CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
FACTORS AFFECT STUDENT’S ENTREPRENEURIAL INTENTION IN HO
CHI MINH
Nguyễn Hữu Viết Ngọc
Nguyễn Thị Anh Thư
Đoàn Ngọc Mai Thy
Đỗ Ngọc Quỳnh Vy
TS. Trương Đình Thái (GVHD)
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
*Tác giả liên hệ, Email: viettngocc2002@gmail.com
THÔNG TIN TÓM TẮT
Từ khóa: Khởi
nghiệp, ý định
khởi nghiệp,
sinh viên,
Thành phố Hồ
Chí Minh
Khởi nghiệp một vai trò cùng cần thiết đối với sự phát
triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt Việt Nam. Bài nghiên cứu
này xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu nghiên cứu
được thu thập từ 311 sinh viên ý định khởi nghiệp thông qua hình
thức khảo sát trực tuyến bằng bảng câu hỏi được phân tích bằng
hình cấu trúc tuyến tính cho thấy các yếu tố: khả năng, chuẩn chủ
quan, hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp
đến động lực khởi nghiệp tác động gián tiếp đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp sở cho việc đề
xuất chính sách các biện pháp hỗ trợ hợp nhằm khuyến khích
tăng cường ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh.
1
ABSTRACT
Keywords:
Entrepreneurship,
entrepreneurial
intention,
students, Ho Chi
Minh City
Entrepreneurship plays an extremely important role in the
economic development of a country, especially Vietnam. This study
examines and evaluates factors affecting students' entrepreneurial
intentions in Ho Chi Minh City. Research data was collected from
306 students intending to start a business through an online
questionnaire survey and analyzed using a linear structural model
showing the following factors: ability, subjective norm,
opportunities, attitudes, and perceived behavioral control directly
impact entrepreneurial motivation and indirectly impact students'
entrepreneurial intention. The research results provide a basis for
proposing policies and reasonable support measures to encourage
and strengthen students' entrepreneurial intentions in Ho Chi Minh
City.
1. Giới thiệu
Hiện nay, khởi nghiệp đang ngày càng trở thành một xu hướng tiền đề để phát
triển kinh tế trong i hạn. Đây cũng một trong những vấn đề thời sự được các nhà
nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến. Hơn thế nữa, đây cũng
chính một trong những tiền đề nhằm tạo ra nhiều hội việc làm cho thanh thiếu niên;
đồng thời góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì sự ổn
định hòa bình của một hội Chính thế, thúc đẩy tinh thần(Schumpeter, 2000).
khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam cần được sự quan tâm nhiều cấp độ. Cụ thể, từ lúc
còn ngồi trên giảng đường đại học, nhiều sinh viên đã những ý định cho bản thân về
quyết định khởi nghiệp; tuy nhiên, làm thế nào để bắt đầu cần chuẩn bị những nguồn
lực như thế nào thì bản thân sinh viên chưa thể nhận thức một các sâu sắc. Chính những
yếu tố chưa ràng đó làm cho sinh viên ngần ngại đối với vấn đề khởi nghiệp. Để thúc
đẩy tinh thần khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ quyết định
ban hành Đề án “Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” (gọi tắt Đề án
1665). Đề án được thực hiện bởi Bộ Giáo dục Đào tạo nhằm thúc đẩy hỗ trợ hoạt
2
động Hướng nghiệp, Khởi nghiệp của giới trẻ (Quyết định 1230/QĐ-BGDĐT 2018, Đề
án Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp). Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh khách quan sự
nhận thức sự quan tâm các bạn sinh viên, thanh niên về vấn đề “khởi nghiệp” vẫn
còn hạn chế. Do đó, cần đặt ra vấn đề “tại sao các bạn sinh viên chưa thực sự quan tâm
đến vấn đề khởi nghiệp?”. Theo các nhà nghiên cứu, sinh viên thường một mối bận
tâm chung; đó chưa bắt đầu nhưng sợ thất bại. Bằng chứng nhiều bạn sinh viên
vẫn còn rụt rè, thiếu tự tin, luôn mang trong mình tâm e ngại, nhất với những cái
mới, ngại tiếp xúc với điều lạ. vậy, họ luôn trong tâm an phận muốn kiếm tìm
một công việc với mức lương phù hợp thay khởi nghiệp. Như vậy, để thúc đẩy tinh
thần khởi nghiệp của sinh viên, các trường đại học cần phải bổ sung thêm các khóa học,
các chương trình đào tạo hướng nghiệp vào hệ thống giáo dục cho các sinh viên nhằm
giúp sinh viên thể phát triển các kỹ năng như giao tiếp, xử vấn đề,... để sẵn sàng bắt
đầu cho các dự án khởi nghiệp. Câu hỏi đặt ra những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định
khởi nghiệp của sinh viên đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh cần những nghiên cứu thực nghiệm nhằm đưa ra những kết quả cụ thể để các
bên liên quan tham khảo xây dựng các hoạt động thiết thực nhằm thu hút sinh viên
quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này.
2. sở thuyết tổng quan nghiên cứu
2.1. sở thuyết khái niệm liên quan
2.1.1. Khởi nghiệp
Các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp thường tập trung xác định do tại sao,
khi nào làm thế nào để tạo ra, nhận biết tận dụng hội để các nhà khởi nghiệp
thành công từ những bước đi đầu tiên. Theo Shane Ventakaraman (2000) khởi nghiệp
"quá trình tạo ra doanh nghiệp tổ chức mới". Thông qua quá trình đó, các nhà khởi
nghiệp sẽ tạo ra giá trị từ con số không bằng cách huy động thời gian, công sức, tiền bạc
chấp nhận cả những rủi ro để nhận được phần thưởng nội tại (ví dụ: sự hài lòng
nhân hoặc quyền tự chủ) phần thưởng bên ngoài (ví dụ: phần thưởng bằng tiền)
(Timmons, 1978; Hisrich cộng sự, 2005). Theo Baumol (1990), không phải tất cả việc
khai thác hội đều nhất thiết mang lại lợi ích tốt nhất cho hội. vậy, khởi nghiệp
3
thể được phân bổ theo nhiều cách khác nhau ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với
sự phát triển kinh tế.
2.1.2. Ý định khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp thể định nghĩa sự liên quan đến ý định của một nhân
để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris cộng sự, 2007), một quá trình định hướng
việc lập kế hoạch triển khai thực hiện một kế hoạch thành lập doanh nghiệp (Gupta
Bhawe, 2007). Theo Bird (1988), ảnh hưởng của cả đặc điểm nhân môi trường
thể xác định ý định khởi nghiệp. Mặt khác, một số học giả nghiên cứu về khởi nghiệp cho
rằng “các biến số tình huống” như tỷ lệ lạm phát hoặc quy định kinh doanh “các biến
số nhân” như đặc điểm nhân rất ít manh mối để đánh giá sự hình thành ý định
khởi nghiệp (Ajzen, 1991; , 2011; . Fitzsimmons Douglas Krueger cộng sự, 2000)
ràng, các yếu tố ý định rất phức tạp khó nghiên cứu (Ajzen, 1991).
2.2. sở thuyết liên quan
Nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp của
sinh viên các nhân tố liên quan, nhiều thuyết mới đã được đề cập như các scho
việc định hướng thuyết nền: Thuyết hành vi kế hoạch ( -Theory of Planned Behavior
TPB) (Ajzen, 1991) hình Khả năng - Động lực - hội (Ability-Motivation-
Opportunity AMO) (Bailey, 1993).
Thuyết hành vi kế hoạch giúp làm hành vi con người những động ảnh
hưởng đến các hành vi ấy. Dựa vào thuyết này, ba yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên bao gồm “thái độ của sinh viên”, “chuẩn chủ quan” “nhận thức
hành vi của sinh viên” được xác định. hình AMO của Bailey (1993) chứng minh rằng
hiệu suất của mỗi người, cụ thể đây sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
phụ thuộc vào khả năng, động lực hội của họ. Nếu đáp ứng đủ 2 điều kiện cần
khả năng hội thì động lực sẽ được tạo ra để thúc đẩy hiệu suất.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Khuong An (2016) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm nhân, kinh
nghiệm khởi nghiệp trước đây, môi trường n ngoài, chuẩn mực hội tính khả thi
4
được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Đại học Quốc gia Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thầy các yếu tố, kinh nghiệm khởi nghiệp trước đây, môi trường
bên ngoài nhận thức về tính khả thi ba biến độc lập ảnh hưởng cùng chiều đến nhận
thức về khởi nghiệp qua đó ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Raza
công sự (2018) sử dụng thuyết hành vi kế hoạch, hình động - năng lực thiết
kế thành các biến số nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến ý định trở thành doanh nhân
của sinh viên các trường đại học kinh doanh Pakistan. Kết quả cho thấy các biến như
Chuẩn chủ quan, hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi tác động cùng chiều đến
động lực, động lực cũng tác động cùng chiều đến ý định trở thành doanh nhân của
sinh viên. Nghiên cứu này kết luận rằng nguồn lực tài chính thôi chưa đủ để khởi
nghiệp, yếu tố hành vi cũng đóng vai trò quan trọng. Damron-Martinez cộng sự (2013)
sử dụng thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen làm sở để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên. Kết quả nghiên cứu đã ủng hộ thuyết của
Ajzen rằng thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi chuẩn mực chủ quan đều những yếu
tố dự báo quan trọng về ý định kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu của Nguyen (2020)
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của các doanh nhân trẻ
thuộc Thế hệ Y tại Việt Nam. Kết quả cho thấy 9 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
khởi nghiệp bao gồm: trình độ học vấn khởi nghiệp, hoàn cảnh gia đình, hệ sinh thái khởi
nghiệp, nhận thức kiểm soát nh vi, đánh giá hội, nhận thức về hội, thái độ, năng
lực bản thân khởi nghiệp năng lực khởi nghiệp. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy tầm
quan trọng của giáo dục khởi nghiệp, giá trị hội hệ sinh thái. vậy, để thúc đẩy
khởi nghiệp thành công, cần tăng cường giáo dục khởi nghiệp chiến lược hoàn thiện
hệ sinh thái khởi nghiệp. Như vậy, qua lược khảo một số nghiên cứu liên quan cho thấy
vấn đề tinh thần khởi nghiệp của giới trẻ, sinh viên đang được quan tâm nghiên cứu.
