CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN
PHẨM ĐIỆN TỬ BẰNG HÌNH THỨC WEBROOMING CỦA
THẾ HỆ Z TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Ngọc Minh , HQ9-GE27
1
Nguyễn Thu Hà, HQ9-GE20
La Thanh Trúc, HQ9-GE27
Tường Vy, HQ9-GE28
Minh Yến, HQ9-GE28
Tóm tắt
Trong thời đại hiện nay, việc hiểu hành vi mua sản phẩm điện tử thông qua
Webrooming tr nên cùng quan trọng đối với các nhà sản xuất doanh nghiệp
trong lĩnh vực điện tử. Phương pháp này giúp xây dựng thúc đẩy các hình mua
sắm, định hình chiến lược cung ứng sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người tiêu
dùng một cách hiệu quả, đồng thời cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Ngoài
ra, cũng giúp người tiêu dùng cái nhìn ràng hơn về sản phẩm trước khi đến
cửa hàng, từ đó tránh lãng phí thời gian. Bài viết này nhằm mục đích khảo sát tác động
của các yếu tố đến quyết định mua sản phẩm điện tử thông qua Webrooming của thế
hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích bằng hình cấu trúc tuyến tính cho
thấy quyết định mua ảnh hưởng đến thái độ nhận thức về việc tìm kiếm tìm hiểu
sản phẩm trước khi đến cửa hàng. Những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến sự sẵn lòng
mua sản phẩm điện tử qua hình thức Webrooming của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Quyết định mua, sản phẩm điện tử, thế hệ Z, TP.HCM, Webrooming.
Abstract
In the current era, understanding electronic product purchasing behavior
through Webrooming has become extremely important for manufacturers and
businesses in the electronics sector. This method helps build and promote shopping
models, shape product supply strategies that suit consumer needs effectively, and
provide the best service to customers. In addition, it also helps consumers have a
clearer view of the product before going to the store, thereby avoiding wasting time.
This article aims to survey the impact of factors on generation Z's decision to buy
1
tuhnm2608@gmail.com
1
electronic products through Webrooming in Ho Chi Minh City. Analysis results using
a linear structural model show that purchasing decisions affect attitudes and
perceptions about searching and researching products before going to the store. These
factors also affect the willingness of generation Z to buy electronic products through
Webrooming in Ho Chi Minh City.
Keywords: Electronic products, Gen Z, Ho Chi Minh City, purchase decision,
Webrooming.
1. Giới thiệu
Những năm vừa qua, thị trường tiêu dùng Việt Nam đã xuất hiện định hình
của xu hướng Webrooming ngày càng trở nên phổ biến. Với sự phát triển của công
nghệ, sự thâm nhập của Internet vào đời sống người dân ngày một tăng cao sở thích
của người tiêu dùng biến đổi không ngừng. Việc đó góp phần tạo nên những chuyển
biến trong hành vi của người tiêu dùng dần hình thành xu hướng mua sắm thông
qua Webrooming như hiện nay. Khi mua sắm trên Webrooming thường mọi người sẽ
tìm hiểu kỹ về thông tin mặt hàng, sản phẩm họ thích trên website trước, sau khi
xác định được mẫu mã, giá cả, họ sẽ trực tiếp đến xem tại cửa hàng hoặc đặt online để
hàng được giao đến tận nhà. Xu hướng này bắt nguồn từ việc phổ cập điện thoại thông
minh hiện nay tại Việt Nam, giúp ích khá nhiều cho các cửa hàng bán lẻ truyền thống
làm cho thương mại điện tử phát triển nhanh chóng, cạnh tranh với các hình thức
bán lẻ truyền thống đồng thời mang lại lợi ích cho khách hàng. Đó do cho đến
thời điểm hiện tại Webrooming vẫn xu hướng mua sắm được giới trẻ ưa chuộng.
Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi mua sản phẩm điện tử bằng hình thức
Webrooming, đặc biệt trong giới trẻ hay nói cách khác Gen Z cần được đặt ra
các nghiên cứu thực nghiệm để câu trả lời chính xác.
2. sở thuyết tổng quan nghiên cứu
2.1. sở thuyết khái niệm liên quan
2.1.1. Quyết định sử dụng
Theo Azjen (1991), quyết định sử dụng một quá trình cân nhắc dựa trên nhu
cầu thông tin, đánh giá của bản thân người mua về sản phẩm dịch vụ. Quá trình
ra quyết định một quá trình lựa chọn dựa trên các giả định về giá trị, sở thích
niềm tin của người ra quyết định. Khi nói đến quyết định sử dụng nói đến “tần suất”
khối lượng sử dụng hệ thống “bao nhiêu” của người sử dụng. Kauer (2012) nghiên
2
cứu về các nhân tố chấp nhận sản phẩm dịch vụ kết luận rằng tỉ lệ sử dụng thấp thì
thể sẽ xảy ra sự chấp nhận thấp. Davis (1989) khẳng định ý định hành vi của một
người ảnh hưởng đến việc sử dụng hthống. Ý định sử dụng được xem như nhân tố dự
đoán sử dụng. Tuy nhiên, sử dụng được xem như biến phụ thuộc trong vài nghiên
cứu. Roger (2005) cho rằng khi muốn quyết định sử dụng một sản phẩm/dịch vụ nào
đó thì họ phải ý định s dụng sản phẩm, dịch vụ đó. Ý định đó thể hình thành
trước hoặc ngay khi họ quyết định sử dụng. Hai yếu tố này luôn chịu tác động bởi các
yếu tố khách quan khác như môi trường hay những yếu tố hành vi của bản thân họ.
2.1.2. Sản phẩm điện tử
Sản phẩm điện tử nghĩa bất kỳ sản phẩm hoặc thiết bị hoặc bộ phận cấu
thành nào của sản phẩm hoặc thiết bị đó mạch điện tử trong quá trình hoạt động
thể tạo ra hoặc phát ra trường bức xạ vật lý, chẳng hạn như nhưng không giới hạn
vi sóng, hệ thống laze hoặc máy điện nhiệt theo Radiation Safety Act 1975.
2.1.3. Hình thức Webrooming
Webrooming một hành vi mua sắm của khách hàng trên nền tảng online.
