàng đầu tư (Investment Banks - IBs) không phải là một ngân hàng thực hiện chức
năng trung gian tài chính (IBs không thực hiện hoạt động nhận tiền gửi rồi cho vay như các
12
ngân hàng khác). Ngân hàng đầu các hãng tham gia việc bán lần đầu các chứng khoán ra
thị trường cấp (Thị trường cấp (The Primary Market) nơi các chứng khoán brand new
được phát hành do một quan chính phủ hoặc của công ty bán ra để vay vốn từ nhà đầu tư),
họ đầu mối cung cấp chứng khoán mới trên thị trường, bao tiêu những đợt phát hành cổ
phiếu, trái phiếu công ty và chính quyền.
Công ty chứng khoán (Còn gọi Công ty Kinh doanh môi giới chứng khoán
Securities Brokers & Dealers Firms/ Securities Firms - SFs) một định chế tài chính trung
gian thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán thông qua các nghiệp vụ của mình. SFs
một thành viên của thị trường chứng khoán, họ tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ hoạt động của SFs
mà các chứng khoán được lưu thông, mua bán dễ dàng hơn, từ đó giúp cho một khối lượng vốn
khổng lồ được tập hợp từ những những nguồn vốn nhỏ, lẻ của các nhà đầu được đưa vào
sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Quy mô, cấu trúc ngành và xu hướng phát triển
1.1.3.1. Các tổ chức nhận tiền gửi
a. Các tổ chức tiết kiệm
- Quy mô thị phần của các tổ chức tiết kiệm
Những năm 1980, do sức ép cạnh tranh lớn từ các Ngân hàng Thương mại các tổ
chức tài chính khác, Luật điều chỉnh năm 1980 cho phép các Hiệp hội tiết kiệm cho vay
(S&Ls) mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ cho vay mua nhà còn nhận tiền gửi của các
thành viên không nhằm mục đích mua nhà mà chỉ gửi tiền để hưởng lãi.
Nguồn vốn chủ yếu của S&Ls tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn tiền gửi thanh
toán, phần còn lại (20–30%) vay từ các nguồn khác hoặc từ Chính phủ. S&Ls sử dụng vốn huy
động để cho vay dài hạn trong lĩnh vực bất động sản, chủ yếu là nhà ở. Từ thập niên 80 của thế
kỷ 20 trở đi, S&Ls được phép cung cấp tài khoản thanh toán, cho vay tiêu dùng thực hiện
các hoạt động tương tự ngân hàng thương mại, khiến phạm vi hoạt động giữa hai loại tổ chức
gần như không khác biệt. Cuối thập niên 1970, tài sản của khoảng 4.000 S&Ls đạt 600 tỷ USD.
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ thắt chặt giai đoạn 1979–1982 khiến lãi suất tăng mạnh (chứng
13
khoán kho bạc lên tới 16%/năm), ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các S&Ls. Để
khắc phục, Quốc hội ban hành hai đạo luật DIDMCA và DIA, mở rộng quyền huy động và đầu
cho S&Ls. Tuy nhiên, do chấp nhận rủi ro cao, cùng với sự sụp đổ của thị trường bất động
sản tại Texas, Tây Nam sau đó vùng Đông Bắc, nhiều S&Ls gặp khủng hoảng. Giai đoạn
1980–1989, số lượng S&Ls giảm 35% (từ 4.000 xuống 2.600), nhưng tổng tài sản tăng gấp đôi,
từ 600 tỷ lên 1.200 tỷ USD. Trong khi đó, ngân hàng tiết kiệm (SBs) – chủ yếu hoạt động ở các
bang ven biển phía Đông như New York, New Jersey, New England ít bị ảnh hưởng ban đầu,
nhưng khủng hoảng bất động sản tại New England giai đoạn 1990–1991 khiến nhóm này sa sút
mạnh. Nhiều SBs phá sản hoặc chuyển đổi từ mô hình tương hỗ sang mô hình cổ phần, dẫn đến
sự suy giảm rõ rệt về quy mô và số lượng trong những năm sau đó.
- Xu hướng phát triển của các tổ chức nhận tiền gửi
Giống như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tiết kiệm có kinh nghiệm ghi nhận lợi
nhuận ở giữa đến cuối thập niên 1990 là lãi suất (và do đó chi phí của các quỹ để tiết kiệm) vẫn
thấp nền kinh tế Mỹ mở rộng. Kết quả sự gia tăng trong sự lây lan giữa thu nhập lãi suất
chi phí lãi suất cho các tổ chức tiết kiệm do đó tăng thu nhập ròng của họ. Trong 1999,
các tổ chức tiết kiệm báo cáo $10.700.000.000 trong thu nhập ròng ROA thường niên của
1,00% (điều này so sánh với một ROA của 1,31% so với cùng kỳ cho các ngân hàng thương
mại). Chỉ $10.800.000.000 của thu nhập ròng báo cáo trong 1998 vượt quá những kết quả
này. Cải tiến chất lượng tài sản đã được phổ biến rộng rãi trong 1999, cung cấp thu nhập thuận
lợi ròng điều hành ngành công nghiệp đã từng báo cáo. Tuy nhiên, như trong nền công
nghiệp ngân hàng thương mại, các suy thoái trong nền kinh tế Mỹ cũng dẫn đến một sự suy
giảm trong lợi nhuận của các tổ chức tiết kiệm trong 2000. Cụ thể, ROA của họ tỷ lệ ROE
giảm một chút trong 2000 đến 0,92%và 11,14%, tương ứng, từ mức 1999 của họ. Một lần nữa,
các ngân hàng thương mại lại đối mặt với những suy thoái trong ngắn hạn. Cả ROA ROE
tăng lên đến mức kỷ lục mỗi năm từ 2001 đến 2003. Lãi suất ròng của ngành công nghiệp tăng:
chi phí của tài trợ thu nhập tài sản giảm 2,70% trong khi sản lượng về thu nhập tài sản giảm
2,35%. Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi ròng trong 2003 đã tăng gần hai lần trong năm 2000. Một
đường cong sản lượng bằng phẳng tăng chi phí tài trợ đã góp phần giảm lợi nhuận vào giữa
những năm 2000. Các ROA trung bình giảm từ 1,15% trong năm 2005 1,10% trong năm
2006, trong khi ROE giảm xuống 10,40% trong năm 2005 và 9,99% trong năm 2006.
14
b. Liên hiệp tín dụng (CUs)
- Quy mô thị phần của Liên hiệp tín dụng
Liên hiệp tín dụng (CUs) tổ chức phi lợi nhuận lưu cùng tổ chức thuộc sở hữu
của các thành viên của họ (depositors). Liên hiệp tín dụng (CUs) lần đầu tiên được thành lập tại
Hoa Kỳ vào đầu những năm 1900 như tự giúp các tổ chức ý định giảm thiểu tình trạng đói
nghèo lan rộng. Các công đoàn tín dụng đầu tiên được tổ chức đông bắc, ban đầu
Massachusetts. Các thành viên trả một khoản phí tuyển sinh đầu quỹ để mua ít nhất một
phần tiền gửi trong CU. Các thành viên được dự kiến sẽ gửi tiền tiết kiệm của họ trong CUs, và
các khoản tiền này chỉ được cho vay cho các thành viên khác.
Điều này giới hạn trong số lượng khách hàng của CUs, hay nói các khác CUs không
được tập khách hàng đa dạng như các ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm. Thay vào
đó, trong việc tổ chức một liên hiệp tín dụng, các thành viên được yêu cầu phải một liên kết
tương tự về nghề nghiệp (ví dụ, liên hiệp tín dụng của công an) hoặc Học viện (ví dụ, liên hiệp
tín dụng trường đại học), hoặc phục vụ cho một địa bàn (như: một khu phố tốt, cộng đồng, hoặc
khu vực).
