TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 2021 –
(Phần dành cho sinh viên/ h c viên) ọ Bài thi h c ph ọ ần: Quản trị h c ọ Số báo danh: 74 Mã s ố thi: đề 16 Lớp: K55B2KS Ngày thi: 15/07/2021 S trang ố : 05
Họ và tên: Bùi Thị Oanh
Điểm kết luận: GV ch m thi 1: ấ GV ch m thi 2: ấ BÀI LÀM
Câu 1 (5 điểm): Phân tích nhóm các vai trò ra quyết định của nhà quản trị trong tổ chức. Lấy ví dụ minh họa.
Ra quyết định quản trị là việc lựa chọn một hay một số phương án hành động cho
tổ chức nói chung hay cho việc thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được những
mục tiêu đã định. Ra quyết định quản trị là nhiệm vụ quan trọng của nhà quản trị và là
yếu tố quan trọng giúp nhà quản trị có hướng đi đúng đắn cho tổ chức. Vai trò ra quyết
định của nhà quản trị trong tổ chức được thể hiện như sau:
Trước hết, nhà quản trị là người phụ trách. Để thực hiên chức năng, nhiệm vụ của
mình, nhà quản trị phải sử dụng các công cụ, các phương tiện, đảm bảo các điều kiện tổ
chức hay bộ phận mình phụ trách thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ được giao;
tìm các cách thức cải tiến hoạt động để tổ chức hay bộ phận mình phụ trách ngày càng
phát triển. Nhà quản trị thường là người chủ trì hoặc khởi xướng những ý tưởng mới và
chỉ dẫn các thành viên trong đơn vị triển khai nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc.
Thứ hai, nhà quản trị là người loại bỏ các vi phạm. Trong quá trình hoạt động, tổ
chức nào cũng phải đối phó với những tình huống phát sinh những biến cố bất ngờ, những
nguy cơ đe dọa. Hơn ai hết, nhà quản trị phải dự báo được những thay đổi của môi
trường, phân tích những tác động tích cực, tiêu cực của sự thay đổi này đến hoạt động
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Oanh - Mã LHP:H2101BMGM0111 Trang 1/….
của tổ chức, của đơn vị; chủ động nắm bắt để phòng ngừa và hạn chế các tổn thất có thể
xảy ra, giải quyết các xáo trộn nhằm đưa tổ chức hoạt động ổn định.
Thứ ba, nhà quản trị là người phân phối các nguồn lực. Các nguồn lực trong tổ
chức bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, thời gian,… Nhà quản trị
phải quyết định phân phối các nguồn lực này như thế nào, sử dụng các nguồn lực ra sao
để thực hiện tốt nhất các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát nhằm thực
hiện mục tiêu của tổ chức. Sự thành công hay thất bại của nhà quản trị phụ thuộc phần lớn
vào khả năng phân phối và sử dụng các nguồn lực tổ chức của nhà quản trị.
Thứ tư, nhà quản trị là người tiến hành các cuộc đàm phán. Nhà quản trị thay mặt
tổ chức để bàn bạc, trao đổi, thỏa thuận với các cá nhân, tổ chức khác. Nhà quản trị địa
diện cho tổ chức, đơn vị để quyết định nội dung và kết quả thương lượng. Họ phải có
những hiểu biết nhất định, có năng lực thực sự và khả năng phán đoán để đề ra các quyết
định đúng đắn trong các cuộc đàm phán. Có như vậy, nhà quản trị mới mang lại nhiều lợi
ích cho tổ chức, cho đơn vị.
Tóm lại, quyết định của nhà quản trị ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của
một tổ chức, Các vai trò ra quyết định của nhà quản trị có liên hệ mật thiết với nhau,
tương trợ nhau và bổ sung cho nhau.