Hành vi này cho phép người tiêu dùng thể tham khảo thông tin về sản phẩm của
mình trên trang web trước khi đưa đến quyết định mua sắm, hoặc mua trực tuyến
thông qua trang web hoặc đến cửa hàng mua sau khi đã tham khảo. Đây một
hình thức được đề cập một cách đối lập với Showrooming khách hàng đến tận i
bán, tham khảo trực tiếp tại đó lựa chọn mua hoặc không. Webrooming nổi lên
mạnh mẽ trong thời đại công nghệ số dần được phổ biến thành một trong những
hành vi được người tiêu dùng các doanh nghiệp cân nhắc sử dụng. Webrooming tạo
cho người tiêu dùng một sự hài lòng và tin tưởng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm được
khoản chi phí thời gian vận chuyển khi họ không cần phải đến tận nơi thực hiện
hành vi mua sắm trực tiếp tại cửa hàng. Cùng với tính chất của mình, hình thức mua
sắm này đã góp phần tạo nên cho doanh nghiệp, đặc biệt các nhà bán lẻ, một điểm
tiếp xúc với khách hàng trên nền tảng Internet, phát triển tiềm năng khách hàng thông
qua quy trình mua sắm. Nhà bán lẻ thế tận dụng được sự kết hợp giữa truyền thống
hiện đại để tạo nên sự liền mạch trong hệ thống bán hàng đa kênh.
2.1.4. Thế hệ Z
3
Thế hệ Z hay Generation Z (Gen Z) một đại từ dùng để đặt tên chung cho
những người sinh vào năm 1997 đến năm 2012. Đây lớp thế hệ đầu tiên lớn lên với
sự tiếp cận Internet, các thiết bị kỹ thuật số điện tử. Chính lẽ đó, thế hệ này còn
được nhắc đến với tên gọi “Công dân thời đại kỹ thuật số”. Gen Z sở hữu cho mình
bản tính cạnh trang cao, thích được làm việc một cách độc lập với ý kiến của riêng
mình họ nhạy bén với các công nghệ hiện đại. Lớn lên với sự phát triển của
Internet, thế hệ này sở hữu cho mình một sự cởi mở trước đa dạng văn hoá dân tộc, sự
trước những sự phong phú của các nền kinh tế khác. Nhưng cũng thế, người
lớn lên trong thế hệ này dần trở nên xu hướng thực dụng khó tính với việc tiêu
dùng các sản phẩm, họ thường xuyên cân nhắc đề cập đến nhiều khía cạnh hơn
không còn gói gọn “tính cần thiết” như trước kia, trước khi đưa đến quyết định
mua chúng hay không. Đây một thế hệ được đánh giá s sử dụng xu hướng
Webrooming cao nhất do họ quan tâm đến trải nghiệm mua sắm, sự tiết kiệm, sự linh
hoạt tự do trong khi thanh toán, đổi trả hay bảo hành sản phẩm của chính mình.
2.2. Tổng quan thuyết nghiên cứu liên quan
thuyết Chấp nhận Công nghệ ( -TAM), đượcTechnology Acceptance Model
nghiên cứu phát triển bởi Fred Davis năm 1986, thuyết Hành vi kế hoạch
(Theory of Planned Behavior - TPB), do Icek Ajzen phát triển vào năm 1991, hai
trong những thuyết nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hành vi của con người
trong việc dự kiến sdụng thái độ của họ trước khi thực hiện hành vi. Cả hai thuyết
trên đều được phát triển dựa trên thuyết Hành động hợp (Theory of Reasoned
Action - TRA). TAM thể hiện hơn về người tiêu dùng khi họ niềm tin công
nghệ o s mang lại giá trị dễ sử dụng thì họ sẽ khả năng sử dụng công nghệ
đó. TAM được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu các vấn đề về sử dụng công nghệ.
Các nhà quản dùng TAM nhằm hiểu được hành vi của khách hàng tối ưu hoá
thiết kế công nghệ để đáp ứng nhu cầu của họ. Bên cạnh TAM, việc sử dụng TPB cho
việc nghiên cứu này giúp người phát triển thể nắm được ý định hành vi mức độ
thực hiện hành vi cao hay thấp đối tượng nghiên cứu. Sở hữu lẽ đó TPB cho
thấy những người tiêu dùng khi thái độ tích cực, chuẩn mực chủ quan cao kiểm
soát tốt hành vi nhận trong nhận thức sẽ đưa ra được ý định mức độ thực hiện
cao. Tương tự với TAM, TPB cũng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài (kinh
nghiệm trước đó, tính nhân,…). Khi kết hợp cả hai thuyết trên sẽ giải thích
4
dự đoán được hành vi sử dụng công nghệ của người tiêu dùng thông qua cách họ sử
dụng chúng trong những hoạt động đời sống, như mua sắm trực tuyến. Đây đều
những thuyết phổ biến hiệu quả khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi.
Trong khi TAM nghiên cứu về giá trị dự kiến độ dễ dàng sử dụng dự kiến đến công
nghệ thì TPB lại phụ thuộc vào thái độ, chuẩn mực chủ quan kiểm soát nhận thức.
Chúng bổ sung cho nhau tăng tính toàn diện của nhau. thế việc kết hợp TAM
TPB một việc làm hợp khi thực hiện nghiên cứu này. Ngoài ra, trong bài nghiên
cứu còn sử dụng những yếu tố thuyết khác để tăng tính chính xác sự toàn diện
của hình.
