



















Preview text:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Đi cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa là sự phát triển của Ngân hàng
thương mại. Sự phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại đã có những tác
động lớn và đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và
ngược lại, khi kinh tế phát triển các ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn
chỉnh và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu. Trong những năm gần
đây, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đã ký
kết Hiệp định thương mại tự do (FTA), gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC),
Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Năm 2016, đây là
năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, nền kinh tế cũng như ngành Ngân
hàng hội nhập ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế, hội nhập trong khu vực
ASEAN (AEC) là một tất yếu, hiện Việt Nam đang tham gia hàng loạt các hiệp định
thương mại tự do song phương, liên minh khu vực. Trong tiến trình hội nhập này,
ngành ngân hàng có nhiều cơ hội, nhưng cũng phải đối mặt với không ít thách thức
như cạnh tranh thị trường sẽ tăng hơn, chịu tác động không ít từ những biến động bất
lợi của thị trường thế giới và khu vực, các NHTM Việt Nam còn khá mới nên còn
thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn nên trong hoạt động kinh doanh các NHTM cũng gặp
phải ít nhiều khó khăn. Thực hiện Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 của Thủ
tướng phê duyệt đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 -
2015" nhắm lành mạnh hóa tình trạng tài chính và ổn định hoạt động của các tổ chức
tín dụng. Tình đến ngày 31/12/2016, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao
gồm 04 ngân hàng thương mại nhà nước cùng với 31 ngân hàng thương mại cổ phần.
Trong thời gian gần đây, thị trường tài chính Việt Nam đã có nhiều thương vụ sáp nhập
ngân hàng thành công, tổ chức sau sáp nhập có những bước phát triển đáng khích lệ.
Theo sự đánh giá của Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody's, việc tăng cường sáp nhập
các ngân hàng của Việt Nam là một tín hiệu tích cực, giúp loại bỏ các ngân hàng yếu
kém ra khỏi hệ thống. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống ngân
hàng vẫn còn những vẫn đề chưa được giải quyết dứt điểm, như vẫn đề về nợ xấu, tỷ
giá còn nhiều áp lực, hệ thống các TCTD, tuy đã được tái cơ cấu đạt được sự vững
mạnh nhất định, nhưng năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế vẫn là những thách
thức của hệ thống ngân hàng trong những năm tiếp theo. Vì vậy, việc tìm hiểu, phân
tích, đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM cần
dược quan tâm xem xét và đánh giá một cách tổng thể, việc này rất cần thiết và rất có
ích cho ngành ngân hàng tại Việt Nam. Việc hiểu được các nhân tố trên tạo điều kiện
thuận cho các nhà quản trị ngân hàng điều hành tốt hoạt động ngân hàng. Ngân hàng
nhà nước ban hành ra những chính sách phù hợp và đúng đắn, còn các nhà đầu tư có
được quyết định chính xác. Và nhờ vậy khung chính sách cũng dần dần được hoàn
thiện để phù hợp với lộ trình phát triển của các ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn
toàn cầu hóa hiện nay và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ tình hình thực
tiễn và những đòi hỏi cấp thiết hiện nay, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam đang hội
nhập và toàn cầu hoá, để hoạt động của ngành ngân hàng đáp ứng được nhu cầu sự
phát triển của nền kinh tế thì Ngân hàng nhà nước cần đề ra những chính sách phù
hợp. Chính vì vậy, bài viết: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam nhằm góp một phần
cung cấp ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho Việt Nam. 1.2 Mục tiêu đề tài
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại cổ phần tại Việt Nam.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. 1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
NHTMCP tại Việt Nam? Chiều hướng và mức độ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam của các nhân tố đỏ,
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: các NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm
2016. Đối tượng nghiên cứu là những nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các NHTMCP tại Việt Nam.
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua phương pháp
thống kẻ mô tả nhằm xác định những đặc tính cơ bản của dữ liệu đã được thu thập như
giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, thông qua phân tích
tương quan, phân tích hồi quy bằng phương pháp GMM cũng với các kiểm định cần
thiết để xác định sự ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. của các nhân tổ
nghiên cứu. Để hỗ trợ phân tích, tác giả sử dụng phần mềm Stata để chạy dữ liệu. 1.6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: cung cấp các bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam về hiệu
quả hoạt động ngân hàng; đồng thời cùng cổ các lý thuyết đã được nêu ra trong các
nghiên cứu trước đây về hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ý nghĩa về một thực tiễn:
giúp cho các nhà quản trị NHTM đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức
độ tăng trưởng của lợi nhuận nhầm tim ra những nhân tổ tích cực, nhân tổ tiêu cực ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, từ đó đề ra các giải pháp và chính sách
để phát huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu cực, từ đó có thể đưa
ra những quyết định đúng đẫn phát triên ngân hàng ngày một lớn mạnh.
1.7 Bố cục của đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương
- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Lý luận chung về ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Thảo luận kết quả
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1. Các khái niệm:
2.1.1 Ngân hàng thương mại
Perter S.Rose (2004) thì ngân hàng là tổ chức tài chính, cung cấp danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX: “Tổ
chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với
nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh
toán." "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng
khác." Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
“NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu
kinh tế của nhà nước." Theo Luật số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực
hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã." “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo
quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận." "Tôm lại: Ngân hàng là loại hình tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan. Theo tỉnh chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân
hàng gồm: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác. NHTM là một doanh nghiệp
kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số
tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán".