- Xu hướng phát triển của các Liên hiệp tín dụng
Liên hiệp tín dụng chiếm số lượng nhiều nhất của các tổ chức tạo nên các tổ chức tiết
kiệm phân khúc của ngành công nghiệp tài chính, tại Mỹ 8.629 đơn vị (2006). Hơn nữa, họ
đã ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng ảnh hưởng ngân hàng thương mại các tổ chức
tiết kiệm gặp phải trong năm 1980, bởi họ có hơn 40% tài sản Có là Cho vay tiêu dùng với món
vay nhỏ (với số tiền ít hơn $10.000/món vay). Ngoài ra, CUs xu hướng giữ một lượng lớn
chứng khoán chính phủ (16,1 % tài sản của họ, 2006) số tiền tương đối nhỏ nằm trong
các khoản thế chấp mua nhà ở. Hoạt động cho vay của họ được tài trợ bởi tiền gửi tiết kiệm
đóng góp của hơn 87.000.000 thành viên, CUs cũng đã thực hiện liên kết với các Hiệp hội tiết
kiệm có cùng địa bàn kinh doanh hoặc tương đồng về nghề nghiệp của các thành viên sinh hoạt
trong tổ chức. Để thu hút và giữ chân khách hàng, CUs đã phải mở rộng dịch vụ của họ để cạnh
tranh với những ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm.
1.1.3.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
15
a. Công ty bảo hiểm
Trong nền kinh tế hiện nay, bảo hiểm ngành dịch vụ phát triển mạnh, giữ vai trò quan
trọng trong đời sống tác động tới nhiều lĩnh vực khác. Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ
bao giờ? Không tài liệu nào chứng minh một cách chính xác chỉ phỏng đoán vào năm
1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ… đã để ý
đến Đông Dương. Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các Công ty thương
mại lớn, ngoài việc buôn bán, các Công ty này mở thêm một Trụ sở để làm đại diện bảo hiểm.
Vào năm 1926, Chi nhánh đầu tiên của Công ty Franco- Asietique. Đến năm 1929 mới
Công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt
động về bảo hiểm xe ô tô. Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dưới
những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trong nước ngoại
quốc. Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt Bảo Việt) mới
chính thức đi vào hoạt động.
Vào cuối năm 1993, Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của chính phủ được ban
hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng và phát triển bảo hiểm thương mại ở nước ta. Từ cuối
năm 1994 cho đến nay, các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã
lần lượt ra đời như Bảo Minh, PJICO, PVI, PTI, Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành năm
2000, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
Hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường có
tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực trên thế giới. Doanh thu phí bảo hiểm liên tục tăng
cao. So với thị trường bảo hiểm trên thế giới, thị trường bảo hiểm Việt Nam một thị trường
mới nhiều tiềm năng phát triển. Tính đến 31/12/2017, thị trường bảo hiểm 64 công ty
kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 30 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 18 công ty bảo hiểm nhân
thọ, 02 công ty tái bảo hiểm 14 công ty môi giới bảo hiểm (DNMGBH). Trong những năm
qua, quan quản nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tác động đến thị trường bảo
hiểm nói riêng cũng như tương lai của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung, nổi bật nhất
Nghị định 73/2016/NĐ-CP. Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, với mục đích rà soát tất cả
các khía cạnh chính sách, kế thừa cập nhật những điểm mới trong các bộ luật liên quan
16
như Luật đầu tư, Luật Dân sự… Thông tư số 50/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành Nghị định số 73/2016/NĐCP sửa đổi, bổ sung một số nội dung so với quy định hiện hành
về trích lập dự phòng nghiệp vụ, biên khả năng thanh toán, nguyên tắc hạch toán doanh thu, chi
phí…
b. Quỹ hưu trí
Việt Nam, nhằm phát triển mô hình hệ thống hưu trí với mục tiêu đảm bảo an toàn tài
chính cho người cao tuổi, năm 1994, WB đưa ra hình “mẫu” với 3 trụ cột: Hưu trí Bảo
hiểm Xã hội (Trụ cột 1), Hưu trí nghề nghiệp (Trụ cột 2), Tiết kiệm/ Hưu trí tự nguyện (Trụ cột
3). Năm 2005, WB tiếp tục bổ sung thêm hai trụ cột vào hình: Phúc lợi hội (Trụ cột 0)
các chương trình hỗ trợ phi tài chính của Chính phủ (Trụ cột 4). Hiện tại, ngày càng
nhiều quốc gia cải cách hệ thống hưu trí hướng tới mô hình đa trụ cột do WB xây dựng
1.1.3.3. Các trung gian đầu tư
Quỹ đầu nguồn gốc từ Châu Âu, khởi đầu Lan từ giữa thế kỷ 19, đến nửa
cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh. Mặc có nguồn gốc từ Châu âu, nhưng Mỹ mới
nơi các quỹ đầu phát triển mạnh mẽ nhất. Trong thời kỳ từ năm 1929 đến năm 1951, do suy
thoái kinh tế xảy ra liên tiếp những vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán thế giới đã kìm
hãm tốc độ tăng trưởng của các Quỹ đầu nói chung. Tuy nhiên, sự phục hồi của thị trường
chứng khoán trong những năm 1950 đến năm 1960 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ trở lại
của các quỹ đầu tư. Một hiện tượng mang tính tiêu biểu trong giai đoạn này sự bùng nổ các
quỹ đầu chuyên đầu vào cổ phiếu tốc độ tăng trưởng cũng như mức độ rủi ro cao
(Aggressive Stock Funds). Năm 1969 bắt đầu một giai đoạn đi xuống của thị trường chứng
khoán cũng như ngành quản lý quỹ đầu tư. Trong những năm 1970, xuất hiện một loạt các phát
kiến mới về cấu trúc quỹ như quỹ chỉ số chứng khoán (Index funds) và thế hệ các quỹ trong đó
nhà đầu không phải trả lệ phí mua bán chứng chỉ (no-load funds). Từ những năm 1980 trở
lại đây, thị trường quản quỹ đã liên tục phát triển mở rộng, đến nay đã trở thành một
ngành dịch vụ thịnh vượng, một bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường chứng khoán.
1.1.3.4. Các tổ chức tài chính khác
a. Quy mô
17
Do chú trọng vào các giao dịch mua bán chứng khoán bảo lãnh phát hành, quy
của ngành công nghiệp này thường được đo bằng vốn tự (vốn chủ sở hữu) của các công ty
tham gia vào ngành công nghiệp. Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán bảo lãnh phát
hành chứng khoán một dịch vụ tài chính không đòi hỏi việc đầu tài sản hoặc cấp vốn
(ví dụ như đảm bảo khoản vay bằng tiền gửi hoặc khoản thanh toán trên hợp đồng bảo hiểm
thông qua phí bảo hiểm). Thay vào đó, hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán bảo lãnh
phát hành chứng khoán hoạt động sinh lợi không yêu cầu các tổ chức tài chính phải nắm
giữ hoặc đầu các chứng khoán khi chúng được phát hành hoặc được bán cho khách hàng
(ngoại trừ một khoảng thời gian rất ngắn khi các chứng khoán tồn tại dưới dạng hàng tồn kho
hoặc trong thời gian các tổ chức tài chính thực hiện bảo lãnh phát hành. Theo đó, giá trị tài sản
không phải thước đo về quy phù hợp đối với các định chế trong nhóm ngành này. Thay
vào đó, vốn chủ sở hữu hoặc vốn kinh doanh của một tổ chức tài chính được sử dụng như một
thước đo phổ biến nhất khi đo lường quy của định chế. Vốn chủ sở hữu ở trong nhóm ngày
này đã lên tới 164,1 tỷ USD vào đầu năm 2006, hỗ trợ cho tổng tài sản đạt mức 5.220 tỷ USD.
b. Cấu trúc ngành
Các công ty trong nhóm ngành này thể được phân loại theo một số tiêu thức. Thứ
nhất (hàng đầu) những doanh nghiệp lớn nhất, chúng còn được gọi những doanh nghiệp
“national full- line firms”, cung cấp các dịch vụ cho cả khách hàng bán lẻ (đặc biệt trong
hoạt động đại môi giới (broker dealers), hỗ trợ các giao dịch đối với các chứng khoán đã
phát hành) cả khách hàng doanh nghiệp (ví dụ như bảo lãnh phát hành, hỗ trợ trong việc
phát hành các chứng khoán mới).
Thứ hai nhóm các công ty national full-line chỉ thực hiện chuyên doanh với khách
hàng doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động cao trong các giao dịch mua bán chứng khoán.
Thứ ba là số còn lại của nhóm ngành công nghiệp này, gồm:
1. Công ty con chuyên ngành ngân hàng đầu tư thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần
(như JP Morgan Chase).