2.3. Các giả thuyết hình nghiên cứu
2.3.1. Mối quan hệ giữa thái độ quyết định sử dụng
Thái độ làm trung gian một phần tác động của nhận thức về tính hữu ích
tính dễ sử dụng đối với ý định sử dụng. Các yếu tố nhận thức tính cách người
tiêu dùng rất hữu ích của sản phẩm đó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ mua sản
phẩm của họ (Sanjiwani & Suasana, 2019). Trong nghiên cứu của (Huang et al. ,2015)
thái độ yếu tố quan trọng đối với việc s dụng hoặc nh vi đối với việc sử dụng
được giải thích thái độ của người tiêu dùng sử dụng một số công nghệ thông tin cả
tích cực tiêu cực .Từ đó theo (Xia cộng sự.,2018) đề cập với Davis, cũng tin rằng
mặc người tiêu dùng thể thái độ tiêu cực đối với các công nghệ tả thông
tin sản phẩm cụ thể, nhưng họ vẫn sẵn sàng sử dụng những công nghệ đó nếu họ cảm
thấy làm như vậy thể cải thiện hiệu suất công việc của họ. Ngoài ra, thái độ của
người tiêu dùng không ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ thông tin (Tyas &
Darma, 2017) khi việc sử dụng hệ thống được bao gồm trong phạm vi của nó. Dựa
trên điều này, giả thuyết được đề xuất là:
H1: Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.2. Mối quan hệ giữa nhận thức hữu ích quyết định mua
Nhận thức hữu ích yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định mua hàng trên trang
web. (Davis ,1989) cho rằng nhận thức hữu ích mức độ một người tin rằng việc sử
dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất của mình. Ngoài ra, tính hữu ích được
cảm nhận từ trang web phụ thuộc vào hiệu quả đặc tính của công nghệ. Điều quan
trọng của việc nhận thức hữu ích cung cấp thông tin quan trọng tả sản phẩm
chi tiết trên trang web để giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm thông tin sản phẩm họ
5
cần mua qua đó giúp hỗ trợ họ đưa ra quyết định mua ng (Lim cộng sự, 2015).
Theo (Chiu, Ling & Tang, 2005) nếu phải mất một khoảng thời gian dài để người dùng
tìm kiếm thông tin về sản phẩm nào đó, người tiêu dùng sẽ cảm thấy trang web không
hữu ích ý định mua hàng trên trang web sẽ giảm đi đáng kể khi người tu ng tch
sự tiện lợi hơn khi thông tin sẵn hữu ích trên các trang web để kích thích nhu cầu
mua sắm cũng nhtrhđưa ra quyết định mua hàng một ch nhanh chóng hiệu
quả. Bên cạnh đó, nhu cầu của người tiêu dùng về tả thông tin sản phẩm uy tín
đáng tín cậy để đưa ra quyết định mua hàng trực tuyến là do họ không thể chạm kiểm
tra sản phẩm thông qua trực tuyến (Tan cộng sự, 2017). Trong nghiên cứu của
(Kothagoda & Herath ,2018) cho rằng người mua sắm trên web mong đợi một chức
ng hữu ích của một trang web. Do đó trang web nên thiết kế giao diện thân thiện,
chuẩn xác thông tin sản phẩm để thu hút cũng như gây ấn tượng với người tiêu dùng.
Githuyết được đxuất:
H2: Nhận thức hữu ích ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.3. Mối quan hệ giữa nhận thức dễ sử dụng quyết định mua
Nhận thức dễ sử dụng một trong những thành tố quan trọng của hình
Chấp nhận Công nghệ - TAM. Theo (Davis, 1989) nhận thức dễ sdụng cảm nhận
của một người về khả năng dễ dàng thao tác một thiết bị hệ thống nào đó không
gặp quá nhiều trở ngại. Tính dễ sử dụng thể tính dễ lựa chọn thanh toán các
đơn hàng, dễ điều khiển các tính năng của trang web mức độ khai thác thông tin
trong lĩnh vực thương mại điện tử (Reibstein, 2002). vậy, đối với các đối tượng
kinh doanh bằng trang web muốn tạo ấn tượng tốt đến khách hàng cần một thiết kế
tốt, hấp dẫn, trực quan dễ đọc, dễ điều hướng thì khách hàng sẽ sử dụng dễ dàng.
Giao diện của trang web rất quan trọng đối với doanh nghiệp với một trang web
bố cục trực quan với người dùng sẽ làm tăng quyết định mua hàng (Chiu, Ling &
Tang, 2005). Hơn nữa, một trang web được thiết kế tốt sẽ làm tăng sự thỏa mãn của
khách hàng s dẫn đến quyết định mua hàng qua web cao hơn (Lee & Lin, 2005).
vậy, với một trang web được đầu chỉn chu với giao diện trực quan, thông tin
được dễ đọc, bố cục hình ảnh hấp dẫn gọn gàng thì người tiêu dùng sẽ sử dụng dễ
dàng. Do đó, tính dễ s dụng được cảm nhận một yếu tố quan trọng sẽ ảnh hưởng
đến quyết định mua hàng trực tuyến. Giả thuyết được đề xuất:
H3: Nhận thức dễ sử dụng ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
6
2.3.4. Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan quyết định mua
Chuẩn mực chủ quan đề cập đến nhận thức của người dùng về những đánh giá
của hội ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của họ (Ajzen, 1991). Người tiêu dùng
thể bị nh hưởng bởi các ý kiến nhận xét được đánh giá bởi những người dùng
khác trong quá trình mua hàng với cách gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hội nhóm
hoặc những người dùng trước (Tan cộng sự, 2017). Trong bài nghiên cứu của Ru
cộng sự (2021) cũng đề cập, người tiêu dùng thường đưa ra phán đoán sẽ tìm kiếm
thông tin từ nhiều nguồn bên ngoài khác nhau như các chuyên gia hoặc quan điểm của
các nhà lãnh đạo trước tiên để giảm bớt sự không chắc chắn về độ tin cậy của sản
phẩm. Nếu một cá nhân đang phân vân không biết nên mua sản phẩm điện tử của
thương hiệu nào, tại cửa hàng nào thì họ thường tìm kiếm ý kiến từ những người xung
quanh như bạn bè, gia đình,... Hầu hết sẽ bị ảnh hưởng thường xu hướng quyết
định mua sắm theo ý họ nói (Cheng & Yee, 2014). Đây sở để đề xuất giả thuyết:
H4: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.5. Mối quan hệ giữa nhận thức kiểm soát hành vi quyết định mua
thuyết về hành vi kế hoạch (TPB) bổ sung cấu trúc nhận thức kiểm soát
hành vi thiết lập như yếu tố quyết định giữa quyết định hành vi thực tế
(Ajzen, 2002). Do đó, một người không kiểm soát được một tình huống thể không
khuynh hướng tham gia vào tình huống đó. Trong nghiên cứu này, thức kiểm soát
hành vi được hiểu mức độ kiểm soát người tiêu dùng cảm nhận được đối với các
yếu tố bên ngoài trong quá trình mua hàng từ một cửa hàng trực tuyến (Amaro
Duarte, 2015). Thương mại điện tử thể đại diện cho cảm giác mất kiểm soát tình
hình do sự không chắc chắn gây ra bởi môi trường hình (Dabholkar Sheng,
2009). Do đó, kiểm soát nhận thức trong nghiên cứu này yếu tố chính cần được
nghiên cứu để hiểu được sự hình thành quyết định hành vi của người tiêu dùng trong
bối cảnh thương mại điện tử. Người ta cho rằng mọi người sẽ thích những tình huống
họ thể kiểm soát hơn những tình huống các thế lực bên ngoài kiểm soát
(Wang, 2014). Về vấn đề này, nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập mối quan hệ tỷ
lệ thuận giữa thức kiểm soát hành vi của người tiêu dùng quyết định mua hàng trực
tuyến của họ, thể hiện trong giả thuyết sau:
H5: Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
7
2.3.6. Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro quyết định mua
Nhận thức rủi ro đã ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng, hình thành nên
tất cả các quyết định mua hàng theo các mức độ khác nhau (Chaudhuri, 1997;
Mitchell, 1999). Mitchell (1999) đã chỉ ra rằng những khách hàng xu hướng xem
xét nhận thức về rủi ro hơn tối đa hóa nhận thức về lợi ích trong quá trình mua hàng.