2.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Theo điều 98 của Luật tổ chức tín dụng số 47/2012/QH12 quy định: "Hoạt động
của ngân hàng thương mại:
1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, ký phiểu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn
trong nước và nước ngoài.
3. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: a) Cho vay: b) Chiết khấu, tái chiết
khẩu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; c) Bảo lãnh ngân hàng: d) Phát
hành thẻ tín dụng: d) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các
ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế 2) Các hình thức cấp tín dụng khác
sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
4. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
5. Cung ứng các phương tiện thanh toán.
6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: a) Thực hiện dịch vụ thanh toán
trong nước bao gồm séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chỉ, nhớ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng,
thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chỉ hộ; b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và
các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Mặc dù
hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng các ngân hàng chỉ được thực
hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép kinh doanh của họ, Những chức năng
này sẽ do NHNN quyết định theo từng trường hợp cụ thể."
2.1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại
Nhìn chung, NHTM có các chức năng sau: - Chức năng trung gian tài chính Với
chức năng trung gian tín dụng, NHTM là "cầu nổi" giữa người thừa vốn và người thiếu
vốn, NHTM đóng vai trò vừa là người đi vay và vừa là người cho vay. Đối với người
có vốn nhàn rỗi, họ sẽ nhận được một khoản tiền lãi. Đối với người thiếu vốn, họ sẽ
giải quyết được nguồn vốn cho kinh doanh. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi
nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc
hoa hồng môi giới. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc
kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, ngân hàng đã biển
vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động.
- Chức năng trung gian thanh toàn. Với hoạt động này, NHTM đã tạo điều kiện
cho việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế, các cá nhân... được thuận tiện, giảm thiểu
rủi ro và tiết kiệm được chỉ phi cho họ cũng như tiết kiệm chi phí cho xã hội, đồng thời
tốc độ luân chuyển nguồn vốn kinh doanh của khách hàng cũng được nhanh hơn. Bởi
vì việc thanh toán qua ngân hàng được thực hiện tập trung, chuyên nghiệp và cô công
nghệ cao. Và NHTM cũng thu được phí dịch vụ thanh toán làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động thanh toán cũng
ngày càng phát triển theo. Để thanh toán qua ngân hàng thì khách hàng cần có số dư
tiền gửi tại ngân hàng, điều này làm tăng nguồn vốn cho ngân hàng. - Chức năng tạo
tiền. Đây là chức năng chủ yếu của NHTM, với một lượng tiền cung ứng ban đầu,
thông qua hoạt động nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của hệ
thống NHTM đã làm tăng lượng tiền cung ứng so với ban đầu. Với chức năng "tạo
tiền", hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng
nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín
dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương
mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
2.1.4 Vai trò của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các
nội dung sau: - Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Đề nền
kinh tế phát triển cần phải có một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh
doanh và các hoạt động khác. Với nguồn vốn huy động được, NHTM đã cung cấp vốn
đến mọi hoạt động kinh tế thông qua hoạt động tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn
cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM, các doanh
nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến máy móc, công
nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Hoạt động
của NHTM giúp cho các doanh nghiệp có thêm vốn để tiếp cận với dây chuyển sản
xuất hiện đại, công nghệ từ các nước tiên tiến ngoài vốn tự có của các doanh nghiệp.
- Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
NHTM được Nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý hoạt
động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân
hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM
trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và
thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện
việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng
một cách có hiệu quả. > Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với
nền tài chính quốc tế: Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội
nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia. Nền tải
chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của NHTM
trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán,
nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc
tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của NHTM trực
tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và
thông qua đó NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự
vận động của nền tài chính quốc tế.
2.1.5 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực như
kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Ở những góc nhìn khác nhau, quan điểm về hiệu quả cũng
khác nhau. Theo Farrell (1957), hiệu quả phân ảnh mối quan hệ giữa các yếu tổ đầu ra
thu được so với các yếu tố đầu vào đã được sử dụng để tạo ra yếu tố đầu ra đó. Theo
đó, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bồ. Hiệu quả kỹ thuật thể hiện khả năng đơn vị có thể sản xuất tối đa bao nhiêu đầu ra
với đầu vào cho trước. Hiệu quả phân bố phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng
các đầu vào theo tỷ lệ tối ưu khi đã biết giá cả của chúng. Một câu hỏi được đặt ra khi
nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng là: Tại sao các nhà nghiên cứu phân
tích, các nhà quản lý, các cổ đông và khách hàng lại quan tâm đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng? Câu trả lời của câu hỏi này sẽ khác nhau khi đứng ở gốc
độ khác nhau. Đối với những nhà nghiên cứu, họ quan tâm đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh vì hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến cả nền kinh tế, không có dịch vụ
