



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI --- ---
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM VÀ TÌNH HUỐNG PHÂN CHIA TÀI SẢN
Lớp học phần: 242_TLAW0111_13
Giáo viên hướng dẫn: Trần Hạnh Linh
Hà Nội – Năm 2025 1 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................5
CHƯƠNG I: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. 7
1.1 Khái niệm về bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam....................7
1.2 Cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...........8
1.2.1 Cơ quan lập pháp...............................................................................................8
1.2.2 Cơ quan hành pháp............................................................................................9
1.2.3 Cơ quan tư pháp................................................................................................9
1.2.4 Chủ tịch nước...................................................................................................10
1.3 Đặc điểm vận hành của bộ máy nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
hiện nay.........................................................................................................................11
1.3.1 Tính linh hoạt trong phân cấp và phân quyền..................................................11
1.3.2 Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin..............................................12
1.3.3 Tinh gọn tổ chức bộ máy và cải cách hành chính.............................................12
1.3.4 Tăng cường kiểm soát quyền lực, minh bạch và trách nhiệm giải trình...........13
1.3.5 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững.....................................14
CHƯƠNG II: TÌNH HUỐNG CHIA TÀI SẢN THỪA KẾ.............................................15
2.1 Cơ sở căn cứ giải quyết..........................................................................................15
2.1.1 Cơ sở lý thuyết.................................................................................................15
2.1.2 Các trường hợp thừa kế theo pháp luật............................................................18
2.1.3 Luật hôn nhân và gia đình...............................................................................22
2.2 Giải quyết bài toán phân chia tài sản......................................................................23
2.2.1 Tóm tắt tình huống...........................................................................................23
2.2.2 Tình huống đặt ra............................................................................................24
2.2.3 Xác định di sản thừa kế của anh Quang...........................................................24
2.2.4 Tình trạng hôn nhân gia đình...........................................................................24
2.2.5. Phân chia tài sản............................................................................................25
KẾT LUẬN......................................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................30 2
PHỤ LỤC........................................................................................................................31 3 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến giảng viên hướng dẫn,
cô Trần Hạnh Linh – Trường đại học Thương mại – Hà Nội. Trong quá trình học tập và
tìm hiểu bộ môn Pháp luật đại cương, cô đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho chúng tôi
những kiến thức cơ bản nhất về nhà nước và pháp luật. Đồng thời, thông qua học phần
này, giảng viên Linh cũng đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức cơ bản về hành vi
pháp luật và về trách nhiệm pháp lý dưới góc độ là hậu quả của hành vi của con người,
hơn hết đó là những kiến thức quan trọng để phục vụ cho bài thảo luận của chúng tôi. Đó
là những đóng góp vô cùng quý giá không chỉ trong quá trình thực hiện bài thảo luận này
mà còn là hành trang tiếp bước cho chúng tôi trong quá trình học tập và lập nghiệp sau này.
Trong quá trình thực hiện thảo luận, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực
tiễn còn hạn chế nên bài thảo luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính
mong nhận được sự chỉ dẫn và ý kiến đóng góp của giảng viên để bài thảo luận của
chúng tôi được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm 2 - K60U3&U4 - Đại học Thương mại 4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống các thiết chế chính trị – pháp lý hiện đại, Nhà nước được xác lập
như một tổ chức quyền lực công mang tính cưỡng chế đặc thù, đại diện cho lợi ích chung
của toàn xã hội và giữ vai trò chủ đạo trong việc thiết lập, vận hành trật tự pháp luật cũng
như quản lý toàn diện đời sống xã hội. Trong điều kiện phát triển của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nhận thức đúng đắn về khái niệm và cơ cấu tổ
chức của bộ máy nhà nước là tiền đề quan trọng để mỗi công dân, đặc biệt là sinh viên
ngành kinh tế, quản lý và pháp luật, có thể hiểu rõ bản chất của quyền lực nhà nước, cơ
chế phân công – phối hợp – kiểm soát quyền lực cũng như quá trình tổ chức và thực thi
chức năng quản lý nhà nước.