Bauer (1967) đã đề cập đến yếu tố rủi ro quyết định hành vi của người tiêu dùng, đây
yếu tố chính ảnh hưởng đến người mua. Taylor (1974) cho rằng skhông chắc chắn
hoặc nhận thức rủi ro thể tạo ra sự lo lắng ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định
của người tiêu dùng. Theo Forsythe & Shi (2003), rủi ro mua hàng về sản phẩm trong
quá trình mua thể ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người Việt Nam. Điều
này được thể hiện giả thuyết sau:
H6: Nhận thức rủi ro ảnh hưởng ngược chiều đến quyết định mua.
2.3.7. Mối quan hệ giữa niềm tin quyết định mua
Theo Hsu Hsu (2014), niềm tin được xem nhận thức của nhân về các
thuộc tính của nhà cung cấp trực tuyến, đó sự trung thực, liêm chính nhân từ của
các nhà bán lẻ điện tử. Khái niệm niềm tin như một thái độ thể được gọi cảm xúc
tích cực hoặc tiêu cực đối với người bán hàng trực tuyến (Kim, 2012). Trong nghiên
cứu này, niềm tin được coi sự kết hợp của cả niềm tin đáng tin cậy ý định tin
tưởng đối với các công ty bán sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các trang web thương
mại điện tử. Một nghiên cứu Đài Loan cho thấy bảo mật quyền riêng vai trò
quan trọng trong việc dự đoán niềm tin đối với việc sử dụng các nền tảng thương mại
điện tử (Hsu & Hsu, 2014). Trên sở này, giả thuyết được đề xuất:
H7: Niềm tin ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
Từ các giả thuyết đã trình bày, hình thuyết đề xuất Hình 1.
8
Hình 1. hình nghiên cứu đề xuất
Trong đó:
- TD: Thái độ; HI: Nhận thức sự hữu ích; DSD: Dễ sử dụng; CCQ: Chuẩn chủ quan;
KSHI: Nhận thức kiểm soát hành vi; RR: Nhận thức rủi ro; NT: Niềm tin; QD: Quyết
định.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu thời gian nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài này hướng đến những người thuộc thế hệ Z. Đó
những người sinh sau năm 1997 đến năm 2010 hiện đang làm việc sinh sống trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian khảo sát được chúng tôi thực hiện trong 6
ngày từ ngày 24-06-2023 đến ngày 29-06-2023. Nhóm tác giả đã thu thập được 365
phiếu khảo sát được dùng để phục vụ với mục đích nghiên cứu cho đề tài này.
3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Sau khi tham khảo ý kiến các
chuyên gia, các thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu được hiệu chỉnh cho phù
hợp với bối cảnh nghiên cứu thiết kế thành bảng khảo sát cấu trúc chính thức. Bảng
khảo sát được chuyển đổi thành công cụ khảo sát trực tuyến Google Forms gửi đến
các đáp viên. Dữ liệu thu thập được bao gồm 365 mẫu hợp lệ, được nhập liệu, hóa
chuẩn bị phân tích.
3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Bài viết sử dụng các hình phân tích phù hợp các bước trong quy trình
phân tích. Đầu tiên kiểm định độ phù hợp các thang đo trong hình thuyết bằng
Cronbach’s Alpha, kiểm định giá trị hội tụ giá trị phân biệt của các khái niệm bằng
9
phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis-EFA), kiểm định độ phù hợp
tổng quát của các khái niệm nghiên cứu bằng phân tích nhân tố khẳng định
(Confirmatory Factor Analysis-CFA) kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng
hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling –SEM).
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo trình bày Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
Thang đo
hóa
Biến ban đầu Biến giữ lại Cronbach’s
Alpha
TD TD1, TD2, TD3 TD1, TD2, TD3 0,893
HI HI1, HI2, HI3, HI4 HI1, HI2, HI3, HI4 0,836
DSD
DSD1, DSD2, DSD3, DSD4,
DSD5
DSD1, DSD2, DSD3, DSD4,
DSD5
0,783
CCQ CCQ1, CCQ2, CCQ3 CCQ1, CCQ2, CCQ3 0,827
KSHV
KSHV1, KSHV2, KSHV3,
KSHV4, KSHV5
KSHV1, KSHV2, KSHV3,
KSHV4, KSHV5
0,866
RR RR1, RR2, RR3, RR4, RR5 RR2, RR3, RR4, RR5 0,850
NT NT1, NT2, NT3, NT4, NT5 NT2, NT3, NT4, NT5 0,817
QD QD1, QD2, QD3, QD4 QD1, QD2, QD3, QD4 0,876
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Từ kết quả Bảng 1, các thang đo đều đạt tiêu chuẩn lớn hơn 0,7 nên đạt được
độ tin cậy; thang đo RR loại biến quan sát RR1; thang đo NT loại biến NT1; các biến
cột biến giữ lại sẽ được tiếp tục phân tích EFA.