ngân hàng hiệu quả thì nền kinh tế không thể hoạt động trơn tru và hiệu quả. Theo
quan điểm của các nhà quản lý, các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả là đang gặp
nhiều rủi ro và có khả năng phá sản cao hơn những ngân hàng hoạt động hiệu quả;
trong một thị trường năng động và cạnh tranh thì chỉ có các ngân hàng hoạt động có
hiệu quả mới tồn tại và duy trì thị phần của mình còn những ngân hàng kém hiệu quả
cuối cùng sẽ được loại bỏ. Từ quan điểm của cổ đông, các ngân hàng hoạt động có
hiệu quả đảm bảo đem lại lợi nhuận hợp lý cho họ. Đối với khách hàng thì chỉ có các
ngân hàng hoạt động hiệu quả mới có thể cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt hơn với
giá cả hợp lý. Perter S.Rose (2004) thì bản chất NHTM là một tổ chức tài chính tiến
hành các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Mục tiêu của hầu hết các ngân
hàng cũng giống như những tổ chức kinh tế khác là tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận
được ví như mạch máu trong cơ thể con người, con người chỉ sống được khi có máu
lưu thong trong cơ thể. Hoạt động ngân hàng cũng vậy, một ngân hàng muốn tồn tại và
phát triển thì hoạt động kinh doanh phải có lợi nhuận, như thế có thể bảo toàn được
vốn, gia tăng thị phần, thu hút được nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước. Vì vậy, tỷ
suất lợi nhuận thu được từ kinh doanh đóng vai trò như một thước đo hiệu quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Trong một bài nghiên cứu thực nghiệm năm 2010,
Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ECB nhận xét một số điểm như sau: thứ nhất, để
đánh giá một ngăn hàng hoạt động có hiệu quả hay không, cần xem xát mức độ bền
vững của lợi nhuận mà ngân hàng tạo ra, thứ hai, lợi nhuận mà các ngân hàng tạo ra
được dùng để bù đắp các khoản lỗ, sau đó là giữ lại để tăng cường vốn để hướng đến
mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trong tương. Nghiên cứu của Lottea J.Mester (2003) về
việc đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM đã nêu ra các yếu tố đầu vào mà
ngân hàng sử dụng như lao động, vốn ngân hàng, chi phí hoạt động để tạo ra các yếu
tố đầu ra như các khoản lợi nhuận từ tín dụng, lợi nhuận từ tiền gửi.... Còn nghiên cứu
của Mariana Tomova (2005) cho rằng hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo lường
bằng sự chênh lệch giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động phản ánh việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
máy móc, công cụ và trang thiết bị, vật liệu hoặc việc sử dụng hợp lý để có thể tăng
sản lượng hàng hoá, cung cấp dịch vụ tốt cho khách hàng và giảm chi phí. Hiệu quả
hoạt động cũng phản ánh sự lãng phí làm tiêu hao tài nguyên và lợi nhuận của tổ chức.
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt thì việc giảm chi phí là một lựa
chọn tốt nhất để mang lại hiệu quả.
2.1.4. Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng thương mại. Tất cả các chiến
lược được thiết kế và hoạt động thực hiện nó là để thực hiện mục tiêu lớn này. Để đo
lường hiệu quả hoạt động của NHTM có nhiều tỷ lệ được sử dụng như ROA, ROE,
NIM... Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): theo Ongore (2013), ROA là chỉ tiêu cho
thấy khả năng sinh lời của một ngân hàng. Theo (Khrawish, 2011) ROA là một tỷ lệ
lợi nhuận trên tổng tài sản. Nó đánh giá khả năng quản lý của các nhà quản trị ngân
hàng để tạo thu nhập bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng theo ý của họ. Nói cách
khác, ROA cho thấy nguồn lực của ngân hàng được sử dụng để tạo ra thu nhập. Nó
còn cho thấy hiệu quả của việc quản lý một ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập ròng
từ tất cả các nguồn lực của tổ chức. Wen (2010) cho biết ROA cao hơn cho thấy công
ty có hiệu quả hơn trong việc sử dụng các nguồn lực của nó. Lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu (ROE): theo Ongore (2013), ROE là một tỷ số tài chính liên quan đến lợi nhuận
mà một doanh nghiệp kiếm được so với tổng số tiền vốn cổ phần đã đầu tư. ROE là
những gì mà các cổ đông xem xét trả lại cho nhà đầu tư của họ. Một doanh nghiệp có
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao có nhiều khả năng tạo tiền mặt nội bộ. Do đó, ROE
cao hơn thì công ty tốt hơn về mặt tạo ra lợi nhuận. Điều này được giải thích thêm bởi
Khrawish (2011) rằng ROE là tỷ suất lợi nhuận thuần sau thuế chia cho tổng vốn cổ
phần. Nó đại diện cho tỷ suất lợi nhuận thu được từ các quỹ đầu tư vào các ngân hàng
của các cổ đông. ROE phản ảnh mức độ hiệu quả của việc quản lý ngân hàng đang sử
dụng lợi ích của cổ đông. Như vậy, có thể suy luận rằng ROE cảng có hiệu quả hơn
quản lý sử dụng vốn cổ đông. Lãi suất ròng (NIM): theo Ongore (2013), NIM là thước
đo sự khác biệt giữa thu nhập lãi từ ngân hàng và số tiền lãi trả cho người cho vay của
họ (ví dụ như tiền gửi). NIM thường được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm của khoản
tiền lãi mà ngân hàng thu được trong một khoảng thời gian cụ thể trừ đi số tiền lãi vay
của các khoản vay mượn chia cho tổng tài sản. Gul và cộng sự (2011), NIM được định
nghĩa là thu nhập lãi ròng chia cho tổng tài sản thu nhập. Lãi suất ròng tính khoảng
cách giữa thu nhập lãi mà ngân hàng nhận được từ khoản vay và chứng khoán và chi
phí lãi vay của các khoản vay. Lãi suất ròng căng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng
cao ổn định hơn. Do đó, NIM là một trong những thước đo quan trọng của lợi nhuận
của ngân hàng. Tuy nhiên, theo Khrawish (2011), lãi suất ròng có thể phản ánh các
hoạt động cho vay gặp rủi ro vì liên quan đến việc khách hàng không thể trả nợ vay
theo điều khoản đã thỏa thuận dẫn đến ngân hàng bị mất vốn. Tóm lại, mỗi nhà quản
trị, nhà nghiên cứu có những quan điểm riêng về hiệu quả hoạt động kinh doanh, tùy
vào mục tiêu của việc nghiên cứu mà họ đặt ra khi phân tích những hệ số tài chính. Vì
vậy, do những khó khăn và hạn chế trong việc thu thập số liệu ở Việt Nam, tác giả bài
luận văn này dựa trên ROA và ROE để phản ảnh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Một ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì điều kiện quyết định đó là hoạt
động phải có hiệu quả. Ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến 2 nhóm nhân tố chỉnh, đó là
nhóm nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng và nhóm nhân tố chủ quan bên trong
ngân hàng. Và sự tác động của 2 nhóm nhân tố này đến chất lượng hoạt động của ngân
hàng còn tùy thuộc các yếu tố cụ thể khác của từng ngân hàng.