2. Các nhà môi giới chiết khấu (Discount Brokers những nhà môi giới chứng khoán
thực hiện các giao dịch cho khách hàng nhưng không cung cấp vấn đầu tư/ Tức họ chỉ
18
thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán theo lệnh của khách hàng không đưa ra bất
kỳ lời khuyên đầu nào cho khách hàng đó), thực hiện hoạt động kinh doanh cho khách hàng
trực tuyến hoặc trực tiếp không cần tham vấn thông tin đầu (như Charles Schwarb). Các
công ty này thường tính phí hoa hồng thấp hơn so với nhóm dịch vụ môi giới chọn gói như
Merrill Lynch.
3. Các công ty chứng khoán khu vực, thường được chia thành 3 loại: lớn, trung bình
nhỏ. Chúng tập trung vào việc phục vụ cho từng nhóm khách hàng cụ thể từng địa bàn như
New York hay California.
4. Các công ty chứng khoán điện tử / công ty chứng khoán kinh doanh trực tuyến (giống
như hoạt động bán hàng trên mạng) cung cấp sở kinh doanh cho khách hàng tự thực hiện
giao dịch không cần nhà môi giới. Các giao dịch sẽ được khách hàng thực hiện thông qua
máy tính có kết nối internet.
5. Công ty vốn đầu tư mạo hiểm huy động vốn từ các nhà đầu tư cá nhân và các FIs (như
các quỹ mạo hiểm, các quỹ hưu trí các công ty bảo hiểm) để tài trợ cho các các doanh
nghiệp nhỏ các hoạt động kinh doanh mới (ví dụ: công nghệ sinh học). (các công ty vốn
mạo hiểm thường đóng một vai trò tích cực trong các công ty họ đầu tư, do vậy họ thường
1 vị trí trong ban giám đốc nắm lượng cổ phần đáng kể trong công ty được tài trợ vốn.
Đây là sự khác biệt giữa ngân hàng truyền thống và công ty chứng khoán.).
c. Xu hướng phát triển
Tự do hóa tài chính, toàn cầu hóa, phát triển các sản phẩm mới, sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, các quy định pháp mới các nhân tố hình thành xu hướng phát triển của ngành
trong thời gian qua.
- Tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính trở thành một xu thế tất yếu diễn ra cùng quá trình toàn cầu hóa
hội nhập kinh tế thế giới của các quốc gia. Quá trình này diễn ra theo các cấp độ khác nhau
các quốc gia tùy theo mức độ phát triển, hoàn cảnh lịch sử của nền kinh tế cũng như khả năng
quản của các quan chức năng. Đối với các nước đang phát triển, việc tự do hóa tài chính
19
sẽ tạo ra sự hấp dẫn trong thu hút dòng vốn đầu nước ngoài, tạo nguồn lực cần thiết cho sự
phát triển.
- Quá trình toàn cầu hóa
Quá trình toàn cầu hóa giúp các dòng vốn luân chuyển dễ dàng hơn giữa các quốc gia và
với vận tốc nhanh hơn. Do đó, các IB, các công ty chứng khoán phải đối diện với sự cạnh tranh
của các đối thủ quốc tế nhiều tiềm lực kinh nghiệm hơn. Để phục vụ khách hàng trên toàn
cầu, các IB lớn thực hiện chiến lược mở rộng phạm vi toàn cầu của mình. Việc mở rộng hoạt
động sang các nước đang phát triển cũng đặt ra nhiều thách thức cho các tập đoàn tài chính
quốc tế, nhất các rào cản về văn hóa tập quán kinh doanh. Bên cạnh đó, vấn nạn tham
nhũng tại những quốc gia này đòi hỏi các tập đoàn tài chính phải thực hiện việc chi trả các chi
phí “ngầm” cho các quan chức địa phương mới được những hợp đồng tài chính giàu lợi
nhuận. Điều này đã đặt ra các vấn đề về đạo đức tính cạnh tranh trong ngành kinh doanh
này.
- Các sản phẩm mới
Sự phát triển của công nghệ thông tin, các sáng tạo tài chính nhu cầu tài chính đa
dạng của khách hàng động lực thúc đẩy các IB SFs liên tục cho ra đời các sản phẩm mới,
đa dạng và phức tạp, gồm các sản phẩm phái sinh, trái phiếu cơ cấu, các sản phẩm tài chính tạo
ra từ việc chứng khoán hóa trái phiếu lợi suất cao. Với việc xuất hiện nhiều sản phẩm
phái sinh, vấn đề rủi ro tín dụng ngày một được chú trọng, nhất khi các sản phẩm phái sinh
tín dụng ngày một được phổ biến. Chúng cho phép người sử dụng thể chấp nhận hoặc
chuyển giao rủi ro tín dụng một cách hiệu quả không cần trực tiếp nắm giữ hoặc thoái vốn
các gốc tài sản gắn với rủi ro tín dụng đó.
- Ứng dụng công nghệ thông tin
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách thức tiếp cận khách hàng,
cách thức phân phối sản phẩm của các IB SFs. Hiện nay nhiều sản phẩm được phân phối
ngay trên mạng nội bộ hệ thống máy tính. Các giao dịch trực tuyến, kết nối hệ thống đặt
lệnh trực tiếp của khách hàng với nhà môi giới ngày một phổ biến. Các hỗ trợ với nhà đầu
được thực hiện trực tuyến cập nhật liên tục (các báo cáo phân tích chứng khoán, bản tin,
20
quảng cáo sản phẩm, thông tin liên lạc). Các phương tiện nghe nhìn cho phép các văn phòng
khác nhau kết nối các cuộc họp, hội thảo, ký kết trên phạm vi toàn cầu. Công nghệ thông tin đã
tạo ra sự linh hoạt trong cách thức làm việc của các nhân viên, tăng khả năng cạnh tranh tận
dụng triệt để thời gian. Từ đó, chúng giúp giảm chi phí, tăng cạnh tranh tạo ra nhiều thu
nhập hơn cho các hãng.
1.2. Khái quát về công ty chứng khoán
1.2.1. Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông 121/2020/TT-BTC, công ty chứng khoán
doanh nghiệp được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện một, một số số nghiệp
vụ theo quy định của luạt chứng khoán. Công ty chứng khoán thực hiện một, một số hoặc toàn
bộ nghiệp vụ kinh doanh sau:
+ Môi giới chứng khoán;
+ Tự doanh chứng khoán;
+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán
Như vậy công ty chứng khoán một tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh cung cấp
dịch vụ tài chính trong lĩnh vực chứng khoán. Những công ty chứng khoán được xem định
chế tài chính trung gian quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế một thành viên
không thể thiếu của thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán là loại hình tổ chức tài chính
phi ngân hàng.
1.2.2. Chức năng của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán có các chức năng cơ bản như:
+ Tạo ra chế huy động vốn linh hoạt giữa người tiền nhàn rồi đến người sử dụng
vốn thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành.
+ Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh.
+ Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán bằng việc hoán chuyển từ chứng khoán ra
tiền mặt và ngược lại một cách dễ dàng.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG ------ BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU HOẠT CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TCBS GIAI ĐOẠN 2020-2024 Giảng viên TS.Nguyễn Minh Thảo Môn
Quản trị các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 11 Lớp học phần 251_FMGM2711_02 Hà Nội, năm 2025 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1. Khái quát về các tổ chức tài chính phi ngân hàng 7
1.1.1. Khái niệm và vai trò 7
1.1.2. Các loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng 9
1.1.3. Quy mô, cấu trúc ngành và xu hướng phát triển 12
1.2. Khái quát về công ty chứng khoán 19 1.2.1. Khái niệm 19
1.2.2. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 20
1.3. Các phương thức và chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động quản trị tài chính
của công ty chứng khoán
20
1.3.1. Đánh giá theo khả năng sinh lợi 20
1.3.2. Đánh giá theo quan điểm tối đa hoá hoá trị thị trường 28
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
TCBS GIAI ĐOẠN 2020-2024
31
2.1. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TCBS giai đoạn2020- 2024 31
2.1.1. Khái quát về lịch sử hình thành, quy mô, lĩnh vực hoạt động công ty TCBS 31
2.1.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh và vấn đề quản trị tài chính của
công ty TCBS giai đoạn 2020-2024
35
2.2. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TCBS giai đoạn 2020- 2024 36
2.2.1. Phân tích doanh thu, lợi nhuận 36
2.2.2. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn 41
2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động và vị thế cạnh tranh của công ty TCBS trong giai đoạn 2020-2024 46
2.3.1. Phân tích các chỉ số tài chính 46
2.3.2. Phân tích thị phần và so sánh với đối thủ 51
2.4. Đánh giá rủi ro tài chính của công ty TCBS giai đoạn 2020-2024 56
2.4.1. Rủi ro thanh khoản 56 2
2.4.2. Rủi ro đòn bẩy tài chính 56
2.4.3. Rủi ro lãi suất và đầu tư 57
2.4.4. Rủi ro thị trường 57
2.4.5. Rủi ro tín dụng 58
CHƯƠNG 3. CÁC VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TCBS
59
3.1 Luật, các nghị định và thông tư và các tác động đến công ty TCBS. 59
3.2 Các quy định về an toàn tài chính, tỷ lệ vốn khả dụng, công bố thông tin và
các tác động đến công ty TCBS
60
CHƯƠNG 4. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TCBS TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 61
4.1. Xu hướng của thị trường và chiến lược phát triển của TCBS 61
4.1.1. Bối cảnh Thị trường Tài chính Việt Nam 61
4.1.2. Chiến lược của TCBS 62
4.1.3. Triển vọng và các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng TCBS 64
4.2 Phân tích mô hình SWOT 65 4.2.1. Điểm mạnh 65 4.2.2. Điểm yếu 66 4.2.3. Cơ hội 67 4.2.4. Thách thức 68
4.3. Đề xuất kiến nghị và giải pháp cho công ty TCBS 69 KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 73 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU
Hình 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TCBS 32
Hình 2.2. Hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty Chứng khoán TCBS giai đoạn 2015–2021 36
Hình 2.3. Tiền gốc và trái tức đến hạn thộc các trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đã được
thanh toán trong năm 2022 ( tỷ đồng) 38
Hình 2.4. Kết quả thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2023 của TCBS 39
Hình 2.5. Kết quả kinh doanh TCBS trong giai đoạn 2020-2024 40
Hình 2.6. Biểu đồ tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của TCBS giai đoạn 2020–2024 46
Hình 2.7. Biểu đồ tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE) của TCBS giai đoạn 2020–2024 47
Hình 2.8. Biểu đồ thu nhập trên một cổ phần thường (EPS) của TCBS giai đoạn 2020–2024 48
Hình 2.9. Thị phần môi giới cổ phiếu TCBS giai đoạn 2020-2024 50
Hình 2.10. Thị phần phát hành trái phiếu doanh nghiệp cảu TCBS giai đoạn 2020-2024 51
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Biến động chỉ tiêu EPS của TCBS giai đoạn 2020–2024 48 4 LỜI CẢM ƠN
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường
Đại học Thương mại, cùng khoa Tài chính- ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên
trong quá trình học tập và nghiên cứu. Những kiến thức, kỹ năng và môi trường học tập mà nhà
trường mang lại là nền tảng quan trọng giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
Đặc biệt, nhóm xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo
giảng viên phụ trách môn Quản trị các tổ chức tài chính phi ngân hàng, người đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo, cung cấp tài liệu và góp ý quý báu cho nhóm trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Phân tích hoạt động của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) giai đoạn 2020–2024”.
Mặc dù nhóm đã nỗ lực hoàn thiện bài tiểu luận một cách tốt nhất, song do hạn chế về
thời gian và kiến thức, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận
được sự thông cảm, đóng góp và chỉ dẫn thêm từ thầy/cô để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn trong tương lai.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 5 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng số hóa,
thị trường tài chính – chứng khoán đã trở thành một trong những kênh huy động và phân bổ
vốn quan trọng nhất của nền kinh tế. Giai đoạn 2020–2024 là một chặng đường đầy biến động
và thử thách đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, từ những đợt tăng trưởng bùng nổ chưa
từng có đến những giai đoạn điều chỉnh sâu sắc. Trong bối cảnh đó, Công ty Cổ phần Chứng
khoán Kỹ Thương (TCBS) nổi lên như một trong những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, tiên
phong ứng dụng công nghệ vào dịch vụ tài chính và quản lý tài sản.
Kể từ khi thành lập đến nay, đặc biệt trong giai đoạn 2020–2024, TCBS liên tục ghi
nhận kết quả kinh doanh ấn tượng, duy trì vị thế là công ty chứng khoán có lợi nhuận cao nhất
Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp. Không chỉ dẫn đầu về tư vấn phát hành trái phiếu doanh
nghiệp, TCBS còn mở rộng mạnh mẽ sang các mảng như môi giới cổ phiếu, cho vay ký quỹ,
phát hành chứng quyền và đầu tư công nghệ tài chính blockchain. Đợt IPO năm 2024 cũng
đánh dấu bước ngoặt quan trọng, giúp TCBS tăng cường năng lực tài chính, mở rộng quy mô
hoạt động và khẳng định tầm vóc trên thị trường vốn Việt Nam.
Với những thành tựu và chiến lược phát triển nổi bật, bài tiểu luận này sẽ thực hiện
nhiệm vụ đi sâu vào "Nghiên cứu hoạt động của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương
(TCBS) giai đoạn 2020-2024". Mục tiêu của bài viết là phân tích một cách có hệ thống các
mảng hoạt động kinh doanh chính, đánh giá sự thành công và những thách thức mà TCBS đã
đối mặt, từ đó làm rõ các yếu tố đã giúp công ty định hình vị thế và vượt qua giai đoạn thị
trường đầy biến động. Bài viết cũng sẽ đưa ra những nhận định và bài học kinh nghiệm có giá
trị, góp phần mang lại cái nhìn toàn cảnh về sự phát triển của một trong những công ty chứng
khoán tiêu biểu nhất Việt Nam hiện nay. 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái quát về các tổ chức tài chính phi ngân hàng
1.1.1. Khái niệm và vai trò
1.1.1.1. Khái niệm

Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có thể được hiểu là bộ phận các tổ chức tài chính
không thực hiện đầy đủ các chức năng hoạt động cơ bản của một ngân hàng thương mại. Theo
Carmichael, Jeffrey & Michael Pomerleano, các tổ chức tài chính phi ngân hàng sẽ được thực
hiện một số hoạt động ngân hàng như là hoạt động kinh doanh thường xuyên nhưng không
được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
Theo Ngô Hướng và Tô Kim Ngọc, tổ chức tài chính phi ngân hàng được hiểu là các tổ
chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng
như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2. Vai trò
a. Chu chuyển các nguồn vốn và linh hoạt thời gian đáo hạn của dòng tiền.
Trong bối cảnh hội nhập, tổ chức tài chính phi ngân hàng không chỉ là kênh chuyển tải
nguồn lực tài chính từ các chủ thể thừa vốn đến các chủ thể thiếu vốn trong nước mà còn là
kênh chuyển tải nguồn lực từ những nhà đầu tư quốc tế đến những người đi vay quốc tế. Bằng
cách đa dạng hóa hoạt động đầu tư khiến họ có thể chắn được rủi ro tốt hơn các hộ gia đình khi
không có sự ăn khớp về thời gian đáo hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ.
b. Khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính.
Trong một tiến trình giao dịch vốn, người cần vốn bao giờ cũng nắm rõ thông tin về mức
độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi của dự án đầu tư mà anh ta đang tiến hành hơn người cấp vốn. Vấn
đề này gọi là “thông tin bất cân xứng”. Thông tin bất cân xứng làm nảy sinh lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức khiến người thừa vốn không sẵn lòng cung cấp vốn cho người cần vốn. 7
Tính hợp lý cho sự tồn tại của các tổ chức tài chính phi ngân hàng là khả năng vượt trội
của nó trong việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng và hai “hệ quả” là sự lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng chuyên môn hóa trong việc đánh
giá rủi ro tiềm năng của người đi vay. Chúng có thể tiếp cận các thông tin cá nhân của người
vay (như tiền gửi, thu nhập, tài sản, nợ phải trả và tín dụng) và kiểm soát những hoạt động đầu
tư của họ. Hay nói cách khác các tổ chức tài chính phi ngân hàng có ưu thế để đưa ra quyết
định cung cấp các khoản nợ một cách hợp lý.
c. Góp phần làm giảm chi phí giao dịch của xã hội.
Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến tiền và thời gian để thực hiện giao dịch tài
chính. Sự ra đời của các tổ chức tài chính phi ngân hàng góp phần làm giảm chi phí giao dịch
do chúng có ưu thế về kinh tế quy mô, thông qua việc tập trung các nguồn tiền tệ tiết kiệm có
quy mô nhỏ và đa dạng hóa các nghiệp vụ sử dụng vốn. Do lợi thế về kinh tế quy mô, các tổ
chức tài chính phi ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch cho khách hàng. Thông
thường những người đầu tư nhỏ sẽ phải trả chi phi hoa hồng cho các giao dịch đầu tư chứng
khoán cao hơn mức chi phí giao dịch bình quân của các nhà đầu tư mua buôn. Nhưng khi các
cá nhân đưa tiết kiệm vào các tổ chức tài chính phi ngân hàng (như quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí)
để họ thực hiện hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán, do tổng lượng đầu tư đủ lớn để
trở thành nhà đầu tư mua buôn nên khiến nhóm các hộ gia đình này có thể giảm chi phí giao
dịch mua tài sản của họ.
d. Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng cuộc sống.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng tiền tệ nhàn rỗi
của xã hội dịch chuyển từ người thừa sang người thiếu, cải thiện tính hiệu quả kinh tế của quá
trình này. Dòng tiền được lưu thông sẽ làm cho chi tiêu vốn gia tăng và nâng cao năng suất lao
động. Dưới góc độ của xã hội điều này khiến phúc lợi xã hội và tiêu chuẩn cuộc sống được
nâng lên, tức là lợi ích thuần đối với xã hội được nảy sinh từ hoạt động của các tổ chức tài chính.
e. Kích thích và tập trung các nguồn vốn tiết kiệm trong dân chúng. 8
Với mạng lưới rộng lớn và sự linh hoạt trong hoạt động, các tổ chức tài chính phi ngân
hàng đã tập trung được những nguồn tiết kiệm trong xã hội, nhất là những khoản tiền nhỏ, lẻ để
đưa vào thị trường tài chính. Bởi họ nắm bắt được tâm lý của người tiết kiệm đó là sử dụng các
khoản tiền tiết kiệm được nhằm mục đích dự phòng và sinh lãi, nên các hoạt động đầu tư có
tính thuận tiện và sinh lời sẽ thu hút được người tiết kiệm ủy thác dòng tiền của mình cho các
tổ chức này kinh doanh hộ. Đặc biệt, khi cần hút vốn, các tổ chức này thường nâng mức lãi suất
cao hơn, gây hấp dẫn với người tiết kiệm chấp nhận giảm chi tiêu để gia tăng dự trữ và chuyển
khoản tiết kiệm đó tới các tổ chức này.
g. Thúc đẩy đầu tư, cạnh tranh và sáng tạo trong lĩnh vực tài chính.
Sự tham gia tích cực của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã khiến cho thị trường tài
chính trở nên sôi động, không chỉ là “sân chơi” duy nhất của các ngân hàng và các nhà đầu tư
cá nhân lớn. Chúng giúp tăng tính cạnh tranh cả ở bên cầu lẫn bên cung vốn, khiến người cung
vốn và người cầu vốn có nhiều sự lựa chọn có lợi hơn và phù hợp hơn. Với sự xuất hiện đa
dạng các loại hình tổ chức phi ngân hàng khiến ngày càng nhiều các sản phẩm tài chính, đáp
ứng yêu cầu của các chủ thể tham gia. Áp lực cạnh tranh trên thị trường gia tăng khiến các tổ
chức luôn thực hành mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, chi phí vốn cho người
vay hợp lý hơn và tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho khách hàng.
h. Đáp ứng các nhu cầu trong phòng ngừa rủi ro và đầu tư tài chính
Do bất trắc trong đời sống con người có thể bất ngờ xảy ra và gây tổn hại về mặt vật
chất và tinh thần, điều đó khiến con người luôn phải tự ý thức được việc phòng ngừa, nhất là
phòng ngừa cho các tổn hại tài chính có thể xảy ra. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng là nơi
giúp con người có một loạt công cụ phòng vệ khá hữu hiệu thông qua các hợp đồng dịch vụ
bảo hiểm (do các công ty bảo hiểm cung ứng), các sản phẩm hưu trí (do các quỹ hưu trí cung cấp).
1.1.2. Các loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện nay, có nhiều loại tổ chức tài chính phi ngân hàng, nếu xét theo
đặc trưng hoạt động cơ bản, người ta có thể chia thành 4 nhóm: (1) các tổ chức nhận tiền gửi,
(2) các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, (3) các trung gian đầu tư và (4) các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. 9
1.1.2.1. Các tổ chức nhận tiền gửi
Hiệp hội tiết kiệm và cho vay (Savings and Loan Asociatons - S&L): với nguyên tắc
hoạt động cơ sở là hoạt động tài chính mang tính tương trợ. Theo đó, một nhóm người chấp
nhận đem số tiền tiết kiệm của mình và cam kết đóng góp một khoản tiền nhất định theo một
thời biểu lịch đã được đồng thuận nhất trí để có đủ ngân sách cho một vài người trong nhóm
vay đầu tư, mua sắm tài sản, xây dựng nhà cửa… Những hội viên được vay tiền cam kết hoàn
tiền lại đều đặn cho Hội để Hội có đủ tiền tài trợ cho những hội viên khác thực hiện đầu tư. Khi
mọi hội viên đã được thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình, Hội sẽ tự giải thể (chấm dứt hoạt động).
Ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Savings Bank - SBs) được thành lập với mục đích huy
động các khoản tiền tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Chủ nhân của các ngân hàng tiết
kiệm chính là người gửi tiền tiết kiệm. Theo đó, có một nhóm người đứng ra khởi xướng thành
lập ngân hàng. Sau khi đủ số người tham gia, họ tiến hành họp đại hội cổ đông, soạn thả ra điều
lệ hoạt động và xin giấy phép thành lập. Những cổ đông này là những người bỏ vốn tiết kiệm
đầu tiên để tạo vốn hoạt động của ngân hàng. Kể từ đó và về sau, mỗi khi có thêm một khoản
tiền tiết kiệm mới, họ lại tiếp tục gửi vào ngân hàng và khi cần tiền để kinh doanh hoặc tiêu
dùng, họ lại đi vay từ chính ngân hàng đó.
Liên hiệp tín dụng (Credit Union – CUs, Hợp tác xã tín dụng/Quỹ tín dụng – Việt Nam):
ra đời với nguyên tắc hoạt động cơ sở mang tính tương trợ rất cao, thực hiện thông qua việc
góp vốn cổ phần. Những người có cổ phiếu hoặc mua được cổ phiếu của tổ chức này sẽ được
quyền vay tiền của tổ chức khi cần. Số tiền vay nhiều hay ít tùy thuộc vào số cổ phiếu mà người đó sở hữu.
1.1.2.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các công ty bảo hiểm (Insurance Companies - ICs): Đây là các tổ chức ra đời do nhu
cầu ổn định sản xuất, kinh doanh và đời sống, với chức năng chủ yếu là “lá chắn” phòng ngừa
sự mất ổn định trong đời sống kinh tế xã hội, khắc phục những rủi ro hoặc những tai nạn bất
ngờ. Hoạt động bảo hiểm rất rộng và đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ở các
nước phát triển, hầu như mọi tài sản và hoạt động đều được bảo hiểm. Chính nhờ đó mà các
công ty bảo hiểm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho thị trường 10
vốn. Hiện nay, ICs có 2 loại: Công ty bảo hiểm nhân thọ và công ty bảo hiểm tài sản – trách
nhiệm(còn gọi là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ).
Quỹ hưu trí (PFs - Tên đầy đủ là quỹ trợ cấp và hưu trí – Retirement and Pension Funds-
R&PFs, một số tài liệu sử dụng thuật ngữ Pension Unions PUs): Xu hướng gia tăng lương hưu
xuất hiện từ năm 1870 tại Hoa Kỳ rồi lan rộng ra các nước khác trên thế giới từ đầu thế kỷ 20.
Theo đó, những người nghỉ hưu hoặc đang nhận trợ cấp từ chính phủ có thể gửi tiền vào quỹ
này thông qua việc đề xuất đối với cơ quan thanh toán hàng tháng. Những người đang làm việc
cũng có thể yêu cầu tổ chức sử dụng lao động chuyển số tiền góp vào quỹ lương hưu của mình
vào một PF nào đó mà họ (người lao động) chỉ định. Nguyên tắc hoạt động cơ sở của PFs là
thực hiện huy động từng khoản tiền nhỏ của người lao động trong suốt thời gian họ làm việc và
gia tăng số tiền gửi góp đó để tạo ra thu nhập cho người lao động tham gia PFs khi họ về hưu
hoặc mất sức lao động.