4.2. Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá, sử dụng phương pháp xoay xiên góc, kết
quả 2 nhân tố: nhận thức sự hữu ích (HI) chuẩn chủ quan (CCQ) không đáp ứng
yêu cầu giá trị hội tụ giá trị phân biệt nên loại khỏi hình. Ngoài ra, hai biến quan
sát RR1 NT1 không đạt giá trị hội tụ nên cũng bị loại khỏi phân tích tiếp theo. Các
biến quan sát còn lại trong hình đều trọng số nhân tố lớn hơn 0,5. Kết quả EFA
sẽ được sử dụng để phân tích CFA SEM.
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định trình bày Hình 2.
10
Hình 2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Hình 2 cho thấy các chỉ số đo lường độ phụ hợp tổng quát của hình đều đáp
ứng tiêu chuẩn, cụ thể: Chi-Square/df = 1,435 < 3; GFI = 0,926 > 0,9, CFI = 0,973 >
0,9; TLI = 0,968 > 0,9 RMSEA = 0,035 < 0,08. Như vậy, các khái niệm trong
hình thuyết đáp ứng được độ phù hượp tổng quát.
4.4. Phân tích hình cấu trúc tuyến tính
Hình 3. Kết quả phân tích hình cấu trúc tuyến tính
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Kết quả phân tích hình cấu trúc tuyến tính trình bày Hình 3 cho thấy kết
quả đáp ứng tiêu chuẩn độ phù hợp tổng quát, trong đó: Chi-Square/df = 1,435 < 3;
GFI = 0,926 > 0,9, CFI = 0,973 > 0,9; TLI = 0,968 > 0,9 RMSEA = 0,035 < 0,08.
Kết quả cụ thể các tham số trong hình trình bày Bảng 2
11
Bảng 2. Tổng hợp kết quả phân tích
Mối quan hệ giả thuyết Trọng số S.E C.R p
H
1
TD
QD
0,234
(0,193)
0,063 3,73 ***
H
5
KSHV
QD
0,613
(0,625)
0,059 10,45 ***
H
3
DSD
QD
0,247
(0,191)
0,064 3,87 ***
H
6
RR
QD
-0,216
(-0,196)
0,060 -3,58 ***
H
7
NT
QD
0,178
(0,139)
0,067 2,67 0,008
Nguồn: “Tổng hợp từ phân tích của nhóm tác giả”
Ghi chú: Trong ngoặc đơn trình bày trọng số hồi quy chuẩn hóa; *** P < 0,01.
4.5. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả Bảng 2, Bảng 3 trình bày tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu.
Bảng 3. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Mối quan hệ giả thuyết Kết luận
H
1
Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. Chấp nhận
H
2
Nhận thức hữu ích ảnh hưởng cùng chiều đến quyết
định mua.
Không đủ
điều kiện kết luận
H
3
Nhận thức dễ sử dụng ảnh hưởng cùng chiều đến
quyết định mua.
Chấp nhận
H
4
Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết
định mua.
Không đủ
điều kiện kết luận
H
5
Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng chiều
đến quyết định mua.
Chấp nhận
H
6
Nhận thức rủi ro ảnh hưởng ngược chiều đến quyết
định mua.
Chấp nhận
H
7
Niềm tin ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. Chấp nhận
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả Bảng 2 Bảng 3, 4 yếu tố ảnh hưởng cùng chiều đến quyết
định mua là: thái độ, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức kiểm soát hành vi, niềm tin
một yếu tố mối quan hệ ngược chiều với quyết định mua nhận thức rủi ro với
mức ý nghĩa thống 1%. Hai yếu tố nhận thức hữu ích chuẩn chủ quan không
đáp ứng các tiêu chuẩn trong quá trình phân tích nên loại khỏi hình.
4.6. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Từ kết qunghiên cu trên cho thấy thái đ, nhận thc ds dng, nhận thức kim
st hành vi nim tin là các yếu tnh ởng (ng chiu) đến quyết đnh mua sản
phẩm điện tử bằng nh thức Webrooming. Đồng thời, yếu tnhận thc rủi ro cũng ý
12
nghĩa theo kết qu nghiên cứu trên, cho thy ng ảnh hưởng (ngược chiều) đến
quyết định mua sn phẩm điện tử bằng hình thức ca thế hZ trên địa bàn TPHCM.
Trong đó, yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến
quyết định mua (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,625). Ngoài ra, nhận thức kiểm soát
nh vi phản ánh nhận thức của một người về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực
hiện hành vi hquan tâm (Ajzen, 1991). Kết quả trên u thuẫn với nghiên cứu của
(Ajzen & Madden, 1986) rằng kiểm soát hành vi ít khả năng ảnh hưởng đến quyết
định mua sản phẩm của khách hàng. Nhưng trong nghiên cứu của Taylor Todd
(1995), Liao cộng sự (2007) Mathieson (1991) công nhận rằng kiểm soát hành vi
tác động như một yếu tố quyết định quan trọng của quyết định mua hàng của người
tiêu ng. Do đó, các cửa hàng cần phải hiểu tạo động lực cho khách hàng bằng cách
cung cấp thông tin sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp tạo động lực thông qua khuyến
mãi, ưu đãi hoặc chính sách bảo đảm để tạo những trải nghiệm đáng nhớ cho khách
ng.
Yếu tố thái độ cũng ảnh hưởng tích cực đến việc quyết định mua sắm các
thiết bị điện tử bằng hình thức webrooming (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,193). Một
nhân sẽ thái độ tích cực đối với một hành vi nhất định nếu họ cho rằng việc thực
hiện hành vi đó sẽ dẫn đến hầu hết các kết quả tích cực (Goldsmith & Flynn, 2004).
Một số nghiên cứu trước đây đã tìm thấy mối quan hệ trực tiếp đáng kể giữa thái độ
việc mua hàng qua mạng (Elliott & Speck, 2005). Do đó, thái độ nói chung được định
nghĩa thước đo tích cực của cảm xúc khi mua hàng trực tuyến. Người tiêu dùng
thái độ tích cực hơn sẽ mua hàng trực tuyến nhiều hơn. Thái độ được coi yếu tố
chính dẫn đến ý định chấp nhận hành vi (Ajzen Fishbein, 1980); (Ajzen, 1985
1991). Một số nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng thái độ vai trò đóng vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành ý định mua hoặc mua nhiều hàng hóa hơn theo
nghiên cứu của (Pavlou Fygenson, 2006). Mặt khác, nhiều nghiên cứu liên quan
về mảng thương mại điện tử, hệ thống thông tin cũng cung cấp nhiều bằng chứng thực
nghiệm nói về mối quan hệ tích cực giữa thái độ quyết định mua hàng (Tsai
cộng sự, 2011). vậy, với hình thức mua sắm trực tuyến hiện nay, người tiêu dùng
cho rằng họ thái độ tích cực hơn thì sẽ mua hàng trực tuyến nhiều hơn.