2.2.1 Các nhân tố chủ quan:
Nhóm các nhân tố chủ quan tác giả muốn trình bày trong bài nhiên cứu chủ yếu
là các nhân tố liên quan đến nội tại của một ngân hàng. Các nhân tố này bao gồm: các
chỉ tiêu rút ra từ báo cáo tài chính, năng lực của nhà quản trị ngân hàng. khả năng ứng
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong hoạt động, các sản phẩm dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp, năng suất lao động, trình độ chuyên môn của nhân sự ngân hàng. a/ Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của NHTM chính là khả năng tài chính để ngân hàng thực
hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả. Khi phân tích và đánh
giá năng lực tài chính của một NHTM, điều mà các nhà phân tích quan tâm đầu tiên là
khả năng một ngân hàng mở rộng vốn chủ sở hữu như thế nào, vì một ngân hàng được
đánh giá là mạnh hay yếu thông qua nguồn vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu có thể bù
đắp tạm thời các khoản lỗ cho đến khi phát sinh lợi nhuận và được giữ lại để tạo nên
vốn bổ sung. Theo Berger (1995) vốn chủ sở hữu cảng lớn giúp ngân hàng chống đỡ
hay bù đắp những rủi ro tài chính bao gồm cả rủi ro phá sản, từ đó làm gia tăng lợi
nhuận của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, mà trong đó rủi
ro nợ xấu được các ngân hàng quan tâm hơn hết, khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, năng lực tài
chính giúp cho các ngân hàng sử dụng lợi nhuận để bù đắp khoản tổn thất, dự phòng
rủi ro phát sinh từ nợ xấu. Năng lực này có ảnh hưởng lớn đến việc ngân hàng có khả
năng huy động vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế hay không. Theo Bourke (1989) đã cho
rằng các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn, thị trường tốt hơn, ít rủi ro hơn.
b/ Khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ:
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, việc khai thác và ứng
dụng những tiến bộ đó trong các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ta có thể thấy rõ những ngân hàng có khả năng
ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại sẽ có sức cạnh tranh cao hơn so với những ngân
hàng sử dụng công nghệ truyền thống. Áp dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ
vào hoạt động ngân hàng, đặc biệt trong hệ thống thanh toán, cung cấp tiện ích ngân
hàng điện tử hiện đại, mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ cho mọi người
dân mang lại hiệu quả cho hoạt động của NHTM. Trình độ của một ngân hàng được
đánh giá dựa trên quy mô đầu tư vào các nghiên cứu ứng dụng, trang bị các công cụ,
phần mềm hiện đại, mang tính đặc trưng cũng như khả năng mở rộng mạng lưới của các ngân hàng với nhau.
c/ Chất lượng lao động:
Nguồn nhân lực luôn là nhân tố quan trọng quyết định đến thành công hay thất
bại của bất kỳ tổ chức nào. Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, mức độ canh tranh
của các ngân hàng ngày càng cao dẫn đến để giữ được thị phần, các ngân hàng cần
cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mới, đa dạng và phù hợp với nhu cầu của khách
hàng. Do đó, chất lượng lao động luôn là yếu tố hàng đầu và các ngân hàng hướng đến
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một cao và thường xuyên
thay đổi của thị trường. Lĩnh vực ngân hàng là một trong những lĩnh vực gắn nhiều với
rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu các nhân viên ngân hàng ngoài
việc có trình độ chuyên môn cao còn phải có đạo đức nghề nghiệp tốt, giúp ngăn ngừa
các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đồng thời giảm những tổn thất
không đáng có, giảm thiểu các chỉ phi trong hoạt động. Theo Ward, D., Bechet, T. P.,
& Tripp. R. (1994), mục tiêu đặt ra cho ngành Ngân hàng để có nguồn nhân lực chất
lượng cao cần đảm bảo nguyên tắc SMART (Specific- Rõ ràng, Measurable- do lường
được; Attainable- Có thể đạt được; Relevant- Thích hợp; Time-bound - Lộ trình cụ thể) d/ Quy mô tổng tài sản:
Athanasoglou và cộng sự (2005), tài sản của ngân hàng là một biến cụ thể của
ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của một ngân hàng. Tài sản ngân hàng bao
gồm các tài sản hiện tại, danh mục tín dụng, tài sản cố định và các khoản đầu tư khác.