Ví dụ: Để chuẩn bị cho ngày 20/10, quản lý bộ phận nhà hàng của khách sạn 5 sao
Hoa Sen trong mấy ngày vừa qua phải tất bật chuẩn bị cho mọi thứ. Một tuần trước, người
quản lý phải liên hệ với bộ phận nhân sự để tuyển thêm nhân viên thời vụ phục vụ bàn
cho ngày 20/10; liên hệ với bên cung cấp để chuẩn bị nguyên liệu cho đủ số lượng; liên
hệ với bếp trưởng để phân bổ đầu bếp và lên thực đơn món ăn; phối hợp với bộ phận tài
chính để ghi chép lại các khoản thu và chi. Vào hôm 20/10 khách hàng đến bộ phận nhà
hàng ăn uống rất đông khoảng tầm 700 khách. Một sự cố đáng tiếc xảy ra đó là có một vị
khách hàng không hài lòng với món bít tết được đưa ra. Vị khách gọi người quản lý ra
chỗ ông và nhận xét rằng món bít tết rất dai và vị rất mặn không giống với mọi lần ông
từng ăn. Vị khách này cho rằng món bít tết không xứng đáng với giá tiền ông bỏ ra và ông
mong muốn nhà hàng phải hoàn lại ông một nửa số tiền của món ăn. Sau đó, người quản
lý đã xin lỗi ông vì sự cố lần này, xin lỗi ông vì món ăn đưa đến khách hàng bị sai sót. Và
người quản lý đã đồng ý hoàn lại một nửa số tiền cho ông. Về phía món ăn, sau khi kiểm
tra ai là người nấu và gặng hỏi, người quản lý biết được đầu bếp làm món bít tết đó trong
lúc nấu đã lơ là k để ý nên làm thịt chín quá dẫn đến bị dai, về phần gia vị nêm sai công
thức. Người đầu bếp sau đó đã bị kỷ luật.
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Oanh - Mã LHP:H2101BMGM0111 Trang 2/….
Qua ví dụ trên ta thấy được các vai trò sau của người quản lý. Vai trò đầu tiên,
người quản lý phụ trách, quán xuyến các công việc liên quan đến ăn uống cho bộ phận
nhà hàng: chịu trách nhiệm cho việc thuê thêm nhân viên phục vụ bàn, chịu trách nhiệm
về nguyên vật liệu,… Vai trò thứ hai, quản lý chịu trách nhiệm phân bổ nguồn lực. Ở đây
người quản lý đã dự đoán được số lượng khách sẽ đông nên đã thuê thêm nhân viên thời
vụ và nhờ bếp trưởng phân bổ đầu bếp cho phù hợp. Vai trò thứ ba là vai trò đàm phán.
Sau khi được khách hàng phàn nàn về chất lượng món ăn, quản lý đã nói chuyện xin lỗi vị
khách và đồng ý với yêu cầu của khách. Vai trò thứ tư là người quản lý đã kịp thời xử lý
các sai phạm. Trong tình huống trên người quản lý đã kịp thời xử lý các lỗi sai trong quá
trình nấu món ăn làm khách hàng không hài lòng. Người quản lý đã nhanh chóng điều tra
ra người đầu bếp làm việc không chuyên tâm nên đã gây ra sai sót và đưa ra hình thức kỷ
luật với người đầu bếp đó.
Câu 2 (5 điểm): Tình huống
* Phân tích tình huống:
Văn phòng là tên gọi chỉ chung về một phòng hay một khu vực làm việc được thiết
kế để sử dụng hoặc cho thuê đối với các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động văn
phòng (liên quan đến giấy tờ, sổ sách, máy tính, máy in,…). Mặt khác văn phòng còn
được hiểu là nơi làm việc hay khu vực làm việc của các doanh nghiệp, công ty, đơn vị tổ
chức. Văn phòng thường được đặt tại tòa nhà cao ốc, sắp xếp không gian để tạo một môi
trường làm việc thuận lơi nhất cho các doanh nghiệp.
Co-working space - không gian làm việc chung là một môi trường làm việc gắn kết,
chia sẻ công việc và những ý tưởng nhưng mỗi thành viên vẫn độc lập trong các hoạt
động của mình. Không giống như môi trường văn phòng cơ bản, các thành viên của mô
hình Coworking space là những cá nhân đến từ những tổ chức khác nhau, ngành nghề
khác nhau. Tất cả mọi người, các cá nhân và các doanh nghiệp sẽ cùng chia sẻ một không
gian làm việc, sẽ cùng sử dụng chung tất cả tiện ích và thiết bị văn phòng hiện đại chung.