Quyết định mua sản phẩm điện tử bằng hình thức webrooming của thế hệ Gen Z
cũng phụ thuộc không kém vào yếu tố nhận thức dễ sử dụng (trọng số hồi quy chuẩn
13
hóa = 0,191). Trang web được sử dụng làm phương tiện để cung cấp thông tin sản
phẩm, đồng thời người dùng phải cảm nhận được quá trình mua hàng một cách dễ
dàng để thể hình thành yếu tố dễ s dụng trong trường hợp này do đó tính dễ sử
dụng ảnh hưởng đến yếu tố hiệu quả khi mua hàng trực tuyến (Bauerová & Klepek,
2018). Đối với việc mua sắm trực tuyến qua webrooming thì việc thao tác dễ dàng các
tính năng trên trang web một điều cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết định mua hàng của khách hàng. Nếu việc điều hướng các tác vụ quá khó khăn sẽ
làm thay đổi quyết định mua hàng của khách hàng ngay lập tức. Thế nên, các trang
web cần được thiết kế đơn giản, tiện lợi nhưng cũng không được quá sài.
Bên cạnh các yếu tố trên, niềm tin cũng tác động mạnh đến việc quyết định
một sản phẩm điện tử nào đó của người tiêu dùng (trọng số hồi quy chuẩn hóa =
0,139) Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của (Kiew cộng sự, 2021) mức
độ tin tưởng của người tiêu dùng càng cao thì quyết định mua hàng của người tiêu
dùng càng nhiều (Rafsandjani, 2018) cho rằng biến niềm tin ảnh hưởng đáng kể
nhất đến quyết định mua ng của người tiêu dùng trên các trang thương mại điện tử.
Chính vậy, các trang web cần xây dựng niềm tin trong tâm trí người tiêu dùng bằng
cách tăng cường các chính sách bảo mật thông tin của khách hàng cũng như các quyền
bản khác của họ.
Một yếu tố khác mối quan hệ chặt chẽ với việc ra quyết định mua của người
tiêu dùng nhưng tác động ngược chiều đó nhận thức rủi ro (trọng số chuẩn quy
hóa = -0,196). Điều đó nghĩa là, đối với việc mua một sản phẩm điện tử bằng hình
thức webrooming mang lại cảm nhận rủi ro đến khách hàng càng lớn sẽ ảnh hưởng đến
việc không mua sản phẩm đó càng nhiều. Theo nghiên cứu của (Wu & Ke, 2015) rủi
ro nhận thức đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định mua sắm
của người tiêu dùng trực tuyến. Featherman Fuller (2003) đã chứng minh rằng nhận
thức rủi ro làm giảm tác động việc đánh giá của người tiêu với các quyết định mua
hàng. thể thấy nếu rủi ro càng cao thì việc ra quyết định mua các sản phẩm của
khách hàng sẽ càng thấp.
5. Kết luận
Nhìn chung, xu ớng mua sắm Webrooming hiện nay đang phbiến nhiều thế
hệ, trước tiên Gen Z. Thế hệ Z giai đoạn đầu tiên đưc tiếp c với ng ngh,
ngày nay số ợng người sử dụng Internet để thc hiện c vụ mua sắm ngày ng phổ
14
biến, đem lại một lời hứa hẹn về một ơng lai sự thay đổi ch cực trong giới kinh
doanh.
Bài nghiên cứu đem đến những kết quả tốt để thể làm tiền đề tham khảo
trong việc đưa ra lời giải đáp cho các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp, xoay quanh chủ
đề mua sắm các sản phẩm điện tử bằng hình thức Webrooming. Điều này cũng hỗ trợ
cho các doanh nghiệp hình thức mua sắm trực tuyến cái nhìn khách quan hơn về
người tiêu dùng trong quá trình mua sản phẩm của họ, từ đó, việc điều chỉnh chính
sách bán hàng sẽ được thực hiện triệt để hiệu quả hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Chimkudo. (2018b, July 25). Webrooming VS Showrooming Cuộc chiến về xu
hướng mua sắm của người tiêu dùng. Thư Viện Chụp Ảnh Sản Phẩm, Quảng Cáo
Chimkudo.
Hạnh L. (2022). Nghiên cứu hành vi thói quen mua sắm của GEN Z, GEN
X, GEN Y Quý II/2020. Copyright (C) by © 2016 Admicro, VCCorp Corporation. All
Rights Reserved.
Jenny. (2023). Gen Z gì? Giải xu hướng Marketing hướng đến thế hệ gen
Z. GoSELL.
Mona Media. (2023, March 18). Gen Z ai? Tìm hiểu hành vi mua sắm online
của Gen Z hiện nay. https://mona.media/gen-z-la-ai/
Tcct. (2020, February 26). Vận dụng hình kết hợp TAM TPB để đánh giá
việc áp dụng IFRS. Tạp Chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/van-
dung-mo-hinh-ket-hop-tam-va-tpb-de-danh-gia-viec-ap-dung-ifrs-tai-cac-doanh-
nghiep-o-thanh-pho-ho-chi-minh-68915.htm
Vy Q. (2023, August 11). Thế hệ Gen Z Những Điều “Lồi Lõm”
Trong Mắt Các Gen Khác. Glints Vietnam Blog. https://glints.com/vn/blog/gen-z-va-
nhung-tinh-cach-loi-lom/
15
Tiếng Anh
Agarwal, R., & Prasad, J. (1997). The role of innovation characteristics and
perceived voluntariness in the acceptance of information technologies. Decision
sciences, 28(3), 557-582.
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and
human decision processes, 50(2), 179-211.
Cheng, B. L., & Yee, S. W. (2014). Factors influencing consumers’ online
purchase intention: A study among university students in Malaysia. International
Journal of Liberal Arts and Social Science, 2(8), 121-133.