Quy mô tổng tài sản của ngân hàng tăng lên liên quan đến độ tuổi của ngân hàng. Lý
thuyết ngân hàng khẳng định rằng một ngân hàng có lợi thế kinh tế theo quy mô lên
đến một mức độ nhất định, vượt quá các quy mô không được quy định.
Điều này có nghĩa là lợi nhuận sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng về quy mô và
giảm ngay khi có những bất lợi về quy mô. Như vậy, mối quan hệ giữa quy mô ngân
hàng và lợi nhuận có thể là tích cực hoặc tiêu cực (Athanasoglou và cộng sự, 2006).
Quy mô có ảnh hưởng quan trọng đến lợi nhuận của chính ngân hàng thương mại đó.
Lý thuyết kinh tế về quy mô cho rằng các tổ chức lớn sẽ hiệu quả hơn và có thể cung
cấp được dịch vụ tại mức giá thấp hơn nhờ vào lợi thế kinh tế quy mô, qua đó sẽ thu
về lợi nhuận cao hơn. Quy mô ngân hàng tăng lên thì thị phần của ngân hàng cũng
được mở rộng, khả năng tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng hơn giúp ngân hàng
thương mại cung cấp sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng một cách nhanh
chóng và hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng doanh thu, lợi nhuận của NHTM, đồng thời tăng
giá trị thương hiệu của ngân hàng mình so với các ngân hàng khác. Quy mô tài sản
tăng lên đòi hỏi khả năng quản lý tốt hơn, nếu không quản lý tốt sẽ dẫn đến rùi ro cao
hơn gây ra ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. e/ Dư nợ cho vay:
Trong hầu hết các bài nghiên cứu, biến đại diện cho quy mô các khoản vay
thường được tính bằng công thức: Dư nợ cho vay Tổng tài sản ngân hàng. Trong quá
trình phân tích một ngân hàng, tỷ lệ này cũng là chỉ tiêu thể hiện rủi ro thanh khoản.
Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản có của ngân hàng được phân bổ vào những loại tài
sản có tính thanh khoản thấp nhất. Tuy nhiên, lợi nhuận của ngân hàng phần lớn từ
hoạt động tín dụng. Hoạt động này đóng góp rất lớn vào thu nhập của ngân hàng, thể
hiện qua chỉ tiêu thu nhập lãi. Dư nợ tín dụng càng lớn thì ngân hàng có thu nhập từ lãi
càng cao dẫn đến tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) cảng cao. Vì vậy, nhân tố này
phần nào phản ảnh năng lực của các nhà quản lý trong việc quản trị ngân hàng
(Aydogan, 1990). Tuy nhiên, chất lượng danh mục đầu tư cho vay có ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Các rủi ro cao nhất mà ngân hàng phải đối mặt là
những khoản lỗ từ các khoản nợ quá hạn (Đặng, 2011). 5/ Vốn chủ sở hữu
Để đánh giá độ lành mạnh tài chính của một NHTM thì một trong những chỉ số
được khuyến khích sử dụng là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (IMF, 2006). Chỉ
số này cảng cao giúp ngân hàng ứng phó với rủi ro tốt hơn do các hoạt động của ngân
hàng an toàn hơn nhưng đồng thời cũng làm giảm nhiều cơ hội kinh doanh hiệu quả.
Theo Athanasoglou và cộng sự (2005), vốn chủ sở hữu là một trong những yếu tố cụ
thể của ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu là số tiền
quỹ riêng có sẵn đề hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng và hoạt động như một
bộ đệm trong trường hợp có bất lợi tỉnh huống Theo Ally (2014), tỷ lệ vốn chủ sở hữu
trên tổng tài sản được coi là một trong những tỷ lệ cơ bản của vốn sức mạnh. Dự kiến
tỷ lệ này càng cao, nhu cầu cấp vốn bên ngoài càng thấp và lợi nhuận của ngân hàng.
Nó cho thấy khả năng của ngân hàng để hấp thụ thiệt hại và xử lý rủi ro với cổ đông.
Tỷ lệ tài sản đối với tổng tải sản dự kiến sẽ có mối quan hệ tích cực với khả năng sinh
lời mà các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài phải đối mặt giảm chi phí phá sản làm
giảm chi phí tài trợ và rủi ro (Berger, 1995). g/ Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu phản ảnh chất lượng và rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân
hàng. Ngân hàng nào không kiểm soát được nợ xấu dẫn đến hiệu quả hoạt động của
ngân hàng bị suy giảm, nghiên cứu của Công Tâm và Minh Hà (2012), Sufian và
Chong (2008), Athanasoglou và cộng sự (2006) đã chứng minh cho kết quả này. Tỷ lệ
nợ xấu được xác định bằng các lấy tổng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay. Đây là một
trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm giúp người phân tích đánh giá được mức độ lành
mạnh tài chính của ngân hàng, nếu tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng có thể sẽ đi đến
tình trạng phá sản (IMF, 2006).