1.1.2.3. Các tổ chức trung gian đầu tư
Công ty tài chính (Financial Companies - FCs): Khi các tập đoàn kinh tế đủ lớn mạnh,
họ sẽ tạo lập một FC cho mình, công ty này có nhiệm vụ huy động vốn cho công ty mẹ và thực
hiện việc kinh doanh tiền tệ. Mặc dù công ty này nằm ngoài hệ thống ngân hàng nhưng chúng
cũng thực hiện cung cấp các khoản cho vay phục vụ sản xuất và tiêu dùng.
Quỹ đầu tư (Mutual Funs – MFs, còn gọi là Quỹ Tương trợ): được hình thành từ ý nghĩ
mang tính công ích của một số nhà từ thiện vào thế kỷ 19. Theo đó, đại đa số công chúng kiếm
được rất ít lợi tức từ số tiền tiết kiệm nên các nhà từ thiện mong muốn việc này được “thay đổi”
nhằm khích lệ việc tiết kiệm này trong dân chúng và giúp tạo nguồn cung vốn cho xã hội. Các
cá nhân tiết kiệm thì mong muốn đầu tư khoản tiền nhàn rỗi vào nơi có khả năng sinh lợi,
nhưng phải an toàn và thanh khoản. Thêm vào đó, quốc gia cũng sẽ được hưởng lợi khi dùng số
tiền này đầu tư vào những nơi có mức rủi ro tối thiểu (tính an toàn cao). Do vậy, quỹ này ra đời
nhằm đáp ứng các yêu cầu của cá nhân và xã hội.
1.1.2.4. Các tổ chức tài chính khác
Ngân hàng đầu tư (Investment Banks - IBs) không phải là một ngân hàng thực hiện chức
năng trung gian tài chính (IBs không thực hiện hoạt động nhận tiền gửi rồi cho vay như các 11
ngân hàng khác). Ngân hàng đầu tư là các hãng tham gia việc bán lần đầu các chứng khoán ra
thị trường sơ cấp (Thị trường sơ cấp (The Primary Market) là nơi các chứng khoán brand new
được phát hành do một cơ quan chính phủ hoặc của công ty bán ra để vay vốn từ nhà đầu tư),
họ là đầu mối cung cấp chứng khoán mới trên thị trường, bao tiêu những đợt phát hành cổ
phiếu, trái phiếu công ty và chính quyền.
Công ty chứng khoán (Còn gọi là Công ty Kinh doanh và môi giới chứng khoán –
Securities Brokers & Dealers Firms/ Securities Firms - SFs) là một định chế tài chính trung
gian thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán thông qua các nghiệp vụ của mình. SFs là
một thành viên của thị trường chứng khoán, họ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ có hoạt động của SFs
mà các chứng khoán được lưu thông, mua bán dễ dàng hơn, từ đó giúp cho một khối lượng vốn
khổng lồ được tập hợp từ những những nguồn vốn nhỏ, lẻ của các nhà đầu tư và được đưa vào sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Quy mô, cấu trúc ngành và xu hướng phát triển
1.1.3.1. Các tổ chức nhận tiền gửi

a. Các tổ chức tiết kiệm
- Quy mô thị phần của các tổ chức tiết kiệm
Những năm 1980, do sức ép cạnh tranh lớn từ các Ngân hàng Thương mại và các tổ
chức tài chính khác, Luật điều chỉnh năm 1980 cho phép các Hiệp hội tiết kiệm và cho vay
(S&Ls) mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ cho vay mua nhà mà còn nhận tiền gửi của các
thành viên không nhằm mục đích mua nhà mà chỉ gửi tiền để hưởng lãi.
Nguồn vốn chủ yếu của S&Ls là tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi thanh
toán, phần còn lại (20–30%) vay từ các nguồn khác hoặc từ Chính phủ. S&Ls sử dụng vốn huy
động để cho vay dài hạn trong lĩnh vực bất động sản, chủ yếu là nhà ở. Từ thập niên 80 của thế
kỷ 20 trở đi, S&Ls được phép cung cấp tài khoản thanh toán, cho vay tiêu dùng và thực hiện
các hoạt động tương tự ngân hàng thương mại, khiến phạm vi hoạt động giữa hai loại tổ chức
gần như không khác biệt. Cuối thập niên 1970, tài sản của khoảng 4.000 S&Ls đạt 600 tỷ USD.
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ thắt chặt giai đoạn 1979–1982 khiến lãi suất tăng mạnh (chứng 12
khoán kho bạc lên tới 16%/năm), ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các S&Ls. Để
khắc phục, Quốc hội ban hành hai đạo luật DIDMCA và DIA, mở rộng quyền huy động và đầu
tư cho S&Ls. Tuy nhiên, do chấp nhận rủi ro cao, cùng với sự sụp đổ của thị trường bất động
sản tại Texas, Tây Nam và sau đó là vùng Đông Bắc, nhiều S&Ls gặp khủng hoảng. Giai đoạn
1980–1989, số lượng S&Ls giảm 35% (từ 4.000 xuống 2.600), nhưng tổng tài sản tăng gấp đôi,
từ 600 tỷ lên 1.200 tỷ USD. Trong khi đó, ngân hàng tiết kiệm (SBs) – chủ yếu hoạt động ở các
bang ven biển phía Đông như New York, New Jersey, New England – ít bị ảnh hưởng ban đầu,
nhưng khủng hoảng bất động sản tại New England giai đoạn 1990–1991 khiến nhóm này sa sút
mạnh. Nhiều SBs phá sản hoặc chuyển đổi từ mô hình tương hỗ sang mô hình cổ phần, dẫn đến
sự suy giảm rõ rệt về quy mô và số lượng trong những năm sau đó.
- Xu hướng phát triển của các tổ chức nhận tiền gửi
Giống như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tiết kiệm có kinh nghiệm ghi nhận lợi
nhuận ở giữa đến cuối thập niên 1990 là lãi suất (và do đó chi phí của các quỹ để tiết kiệm) vẫn
thấp và nền kinh tế Mỹ mở rộng. Kết quả là sự gia tăng trong sự lây lan giữa thu nhập lãi suất
và chi phí lãi suất cho các tổ chức tiết kiệm và do đó tăng thu nhập ròng của họ. Trong 1999,
các tổ chức tiết kiệm báo cáo $10.700.000.000 trong thu nhập ròng và ROA thường niên của
1,00% (điều này so sánh với một ROA của 1,31% so với cùng kỳ cho các ngân hàng thương
mại). Chỉ có $10.800.000.000 của thu nhập ròng báo cáo trong 1998 vượt quá những kết quả
này. Cải tiến chất lượng tài sản đã được phổ biến rộng rãi trong 1999, cung cấp thu nhập thuận
lợi ròng điều hành mà ngành công nghiệp đã từng báo cáo. Tuy nhiên, như trong nền công
nghiệp ngân hàng thương mại, các suy thoái trong nền kinh tế Mỹ cũng dẫn đến một sự suy
giảm trong lợi nhuận của các tổ chức tiết kiệm trong 2000. Cụ thể, ROA của họ và tỷ lệ ROE
giảm một chút trong 2000 đến 0,92%và 11,14%, tương ứng, từ mức 1999 của họ. Một lần nữa,
các ngân hàng thương mại lại đối mặt với những suy thoái trong ngắn hạn. Cả ROA và ROE
tăng lên đến mức kỷ lục mỗi năm từ 2001 đến 2003. Lãi suất ròng của ngành công nghiệp tăng:
chi phí của tài trợ thu nhập tài sản giảm 2,70% trong khi sản lượng về thu nhập tài sản giảm
2,35%. Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi ròng trong 2003 đã tăng gần hai lần trong năm 2000. Một
đường cong sản lượng bằng phẳng và tăng chi phí tài trợ đã góp phần giảm lợi nhuận vào giữa
những năm 2000. Các ROA trung bình giảm từ 1,15% trong năm 2005 và 1,10% trong năm
2006, trong khi ROE giảm xuống 10,40% trong năm 2005 và 9,99% trong năm 2006. 13
b. Liên hiệp tín dụng (CUs)
- Quy mô thị phần của Liên hiệp tín dụng
Liên hiệp tín dụng (CUs) là tổ chức phi lợi nhuận lưu ký cùng tổ chức và thuộc sở hữu
của các thành viên của họ (depositors). Liên hiệp tín dụng (CUs) lần đầu tiên được thành lập tại
Hoa Kỳ vào đầu những năm 1900 như tự giúp các tổ chức có ý định giảm thiểu tình trạng đói
nghèo lan rộng. Các công đoàn tín dụng đầu tiên được tổ chức ở đông bắc, ban đầu ở
Massachusetts. Các thành viên trả một khoản phí tuyển sinh và đầu tư quỹ để mua ít nhất một
phần tiền gửi trong CU. Các thành viên được dự kiến sẽ gửi tiền tiết kiệm của họ trong CUs, và
các khoản tiền này chỉ được cho vay cho các thành viên khác.