2.3. Các giả thuyết hình nghiên cứu
Mối quan hệ giữa khả năng động lực khởi nghiệp
Khả năng việc sở hữu kiến thức kỹ năng để thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào
(Morrison cộng sự, 2003). Yếu tố này cũng cho biết những người khả năng tốt
kỹ năng tự quản trị thường động mạnh mẽ để bắt đầu một doanh nghiệp mới. Theo
McMullen Shepherd (2006), khi các doanh nhân bắt đầu một doanh nghiệp mới, họ
5
thể tận dụng những hội mới đối diện với trở ngại sắp tới. Khả năng nhận biết hội
mới điều cần thiết cho sự thành công trong lĩnh vực khởi nghiệp (Kara cộng sự,
2010). Liñán (2008) đã nêu rằng khả năng kỹ năng của nhân có ảnh hưởng đáng
kể đến mục tiêu khởi nghiệp của họ. Khởi nghiệp một quá trình nhận thức khả năng
đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành quá trình này (Bayon cộng sự,
2015). những do trên, giả thuyết sau được đề xuất:
H
1
: Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan động lực khởi nghiệp
Chuẩn chủ quan được định nghĩa nhận định của một nhân về những áp lực
của hội khi biểu hiện, thực hiện một hành vi (Ajzen, 1991). Theo Liñán Chen
(2006), chuẩn chủ quan thể hiện sự phản đối hay ủng hộ của những người quan trọng nhất
đối với một nhân (người thân, bạn bè) với việc khởi nghiệp kinh doanh; hay nhận thức
về sự ảnh hưởng từ phía cộng đồng hội được định nghĩa nhận thức về áp lực hội
đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Đó ảnh hưởng của những người quan
trọng gần gũi thể tác động đến nhân thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan đã được
khẳng định ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên mặc mức
độ ảnh hưởng không mạnh mẽ nhất trong các nghiên cứu của (Chau Huynh, 2020;
Le & Nguyen, 2019) thể hiện sự liên quan đến nhận định của người khác (gia đình, bạn
bè) cảm thấy như thế nào khi nhân thực hiện hành vi đó. Trên sở đó, giả thuyết sau
được đề xuất:
H
2
: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa hội động lực khởi nghiệp
hội được xuất phát từ những ý tưởng kinh doanh với mong muốn tìm kiếm lợi
nhuận từ thị trường. hội còn đề cập những ý tưởng niềm tin giúp doanh nghiệp tạo
ra các sản phẩm dịch vụ chưa mặt trên thị trường (Sarasvathy cộng sự, 2003).
Theo Krueger (2000) đã kết luận rằng việc nắm bắt hội đóng vai trò như một kim chỉ
nam cho quá trình nhận thức dẫn dắt các hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, việc
nhân nắm bắt được hội kinh doanh cũng góp phần làm tăng sự sẵn lòng nỗ lực của
nhân để thể bắt đầu một công việc kinh doanh mới (Edelman Yli Renko, 2010).
Theo Souitaris cộng sự (2007), động lực kinh doanh mối quan hệ cùng chiều với
6
hội. Cụ thể chúng tạo ra tác động thúc đẩy ý định trở thành doanh nhân (Souitaris
cộng sự, 2007). Trên sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H
3
: hội ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa thái độ động lực khởi nghiệp
Thái độ ảnh hưởng lớn đến nh vi của con người chịu ảnh hưởng bởi giá trị
mong đợi của nhân. Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi khởi nghiệp thể hiện sự
đánh giá tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một nhân về hành vi dự định
thực hiện. Thái độ chịu ảnh hưởng của giá trị mong đợi của nhân. Thái độ đối với hành
vi yếu tố tầm nh hưởng tích cực quan trọng thứ hai đối với ý định khởi nghiệp
(Krueger cộng sự, 2000). Khi sinh viên có thái độ hứng thú với việc khởi nghiệp kinh
doanh, nhận thấy lợi ích khi hội nguồn lực stiến hành khởi nghiệp. Thái độ
đối với hành vi khởi nghiệp đã được khẳng định ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của (Phan Trac, 2020; Truong Nguyen,
2019). Trên sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H
4
: Thái đ nh hưng cùng chiều đến đng lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa nhận thức kiểm soát hành vi động lực khởi nghiệp
Nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa snhận thức của nhân về mức
độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Nhận thức hành
vi ý nghĩa quan trọng trong việc tạo động lực khởi nghiệp bởi cho phép mỗi nhân
thể thực hiện công việc dựa trên khả năng của bản thân (Van Gelderen cộng sự,
2008). Nhiều nghiên cứu cho rằng mối quan hệ cùng chiều giữa nhận thức kiểm soát
hành vi động lực khởi nghiệp. Trong nghiên cứu của Krueger Dickson (1994) cho
thấy vai trò quan trọng của nhận thức kiểm soát hành vi giúp tăng sự xác định hội
kinh doanh mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Pihie Bagheri (2013) về “Năng lực bản
thân ý định kinh doanh: Tác động trung gian của việc tự điều chỉnh” cho thấy rằng
nhận thức kiểm soát hành vi cũng đem lại nhiều lợi ích trong việc tạo ra động lực để khởi
nghiệp. Khi sinh viên thể nhận thức hành vi của mình sẽ tạo ra một động lực lớn trong
việc khởi nghiệp đưa ra ý định khởi nghiệp. Do đó, thể nói nhận thức kiểm soát
7
hành vi thước đo để đo lường mức độ tự chủ tự quyết của nhân đồng thời
tác động đáng kể đến động lực khởi nghiệp. Trên sở này, giả thuyết sau được đề xuất:
H
5
: Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa động lực khởi nghiệp ý định khởi nghiệp
Động lực khởi nghiệp sự tự nguyện trong quá trình thành lập, kiểm soát điều
chỉnh các dự án, ý tưởng một ch trơn tru độc lập. Việc lựa chọn con đưng sự nghiệp
của mỗi nhân phụ thuộc nhiều vào động lực khởi nghiệp, những người động lực
cao thường xu hướng thành lập các dự án kinh doanh, doanh nghiệp của riêng mình.
Mặt khác, theo Solesvik (2013), các yếu tố như thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi
chuẩn chủ quan cũng giữ vai trò cầu nối cho mối liên hệ giữa động ý định khởi
nghiệp. Do đó, việc sinh viên sẵn động lực khởi nghiệp đã trở thành bàn đạp thúc đẩy
họ thành lập các kế hoạch khởi nghiệp. Trên sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H
6
: Động lực khởi nghiệp ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp
Từ đó, bài viết đề xuất hình nghiên cứu trình bày Hình 1.
Hình 1. hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Trong đó:
KN: Khả năng; CQ: Chuẩn chủ quan; CH: hội; TD: Thái độ; KSHV: Nhận thức
kiểm soát hành vi; DLKN: Động lực khởi nghiệp; YDKN: Ý định khởi nghiệp.
3. Phương pháp nghiên cứu
8
3.1. Mẫu khảo sát
Đối tượng khảo sát của đề tài nghiên cứu sinh viên đang học tập, sinh sống trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình thu thập dữ liệu sử dụng phương pháp lấy mẫu
thuận tiện, hình thức khảo sát sẽ thực hiện trực tuyến thông qua Google Form. Số lượng
mẫu tối thiểu cần thiết để thực hiện nghiên cứu tương đương với số biến quan sát trong
bảng khảo sát nhân 5 (Hair cộng sự, 2013). hình nghiên cứu thuyết bao gồm 29
biến quan sát, số mẫu tối thiểu cần tiến hành khảo sát 29*5 = 145 mẫu.
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu thu thập sẽ được tiến hành hóa phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0
AMOS 25.0. Các hình phân tích được sdụng bao gồm: phân tích độ tin cậy thang
đo bằng hệ số Cronbach Alpha, tiêu chí chấp nhận (α≥0,7); Phân tích nhân tố khám phá
(Exploratory Factor Analysis-EFA) để đánh giá giá trị hội tụ giá trị phân biệt các khái
niệm trong hình nghiên cứu; Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor
Analysis-CFA) để kiểm định độ phù hợp tổng quát của hình thuyết; kiểm định
các giả thuyết nghiên cứu bằng hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation
Modeling SEM). Tiêu chí đánh giá độ phù hợp tổng quát của hình CFA SEM:
Chi-Square/df 3; GFI 0,9; CFI 0,9; TLI 0,9; RMSEA 0,08.