Với ý nghĩa đó, đề tài “Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay” là một trong những đề tài thảo luận được nhóm chúng tôi đề cao và lựa chọn. Lý do
chúng tôi lựa chọn đề tài này là bởi bộ máy nhà nước không chỉ phản ánh mô hình tổ
chức quyền lực chính trị trong một quốc gia, mà còn thể hiện rõ quan điểm chính trị,
pháp lý và trình độ phát triển của thể chế nhà nước đó. Trong bối cảnh đất nước ta đang
không ngừng đổi mới, cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy nhằm hướng đến một nền hành
chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả thì việc nghiên cứu một cách hệ thống và chính xác về
cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước là điều cần thiết, cả trên phương diện lý luận lẫn
thực tiễn. Đây là một chủ đề có tính thời sự, lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong
bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, hoàn thiện tổ
chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đề tài thảo luận “Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay”, nhóm 2 chúng tôi không chỉ tiếp cận dưới góc nhìn lý luận thuần túy, mà còn
vận dụng hệ thống kiến thức pháp luật cơ bản để phân tích và giải quyết một tình huống
giả định gắn liền với thực tiễn cuộc sống, phản ánh vai trò điều tiết của pháp luật trong
đời sống dân sự – hôn nhân và thừa kế. Cụ thể, bài thảo luận sẽ đi sâu phân tích cách thức
phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự, làm rõ các tình huống pháp
lý phát sinh như: hiệu lực của di chúc miệng, thứ tự thừa kế theo pháp luật khi không có
di chúc, và hậu quả pháp lý khi người thừa kế hợp pháp từ chối nhận di sản.
Nhằm xây dựng nội dung bài thảo luận một cách hiệu quả, chúng tôi đã đề ra những
mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cơ bản: 5
1, Khái niệm bộ máy nhà nước và nguyên tắc tổ chức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2, Cấu trúc các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3, Đặc điểm vận hành trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của bộ
máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4, Vận dụng kiến thức pháp luật vào xử lý các tình huống thực tiễn
Qua bài thảo luận “Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
và tình huống phân chia tài sản”, nhóm 2 hy vọng có thể cung cấp cái nhìn tổng thể, có
chiều sâu về bộ máy nhà nước Việt Nam hiện hành, từ đó góp phần nâng cao nhận thức
pháp lý, khơi gợi tinh thần trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó nhóm chúng tôi
mong muốn nâng cao năng lực suy luận pháp lý, góp phần phát triển tư duy hệ thống
trong nghiên cứu và học tập pháp luật đại cương. 6
CHƯƠNG I: BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1 Khái niệm về bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương
hợp thành hệ thống được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành
cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước tiến bộ và được hình thành trên cơ sở những
tiền đề về kinh tế và tiền đề chính trị - xã hội, có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo tầng lớp
nhân dân đứng lên làm đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và lập nên chính đảng của
mình. Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất dân chử rộng rãi, thể hiện ý chí của đa số
tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là một hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ
chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, mang tính quyền lực nhà nước của nhà
nước xã hội chủ nghĩa, được thành lập và tổ chức trên cơ sở các nguyên tắc chính trị - xã
hội tạo thành một cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
Theo bản Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải
đảo, vùng biển và vùng trời. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả các quyền lực của nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp nông nhân, giai cấp công
nhân và đội ngũ tri thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Như vây, Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể được hiểu
là một hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống
nhất, mang tính quyền lực nhà nước của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó,
tất cả các quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, do Nhân dân làm chủ mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp nông dân, giai cấp công nhân và đội ngũ tri thức. 7
1.2 Cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Mỗi bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động xuất phát từ bản chất của nhà
nước, cũng như các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Vì vậy để đảm bảo cho
hoạt động của bộ máy nhà nước có hiệu quả thì bộ máy nhà nước cần được tổ chức và
hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và khi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội thay đổi thì bộ máy nhà nước cũng cần có những thay đổi theo cho phù hợp.
Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ghi nhận trong bản
Hiến pháp 2013 – đã được kế thừa và phát triển từ các bản Hiến pháp trước đó, và xác
định rõ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Trong đó, bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm ba cơ quan
chính là: Cơ quan lập pháp, Cơ quan hành pháp và Cơ quan tư pháp. Chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước cũng đã được xác định cụ thể và đặc biệt Hiến
pháp năm 2013 đã bổ sung thêm một số cơ quan trong bộ máy nhà nước.