Điều này giới hạn trong số lượng khách hàng của CUs, hay nói các khác CUs không có
được tập khách hàng đa dạng như các ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm. Thay vào
đó, trong việc tổ chức một liên hiệp tín dụng, các thành viên được yêu cầu phải có một liên kết
tương tự về nghề nghiệp (ví dụ, liên hiệp tín dụng của công an) hoặc Học viện (ví dụ, liên hiệp
tín dụng trường đại học), hoặc phục vụ cho một địa bàn (như: một khu phố tốt, cộng đồng, hoặc khu vực).
- Xu hướng phát triển của các Liên hiệp tín dụng
Liên hiệp tín dụng chiếm số lượng nhiều nhất của các tổ chức tạo nên các tổ chức tiết
kiệm phân khúc của ngành công nghiệp tài chính, tại Mỹ là 8.629 đơn vị (2006). Hơn nữa, họ
đã ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng mà ảnh hưởng ngân hàng thương mại và các tổ chức
tiết kiệm gặp phải trong năm 1980, bởi họ có hơn 40% tài sản Có là Cho vay tiêu dùng với món
vay nhỏ (với số tiền ít hơn $10.000/món vay). Ngoài ra, CUs có xu hướng giữ một lượng lớn
chứng khoán chính phủ (16,1 % tài sản Có của họ, 2006) và số tiền tương đối nhỏ nằm trong
các khoản thế chấp mua nhà ở. Hoạt động cho vay của họ được tài trợ bởi tiền gửi tiết kiệm
đóng góp của hơn 87.000.000 thành viên, CUs cũng đã thực hiện liên kết với các Hiệp hội tiết
kiệm có cùng địa bàn kinh doanh hoặc tương đồng về nghề nghiệp của các thành viên sinh hoạt
trong tổ chức. Để thu hút và giữ chân khách hàng, CUs đã phải mở rộng dịch vụ của họ để cạnh
tranh với những ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm.
1.1.3.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng 14
a. Công ty bảo hiểm
Trong nền kinh tế hiện nay, bảo hiểm là ngành dịch vụ phát triển mạnh, giữ vai trò quan
trọng trong đời sống và tác động tới nhiều lĩnh vực khác. Ở Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ
bao giờ? Không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào năm
1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ… đã để ý
đến Đông Dương. Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các Công ty thương
mại lớn, ngoài việc buôn bán, các Công ty này mở thêm một Trụ sở để làm đại diện bảo hiểm.
Vào năm 1926, Chi nhánh đầu tiên là của Công ty Franco- Asietique. Đến năm 1929 mới có
Công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt
động về bảo hiểm xe ô tô. Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dưới
những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trong nước và ngoại
quốc. Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) mới
chính thức đi vào hoạt động.
Vào cuối năm 1993, Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của chính phủ được ban
hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng và phát triển bảo hiểm thương mại ở nước ta. Từ cuối
năm 1994 cho đến nay, các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã
lần lượt ra đời như Bảo Minh, PJICO, PVI, PTI, … Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành năm
2000, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
Hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường có
tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới. Doanh thu phí bảo hiểm liên tục tăng
cao. So với thị trường bảo hiểm trên thế giới, thị trường bảo hiểm Việt Nam là một thị trường
mới và có nhiều tiềm năng phát triển. Tính đến 31/12/2017, thị trường bảo hiểm có 64 công ty
kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 30 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 18 công ty bảo hiểm nhân
thọ, 02 công ty tái bảo hiểm và 14 công ty môi giới bảo hiểm (DNMGBH). Trong những năm
qua, cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều chính sách có tác động đến thị trường bảo
hiểm nói riêng cũng như tương lai của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung, nổi bật nhất là
Nghị định 73/2016/NĐ-CP. Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, với mục đích rà soát tất cả
các khía cạnh chính sách, kế thừa và cập nhật những điểm mới trong các bộ luật có liên quan 15
như Luật đầu tư, Luật Dân sự… Thông tư số 50/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành Nghị định số 73/2016/NĐCP sửa đổi, bổ sung một số nội dung so với quy định hiện hành
về trích lập dự phòng nghiệp vụ, biên khả năng thanh toán, nguyên tắc hạch toán doanh thu, chi phí… b. Quỹ hưu trí
Ở Việt Nam, nhằm phát triển mô hình hệ thống hưu trí với mục tiêu đảm bảo an toàn tài
chính cho người cao tuổi, năm 1994, WB đưa ra mô hình “mẫu” với 3 trụ cột: Hưu trí Bảo
hiểm Xã hội (Trụ cột 1), Hưu trí nghề nghiệp (Trụ cột 2), Tiết kiệm/ Hưu trí tự nguyện (Trụ cột
3). Năm 2005, WB tiếp tục bổ sung thêm hai trụ cột vào mô hình: Phúc lợi xã hội (Trụ cột 0)
và các chương trình hỗ trợ phi tài chính của Chính phủ (Trụ cột 4). Hiện tại, ngày càng có
nhiều quốc gia cải cách hệ thống hưu trí hướng tới mô hình đa trụ cột do WB xây dựng
1.1.3.3. Các trung gian đầu tư
Quỹ đầu tư có nguồn gốc từ Châu Âu, khởi đầu ở Hà Lan từ giữa thế kỷ 19, đến nửa
cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh. Mặc dù có nguồn gốc từ Châu âu, nhưng Mỹ mới là
nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất. Trong thời kỳ từ năm 1929 đến năm 1951, do suy
thoái kinh tế xảy ra liên tiếp và những vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán thế giới đã kìm
hãm tốc độ tăng trưởng của các Quỹ đầu tư nói chung. Tuy nhiên, sự phục hồi của thị trường
chứng khoán trong những năm 1950 đến năm 1960 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ trở lại
của các quỹ đầu tư. Một hiện tượng mang tính tiêu biểu trong giai đoạn này là sự bùng nổ các
quỹ đầu tư chuyên đầu tư vào cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cũng như mức độ rủi ro cao
(Aggressive Stock Funds). Năm 1969 bắt đầu một giai đoạn đi xuống của thị trường chứng
khoán cũng như ngành quản lý quỹ đầu tư. Trong những năm 1970, xuất hiện một loạt các phát
kiến mới về cấu trúc quỹ như quỹ chỉ số chứng khoán (Index funds) và thế hệ các quỹ trong đó
nhà đầu tư không phải trả lệ phí mua bán chứng chỉ (no-load funds). Từ những năm 1980 trở
lại đây, thị trường quản lý quỹ đã liên tục phát triển và mở rộng, đến nay đã trở thành một
ngành dịch vụ thịnh vượng, một bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường chứng khoán.
1.1.3.4. Các tổ chức tài chính khác a. Quy mô 16
Do chú trọng vào các giao dịch mua bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành, quy mô
của ngành công nghiệp này thường được đo bằng vốn tự có (vốn chủ sở hữu) của các công ty
tham gia vào ngành công nghiệp. Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán và bảo lãnh phát
hành chứng khoán là một dịch vụ tài chính mà không đòi hỏi việc đầu tư tài sản hoặc cấp vốn
(ví dụ như đảm bảo khoản vay bằng tiền gửi hoặc khoản thanh toán trên hợp đồng bảo hiểm
thông qua phí bảo hiểm). Thay vào đó, hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán và bảo lãnh
phát hành chứng khoán là hoạt động sinh lợi mà không yêu cầu các tổ chức tài chính phải nắm
giữ hoặc đầu tư và các chứng khoán khi chúng được phát hành hoặc được bán cho khách hàng
(ngoại trừ một khoảng thời gian rất ngắn khi các chứng khoán tồn tại dưới dạng hàng tồn kho
hoặc trong thời gian các tổ chức tài chính thực hiện bảo lãnh phát hành. Theo đó, giá trị tài sản
không phải là thước đo về quy mô phù hợp đối với các định chế trong nhóm ngành này. Thay
vào đó, vốn chủ sở hữu hoặc vốn kinh doanh của một tổ chức tài chính được sử dụng như một
thước đo phổ biến nhất khi đo lường quy mô của định chế. Vốn chủ sở hữu ở trong nhóm ngày
này đã lên tới 164,1 tỷ USD vào đầu năm 2006, hỗ trợ cho tổng tài sản đạt mức 5.220 tỷ USD. b. Cấu trúc ngành
Các công ty trong nhóm ngành này có thể được phân loại theo một số tiêu thức. Thứ
nhất (hàng đầu) là những doanh nghiệp lớn nhất, chúng còn được gọi là những doanh nghiệp
“national full- line firms”, cung cấp các dịch vụ cho cả khách hàng bán lẻ (đặc biệt là trong
hoạt động đại lý môi giới (broker – dealers), hỗ trợ các giao dịch đối với các chứng khoán đã
phát hành) và cả khách hàng doanh nghiệp (ví dụ như bảo lãnh phát hành, hỗ trợ trong việc
phát hành các chứng khoán mới).