4. Kết quả nghiên cứu
Kết quả khảo sát được 311 mẫu. Sau khi nhập liệu vào phần mềm SPSS 25.0
AMOS 25.0 sẽ được tiến hành phân tích qua các bước sau.
4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo
Bước đầu tiên tiến hành kiểm định độ tin cậy các thang đo đo lường các khái niệm
trong hình nghiên cứu thuyết, kết quả trình y Bảng 1.
Bảng 1. Tổng hợp kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
Thang đo
hóa
Biến ban đầu Biến giữ lại Cronbach’s
Alpha
KN
KN1, KN2, KN3, KN4,
KN5, KN6
KN2, KN3, KN4, KN5,
KN6
0,777
CQ CQ, CQ2, CQ4 CQ, CQ2, CQ3, CQ3, CQ4 0,826
CH CH1, CH2, CH4 CH1, CH2, CH3, CH4 0,775
TD TD1, TD2, TD3 TD1, TD2, TD3 0,863
KSHV
KSHV1, KSHV2, KSHV3,
KSHV4, KSHV5
KSHV2, KSHV3,
KSHV4, KSHV5
0,852
9
DLKN
DLKN1, DLKN2, DLKN3,
PDLKN4
DLKN1, DLKN2,
DLKN3, PDLKN4
0,823
YDKN
YDKN1, YDKN2,
YDKN3, YDKN4
YDKN1, YDKN2,
YDKN3, YDKN4
0,749
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Kết quả tổng hợp kiểm định độ tin cậy tất cả các thang đo trình bày Bảng 1 cho
thấy biến KN1 bị loại khỏi thang đo KN; biến CH3 loại khỏi thang đo CH; biến KSHV1
loại khỏi thang đo KSHV do vi phạm các tiêu chuẩn phân tích. Các thang đo trong
hình đều hệ số alpha lớn hơn tiêu chuẩn 0,7 nên đáp ứng yếu cầu về độ tin cậy. Kết quả
này sẽ được kiểm định lại một lần nữa bằng phân tích nhân tố khám phá.
4.2. Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá từng thang đo cho thấy các biến bị loại khi phân
tích độ tin cậy thang đo khi đưa vào hình nhân tố khám phá đều làm giảm sự phù hợp
của hình. Để kiểm định giá trị hội tụ giá trị phân biệt của tất cả các thang đo, tất cả
các khái niệm nghiên cứu với các biến quan sát tương ứng được xoay xiên góc đồng thời
trong một hình phân tích. Phương pháp xoay xiên góc khi phân tích EFA được khuyến
khích sử dụng khi các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định bằng hình cấu trúc tuyến
tính. Kết quả cho thấy các nhân tố đạt được giá trị hội tụ giá trị phân biệt, trong đó các
biến quan sát: KN1, CH3, KSHV1 bị loại khỏi các phân tích tiếp theo do không đáp ứng
các tiêu chuẩn kiểm định.
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định tới hạn được trình bày Hình 2.
10
Hình 2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Độ tin cậy tổng hợp của hình cho thấy các khái niệm nghiên cứu trong hình
thuyết phù hợp. Chỉ số đo lường độ phù hợp của hình với dữ liệu GFI = 0,893
hơi nhỏ hơn tiêu chuẩn 0,9 nhưng vẫn trong ngưỡng được chấp nhận. Các chỉ số đo lường
độ phù hợp tổng quát khác: Chi-Quare/df = 1,698 < 3; CFI = 0,942 > 0,9; TLI = 0,932 >
0,9; RMSEA = 0,047 < 0,8 thể hiện hình đáp ứng các tiêu chuẩn phân tích phù
hợp.
4.4. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA), hình cấu trúc tuyến tính được
sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích hình trình y
Hình 3 tổng hợp chi tiết Bảng 2.
11
Hình 3. Kết quả phân tích hình cấu trúc tuyến nh
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Kết quả phân tích Hình 3 thể hiện hình độ phù hợp tổng quát tốt, thể hiện
qua các tham số: Chi-Square/df = 1,959 < 3; GFI = 0,76 < 0,9 hơi nhỏ hơn tiêu chuẩn đặt
ra nhưng vẫn trong ngưỡng được chấp nhận; CFI = 0,918 > 0,9; TLI = 0,907 > 0,9
RMSEA = 0,056 < 0,08. Kết quả độ phù hợp tổng quát cho thấy hình đáp ứng các tiêu
chuẩn theo yêu cầu.
Kết quả tổng hợp Bảng 2 cho thấy mối quan hệ ảnh hưởng của thái độ (TD) đến
động lực khởi nghiệp (DLKN) ý nghĩa thống (mức 5%) nhưng chiều hướng
ngược với giả thuyết nghiên cứu. Các mối quan hệ còn lại trong hình đều ý nghĩa
thống kê; ngoại trừ mối quan hệ ảnh hưởng của kiểm soát hành vi (KSHV) lên động lực
khởi nghiệp (DLKN) mức ý nghĩa 10%; các mối quan hệ còn lại đều đạt mức 5%
1%.
Bảng 2. Trọng số hồi quy của các mối quan hệ thuyết
Mối quan hệ giả thuyết Trọng số S.E C.R p
H
1
KN DLKN
0,230
(0,179)
0,077 2,995 0,003
H
2
CQ DLKN
0,643
(0,478)
0,136 4,736 ***
H
3
CH DLKN
0,303
(0,222)
0,120 2,534 0,011
12
H
4
TD DLKN
-0,214
(-0,164)
0,089 -2,396 0,017
H
5
KSHV DLKN
0,139
(0,140)
0,077 1,801 0,072
H
6
DLKN YDKN
0,473
(0,531)
0,071 6,680 ***
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của các tác giả
Ghi chú: Phần trong ngoặc đơn thể hiện trọng số hồi quy chuẩn hóa; *** P <0,01.
Trọng số hồi quy chuẩn hóa cho thấy động lực khởi nghiệp (DLKN) ảnh hưởng
mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp (YDKN) (0,531); tiếp theo mối quan hệ giữa chuẩn
chủ quan (CQ) ý định khởi nghiệp (0,478), các mối quan hệ còn lại cường độ mức
vừa phải. Trên sở kết quả kiểm định vừa trình bày, Bảng 3 tổng hợp kết quả kiểm định
các giả thuyết.
Bảng 3. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Mối quan hệ giả thuyết Kết luận
H
1
Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến động lực
khởi nghiệp
Chấp nhận
H
2
Chuẩn chủ quan ảnh hưởng cùng chiều đến động
lực khởi nghiệp
Chấp nhận
H
3
hội ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi
nghiệp
Chấp nhận
H
4
Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi
nghiệp
Không chấp nhận
H
5
Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng
chiều đến động lực khởi nghiệp
Chấp nhận
H
6
Động lực khởi nghiệp ảnh hưởng cùng chiều đến
ý định khởi nghiệp
Chấp nhận
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
4.6. Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng, chuẩn chủ quan, hội, nhận thức kiểm
soát hành vi tác động trực tiếp đến động lực khởi nghiệp của sinh viên thông qua yếu
tố này tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp. Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến
động lực khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh (trọng số hồi
quy chuẩn hóa = 0,179). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Liñán (2008) Bayon
(2015) đã nêu rằng khả năng kỹ năng của nhân ảnh hưởng đáng kể đến mục
tiêu khởi nghiệp của họ cũng như khởi nghiệp một quá trình nhận thức khả năng
13
kỹ năng đóng một vai trò quan trọng. Kết quả nghiên cứu của Kara cộng sự (2010) về
các yếu tố quyết định thành công của tinh thần kinh doanh chỉ ra khả năng nhận biết
hội mới điều cần thiết cho sự thành công trong lĩnh vực khởi nghiệp.
Chuẩn chủ quan tác động cùng chiều đến động lực khởi nghiệp tác động gián
tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,478). Kết quả
nghiên cứu cho thấy, chuẩn chủ quan thực sự ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh
viên đại học, phù hợp với kết quả của Cialdini Trost (1998), Shteynberg cộng sự
(2009). Kết quả nghiên cứu đưa ra, hội một mối quan hệ tích cực với động lực khởi
nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (trọng shồi quy chuẩn hóa =
0,222). Theo như Krueger (2000) đã kết luận rằng việc nắm bắt hội đóng vai trò như
một kim chỉ nam cho quá trình nhận thức dẫn dắt các hoạt động kinh doanh. Việc một
nhân nắm bắt được hội kinh doanh đó cũng sẽ góp phần vào làm tăng sự nỗ lực của
bản thân để bắt đầu một ý định khởi nghiệp kinh doanh mới. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với nghiên cứu của Raza (2018).
Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến động lực khởi nghiệp từ đó
ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (trọng số hồi quy chuẩn hóa =
0,140). Nếu một nhân tin rằng mình đủ khả năng để tạo lập một doanh nghiệp, điều
đó sẽ tạo động lực cho họ, qua đó, làm tăng ý định bắt đầu kinh doanh của riêng họ
(Amorós Bosma, 2014). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Raza (2018) khi
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực ý định khởi nghiệp của sinh
viên. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng động lực tác động tích cực đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (trọng số hồi quy
chuẩn hóa = 0,531). Tinh thần tự nguyện trong hành trình triển khai, quản điều
chỉnh các dự án, ý tưởng một cách độc lập thuận lợi các yếu tố phản chiếu lên động
lực khởi nghiệp. Trên s này, việc sinh viên rèn luyện được cách tạo động lực khởi
nghiệp đã trở thành bàn đạp thúc đẩy họ xây dựng các ý định khởi nghiệp. Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Solesvik (2013).
4.7. Kết luận
Mục tiêu chính của nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đang học tập sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Bài
14
nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của 5 biến số độc lập (khả năng, chuẩn chủ
quan, hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi), tác động đến biến phụ thuộc động lực
khởi nghiệp qua đó tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy c biến độc lập trong hình nghiên cứu nh hưởng
ý nghĩa thống đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trước hết, khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực khởi nghiệp cho sinh
viên bởi kích thích ý định khởi nghiệp thông qua tác động tích cực lên động lực
lòng tự tin của họ. Chuẩn chủ quan khả năng kiểm soát hành vi ảnh hưởng tích cực đến
động lực khởi nghiệp, điều đó cho thấy rằng duy tích cực tạo ra s cần thiết hứng
thú trong việc khởi nghiệp. Bên cạnh đó, hội cũng ảnh hưởng đến động lực khởi
nghiệp của sinh viên. Những hội hỗ trợ, nguồn lực môi trường kinh doanh thích hợp
thể kích thích ý định khởi nghiệp tăng cường động lực của sinh viên trong việc khởi
nghiệp. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã phản ánh thái độ mối quan hệ ngược chiều
với động lực khởi nghiệp với mức ý nghĩa thống 5%. Điều này đưa ra một góc nhìn
mới đáng quan tâm rằng thái độ của sinh viên đối với khởi nghiệp thể không phải
luôn tích cực đồng lòng với động lực thúc đẩy họ tiến tới khởi nghiệp.
Nhìn chung, nghiên cứu này đã xác định xem xét sâu hơn về các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Các
kết quả này cung cấp sở cho việc đề xuất chính sách các biện pháp hỗ trợ hợp
nhằm khuyến khích tăng cường ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành
phố.
Tài liệu tham khảo
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human
decision processes, 50(2), 179-211.
Amorós, J. E., & Bosma, N. (2014). Global Entrepreneurship Monitor 2013 global report.
Global Entrepreneurship Monitor.
Bailey, T. (1993). Organizational innovation in the apparel industry. Industrial Relations:
A Journal of Economy and Society, 32(1), 30–48.
Baumol, W.J. (1990). Entrepreneurship: Productive, Unproductive, and
Destructive. Journal of Political Economy, 98, 893-921.
15
Bayon, M. C., Vaillant, Y., & Lafuente, E. (2015). Initiating nascent entrepreneurial
activities: The relative role of perceived and actual entrepreneurial
ability. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 21(1), 27-49.
Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of
management Review, 13(3), 442-453.
BUI, T. H. V., NGUYEN, T. L. T., TRAN, M. D., & NGUYEN, T. A. T. (2020).
Determinants influencing entrepreneurial intention among undergraduates in
universities of Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business
(JAFEB) 7, (7), 369-378.
Chau, T. T. N., & Huynh, T. L. T. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên Trường Đại học An Giang [Factors affecting the intention to start a
business of An Giang University students]. , .Tạp chí Công Thương 17
Cialdini, R.B. & Trost, M.R. (1998). Social influence: social norms, conformity and
compliance’, in Gilbert, D., Fiske, J. and Lindzey, G. (Eds.): The Handbook of Social
Psychology, McGraw-Hill, New York, 151–92.
Damron-Martinez, D., Presley, A., & Zhang, L. (2013). A Study of Undergraduate
Student Intent to Minor in Business: A Test of the Theory of Planned Behavior.
Journal of Education for Business, 88(2), 109–116.
Edelman, L., & Yli–Renko, H. (2010). The impact of environment and entrepreneurial
perceptions on venture-creation efforts: Bridging the discovery and creation views of
entrepreneurship. Entrepreneurship theory and practice, 34(5), 833-856.
Fitzsimmons, J. R., & Douglas, E. J. (2011). Interaction between feasibility and
desirability in the formation of entrepreneurial intentions. Journal of business
venturing, 26 (4), 431-440.
Gupta, V. K., & Bhawe, N. M. (2007). The influence of proactive personality and
stereotype threat on women's entrepreneurial intentions. Journal of Leadership &
Organizational Studies, 13(4), 73-85.
Hisrich, R. D., Peters, M. P. and Shepherd, D. A. (2005). Entrepreneurship (6th ed.).
Boston: McGraw-Hill Irwin.
16
Kara, O., Chu, H. M., & Benzing, C. (2010). Determinants of entrepreneur's success in a
developing country. Journal of Business and Entrepreneurship, 22(2), 1-15.
Khuong, M. N., & An, N. H. (2016). The factors affecting entrepreneurial intention of the
students of Vietnam national university—a mediation analysis of perception toward
entrepreneurship. Journal of Economics, Business and Management, 4(2), 104-111.
Krueger Jr, N. F., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of
entrepreneurial intentions. Journal of business venturing, 15(5-6), 411-432.
Krueger Jr, N., & Dickson, P. R. (1994). How believing in ourselves increases risk taking:
Perceived self efficacy and opportunity recognition. Decision sciences, 25(3), 385-
400.
Le, Q. H., & Loan, N. T. (2022). Role of entrepreneurial competence, entrepreneurial
education, family support and entrepreneurship policy in forming entrepreneurial
intention and entrepreneurial decision. Pakistan Journal of Commerce and Social
Sciences (PJCSS), 16(1), 204-221.
Le, T. N. D., & Nguyen, L. M. (2019). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của
sinh viên khoa Quản trị kinh doanh [Factors affecting the intention to start a business
of students of the Faculty of Business Administration]. Tạp chí khoa học Trường Đại
học Cửu Long, 16&17, 24-35.
Liñán, F. (2008). Skill and value perceptions: how do they affect entrepreneurial
intentions?. International entrepreneurship and management journal, 4, 257-272.
Liñán, F., & Chen, Y. W. (2006). Testing the entrepreneurial intention model on a two-
country sample.
McMullen, J. S., & Shepherd, D. A. (2006). Entrepreneurial action and the role of
uncertainty in the theory of the entrepreneur. The Academy of Management Review,
31(1), 132–152.
Morrison, A., Breen, J., & Ali, S. (2003). Small business growth: intention, ability, and
opportunity. , (4), 417-425.Journal of small business management 41
NGUYEN, X. T. (2020). Factors affecting entrepreneurial decision of nascent
entrepreneurs belonging generation Y in Vietnam. The Journal of Asian Finance,
Economics and Business (JAFEB), 7(8), 407-417.
17
Phan, V. Q., & Trac, H. A. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh
viên tại Trường Đại học Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận [Factors affecting the intention
to start a business of students at Phan Thiet University, Binh Thuan province]. Tạp
chí Công Thương, 18.
Pihie, Z. A. L., & Bagheri, A. (2013). Self-efficacy and entrepreneurial intention: The
mediation effect of self-regulation. , , 385-401.Vocations and Learning 6
Raza, S. A., Qazi, W., & Shah, N. (2018). Factors affecting the motivation and intention
to become an entrepreneur among business university students. International Journal
of Knowledge and Learning, 12(3), 221.
Sarasvathy, S. D., Dew, N., Velamuri, S. R., & Venkataraman, S. (2010). Three views of
entrepreneurial opportunity (pp. 77-96). Springer New York.
Schumpeter, J. A. (2000). Entrepreneurship as innovation. University of Illinois at
Urbana-Champaign's Academy for Entrepreneurial Leadership Historical Research
Reference in Entrepreneurship.
Shane, S., & Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of
research. Academy of management review, 25(1), 217-226.
Shteynberg, G., Gelfand, M. J., & Kim, K. (2009). Peering into the “magnum mysterium”
of culture: The explanatory power of descriptive norms. Journal of Cross-Cultural
Psychology 40, (1), 46-69.
Solesvik, M. Z. (2013). Entrepreneurial motivations and intentions: investigating the role
of education major. , (3), 253-271.Education+ Training 55
Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes
raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of
learning, inspiration and resources. , (4), 566-591. Journal of Business venturing 22
Timmons, J. A. (1978). Characteristics and role demands of entrepreneurship. American
journal of small business, 3(1), 5-17.
Truong, T. D., & Nguyen, L. T. T. (2019). Một số nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên [Some factors affecting students’ intention to start a business].
Tạp chí Công Thương, 3, 99-104.
18
Van Gelderen, M., Brand, M., Van Praag, M., Bodewes, W., Poutsma, E., & Van Gils, A.
(2008). Explaining entrepreneurial intentions by means of the theory of planned
behaviour. Career development international, 13(6), 538-559.