1.2.1 Cơ quan lập pháp
Các cơ quan quyền lực nhà nước (hay còn gọi là cơ quan đại diện, cơ quan tư pháp)
là hệ thống cơ quan do Nhân dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Hệ thống cơ quan quyền lực
nhà nước bao gồm: Quốc hội và Hội đồng nhân dân. - Quốc hội: T
rong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam bởi Quốc hội là cơ quan được nhân dân cử tri cả nước từ mọi thành phần trong
xã hội, từ mọi địa phương trong cả nước trực tiếp bầu ra. Quốc hội thực hiện quyền lập
hiến, quyền lập pháp và có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước. Nhiệm kỳ mỗi khóa Quốc hội là 05 năm.
(Theo Điều 69, 71 Hiến pháp 2013)
- Hội đồng nhân dân: Hội
đồng Nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương
do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực
hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 113 Hiến pháp năm 2013) 8
1.2.2 Cơ quan hành pháp
Cơ quan quản lý hành chính nhà nước (hay còn gọi là cơ quan hành pháp) là cơ
quan thi hành Hiến pháp và các đạo luật do Quốc hội ban hành. Cơ quan hành pháp là
một bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước, bao gồm số lượng người nhất định, được tổ
chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực
nhà nước. Hệ thống cơ quan này bao gồm: Chính phủ và Ủy ban nhân dân. - Chính phủ: Chính
phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của
Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ,
các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cơ cấu,
số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định và Chính phủ làm việc theo chế
độ tập thể, quyết định theo đa số.
- Ủy ban Nhân dân: Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và là cơ quan chấp hành của Hội đồng
nhân dân. Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở
địa phương, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm
vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao (Điều 114 Hiến pháp năm 2013)
1.2.3 Cơ quan tư pháp
Theo quan điểm của Việt Nam, tư pháp là chỉ công việc tổ chức, gìn giữ, bảo vệ
pháp luật. Tư pháp còn là từ chung chỉ các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử hoặc tên cơ
quan làm các nhiệm vụ về hành chính tư pháp. Ví dụ: Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp... Tư pháp
có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và pháp chế xã hội chủ nghĩa. (Hỏi đáp pháp luật , 2023)
Vì vậy, hệ thống cơ quan tư pháp của nước ta bao gồm Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
- Tòa án nhân dân: Tòa
án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Hệ thống Tòa án theo quy định của Hiến
pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 bao gồm: Tòa án nhân dân
tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án
quân sự. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền 9
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Viện kiểm sát nhân dân: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp. Cơ quan này có nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ các vấn đề
khác nhau trong đời sống xã hội như quyền con người, pháp luật, lợi ích của nhà nước...
điều này góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
(Điều 107 Hiến pháp năm 2013). Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của
Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 bao gồm: Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao; Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương; Viện kiểm sát quân sự các cấp.
1.2.4 Chủ tịch nước
Ngoài ba hệ thống cơ quan nói trên, bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam còn có chức danh Chủ tịch nước. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước,
thay mặt nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại (Điều 86 Hiến pháp năm 2013)
Chủ tịch nước là do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm
kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho
đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Chủ tịch nước. (Theo Điều 86, 87 Hiến pháp 2013)
Ngoài ra Chủ tịch nước còn có vị trí thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân và cũng
là người được giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh.
Hình 1. Sơ đồ Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 10
1.3 Đặc điểm vận hành của bộ máy nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế - x
hội hiện nay.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với yêu cầu hiện đại hóa
nền hành chính nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bộ máy
Nhà nước Việt Nam không chỉ thay đổi về mặt tổ chức mà còn có những đặc điểm vận
hành mới, phản ánh xu thế cải cách và thích ứng với thực tiễn phát triển.