h/ Tổng thu nhập ngoài lãi:
Ngoài nguồn thu nhập chính từ lãi, các ngân hàng thương mại còn có thu nhập từ
các hoạt động như thanh toán, dịch vụ thẻ, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại hổi,
chứng khoán... Theo lý thuyết quản lý danh mục đầu tư, việc đa dạng các danh mục
đầu tư giúp ngân hàng giảm thiêu được rủi ro thị trường để đạt được lợi nhuận kỳ
vọng. Ngày nay, giữa các ngân hàng có sự cạnh tranh gay gắt nên việc đa dạng các sản
phẩm, dịch vụ kinh doanh khác ngoài những hoạt động kinh doanh truyền thống là rất
cần thiết cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận. Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị
Hiền (2010), việc đa dạng hóa thu nhập hoạt động cũng đồng nghĩa với việc giúp các
ngân hàng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
i/ Chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động
Để đảm bảo hoạt động ngày càng hiệu quả, lợi nhuân gia tăng qua các năm, nhà
quản trị ngân hàng thường chú trọng mở rộng đầu tư công nghệ hiện đại, ứng dụng kỹ
thuật vào hoạt động thông tin, giao tiếp, đây mạnh quảng cáo. Việc ứng dụng công
nghệ hiện đại nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, quảng cáo giúp cho thông tin
đến khách hàng đầy đủ, từ đó có thể tăng thu nhập cho ngân hàng. Tỷ lệ chỉ phỉ hoạt
động trên thu nhập hoạt động phản ánh chất lượng quản trị chi phí, nghiên cứu của
Công Tâm và Minh Hà (2012) cho rằng ngân hàng nào kiểm soát tốt chỉ phí hoạt động
thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Các nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) và Sufian
(2011) cũng đã chứng minh cho kết quả này.
2.2.2 Nhóm nhân tố khách quan:
Nhóm các nhân tố khách quan là các yếu tố bên ngoài ngân hàng như chính trị,
pháp luật, kinh tế, xã hội, công nghệ, tâm lý và thói quen của con người..... a/ Tăng
trưởng kinh tế: Cuộc khủng hoảng tài chỉnh toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ khủng
hoảng ngân hàng, đã cho thấy mức nhạy cảm của lợi nhuận các ngân hàng với chu kỳ
kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất của các doanh nghiệp gia tăng, môi
trường đầu tư của ngân hàng được mở rộng, lợi nhuận tăng. Ngược lại, khi nền kinh tế
suy thoái, sản xuất đỉnh trệ, đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp làm cho lợi nhuận giảm.
Gul và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng 1 quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh mê ở sẽ
gia tăng lợi nhuận của ngân hàng ở chỉnh quốc gia đó.
Vì vậy, hiểu được mối quan hệ giữa những biến động của chu kỳ kinh tế và hiệu
quả hoạt động của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự lành mạnh
và ổn định của hệ thống ngân hàng b/ Lạm phát: Lạm phát được định nghĩa là gia tăng
trong giá của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, giá trị của một loại tiền tệ bị mất đi
theo thời gian. Hay nói cách khác, lạm phát là sự suy giảm giá trị tiền tệ của một quốc
gia này so với các loại tiền tệ của các quốc gia khác. Khi lạm phát tăng cao, các ngân
hàng gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn. Để huy động được nguồn vốn,
ngân hàng tăng lãi suất huy động sát với diễn biến lãi suất của thị trường vốn. Do lạm
phát cao, các giao dịch hàng hóa thường được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, trong
điều kiện lạm phát tiền mặt lại khan hiếm nên các NHTM cũng khó khăn khi phát triển
các dịch vụ phi tín dụng, nhất là là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Như vậy, khi
lạm phát tăng cao đã làm cho thị trường vốn bị suy yếu, thậm chí có thể bị phá vỡ, gây
ra ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM. Theo Perry (1992), lạm phát có tác
động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả của hoạt động ngân hàng, điều này tùy thuộc
vào việc có dự đoán trước được lạm phát. c/ Môi trường pháp lý
Hoạt động của các ngân hàng luôn được kiểm soát kiểm soát một cách chật chê
dưới một hệ thống quy định, cơ sở pháp lý do các cơ quan nhà nước ban hành. Cơ sở
pháp lý được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ cho lợi ích của ngân hàng, khách hàng
và nói rộng ra là lợi ích của toàn xã hội. Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, việc
giao thương với các quốc gia trong khu vực và thế giới ngày cũng mở rộng, cũng như
nguồn với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng dồi dào, để đảm bảo khả năng
cạnh tranh và tạo một sân chơi công bằng cho các ngăn hàng thì cơ sở pháp lý phù
hợp, chặt chẽ là một yếu tố quan trọng. So với các nước phát triển và các quốc gia
khác trong khu vực có cơ sở pháp lý khá đầy đủ thì cơ sở pháp lý của Việt Nam còn
chưa đầy đủ do thời gian dài là nền kinh tế kế hoạch tập trung, đây cũng là trở ngại cho
sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam.