Wongnaa, C. A., & Seyram, A. Z. K. (2014). Factors influencing polytechnic students’
decision to graduate as entrepreneurs. Journal of Global Entrepreneurship Research,
4(1), 2.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
19

Preview text:

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
FACTORS AFFECT STUDENT’S ENTREPRENEURIAL INTENTION IN HO CHI MINH Nguyễn Hữu Viết Ngọc Nguyễn Thị Anh Thư Đoàn Ngọc Mai Thy Đỗ Ngọc Quỳnh Vy Nguyễn Ngọc Thanh Vy
TS. Trương Đình Thái (GVHD)
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
*Tác giả liên hệ, Email: viettngocc2002@gmail.com THÔNG TIN TÓM TẮT
Khởi nghiệp có một vai trò vô cùng cần thiết đối với sự phát
triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là Việt Nam. Bài nghiên cứu
này xem xét và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu nghiên cứu
được thu thập từ 311 sinh viên có ý định khởi nghiệp thông qua hình Từ khóa: Khởi
thức khảo sát trực tuyến bằng bảng câu hỏi được phân tích bằng mô nghiệp, ý định
hình cấu trúc tuyến tính cho thấy các yếu tố: khả năng, chuẩn chủ khởi nghiệp,
quan, cơ hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp sinh viên,
đến động lực khởi nghiệp và tác động gián tiếp đến ý định khởi Thành phố Hồ
nghiệp của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho việc đề Chí Minh
xuất chính sách và các biện pháp hỗ trợ hợp lý nhằm khuyến khích và
tăng cường ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 1 ABSTRACT
Entrepreneurship plays an extremely important role in the
economic development of a country, especially Vietnam. This study
examines and evaluates factors affecting students' entrepreneurial
intentions in Ho Chi Minh City. Research data was collected from
306 students intending to start a business through an online Keywords:
questionnaire survey and analyzed using a linear structural model
Entrepreneurship, showing the following factors: ability, subjective norm, entrepreneurial
opportunities, attitudes, and perceived behavioral control directly intention,
impact entrepreneurial motivation and indirectly impact students'
students, Ho Chi entrepreneurial intention. The research results provide a basis for Minh City
proposing policies and reasonable support measures to encourage
and strengthen students' entrepreneurial intentions in Ho Chi Minh City. 1. Giới thiệu
Hiện nay, khởi nghiệp đang ngày càng trở thành một xu hướng và tiền đề để phát
triển kinh tế trong dài hạn. Đây cũng là một trong những vấn đề thời sự được các nhà
nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến. Hơn thế nữa, đây cũng
chính là một trong những tiền đề nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho thanh thiếu niên;
đồng thời góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì sự ổn
định và hòa bình của một xã hội (Schumpeter, 2000). Chính vì thế, thúc đẩy tinh thần
khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam cần được sự quan tâm ở nhiều cấp độ. Cụ thể, từ lúc
còn ngồi trên giảng đường đại học, nhiều sinh viên đã có những ý định cho bản thân về
quyết định khởi nghiệp; tuy nhiên, làm thế nào để bắt đầu và cần chuẩn bị những nguồn
lực như thế nào thì bản thân sinh viên chưa thể nhận thức một các sâu sắc. Chính những
yếu tố chưa rõ ràng đó làm cho sinh viên ngần ngại đối với vấn đề khởi nghiệp. Để thúc
đẩy tinh thần khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định
ban hành Đề án “Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” (gọi tắt là Đề án
1665). Đề án được thực hiện bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm thúc đẩy và hỗ trợ hoạt 2
động Hướng nghiệp, Khởi nghiệp của giới trẻ (Quyết định 1230/QĐ-BGDĐT 2018, Đề
án Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp). Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh khách quan sự
nhận thức và sự quan tâm ở các bạn sinh viên, thanh niên về vấn đề “khởi nghiệp” vẫn
còn hạn chế. Do đó, cần đặt ra vấn đề là “tại sao các bạn sinh viên chưa thực sự quan tâm
đến vấn đề khởi nghiệp?”. Theo các nhà nghiên cứu, sinh viên thường có một mối bận
tâm chung; đó là chưa bắt đầu nhưng sợ thất bại. Bằng chứng là có nhiều bạn sinh viên
vẫn còn rụt rè, thiếu tự tin, luôn mang trong mình tâm lý e ngại, nhất là với những cái
mới, ngại tiếp xúc với điều lạ. Vì vậy, họ luôn trong tâm lý an phận và muốn kiếm tìm
một công việc với mức lương phù hợp thay vì khởi nghiệp. Như vậy, để thúc đẩy tinh
thần khởi nghiệp của sinh viên, các trường đại học cần phải bổ sung thêm các khóa học,
các chương trình đào tạo hướng nghiệp vào hệ thống giáo dục cho các sinh viên nhằm
giúp sinh viên có thể phát triển các kỹ năng như giao tiếp, xử lý vấn đề,... để sẵn sàng bắt
đầu cho các dự án khởi nghiệp. Câu hỏi đặt ra là những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định
khởi nghiệp của sinh viên đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh cần có những nghiên cứu thực nghiệm nhằm đưa ra những kết quả cụ thể để các
bên liên quan tham khảo và xây dựng các hoạt động thiết thực nhằm thu hút sinh viên
quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này.
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm liên quan 2.1.1. Khởi nghiệp
Các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp thường tập trung xác định lý do tại sao,
khi nào và làm thế nào để tạo ra, nhận biết và tận dụng cơ hội để các nhà khởi nghiệp
thành công từ những bước đi đầu tiên. Theo Shane và Ventakaraman (2000) khởi nghiệp
là "quá trình tạo ra doanh nghiệp và tổ chức mới". Thông qua quá trình đó, các nhà khởi
nghiệp sẽ tạo ra giá trị từ con số không bằng cách huy động thời gian, công sức, tiền bạc
và chấp nhận cả những rủi ro để nhận được phần thưởng nội tại (ví dụ: sự hài lòng cá
nhân hoặc quyền tự chủ) và phần thưởng bên ngoài (ví dụ: phần thưởng bằng tiền)
(Timmons, 1978; Hisrich và cộng sự, 2005). Theo Baumol (1990), không phải tất cả việc
khai thác cơ hội đều nhất thiết mang lại lợi ích tốt nhất cho xã hội. Vì vậy, khởi nghiệp có 3
thể được phân bổ theo nhiều cách khác nhau và ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế.
2.1.2. Ý định khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp có thể định nghĩa là sự liên quan đến ý định của một cá nhân
để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris và cộng sự, 2007), là một quá trình định hướng
việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch thành lập doanh nghiệp (Gupta và
Bhawe, 2007). Theo Bird (1988), ảnh hưởng của cả đặc điểm cá nhân và môi trường có
thể xác định ý định khởi nghiệp. Mặt khác, một số học giả nghiên cứu về khởi nghiệp cho
rằng “các biến số tình huống” như tỷ lệ lạm phát hoặc quy định kinh doanh và “các biến
số cá nhân” như đặc điểm cá nhân có rất ít manh mối để đánh giá sự hình thành ý định
khởi nghiệp (Ajzen, 1991; Fitzsimmons và Douglas, 2011; Krueger và cộng sự, 2000). Rõ
ràng, các yếu tố ý định rất phức tạp và khó nghiên cứu (Ajzen, 1991).
2.2. Cơ sở lý thuyết liên quan
Nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp của
sinh viên và các nhân tố liên quan, nhiều lý thuyết mới đã được đề cập như các cơ sở cho
việc định hướng lý thuyết nền: Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior -
TPB) (Ajzen, 1991) và mô hình Khả năng - Động lực - Cơ hội (Ability-Motivation-
Opportunity – AMO) (Bailey, 1993).
Thuyết hành vi có kế hoạch giúp làm rõ hành vi con người và những động cơ ảnh
hưởng đến các hành vi ấy. Dựa vào thuyết này, ba yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên bao gồm “thái độ của sinh viên”, “chuẩn chủ quan” và “nhận thức
hành vi của sinh viên” được xác định. Mô hình AMO của Bailey (1993) chứng minh rằng
hiệu suất của mỗi người, cụ thể ở đây là sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
phụ thuộc vào khả năng, động lực và cơ hội của họ. Nếu đáp ứng đủ 2 điều kiện cần là
khả năng và cơ hội thì động lực sẽ được tạo ra để thúc đẩy hiệu suất.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Khuong và An (2016) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân, kinh
nghiệm khởi nghiệp trước đây, môi trường bên ngoài, chuẩn mực xã hội và tính khả thi 4
được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Đại học Quốc gia Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thầy các yếu tố, kinh nghiệm khởi nghiệp trước đây, môi trường
bên ngoài và nhận thức về tính khả thi là ba biến độc lập ảnh hưởng cùng chiều đến nhận
thức về khởi nghiệp và qua đó ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Raza và
công sự (2018) sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch, mô hình động cơ - năng lực thiết
kế thành các biến số và nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến ý định trở thành doanh nhân
của sinh viên các trường đại học kinh doanh ở Pakistan. Kết quả cho thấy các biến như
Chuẩn chủ quan, cơ hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến
động lực, và động lực cũng có tác động cùng chiều đến ý định trở thành doanh nhân của
sinh viên. Nghiên cứu này kết luận rằng nguồn lực tài chính thôi là chưa đủ để khởi
nghiệp, yếu tố hành vi cũng đóng vai trò quan trọng. Damron-Martinez và cộng sự (2013)
sử dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen làm cơ sở để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên. Kết quả nghiên cứu đã ủng hộ lý thuyết của
Ajzen rằng thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn mực chủ quan đều là những yếu
tố dự báo quan trọng về ý định kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu của Nguyen (2020)
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của các doanh nhân trẻ
thuộc Thế hệ Y tại Việt Nam. Kết quả cho thấy có 9 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
khởi nghiệp bao gồm: trình độ học vấn khởi nghiệp, hoàn cảnh gia đình, hệ sinh thái khởi
nghiệp, nhận thức kiểm soát hành vi, đánh giá xã hội, nhận thức về cơ hội, thái độ, năng
lực bản thân khởi nghiệp và năng lực khởi nghiệp. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy tầm
quan trọng của giáo dục khởi nghiệp, giá trị xã hội và hệ sinh thái. Vì vậy, để thúc đẩy
khởi nghiệp thành công, cần tăng cường giáo dục khởi nghiệp và có chiến lược hoàn thiện
hệ sinh thái khởi nghiệp. Như vậy, qua lược khảo một số nghiên cứu liên quan cho thấy
vấn đề tinh thần khởi nghiệp của giới trẻ, sinh viên đang được quan tâm nghiên cứu.