1.3.1 Tính linh hoạt trong phân cấp và phân quyền
Bộ máy nhà nước hiện nay được tổ chức theo hướng tăng cường phân cấp, phân
quyền hợp lý giữa Trung ương và địa phương. Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế để
trao quyền chủ động hơn cho chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức năng
quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực như đầu tư công, tài chính, y tế,
giáo dục… Việc này nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm giải trình của
địa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế vùng miền và bảo đảm nguyên tắc
thống nhất trong quản lý nhà nước.
Điển hình là trong những năm gần đây, Việt Nam đã đẩy mạnh phân quyền cho
chính quyền địa phương, thể hiện rõ nhất ở mô hình chính quyền đô thị tại TP. Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng. Tại TP. Hồ Chí Minh, kể từ năm 2021, không còn HĐND cấp quận và
phường, thay vào đó là mô hình chính quyền địa phương theo hướng tăng thẩm quyền
cho UBND. Điều này giúp tăng tính chủ động trong quản lý đô thị, rút ngắn thời gian xử
lý thủ tục hành chính, đồng thời giảm tầng nấc trung gian, phù hợp với đặc thù quản lý đô thị đặc biệt lớn.
Theo bài báo "Tinh giản bộ máy hành chính: Cuộc 'Đổi mới lần 2' của đất nước"
đăng trên Báo Chính phủ (Lê Sơn; Anh Thơ; Hải Minh, 2024), việc tinh giản bộ máy
hành chính là một phần của quá trình đổi mới toàn diện trong quản lý nhà nước. Các bộ
ngành đã thực hiện việc sáp nhập, giảm bớt các đơn vị có chức năng trùng lặp, đồng thời
tiến hành cải cách chế độ công vụ để tăng cường trách nhiệm, hiệu quả làm việc của cán bộ công chức.
“Việc tinh giản bộ máy hành chính đã giúp giảm bớt các thủ tục hành chính không
cần thiết, cải thiện chất lượng dịch vụ công và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.”
(Theo Báo Chính phủ, 2024). 11
Qua đó, có thể thấy Chính phủ đang thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, ngày
càng thay đổi để thích nghi với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
1.3.2 Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin
Một trong những đặc điểm nổi bật là việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính phủ đã triển khai Chính phủ điện tử, tiến tới
Chính phủ số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tăng tính
minh bạch. Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ (2024), đến cuối năm 2023, 100%
bộ, ngành, địa phương đã vận hành hệ thống quản lý văn bản điện tử và cung cấp dịch vụ
công trực tuyến mức độ 3 và 4 trên cổng dịch vụ công quốc gia.
Minh chứng của việc xây dựng Chính phủ số chính là Cổng dịch vụ công quốc gia
hiện cung cấp hơn 4.000 thủ tục hành chính trực tuyến, cho phép người dân đăng ký khai
sinh, đăng ký kết hôn, cấp hộ chiếu, thanh toán thuế, bảo hiểm… hoàn toàn trực tuyến,
không cần đến cơ quan nhà nước. Tính đến đầu năm 2024, hơn 230 triệu hồ sơ đã được
xử lý qua hệ thống này, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội và giúp Nhà nước tối
ưu hóa việc kiểm soát thủ tục hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước
1.3.3 Tinh gọn tổ chức bộ máy và cải cách hành chính
Quá trình sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả là một
trọng tâm trong cải cách bộ máy nhà nước. Nhiều cơ quan trung gian đã được sáp nhập,
bãi bỏ hoặc hợp nhất, giảm đầu mối và khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ. Nghị định số 178/2024/NĐ-CP quy định rõ chính sách, chế độ đối với cán bộ
trong quá trình tinh gọn bộ máy, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước
về đổi mới tổ chức hệ thống chính trị.