d/ Các nhân tố vĩ mô khác:
NHTM được xem là trung gian tài chính, là cầu nối giữa nơi có nguồn vốn nhân
rỗi và nơi có nhu cầu về vẫn trong nền kinh tế. Vì vậy, bất kỳ sự biến đổi nào trong các
nhân tố vĩ mô như môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội cũng sẽ ảnh hưởng đến
hoạt động ngân hàng. Khi môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội ôn định, các
NHTM sẽ có được những điều kiện thuận lợi trong quá trình hoạt động, và khả năng
sử dụng vốn và trả nợ vay của các doanh nghiệp được bảo đảm. Khi nền kinh tế phát
triển gần với sự ổn định của các nhân tố vĩ mô, nhu cầu sử dụng vốn của các doanh
nghiệp gia tăng tạo điều kiện cho các NHTM trong việc tăng quy mô tín dụng, giảm
các rủi ro nợ xấu do năng lực tài chính của các công ty được năng cao. Tuy nhiên, khi
các nhân tố vĩ mô này không ổn định, hoạt động của các NHTM đối mặt với những
nhân tố bất lợi như: các doanh nghiệp giảm quy mô sản xuất kinh doanh dẫn đến giảm
nhu cầu vay vốn; mất khả năng thanh toán, tăng tỷ lệ nợ xấu làm giảm lợi nhuận ngân
hàng. Việt Nam đang trên đã hội nhập ngày một sâu rộng vào nên kinh tế thế giới, do
đó những biến động trong môi trường vĩ mô của các quốc gia khác trên thế giới, nhất
là các đối tác thương mại lớn của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không hể nhỏ
đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu nước ngoài - Nghiêu cứu của Althanasoglou và cộng sự (2005)
nghiên cứu sử dụng mô hỉnh GMM với penal data từ năm 1985 đến năm 2001 của các
ngân hàng Hi Lạp trong việc trả lời câu hỏi: "Các yếu tố nội tại, yếu tố ngành và các
yếu tố vĩ mô tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thế
nào?". Nghiên cứu cho đưa ra kết quả: các yếu tố nội tại thì vốn chủ sở hữu, hiệu suất
lao động có tác động dương và rõ ràng, còn chi phí hoạt động có tác động âm đến hiệu
quả hoạt động ngân hàng. Yếu tố vĩ mô như lạm phát, chu kỳ kinh doanh có tác động
tích cực tới hiệu quả hoạt động ngân hàng. Yếu tố quy mô ngân hàng không cung cấp
bằng chứng thực nghiệm tác động tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu
của Sufian và Chong (2008) nhâm tìm hiểu và đánh giá, phân tích các nhân tố tác động
tới khả năng sinh lời của các ngân hàng Philippin trong suốt giai đoạn 1990-2005. Bài
nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng quy mô, rủi ro tín dụng,
dư nợ cho vay có ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động, trong khi thu nhập ngoài
lãi và vốn hóa có tác động tích cực. Trong giai đoạn nghiên cứu, kết quả cho thấy: biển
lạm phát có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, trong khi
tác động của tăng trưởng kinh tế, cung tiến và việc vốn hóa thị trường chứng khoán
không giải thích một cách rõ ràng sự biến thiên về hiệu quả hoạt động của các ngân
hàng Philippin. - Nghiên cứu của Vòng và Chan (2009) sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên
tài sản ROA để đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại
Macao. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng cũng với phương pháp hồi quy tuyến tỉnh
để phân tích, dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, bảng cân đối kế toán của các NHTM khoảng thời gian 15 năm kể từ năm 1993
đến 2007. Kết quả, các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở có tác động tích cực đến hiệu
quả hoạt động. Các biến dư nợ tín dụng trên tổng tài sản, rủi ro tin dụng, chi phí thuế
trên lợi nhuận và thị phần có tương quan ngược chiều tới hiệu quá hoạt động ngân
hàng. Còn các biển thuộc nhóm vĩ mô thì chỉ có tỷ lệ lạm phát là có ảnh hưởng đáng
kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Nghiêu cứu của Sehrish, Faiza
và Khalid (2011) về các yếu tố tác động đến tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng ở
Pakistan. Bài nghiên cứu đành giả tỷ suất lợi nhuận bằng các chỉ tiêu như ROA, ROE,
NIM và ROCE. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng cùng với phương pháp hồi quy
tuyến tỉnh để phân tích, số liệu được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính của 15 ngân
hàng trong khoảng thời gian 5 năm 2005-2009. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô
ngân hàng (Size), dư nợ cho vay (Loan), huy động vốn (Deposits), tăng trưởng kinh tế
(GDP) và lạm phát (INF) có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất lợi nhuận. Ngược lại vốn
thị trường (MC) và vốn chủ sở hữu (Capital) lại có tác động tiêu cực đến tỷ suất lợi
nhuận của các ngân háng ở Pakistan và không có ý nghĩa thống kê. - Nghiên cứu của
Sufian (2011) với kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng của 11 ngân hàng tại Hàn
Quốc năm 1992 - 2000 nhầm nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng Hàn Quốc thông qua chỉ tiêu ROA và ROE. Kết quá chỉ ra rằng rủi ro tín dụng và
chi phí hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng, trong khi đó
tỉnh thanh khoản, quy mô tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tông tài sản, sự tập trung
của của hệ thống ngân hàng nội địa, tỉnh đa dạng từ nguồn thu và các khoản thu phí
dịch vụ, giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán có ảnh hưởng cũng chiều với hiệu
quả hoạt động kinh doanh ngân háng. Các biến GDP và lạm phát là không xác định
được mối quan hệ với hiệu quả hoạt động ngân hàng. - Nghiên cứu của Deger Alper vå
Adem Anbar (2011) sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu bảng giai đoạn 2002
đến 2010 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương
mại tại Thổ Nhĩ Kỳ thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE. Kết quả bài nghiên cứu cho
thấy, tổng tài sản có tác động cùng chiều đến ROA và ROE, tỷ lệ thu nhập ngoài lại
trên tổng tài sản có tác động tích cực và có ý nghĩa với ROA nhưng không có ý nghĩa
với ROE; tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
trên tổng dư nợ có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê với ROA nhưng không có
ý nghĩa với ROE. Các biển vì mô thì lãi suất thực có tác động tích cực đến lợi nhuận
ngân hàng còn tăng trưởng kinh tế (GDP) thực tế và tỷ lệ lạm phát không có tác động
nhiều đến lợi nhuận ngân hàng. - Nghiên cứu của Husni Ali Khrawish (2011) sử dụng
mô hình hồi quy Pooled OLS để nghiên cứu trên dữ liệu bảng để xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Jordan từ năm 2000-2010.