2.3. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Mối quan hệ giữa khả năng và động lực khởi nghiệp
Khả năng là việc sở hữu kiến thức và kỹ năng để thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào
(Morrison và cộng sự, 2003). Yếu tố này cũng cho biết những người có khả năng tốt và
kỹ năng tự quản trị thường có động cơ mạnh mẽ để bắt đầu một doanh nghiệp mới. Theo
McMullen và Shepherd (2006), khi các doanh nhân bắt đầu một doanh nghiệp mới, họ có 5
thể tận dụng những cơ hội mới và đối diện với trở ngại sắp tới. Khả năng nhận biết cơ hội
mới là điều cần thiết cho sự thành công trong lĩnh vực khởi nghiệp (Kara và cộng sự,
2010). Liñán (2008) đã nêu rõ rằng khả năng và kỹ năng của cá nhân có ảnh hưởng đáng
kể đến mục tiêu khởi nghiệp của họ. Khởi nghiệp là một quá trình nhận thức mà khả năng
đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành quá trình này (Bayon và cộng sự,
2015). Vì những lý do trên, giả thuyết sau được đề xuất:
H1: Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan và động lực khởi nghiệp
Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận định của một cá nhân về những áp lực
của xã hội khi biểu hiện, thực hiện một hành vi (Ajzen, 1991). Theo Liñán và Chen
(2006), chuẩn chủ quan thể hiện sự phản đối hay ủng hộ của những người quan trọng nhất
đối với một cá nhân (người thân, bạn bè) với việc khởi nghiệp kinh doanh; hay nhận thức
về sự ảnh hưởng từ phía cộng đồng xã hội được định nghĩa là nhận thức về áp lực xã hội
đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Đó là ảnh hưởng của những người quan
trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan đã được
khẳng định có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên mặc dù mức
độ ảnh hưởng không là mạnh mẽ nhất trong các nghiên cứu của (Chau và Huynh, 2020;
Le & Nguyen, 2019) thể hiện sự liên quan đến nhận định của người khác (gia đình, bạn
bè) cảm thấy như thế nào khi cá nhân thực hiện hành vi đó. Trên cơ sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H2: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa cơ hội và động lực khởi nghiệp
Cơ hội được xuất phát từ những ý tưởng kinh doanh với mong muốn tìm kiếm lợi
nhuận từ thị trường. Cơ hội còn đề cập những ý tưởng và niềm tin giúp doanh nghiệp tạo
ra các sản phẩm và dịch vụ chưa có mặt trên thị trường (Sarasvathy và cộng sự, 2003).
Theo Krueger (2000) đã kết luận rằng việc nắm bắt cơ hội đóng vai trò như một kim chỉ
nam cho quá trình nhận thức và dẫn dắt các hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, việc cá
nhân nắm bắt được cơ hội kinh doanh cũng góp phần làm tăng sự sẵn lòng và nỗ lực của
cá nhân để có thể bắt đầu một công việc kinh doanh mới (Edelman và Yli Renko, ‐ 2010).
Theo Souitaris và cộng sự (2007), động lực kinh doanh có mối quan hệ cùng chiều với cơ 6
hội. Cụ thể là chúng tạo ra tác động thúc đẩy ý định trở thành doanh nhân (Souitaris và
cộng sự, 2007). Trên cơ sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H : Cơ hội ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp 3
Mối quan hệ giữa thái độ và động lực khởi nghiệp
Thái độ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của con người và chịu ảnh hưởng bởi giá trị
mong đợi của cá nhân. Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi khởi nghiệp thể hiện sự
đánh giá tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một cá nhân về hành vi dự định
thực hiện. Thái độ chịu ảnh hưởng của giá trị mong đợi của cá nhân. Thái độ đối với hành
vi là yếu tố có tầm ảnh hưởng tích cực quan trọng thứ hai đối với ý định khởi nghiệp
(Krueger và cộng sự, 2000). Khi sinh viên có thái độ hứng thú với việc khởi nghiệp kinh
doanh, nhận thấy lợi ích và khi có cơ hội và nguồn lực sẽ tiến hành khởi nghiệp. Thái độ
đối với hành vi khởi nghiệp đã được khẳng định có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của (Phan và Trac, 2020; Truong và Nguyen,
2019). Trên cơ sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H4: Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp
Mối quan hệ giữa nhận thức kiểm soát hành vi và động lực khởi nghiệp
Nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là sự nhận thức của cá nhân về mức
độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Nhận thức hành
vi có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo động lực khởi nghiệp bởi nó cho phép mỗi cá nhân
có thể thực hiện công việc dựa trên khả năng của bản thân (Van Gelderen và cộng sự,
2008). Nhiều nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa nhận thức kiểm soát
hành vi và động lực khởi nghiệp. Trong nghiên cứu của Krueger và Dickson (1994) cho
thấy vai trò quan trọng của nhận thức kiểm soát hành vi là giúp tăng sự xác định cơ hội
kinh doanh mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Pihie và Bagheri (2013) về “Năng lực bản
thân và ý định kinh doanh: Tác động trung gian của việc tự điều chỉnh” cho thấy rằng
nhận thức kiểm soát hành vi cũng đem lại nhiều lợi ích trong việc tạo ra động lực để khởi
nghiệp. Khi sinh viên có thể nhận thức hành vi của mình sẽ tạo ra một động lực lớn trong
việc khởi nghiệp và đưa ra ý định khởi nghiệp. Do đó, có thể nói nhận thức kiểm soát 7
hành vi là thước đo để đo lường mức độ tự chủ và tự quyết của cá nhân đồng thời nó có
tác động đáng kể đến động lực khởi nghiệp. Trên cơ sở này, giả thuyết sau được đề xuất:
H : Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi nghiệp 5
Mối quan hệ giữa động lực khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp
Động lực khởi nghiệp là sự tự nguyện trong quá trình thành lập, kiểm soát và điều
chỉnh các dự án, ý tưởng một cách trơn tru và độc lập. Việc lựa chọn con đường sự nghiệp
của mỗi cá nhân phụ thuộc nhiều vào động lực khởi nghiệp, và những người có động lực
cao thường có xu hướng thành lập các dự án kinh doanh, doanh nghiệp của riêng mình.
Mặt khác, theo Solesvik (2013), các yếu tố như thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và
chuẩn chủ quan cũng giữ vai trò cầu nối cho mối liên hệ giữa động cơ và ý định khởi
nghiệp. Do đó, việc sinh viên có sẵn động lực khởi nghiệp đã trở thành bàn đạp thúc đẩy
họ thành lập các kế hoạch khởi nghiệp. Trên cơ sở đó, giả thuyết sau được đề xuất:
H6: Động lực khởi nghiệp ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp
Từ đó, bài viết đề xuất mô hình nghiên cứu trình bày ở Hình 1.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả Trong đó:
KN: Khả năng; CQ: Chuẩn chủ quan; CH: Cơ hội; TD: Thái độ; KSHV: Nhận thức
kiểm soát hành vi; DLKN: Động lực khởi nghiệp; YDKN: Ý định khởi nghiệp.
3. Phương pháp nghiên cứu 8 3.1. Mẫu khảo sát
Đối tượng khảo sát của đề tài nghiên cứu là sinh viên đang học tập, sinh sống trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình thu thập dữ liệu sử dụng phương pháp lấy mẫu
thuận tiện, hình thức khảo sát sẽ thực hiện trực tuyến thông qua Google Form. Số lượng
mẫu tối thiểu cần thiết để thực hiện nghiên cứu tương đương với số biến quan sát trong
bảng khảo sát nhân 5 (Hair và cộng sự, 2013). Mô hình nghiên cứu lý thuyết bao gồm 29
biến quan sát, số mẫu tối thiểu cần tiến hành khảo sát 29*5 = 145 mẫu.