Thứ hai là nhóm các công ty national full-line chỉ thực hiện chuyên doanh với khách
hàng doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động cao trong các giao dịch mua bán chứng khoán.
Thứ ba là số còn lại của nhóm ngành công nghiệp này, gồm:
1. Công ty con chuyên ngành ngân hàng đầu tư thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần (như JP Morgan Chase).
2. Các nhà môi giới chiết khấu (Discount Brokers – là những nhà môi giới chứng khoán
thực hiện các giao dịch cho khách hàng nhưng không cung cấp tư vấn đầu tư/ Tức là họ chỉ 17
thực hiện các giao dịch mua – bán chứng khoán theo lệnh của khách hàng và không đưa ra bất
kỳ lời khuyên đầu tư nào cho khách hàng đó), thực hiện hoạt động kinh doanh cho khách hàng
trực tuyến hoặc trực tiếp mà không cần tham vấn thông tin đầu tư (như Charles Schwarb). Các
công ty này thường tính phí hoa hồng thấp hơn so với nhóm dịch vụ môi giới chọn gói như Merrill Lynch.
3. Các công ty chứng khoán khu vực, thường được chia thành 3 loại: lớn, trung bình và
nhỏ. Chúng tập trung vào việc phục vụ cho từng nhóm khách hàng cụ thể ở từng địa bàn như New York hay California.
4. Các công ty chứng khoán điện tử / công ty chứng khoán kinh doanh trực tuyến (giống
như hoạt động bán hàng trên mạng) cung cấp cơ sở kinh doanh cho khách hàng tự thực hiện
giao dịch mà không cần nhà môi giới. Các giao dịch sẽ được khách hàng thực hiện thông qua
máy tính có kết nối internet.
5. Công ty vốn đầu tư mạo hiểm huy động vốn từ các nhà đầu tư cá nhân và các FIs (như
các quỹ mạo hiểm, các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm) để tài trợ cho các các doanh
nghiệp nhỏ và các hoạt động kinh doanh mới (ví dụ: công nghệ sinh học). (các công ty vốn
mạo hiểm thường đóng một vai trò tích cực trong các công ty mà họ đầu tư, do vậy họ thường
có 1 vị trí trong ban giám đốc và nắm lượng cổ phần đáng kể trong công ty được tài trợ vốn.
Đây là sự khác biệt giữa ngân hàng truyền thống và công ty chứng khoán.).
c. Xu hướng phát triển
Tự do hóa tài chính, toàn cầu hóa, phát triển các sản phẩm mới, sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, các quy định pháp lý mới là các nhân tố hình thành xu hướng phát triển của ngành trong thời gian qua.
- Tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính trở thành một xu thế tất yếu diễn ra cùng quá trình toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế thế giới của các quốc gia. Quá trình này diễn ra theo các cấp độ khác nhau ở
các quốc gia tùy theo mức độ phát triển, hoàn cảnh lịch sử của nền kinh tế cũng như khả năng
quản lý của các cơ quan chức năng. Đối với các nước đang phát triển, việc tự do hóa tài chính 18
sẽ tạo ra sự hấp dẫn trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nguồn lực cần thiết cho sự phát triển.
- Quá trình toàn cầu hóa
Quá trình toàn cầu hóa giúp các dòng vốn luân chuyển dễ dàng hơn giữa các quốc gia và
với vận tốc nhanh hơn. Do đó, các IB, các công ty chứng khoán phải đối diện với sự cạnh tranh
của các đối thủ quốc tế nhiều tiềm lực và kinh nghiệm hơn. Để phục vụ khách hàng trên toàn
cầu, các IB lớn thực hiện chiến lược mở rộng phạm vi toàn cầu của mình. Việc mở rộng hoạt
động sang các nước đang phát triển cũng đặt ra nhiều thách thức cho các tập đoàn tài chính
quốc tế, nhất là các rào cản về văn hóa và tập quán kinh doanh. Bên cạnh đó, vấn nạn tham
nhũng tại những quốc gia này đòi hỏi các tập đoàn tài chính phải thực hiện việc chi trả các chi
phí “ngầm” cho các quan chức địa phương mới có được những hợp đồng tài chính giàu lợi
nhuận. Điều này đã đặt ra các vấn đề về đạo đức và tính cạnh tranh trong ngành kinh doanh này.
- Các sản phẩm mới
Sự phát triển của công nghệ thông tin, các sáng tạo tài chính và nhu cầu tài chính đa
dạng của khách hàng là động lực thúc đẩy các IB và SFs liên tục cho ra đời các sản phẩm mới,
đa dạng và phức tạp, gồm các sản phẩm phái sinh, trái phiếu cơ cấu, các sản phẩm tài chính tạo
ra từ việc chứng khoán hóa và trái phiếu có lợi suất cao. Với việc xuất hiện nhiều sản phẩm
phái sinh, vấn đề rủi ro tín dụng ngày một được chú trọng, nhất là khi các sản phẩm phái sinh
tín dụng ngày một được phổ biến. Chúng cho phép người sử dụng có thể chấp nhận hoặc
chuyển giao rủi ro tín dụng một cách hiệu quả mà không cần trực tiếp nắm giữ hoặc thoái vốn
các gốc tài sản gắn với rủi ro tín dụng đó.
- Ứng dụng công nghệ thông tin
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách thức tiếp cận khách hàng,
cách thức phân phối sản phẩm của các IB và SFs. Hiện nay nhiều sản phẩm được phân phối
ngay trên mạng nội bộ và hệ thống máy tính. Các giao dịch trực tuyến, kết nối hệ thống đặt
lệnh trực tiếp của khách hàng với nhà môi giới ngày một phổ biến. Các hỗ trợ với nhà đầu tư
được thực hiện trực tuyến và cập nhật liên tục (các báo cáo phân tích chứng khoán, bản tin, 19
quảng cáo sản phẩm, thông tin liên lạc). Các phương tiện nghe nhìn cho phép các văn phòng
khác nhau kết nối các cuộc họp, hội thảo, ký kết trên phạm vi toàn cầu. Công nghệ thông tin đã
tạo ra sự linh hoạt trong cách thức làm việc của các nhân viên, tăng khả năng cạnh tranh và tận
dụng triệt để thời gian. Từ đó, chúng giúp giảm chi phí, tăng cạnh tranh và tạo ra nhiều thu nhập hơn cho các hãng.
1.2. Khái quát về công ty chứng khoán 1.2.1. Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 121/2020/TT-BTC, công ty chứng khoán là
doanh nghiệp được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện một, một số số nghiệp
vụ theo quy định của luạt chứng khoán. Công ty chứng khoán thực hiện một, một số hoặc toàn
bộ nghiệp vụ kinh doanh sau: + Môi giới chứng khoán; + Tự doanh chứng khoán;
+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán
Như vậy công ty chứng khoán là một tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh và cung cấp
dịch vụ tài chính trong lĩnh vực chứng khoán. Những công ty chứng khoán được xem là định
chế tài chính trung gian quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và là một thành viên
không thể thiếu của thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán là loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng.
1.2.2. Chức năng của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán có các chức năng cơ bản như:
+ Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rồi đến người sử dụng
vốn thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành.
+ Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh.
+ Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán bằng việc hoán chuyển từ chứng khoán ra
tiền mặt và ngược lại một cách dễ dàng. 20