Các biển được sử dụng như: biển phụ thuộc: ROA, ROE: biển độc lập: tổng tài sản,
vốn chủ sở hữu. dư nợ vay trên tổng tài sản, tăng trưởng GDP và lạm phát. Kết quả
nghiên cứu: quy mô vốn chủ sở hữu có sự tương quan cùng chiều với ROA, ROE, tỷ lệ
lạm phát và tăng trưởng GDP có sự tương quan ngược chiều với ROA, ROE. - Nghiên
cứu của Vincent Okoth Ongore (2013) sử dụng mô hình hồi quy GLS để xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Kenya từ năm 2001-
2010. Các biến được sử dụng như: biển phụ thuộc: ROA, ROE, NIM; biến độc lập:
Vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, hiệu quả quản lý, tăng trưởng kinh tế
GDP và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đầy đủ về vốn, chất lượng tái sản và
hiệu quả quản lý ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương
mại ở Kenya. Tuy nhiên, ảnh hưởng của thanh khoản đối với hoạt động của các ngân
hàng thương mại không mạnh. Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, có mối tương quan tiêu
cực tương đối mạnh với tài chính hiệu quả của các ngân hàng thương mại ở Kenya. -
Nghiên cứu của Zawadi Ally (2014) sử dụng mô hình hồi quy hiệu ứng cổ định (FEM)
được sử dụng trên bảng tông hợp từ 23 ngân hàng từ năm 2009 đến 2013 tại Tanzania.
Các biến được sử dụng như: biển phụ thuộc: ROA; biển độc lập: Vốn, chất lượng tài
sản, khả năng thanh khoản, chi phí quản lý, tăng trưởng kinh tế GDP, lãi suất thực và
lạm phát.. Kết quả thực nghiệm cho thấy các yếu tố đặc thù của ngân hàng (bị ảnh
hưởng bởi quản lý ngân hàng) ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân
hàng ở Tanzania. Tuy nhiên, các yếu tố kinh tế vĩ mô dường như không ảnh hưởng
đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng. Nghiên cứu trong nước - Nguyễn
Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012) nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngân hàng, sử
dụng kỹ thuật phân tích hồi quy đữ liệu bảng với hưởng tiếp cận những ảnh hưởng cố
định (Fixed Effects). Bài nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 28 ngân hàng tại 6 quốc gia
thuộc khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2005-2011. Nghiên cứu tìm thấy tác động của
mức an toàn vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, chất lượng quản trị chi phí
và lãi suất thị trường lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong đó, 3
yếu tố chất lượng tài sản, khả năng thanh khoán, chất lượng quản trị chi phí tác động
cũng chiều còn 2 yếu tố còn lại lãi suất thị trường và mức độ an toàn vốn có tác động
ngược chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng. - Trịnh Quốc Trung và Nguyễn
Văn Sang (Tạp chỉ Công nghệ ngân hàng năm 2013) nghiên cứu dựa vào dữ liệu của
39 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2005 đến 2012 và tác giả sử dụng mô hình Tobit để
hồi quy và xác định các yếu tố có tác tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng
thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE. Kết quá: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có
tác động cũng chiều đến lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) nhưng lại ngược chiều với
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tổng chi phí hoạt động trên doanh thu có tác
động ngược chiều với ROA và ROE; tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản tác động
cùng chiều đến lợi nhuận; tỷ lệ nợ xấu tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động
của của NHTM. - Nghiên cứu của Trần Việt Dũng (Tạp chỉ ngân hàng tháng 8.2014)
sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng moment tổng quát dựa trên dữ liệu
của 22 ngân hàng giai đoạn 2006 đến 2012 nhằm hệ thống các cơ sở lý luận về các
nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, có phẩn hóa có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng và
sự hiện diện của cổ đông ngoại chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng được tìm thấy hiệu quả hơn khi năm giữ
nhiều vốn chủ sở hữu. Các biển vĩ mô, nhất là chu kỳ kinh tế có tác động một cách rõ
nét đến hiệu quả hoạt động. - Nguyễn Việt Hùng (2008) sử dụng phương pháp DEA đo
lường hiệu quả hoạt động 32 NHTM Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 với ba biển đầu
vào gồm chỉ phí trả lương cho nhân viên, tư bản, tổng vốn huy động, biển đầu ra bao
gồm thu từ lãi và thu ngoài lài. Kết quả bài nghiên cứu: các biến quy mô tài sản, tỷ lệ
vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, hệ số đòn bẩy tài chính có mối quan hệ tích cực đến
hiệu quả nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn. Các biến tỷ lệ tiền gửi trên dư nợ, tỷ lệ
đư nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ tư bản hiện vật trên
tổng tài sản và tỷ lệ thu từ lãi trên thu từ hoạt động có tác động ngược chiều đến hiệu
quả hoạt động ngân hàng.