Chiu, Y. B., Ling, C. P., & Tang, L. L. (2005). “Gender differs: Assessing a
model of online purchase intentions in e-tail service”. International Journal of Service
Industry Management, 16(5), 416-435.
Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user
acceptance of information technology. , 319-340.MIS quarterly
Decker, A., (2021). Showrooming and Webrooming: How They Can Help Your
Business Grow.
https://www.techopedia.com/definition/31036/webrooming?
fbclid=IwAR0BaGFhttBG12kKV0DKRyDzBFzklVkJnzACPtW3Lhtb1OcBn8FUOQ
CsPJA
Hsu, S.-H., & Luan, P. M. (2017). The Perception Risk of Online Shopping
Impacted on the Consumers Attitude and Purchase Intention in Hanoi, Vietnam. Journal of
Business, 4(4).
Jadil, Y., Rana, N. P., & Dwivedi, Y. K. (2022). Understanding the drivers of
online trust and intention to buy on a website: An emerging market perspective.
International Journal of Information Management Data Insights, 2(1), 100065.
Jiao, C., & Hu, B. (2022). Showrooming, webrooming, and operational
strategies for competitiveness. , 31(8), 3217-Production and Operations Management
3232.
Kauer, M. (2012). Identification as Determining Factor of Technology
Acceptance for Hedonic and Dual Use Products.
16
Kianª, T. P., Boonb, G. H., Fongc, S. W. L., & Aid, Y. J. (2017). Factors that
influence the consumer purchase intention in social media websites. PROCEEDING
OF ICARBSS 2017 LANGKAWI, MALAYSIA, 2017(29th), 214.
Koththagoda, K. C., & Herath, H. M. R. P. (2018). Factors influencing online
purchase intention: The mediation role of consumer attitude. Journal of Marketing and
Consumer Research, 42, 66-74.
Lim, Y. J., Osman, A., Salahuddin, S. N., Romle, A. R., & Abdullah, S. (2015).
Factors influencing online shopping behavior: The mediating role of purchase
intention. Procedia Economics and Finance, 35, 401-410.
Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005). Customer perceptions of e service quality in online
shopping. International journal of retail & distribution management, 33(2), 161-176.
Osbourne, S., (2022). Webrooming vs. Showrooming: A Marketing Guide for
Retailers https://www.google.com/url?q=https://www.qudini.com/webrooming-vs-
showrooming/?fbclid%3DIwAR0TzgZDBvL9jUQ--
Peña-García, N., Gil-Saura, I., Rodríguez-Orejuela, A., & Siqueira-Junior, J. R.
(2020). Purchase intention and purchase behavior online: A cross-cultural
approach. , 6(6).Heliyon
Podder, B. (2005). “Factors Influencing the Adoption and Uageof Internet
Banking: A New Zealand Perspective”. doctoral dissertation, New Zealand.
Reibstein, D. J. (2002). What attracts customers to online stores, and what
keeps them coming back?. , 30, 465-473.Journal of the academy of Marketing Science
Roger, E. (1995). Diffusion of innovations, The Free Press, New York, NY.
Rouse, M.,(2014).Webrooming
https://www.techopedia.com/definition/31036/webrooming?
fbclid=IwAR0BaGFhttBG12kKV0DKRyDzBFzklVkJnzACPtW3Lhtb1OcBn8FUOQ
CsPJA
Ru, L. J., Kowang, T. O., Long, C. S., Fun, F. S., & Fei, G. C. (2021). Factors
Influencing Online Purchase Intention of Shopee’s Consumers in
Malaysia. International Journal of Academic Research in Business and Social
Sciences, 11(1), 761-776.
17
Sanjiwani, N. M. D., & Suasana, I. G. A. K. G. (2019). Peran brand image
dalam memediasi pengaruh kualitas produk terhadap keputusan pembelian. E-Jurnal
Manajemen Universitas Udayana, 8(11), 6721.
Tyas, E. I., & Darma, E. S. (2017). Pengaruh Perceived Usefulness, Perceived
Ease of Use, Perceived Enjoyment, dan Actual Usage Terhadap Penerimaan Teknologi
Informasi: Studi Empiris Pada Karyawan Bagian Akuntansi dan Keuangan Baitul
Maal Wa Tamwil Wilayah Daerah Istimewa Yogyakarta. Reviu Akuntansi Dan Bisnis
Indonesia, 1(1), 25-35.
Xia, M., Zhang, Y., & Zhang, C. (2018). A TAM-based approach to explore the
effect of online experience on destination image: A smartphone user's
perspective. , 8, 259-270.Journal of destination marketing & management
PHỤ LỤC
Thang đo các khái niệm nghiên cứu
hoá Nội dung
Thái độ
TD1
Mua sắm các thiết bị điện tử bằng hình thức Webrooming một
quyết định đúng đắn.
TD2
Sử dụng xu hướng Webrooming để mua thiết bị điện tử một ý kiến
sáng suốt.
TD3 Tôi thích mua các thiết bị điện tbằng hình thức Webrooming.
Nhận thức hữu ích
HI1
Hình thức Webrooming trong việc mua sắm các thiết bị điện tử giúp
tôi mua được hàng chất ợng hơn.
HI2 Hình thức Webrooming giúp tôi lựa chọn sản phẩm dễ dàng hơn.
HI3 Tôi đánh giá Webrooming hữu ích trong việc mua sắm của tôi.
HI4 Xu hướng Webrooming giúp tôi ra quyết định mua sắm dễ dàng hơn.
Nhận thức dễ sử dụng
18
DSD1
Tôi thấy dễ tìm kiếm thông tin sản phẩm điện tử trên Internet trước
khi mua.
DSD2 Tôi thấy Webrooming dễ sử dụng.
DSD3
Tôi thấy Webrooming cho phép khách hàng dễ dàng kiểm tra tình
trạng còn hàng , giá cả của sản phẩm điện tử.
DSD4 Tôi thấy Webrooming cho phép đổi trả ddàng.
DSD5
Tôi thấy Webrooming giúp mua sản phẩm điện tử môt cách dễ dàng
hơn trên nhiều kênh khác nhau.