Vậy sự giống khác nhau giữa thuê văn phòng và mô hình co-working space là gì?
Trước hết, về giống nhau cả hai đều cho cá nhân, tổ chức thuê để làm việc. Về sự khác
nhau, việc thuê văn phòng sẽ do một cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp thuê và chỉ có
nhân viên của cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp đó mới được làm việc tại đó. Còn co-
working space gồm các cá nhân, tổ chức khác nhau cùng thuê một địa điểm và cùng chia
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Oanh - Mã LHP:H2101BMGM0111 Trang 3/….
sẻ không gian làm với nhau. Có nghĩa là họ sẽ dùng chung các thiết bị, máy móc, cơ sở
vật chất nơi làm việc và cùng làm việc chung trong một không gian.
Co-working space có một số nhược điểm như thiếu sự riêng tư do làm việc chung,
có thể có những cạnh tranh do làm việc cùng nhiều người còn thuê văn phòng nhược điểm
là chi phí cao, thường đóng tiền theo quý hoặc theo năm gây nên khó khăn. Nhưng nhìn
chung co-working space vẫn có một số ưu điểm nổi bật hơn việc thuê văn phòng làm việc
truyền thống. Đó là mô hình co-working space sẽ tối ưu hóa được chi phí thuê văn phòng.
Nếu thuê văn phòng theo kiểu truyền thống bạn phải thuê toàn bộ trang thiết bị ở đó rồi
mới được sử dụng thì ở đây bạn chỉ cần chi trả cho những gì bạn thuê nhưng lại được sử
dụng toàn bộ không gian văn phòng và tiện ích chung như: chỗ ngồi làm việc, bàn làm
việc, phòng họp riêng, phòng khách sang trọng, nhà bếp, điện, internet,… và các tiện ích
có thể đa dạng hơn dựa vào gói dịch vụ mà bạn chọn. Ngoài ra, với mô hình co-working
space, bạn sẽ được làm việc với nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp từ nhiều lĩnh vực
hoạt động khác nhau. Đây cũng là một lợi thế giúp bạn tăng cường khả năng giao tiếp,
tăng sự học hỏi từ mọi người xung quanh và giúp bạn linh hoạt hơn trong công việc. Hơn
nữa, mô hình này rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt là các startup
chưa có đủ kinh phí để thuê riêng cho mình một văn phòng.
Xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2012, nhưng chỉ sau 5 năm, mô hình co-working
space đã phát triển với tốc độ mạnh mẽ. Ở Hà Nội có thể kể đến một số cái tên như UP,
Tooning, iHouse,…còn ở thành phố Hồ Chí Minh có Start Saigon, Work Saigon,… Như
vậy, có thể thấy rằng mô hình này đang dần trở nên phổ biến hơn và dần có ưu thế trong lĩnh vực kinh doanh.
* Bình luận về tình huống:
Dựa vào các nguồn thông tin đã được tìm hiểu qua sách, báo, internet,… ở trên và
dựa trên cơ sở lý giải vấn đề (lý giải về ưu và nhược của 2 mô hình cho thuê) thông qua
so sánh và phân tích các thông tin đã tìm được, đứng trên lập trường của một nhà quản trị
tôi có một số đề xuất như sau:
Nếu doanh nghiệp của bạn là doanh nghiệp lớn, đủ khả năng cho việc chi trả thuê
mặt bằng thì tôi đề xuất thuê văn phòng. Bởi thuê văn phòng sẽ tạo cho doanh nghiệp
không gian làm việc chuyên nghiệp hơn, làm việc dễ tập trung và có chỗ làm việc ổn
định; dễ dàng quản lý, giám sát mức độ làm việc của nhân viên; doanh nghiệp sẽ không bị
tình trạng chung đụng trang thiết bị nơi làm việc,…. Nếu doanh nghiệp của bạn là doanh
Họ tên SV/HV: Bùi Thị Oanh - Mã LHP:H2101BMGM0111 Trang 4/….
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.