Với mục tiêu giảm thiểu sự cồng kềnh, không hiệu quả. Theo Báo cáo của Chính
phủ, từ năm 2021 đến nay, bộ máy Chính phủ đã giảm còn 17 bộ, ngành, với sự hợp nhất
của một số cơ quan ngang bộ. Điều này phản ánh cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong
việc thực hiện các mục tiêu cải cách hành chính, nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và
giảm chi phí cho nền kinh tế (Chính, 2025)
“Trong giai đoạn 2021–2025, Chính phủ tiếp tục thực hiện cải cách tổ chức bộ máy
hành chính, hướng tới tinh giản, giảm bớt đầu mối và gia tăng hiệu quả công việc của
các cơ quan nhà nước” ( Theo Chính phủ, 2024). 12
Thực tiễn cho thấy nhiều tỉnh đã sáp nhập sở, ban ngành có chức năng tương đồng để tinh gọn bộ máy
“Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được sắp xếp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả;
giảm đầu mối bên trong cơ quan hành chính, giảm cấp trung gian, tăng cường phân cấp,
phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Chính phủ hiện chỉ còn 14 bộ và 3 cơ quan
ngang bộ.” (Theo Báo Chính phủ, Báo cáo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Quốc
hội khóa XV, tháng 5/2025)
1.3.4 Tăng cường kiểm soát quyền lực, minh bạch và trách nhiệm giải trình
Một đặc điểm quan trọng trong vận hành hiện nay là sự đề cao nguyên tắc pháp
quyền và trách nhiệm giải trình. Cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan trong bộ máy
nhà nước, đặc biệt giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp được củng cố để bảo đảm không
một quyền lực nào bị lạm dụng hoặc vượt quá giới hạn hiến định. Quốc hội khóa XV đã
có nhiều đổi mới trong hoạt động giám sát tối cao. Trong các phiên chất vấn tại kỳ họp,
Thủ tướng và các bộ trưởng phải trực tiếp trả lời chất vấn đại biểu, và nội dung này được
phát trực tiếp đến toàn dân. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải
trình của bộ máy nhà nước trước nhân dân, đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội.
Gần đây, để đáp ứng đúng với điểu kiện phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ đã
nhấn mạnh việc minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương:
“Minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình là hai trong những nguyên tắc quản
trị cốt lõi để chính quyền địa phương nâng cao niềm tin của người dân, đồng thời góp
phần phòng, chống tham nhũng và tăng cường hiệu quả quản lý công.”
“Cần quy định rõ trách nhiệm báo cáo, giải trình định kỳ và đột xuất của các cơ
quan hành chính cấp tỉnh, huyện; đồng thời thiết lập cơ chế giám sát bởi HĐND và các
tổ chức xã hội.” (Theo Tạp chí Quản lý Nhà nước. (2025)
Bên cạnh đó, trách nhiệm của Chính phủ chính là giải trình trước nhân dân, minh
bạch trong quản trị quốc gia:
“Phải xây dựng cơ chế trách nhiệm giải trình từ các thành viên Chính phủ, các Bộ
trưởng đến Thủ tướng, có đánh giá, xử lý sau mỗi nhiệm kỳ để bảo đảm sự minh bạch và
trách nhiệm trong thi hành công vụ.”
“Đồng thời cần tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và nhân dân trong việc
đánh giá hiệu quả hoạt động điều hành của Chính phủ.” (Yến, 2025) 13
“Một nhà nước hiện đại phải được kiến tạo trên nền tảng minh bạch, giải trình và
chịu trách nhiệm. Sự công khai sẽ là lá chắn hữu hiệu chống lại tham nhũng, tạo điều
kiện để người dân thực sự giám sát hoạt động của chính quyền.”(Theo VietnamNet. (2025)
1.3.5 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững
Hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay gắn chặt với mục tiêu phát triển bền
vững, công bằng và bao trùm. Các chính sách điều hành vĩ mô không chỉ tập trung vào
tăng trưởng kinh tế, mà còn chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, phát triển con người, bảo
vệ môi trường và hội nhập quốc tế. Chính phủ thường xuyên điều chỉnh các chính sách
pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, minh chứng qua việc ban hành các nghị định,
thông tư điều chỉnh thuế, đầu tư công, cải cách tiền lương, v.v.
Sự vận hành của bộ máy Nhà nước hiện nay còn thể hiện rõ qua việc gắn cải cách
hành chính với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Theo phân tích của Tạp chí
Chính sách và Cuộc sống (2024):
“Cải cách thể chế không đơn thuần là giảm biên chế hay tổ chức lại đầu mối, mà
còn phải đảm bảo sự công khai, minh bạch, thúc đẩy môi trường đầu tư và phát triển con
người toàn diện”.