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu thu thập sẽ được tiến hành mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0
và AMOS 25.0. Các mô hình phân tích được sử dụng bao gồm: phân tích độ tin cậy thang
đo bằng hệ số Cronbach Alpha, tiêu chí chấp nhận (α≥0,7); Phân tích nhân tố khám phá
(Exploratory Factor Analysis-EFA) để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt các khái
niệm trong mô hình nghiên cứu; Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor
Analysis-CFA) để kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình lý thuyết; và kiểm định
các giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation
Modeling – SEM). Tiêu chí đánh giá độ phù hợp tổng quát của mô hình CFA và SEM:
Chi-Square/df ≤ 3; GFI ≥ 0,9; CFI ≥ 0,9; TLI ≥ 0,9; RMSEA ≤ 0,08. 4. Kết quả nghiên cứu
Kết quả khảo sát được 311 mẫu. Sau khi nhập liệu vào phần mềm SPSS 25.0 và
AMOS 25.0 sẽ được tiến hành phân tích qua các bước sau.
4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo
Bước đầu tiên tiến hành kiểm định độ tin cậy các thang đo đo lường các khái niệm
trong mô hình nghiên cứu lý thuyết, kết quả trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Tổng hợp kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Thang đo Biến ban đầu Biến giữ lại Cronbach’s – Mã hóa Alpha KN1, KN2, KN3, KN4, KN KN2, KN3, KN4, KN5, 0,777 KN5, KN6 KN6 CQ CQ, CQ2, CQ3, CQ4 CQ, CQ2, CQ3, CQ4 0,826 CH CH1, CH2, CH3, CH4 CH1, CH2, CH4 0,775 TD TD1, TD2, TD3 TD1, TD2, TD3 0,863 KSHV1, KSHV2, KSHV KSHV3, KSHV2, KSHV3, 0,852 KSHV4, KSHV5 KSHV4, KSHV5 9 DLKN1, DLKN2, DLKN DLKN3, DLKN1, DLKN2, 0,823 PDLKN4 DLKN3, PDLKN4 YDKN1, YDKN2, YDKN1, YDKN2, 0,749 YDKN YDKN3, YDKN4 YDKN3, YDKN4
Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả
Kết quả tổng hợp kiểm định độ tin cậy tất cả các thang đo trình bày ở Bảng 1 cho
thấy biến KN1 bị loại khỏi thang đo KN; biến CH3 loại khỏi thang đo CH; biến KSHV1
loại khỏi thang đo KSHV do vi phạm các tiêu chuẩn phân tích. Các thang đo trong mô
hình đều có hệ số alpha lớn hơn tiêu chuẩn 0,7 nên đáp ứng yếu cầu về độ tin cậy. Kết quả
này sẽ được kiểm định lại một lần nữa bằng phân tích nhân tố khám phá.
4.2. Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá từng thang đo cho thấy các biến bị loại khi phân
tích độ tin cậy thang đo khi đưa vào mô hình nhân tố khám phá đều làm giảm sự phù hợp
của mô hình. Để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của tất cả các thang đo, tất cả
các khái niệm nghiên cứu với các biến quan sát tương ứng được xoay xiên góc đồng thời
trong một mô hình phân tích. Phương pháp xoay xiên góc khi phân tích EFA được khuyến
khích sử dụng khi các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định bằng mô hình cấu trúc tuyến
tính. Kết quả cho thấy các nhân tố đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, trong đó các
biến quan sát: KN1, CH3, KSHV1 bị loại khỏi các phân tích tiếp theo do không đáp ứng
các tiêu chuẩn kiểm định.
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định tới hạn được trình bày ở Hình 2. 10
Hình 2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Độ tin cậy tổng hợp của mô hình cho thấy các khái niệm nghiên cứu trong mô hình
lý thuyết phù hợp. Chỉ số đo lường độ phù hợp của mô hình với dữ liệu là GFI = 0,893
hơi nhỏ hơn tiêu chuẩn 0,9 nhưng vẫn trong ngưỡng được chấp nhận. Các chỉ số đo lường
độ phù hợp tổng quát khác: Chi-Quare/df = 1,698 < 3; CFI = 0,942 > 0,9; TLI = 0,932 >
0,9; RMSEA = 0,047 < 0,8 thể hiện mô hình đáp ứng các tiêu chuẩn phân tích và phù hợp.
4.4. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính được
sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích mô hình trình bày ở
Hình 3 và tổng hợp chi tiết ở Bảng 2. 11
Hình 3. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Kết quả phân tích ở Hình 3 thể hiện mô hình có độ phù hợp tổng quát tốt, thể hiện
qua các tham số: Chi-Square/df = 1,959 < 3; GFI = 0,76 < 0,9 hơi nhỏ hơn tiêu chuẩn đặt
ra nhưng vẫn trong ngưỡng được chấp nhận; CFI = 0,918 > 0,9; TLI = 0,907 > 0,9 và
RMSEA = 0,056 < 0,08. Kết quả độ phù hợp tổng quát cho thấy mô hình đáp ứng các tiêu chuẩn theo yêu cầu.
Kết quả tổng hợp ở Bảng 2 cho thấy mối quan hệ ảnh hưởng của thái độ (TD) đến
động lực khởi nghiệp (DLKN) có ý nghĩa thống kê (mức 5%) nhưng có chiều hướng
ngược với giả thuyết nghiên cứu. Các mối quan hệ còn lại trong mô hình đều có ý nghĩa
thống kê; ngoại trừ mối quan hệ ảnh hưởng của kiểm soát hành vi (KSHV) lên động lực
khởi nghiệp (DLKN) có mức ý nghĩa 10%; các mối quan hệ còn lại đều đạt mức 5% và 1%.
Bảng 2. Trọng số hồi quy của các mối quan hệ lý thuyết Mối quan hệ giả thuyết Trọng số S.E C.R p H 0,230 1 KN → DLKN 0,077 2,995 0,003 (0,179) H 0,643 2 CQ → DLKN 0,136 4,736 *** (0,478) H3 0,303 CH → DLKN 0,120 2,534 0,011 (0,222) 12 H -0,214 4 TD → DLKN 0,089 -2,396 0,017 (-0,164) H 0,139 5 KSHV → DLKN 0,077 1,801 0,072 (0,140) H 0,473 6 DLKN → YDKN 0,071 6,680 *** (0,531)
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của các tác giả
Ghi chú: Phần trong ngoặc đơn thể hiện trọng số hồi quy chuẩn hóa; *** P <0,01.
Trọng số hồi quy chuẩn hóa cho thấy động lực khởi nghiệp (DLKN) ảnh hưởng
mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp (YDKN) (0,531); tiếp theo là mối quan hệ giữa chuẩn
chủ quan (CQ) và ý định khởi nghiệp (0,478), các mối quan hệ còn lại có cường độ ở mức
vừa phải. Trên cơ sở kết quả kiểm định vừa trình bày, Bảng 3 tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết.
Bảng 3. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu Mối quan hệ giả thuyết Kết luận H
Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến động lực 1 Chấp nhận khởi nghiệp H
Chuẩn chủ quan ảnh hưởng cùng chiều đến động 2 Chấp nhận lực khởi nghiệp H
Cơ hội ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi 3 Chấp nhận nghiệp H
Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến động lực khởi 4 Không chấp nhận nghiệp H
Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng 5 Chấp nhận
chiều đến động lực khởi nghiệp H
Động lực khởi nghiệp ảnh hưởng cùng chiều đến 6 Chấp nhận ý định khởi nghiệp
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 4.6. Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng, chuẩn chủ quan, cơ hội, nhận thức kiểm
soát hành vi tác động trực tiếp đến động lực khởi nghiệp của sinh viên và thông qua yếu
tố này tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp. Khả năng ảnh hưởng cùng chiều đến
động lực khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh (trọng số hồi
quy chuẩn hóa = 0,179). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Liñán (2008) và Bayon
(2015) đã nêu rõ rằng khả năng và kỹ năng của cá nhân có ảnh hưởng đáng kể đến mục
tiêu khởi nghiệp của họ cũng như khởi nghiệp là một quá trình nhận thức mà khả năng và 13
kỹ năng đóng một vai trò quan trọng. Kết quả nghiên cứu của Kara và cộng sự (2010) về
các yếu tố quyết định thành công của tinh thần kinh doanh chỉ ra khả năng nhận biết cơ
hội mới là điều cần thiết cho sự thành công trong lĩnh vực khởi nghiệp.
Chuẩn chủ quan tác động cùng chiều đến động lực khởi nghiệp và tác động gián
tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,478). Kết quả
nghiên cứu cho thấy, chuẩn chủ quan thực sự ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh
viên đại học, phù hợp với kết quả của Cialdini và Trost (1998), Shteynberg và cộng sự
(2009). Kết quả nghiên cứu đưa ra, cơ hội có một mối quan hệ tích cực với động lực khởi
nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (trọng số hồi quy chuẩn hóa =
0,222). Theo như Krueger (2000) đã kết luận rằng việc nắm bắt cơ hội đóng vai trò như
một kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và dẫn dắt các hoạt động kinh doanh. Việc một
cá nhân nắm bắt được cơ hội kinh doanh đó cũng sẽ góp phần vào làm tăng sự nỗ lực của
bản thân để bắt đầu một ý định khởi nghiệp kinh doanh mới. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với nghiên cứu của Raza (2018).
Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến động lực khởi nghiệp từ đó
ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (trọng số hồi quy chuẩn hóa =
0,140). Nếu một cá nhân tin rằng mình có đủ khả năng để tạo lập một doanh nghiệp, điều
đó sẽ tạo động lực cho họ, qua đó, làm tăng ý định bắt đầu kinh doanh của riêng họ
(Amorós và Bosma, 2014). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Raza (2018) khi
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực và ý định khởi nghiệp của sinh
viên. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng động lực tác động tích cực đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (trọng số hồi quy
chuẩn hóa = 0,531). Tinh thần tự nguyện trong hành trình triển khai, quản lý và điều
chỉnh các dự án, ý tưởng một cách độc lập và thuận lợi là các yếu tố phản chiếu lên động
lực khởi nghiệp. Trên cơ sở này, việc sinh viên rèn luyện được cách tạo động lực khởi
nghiệp đã trở thành bàn đạp thúc đẩy họ xây dựng các ý định khởi nghiệp. Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Solesvik (2013). 4.7. Kết luận
Mục tiêu chính của nghiên cứu là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đang học tập và sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Bài 14
nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của 5 biến số độc lập (khả năng, chuẩn chủ
quan, cơ hội, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi), tác động đến biến phụ thuộc động lực
khởi nghiệp và qua đó tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng
có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trước hết, khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực khởi nghiệp cho sinh
viên bởi nó kích thích ý định khởi nghiệp thông qua tác động tích cực lên động lực và
lòng tự tin của họ. Chuẩn chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi ảnh hưởng tích cực đến
động lực khởi nghiệp, điều đó cho thấy rằng tư duy tích cực tạo ra sự cần thiết và hứng
thú trong việc khởi nghiệp. Bên cạnh đó, cơ hội cũng ảnh hưởng đến động lực khởi
nghiệp của sinh viên. Những cơ hội hỗ trợ, nguồn lực và môi trường kinh doanh thích hợp
có thể kích thích ý định khởi nghiệp và tăng cường động lực của sinh viên trong việc khởi
nghiệp. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã phản ánh thái độ có mối quan hệ ngược chiều
với động lực khởi nghiệp với mức ý nghĩa thống kê 5%. Điều này đưa ra một góc nhìn
mới và đáng quan tâm rằng thái độ của sinh viên đối với khởi nghiệp có thể không phải
luôn tích cực và đồng lòng với động lực thúc đẩy họ tiến tới khởi nghiệp.
Nhìn chung, nghiên cứu này đã xác định và xem xét sâu hơn về các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Các
kết quả này cung cấp cơ sở cho việc đề xuất chính sách và các biện pháp hỗ trợ hợp lý
nhằm khuyến khích và tăng cường ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố. Tài liệu tham khảo
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human
decision processes, 50(2), 179-211.
Amorós, J. E., & Bosma, N. (2014). Global Entrepreneurship Monitor 2013 global report.
Global Entrepreneurship Monitor.
Bailey, T. (1993). Organizational innovation in the apparel industry. Industrial Relations:
A Journal of Economy and Society, 32(1), 30–48.
Baumol, W.J. (1990). Entrepreneurship: Productive, Unproductive, and
Destructive. Journal of Political Economy, 98, 893-921. 15
Bayon, M. C., Vaillant, Y., & Lafuente, E. (2015). Initiating nascent entrepreneurial
activities: The relative role of perceived and actual entrepreneurial
ability. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 21(1), 27-49.
Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of
management Review, 13(3), 442-453.
BUI, T. H. V., NGUYEN, T. L. T., TRAN, M. D., & NGUYEN, T. A. T. (2020).
Determinants influencing entrepreneurial intention among undergraduates in
universities of Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business (JAFEB) 7 , (7), 369-378.
Chau, T. T. N., & Huynh, T. L. T. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên Trường Đại học An Giang [Factors affecting the intention to start a
business of An Giang University students]. Tạp chí Công Thương, . 17
Cialdini, R.B. & Trost, M.R. (1998). Social influence: social norms, conformity and
compliance’, in Gilbert, D., Fiske, J. and Lindzey, G. (Eds.): The Handbook of Social
Psychology, McGraw-Hill, New York, 151–92.
Damron-Martinez, D., Presley, A., & Zhang, L. (2013). A Study of Undergraduate
Student Intent to Minor in Business: A Test of the Theory of Planned Behavior.
Journal of Education for Business, 88(2), 109–116.
Edelman, L., & Yli–Renko, H. (2010). The impact of environment and entrepreneurial
perceptions on venture-creation efforts: Bridging the discovery and creation views of
entrepreneurship. Entrepreneurship theory and practice, 34(5), 833-856.
Fitzsimmons, J. R., & Douglas, E. J. (2011). Interaction between feasibility and
desirability in the formation of entrepreneurial intentions. Journal of business venturing, 26 (4), 431-440.
Gupta, V. K., & Bhawe, N. M. (2007). The influence of proactive personality and
stereotype threat on women's entrepreneurial intentions. Journal of Leadership &
Organizational Studies, 13(4), 73-85.
Hisrich, R. D., Peters, M. P. and Shepherd, D. A. (2005). Entrepreneurship (6th ed.). Boston: McGraw-Hill Irwin. 16
Kara, O., Chu, H. M., & Benzing, C. (2010). Determinants of entrepreneur's success in a
developing country. Journal of Business and Entrepreneurship, 22(2), 1-15.
Khuong, M. N., & An, N. H. (2016). The factors affecting entrepreneurial intention of the
students of Vietnam national university—a mediation analysis of perception toward
entrepreneurship. Journal of Economics, Business and Management, 4(2), 104-111.
Krueger Jr, N. F., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of
entrepreneurial intentions. Journal of business venturing, 15(5-6), 411-432.
Krueger Jr, N., & Dickson, P. R. (1994). How believing in ourselves increases risk taking:
Perceived self‐efficacy and opportunity recognition. Decision sciences, 25(3), 385- 400.
Le, Q. H., & Loan, N. T. (2022). Role of entrepreneurial competence, entrepreneurial
education, family support and entrepreneurship policy in forming entrepreneurial
intention and entrepreneurial decision. Pakistan Journal of Commerce and Social
Sciences (PJCSS), 16(1), 204-221.
Le, T. N. D., & Nguyen, L. M. (2019). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của
sinh viên khoa Quản trị kinh doanh [Factors affecting the intention to start a business
of students of the Faculty of Business Administration]. Tạp chí khoa học Trường Đại
học Cửu Long, 16&17, 24-35.
Liñán, F. (2008). Skill and value perceptions: how do they affect entrepreneurial
intentions?. International entrepreneurship and management journal, 4, 257-272.
Liñán, F., & Chen, Y. W. (2006). Testing the entrepreneurial intention model on a two- country sample.
McMullen, J. S., & Shepherd, D. A. (2006). Entrepreneurial action and the role of
uncertainty in the theory of the entrepreneur. The Academy of Management Review, 31(1), 132–152.
Morrison, A., Breen, J., & Ali, S. (2003). Small business growth: intention, ability, and
opportunity. Journal of small business management, (4), 417-425. 41
NGUYEN, X. T. (2020). Factors affecting entrepreneurial decision of nascent
entrepreneurs belonging generation Y in Vietnam. The Journal of Asian Finance,
Economics and Business (JAFEB), 7(8), 407-417. 17
Phan, V. Q., & Trac, H. A. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh
viên tại Trường Đại học Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận [Factors affecting the intention
to start a business of students at Phan Thiet University, Binh Thuan province]. Tạp chí Công Thương, 18.
Pihie, Z. A. L., & Bagheri, A. (2013). Self-efficacy and entrepreneurial intention: The
mediation effect of self-regulation. Vocations and Learning, , 385-401. 6
Raza, S. A., Qazi, W., & Shah, N. (2018). Factors affecting the motivation and intention
to become an entrepreneur among business university students. International Journal
of Knowledge and Learning, 12(3), 221.
Sarasvathy, S. D., Dew, N., Velamuri, S. R., & Venkataraman, S. (2010). Three views of
entrepreneurial opportunity (pp. 77-96). Springer New York.
Schumpeter, J. A. (2000). Entrepreneurship as innovation. University of Illinois at
Urbana-Champaign's Academy for Entrepreneurial Leadership Historical Research Reference in Entrepreneurship.
Shane, S., & Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of
research. Academy of management review, 25(1), 217-226.
Shteynberg, G., Gelfand, M. J., & Kim, K. (2009). Peering into the “magnum mysterium”
of culture: The explanatory power of descriptive norms. Journal of Cross-Cultural Psychology 40 , (1), 46-69.
Solesvik, M. Z. (2013). Entrepreneurial motivations and intentions: investigating the role
of education major. Education+ Training, (3), 253-271. 55
Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes
raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of
learning, inspiration and resources. Journal of Business venturing, (4), 566-591. 22
Timmons, J. A. (1978). Characteristics and role demands of entrepreneurship. American
journal of small business, 3(1), 5-17.
Truong, T. D., & Nguyen, L. T. T. (2019). Một số nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên [Some factors affecting students’ intention to start a business].
Tạp chí Công Thương, 3, 99-104. 18
Van Gelderen, M., Brand, M., Van Praag, M., Bodewes, W., Poutsma, E., & Van Gils, A.
(2008). Explaining entrepreneurial intentions by means of the theory of planned
behaviour. Career development international, 13(6), 538-559.
Wongnaa, C. A., & Seyram, A. Z. K. (2014). Factors influencing polytechnic students’
decision to graduate as entrepreneurs. Journal of Global Entrepreneurship Research, 4(1), 2.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn 19