Điều này phản ánh tầm nhìn dài hạn trong việc tổ chức và điều hành nhà nước,
không chỉ phục vụ hiệu quả trước mắt mà còn vì lợi ích phát triển bền vững trong tương lai.
Qua những đặc điểm vận hành nêu trên , có thể thấy bộ máy nhà nước Việt Nam
đang từng bước hiện đại hóa, thích ứng với bối cảnh phát triển mới, đồng thời giữ vững
các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo Hiến pháp và pháp luật. Việc nâng cao
hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công
các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng một nhà nước kiến tạo, phục vụ nhân dân. 14
CHƯƠNG II: PHÂN CHIA TÀI SẢN THỪA KẾ
2.1 Cơ sở căn cứ giải quyết
2.1.1 Cơ sở lý thuyết
a, Thừa kế
* Khái niệm
Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh việc dịch chuyển tài sản từ người chết (hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết) cho
những người còn sống khác theo ý chí của họ thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của
Nhà nước để thể hiện trong các quy phạm pháp luật.
* Quy định về thừa kế
- Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế
Người để lại di sản thừa kế: Là người có tài sản sau khi chết để lại cho người còn
sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật.
Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứđiều kiện nào
như địa vị, giới tính, mức độ năng lực hành vi...
Người thừa kế: Là người được thừa hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo
pháp luật. Theo quy định tại Điều 613, BLDS 2015 để trở thành người thừa kế cần
những điều kiện nhất định như: người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào
thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành
thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ
quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Di sản thừa kế
Theo quy định tại Điều 612, BLDS 2015 thì di sản bao gồm tài sản riêng của người
chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.
1. Tài sản riêng của người chết: Tài sản riêng của người chết là tài sản mà người đó
có được từ các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp, như: tài sản được tặng cho, được
thừa kế, thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt riêng
2. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác: Trong thực tế,
có những trường hợp tài sản là tài sản chung của nhiều chủ sở hữu do được tặng cho
chung, thừa kế chung... Trong trường hợp đó, khi một đồng chủ sở hữu chết thì di sản
thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó có trong khối tài sản chung. 15
3. Quyền về tài sản do người chết để lại: Đó là các quyền dân sự được phát sinh từ
các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi thường thiệt hại mà trước khi chết họ đã tham gia
vào những quan hệ này. Ngoài ra còn có các quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng đất.
- Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế. Theo quy định tại
Khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản
chết. Trong trường hợp toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là
ngày được toà án xác định trong quyết định tuyên bố một người là đã chết.
Theo quy định ở Khoản 2, Điều 611 BLDS 2015 thì địa điểm mở thừa kế là nơi cư
trú cuối cùng của người để lại di sản. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng xác định được
nơi cư trú của cá nhân, trên thực tế có nhiều trường hợp người để lại di sản sinh sống nay
đây, mai đó không ổn định... Trong trường hợp như vậy, pháp luật có quy định nếu không
xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc
nơi có phần lớn di sản.
- Người quản lý di sản
Theo quy định của Điều 616, BLDS 2015 thì người quản lý di sản là người được chỉ
định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra. Trong trường hợp di
chúc không chỉ định người quản lí di sản và những người thừa kế chưa cử được người
quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản
đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý đi sản.
Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản
lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
- Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm
Pháp luật đã quy định tại Điều 619, BLDS 2015 việc thừa kế của những người có
quyên thừa kể của nhãu thà chết cùng thời điểm như sau: "Trường hợp những người có
quyền thừa kế di sản của nhàu đều chết củng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời
điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng
thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người
thừa kể của người đó hướng, trừ trường hợp thừa kế thế vị quy định tại Điều 652 của Bộ luật này". 16
- Những người không được hưởng di sản
Trong thực tế có một số trường hợp cá biệt người thừa kế đã vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, xâm phạm
đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ, anh, em, vợ, chồng...
Điều 621, BLDS 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản. Đó là
những trường hợp sau đây:
1. Người bị kết án về hành vi cổ ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản
2. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
3. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế
4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc
lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc
Cần lưu ý rằng, những người rơi vào một trong bồn trưởng hợp nói trên vẫn được
hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ được
hưởng di sản theo di chúc.
- Thời hiệu thừa kế
Điều 623 BLDS 2015 như sau: Thời hiệu để người thừa kể yêu cầu chia di sản là 30
năm đối với bắt động sản, 10 năm đổi với động sản, kẻ từ thời điểm mở thừa kể. Hết thời
hạn này thì di sản thuộc về người thứa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không cô
người thừa kẻ đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiểm
hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này hoặc đi sản thuộc về Nhà nước, nếu
không có người chiếm hữu quy định tại điểm A khoản này.
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ
quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu
người thừa kể thực hiện nghĩa vụ về tải sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
b, Di chúc
* Khái niệm Căn cứ Điều 624 Bô luâ
t Dân sự quy định thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Về hình thức, pháp luât hiên hành tại Điều 627 Bô luâ
t Dân sự có quy định về di
chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. 17
Theo đó, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cũng như đảm
bảo thực hiên ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết thì Bô luâ
t Dân sự khuyến khích lâp di chúc b ng văn bản hơn so với di chúc miê ng,
trừ các trường hợp bất khả kháng, hạn chế năng lực hành vi của người để lại di chúc, đô t tử … Theo Điều 628 Bô Luâ
t Dân sự, di chúc bằng văn bản bao gồm:
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng/ chứng thực.
* Điều kiện di chúc hợp pháp và có hiệu lực
Người lập di chúc phải đủ tuổi vị thành niên; minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di
chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc
miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối
cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác
nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
2.1.2 Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật được
áp dụng trong trường hợp sau đây:
Không có di chúc: Đây là trường hợp theo quy định của pháp luật thì người để lại di
sản có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc nhưng người này lại không thực hiện
quyền lập di chúc, do đó không có di chúc.
Di chúc không hợp pháp: Người để lại di sản có để lại di chúc nhưng di chúc đó vi
phạm các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định. Trường hợp này di
chúc bị coi là vô hiệu nên di sản được chia theo pháp luật.
Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời
điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu và di sản được chia
theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (đối với cá nhân) hoặc một trong 18
số cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên
quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có trường hợp
người thừa kế nhường quyền thừa kế của mình cho người khác (thực chất là người thừa
kế cho người khác phần di sản mà lẽ ra họ được hưởng) thì cũng không coi là từ chối quyền hưởng di sản.
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Người để lại di sản có nhiều di sản
nhưng họ chỉ định đoạt một phần nhất định trong tổng số khối di sản do họ để lại. Đối với
phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật.
Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Nếu di
chúc có một phần vô hiệu mà không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì chỉ phần di sản
có liên quan đến phần của di chúc vô hiệu được chia theo pháp luật còn các phần khác
vẫn được chia theo ý chí của người lập di chúc.
Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có
quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng
không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
* Người thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo
pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất
Gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại: Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thừa
kế thứ nhất của chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại: Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ
được thừa kế theo pháp luật của nhau. Con đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không
kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại: Để có thể được hưởng
thừa kế thì quan hệ nhận nuôi con nuôi phải hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. 19
- Hàng thừa kế thứ hai
Gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người
chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với
cháu ngoại và ngược lại: Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người
đã sinh ra mẹ của cháu. Nếu cháu (ruột) chết thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ ở hàng thừa
kế thứ hai của cháu và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa anh chị ruột với em ruột và ngược lại: Mặc dù pháp luật
không quy định cụ thể nhưng có thể hiểu anh chị em ruột là anh chị em cùng cha hoặc
cùng mẹ. Do vậy, nếu anh chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng thừa kế của
anh, chị ruột và ngược lại.
- Hàng thừa kế thứ ba
Gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô
ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Khi chia thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng
thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
* Thừa kế thế vị
Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân
phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp
người thừa kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế (chết trước hoặc chết cùng với
người để lại di sản).
Để đảm bảo quyền lợi cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong phạm
vi gần gũi, pháp luật quy định về thừa kế thế vị như sau (Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015):
“Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được
hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.” 20