Chuẩn chủ quan
CCQ1
Tôi thấy người tiêu dùng trên Webrooming kinh nghiệm sử dụng
sản phẩm điện tử, các ý kiến đánh giá của chuyên gia nghiên cứu về
lĩnh vực đó
CCQ2
Tôi thấy Webrooming đội ngũ nhân viên hỗ trợ vấn ảnh hưởng
đến quyết định mua hàng.
CCQ3
Tôi thấy nhóm tham khảo cũng giúp người tiêu dùng trong việc lựa
chọn sản phẩm thương hiệu khi xem trên Webrooming.
Nhận thức kiểm soát hành vi
KSHV1
Tôi tin rằng đây khả ng định hướng mục tiêu, lựa chọn sản phẩm
định vị về thương hiệu.
KSHV2
Tôi tin rằng đây khả năng tự kiểm soát quản hành vi mua
hàng trên mạng.
KSHV3
Tôi tin rằng đây khả năng quản động lực do để mua sản
phẩm.
KSHV4
Tôi tin rằng đây khả năng kiểm soát cảm xúc tránh những quyết
định mua hàng thiếu suy nghĩ.
KSHV5
Tôi tin rằng đây khả năng kiểm soát tài chính tìm kiếm sản phẩm
giá trị phù hợp nhất với ngân sách nhân.
Nhận thức rủi ro
RR1
Tôi tin rằng đây mức độ hiểu biết về sản phẩm điện tử khách
hàng quan tâm.
RR2
Tôi tin rằng đây mức độ hiểu biết về thị trường, cạnh tranh các
thông tin liên quan đến sản phẩm.
RR3
Tôi tin rằng đây mức độ nhận thức về các kênh thông tin, như
website, blog, mạng hội được sử dụng để tìm kiếm thông tin về sản
phẩm.
RR4
Tôi tin rằng đây khả năng phán đoán độ chính xác của thông tin
được cung cấp bởi các trang web bán hàng.
RR5
Tôi tin rằng đây mức độ sẵn sàng thay đổi cập nhật kiến thức về
sản phẩm, thị trường các kênh thông tin.
Niềm tin
19
NT1
Tôi tin rằng việc xem qua các sản phẩm điện tử trước khi ra cửa hàng
giúp tôi mua hàng giá rẻ hơn.
NT2 Webrooming rất an toàn khi tôi cập nhật các thông tin nhân.
NT3
Tôi tin rằng những nhận xét về sản phẩm trên Webrooming không
khác thực tế.
NT4
Tôi tin rằng Webrooming cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm hơn
ngoài cửa hàng thực tế.
NT5
Tôi tin rằng sử dụng Webrooming giúp tôi muốn mua sản phẩm điện
tử hơn.
Quyết định sử dụng
QD1 Tôi sẽ quyết định mua sản phẩm điện tử bằng hình thức Webrooming.
QD2
Tôi s giới thiệu cho người khác mua sản phẩm điện tử bằng hình
thức Webrooming.
QD3
Tôi sẽ luôn sử dụng các trang web online để mua sản phẩm điện tử
khi thể.
QD4
Tôi quyết định sẽ tiếp tục dùng Webrooming khi mua sản phẩm điện
tử một cách thường xuyên.
20

Preview text:

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN
PHẨM ĐIỆN TỬ BẰNG HÌNH THỨC WEBROOMING CỦA
THẾ HỆ Z TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Ngọc Minh Tú1, HQ9-GE27 Nguyễn Thu Hà, HQ9-GE20 La Thanh Trúc, HQ9-GE27 Lê Tường Vy, HQ9-GE28 Lê Minh Yến, HQ9-GE28
TS. Trương Đình Thái (GVHD) Tóm tắt
Trong thời đại hiện nay, việc hiểu hành vi mua sản phẩm điện tử thông qua
Webrooming trở nên vô cùng quan trọng đối với các nhà sản xuất và doanh nghiệp
trong lĩnh vực điện tử. Phương pháp này giúp xây dựng và thúc đẩy các mô hình mua
sắm, định hình chiến lược cung ứng sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người tiêu
dùng một cách hiệu quả, đồng thời cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Ngoài
ra, nó cũng giúp người tiêu dùng có cái nhìn rõ ràng hơn về sản phẩm trước khi đến
cửa hàng, từ đó tránh lãng phí thời gian. Bài viết này nhằm mục đích khảo sát tác động
của các yếu tố đến quyết định mua sản phẩm điện tử thông qua Webrooming của thế
hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính cho
thấy quyết định mua ảnh hưởng đến thái độ và nhận thức về việc tìm kiếm và tìm hiểu
sản phẩm trước khi đến cửa hàng. Những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến sự sẵn lòng
mua sản phẩm điện tử qua hình thức Webrooming của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Quyết định mua, sản phẩm điện tử, thế hệ Z, TP.HCM, Webrooming. Abstract
In the current era, understanding electronic product purchasing behavior
through Webrooming has become extremely important for manufacturers and
businesses in the electronics sector. This method helps build and promote shopping
models, shape product supply strategies that suit consumer needs effectively, and
provide the best service to customers. In addition, it also helps consumers have a
clearer view of the product before going to the store, thereby avoiding wasting time.
This article aims to survey the impact of factors on generation Z's decision to buy 1 tuhnm2608@gmail.com 1
electronic products through Webrooming in Ho Chi Minh City. Analysis results using
a linear structural model show that purchasing decisions affect attitudes and
perceptions about searching and researching products before going to the store. These
factors also affect the willingness of generation Z to buy electronic products through
Webrooming in Ho Chi Minh City.
Keywords: Electronic products, Gen Z, Ho Chi Minh City, purchase decision, Webrooming. 1. Giới thiệu
Những năm vừa qua, thị trường tiêu dùng Việt Nam đã xuất hiện và định hình
của xu hướng Webrooming và ngày càng trở nên phổ biến. Với sự phát triển của công
nghệ, sự thâm nhập của Internet vào đời sống người dân ngày một tăng cao và sở thích
của người tiêu dùng biến đổi không ngừng. Việc đó góp phần tạo nên những chuyển
biến trong hành vi của người tiêu dùng và dần hình thành xu hướng mua sắm thông
qua Webrooming như hiện nay. Khi mua sắm trên Webrooming thường mọi người sẽ
tìm hiểu kỹ về thông tin mặt hàng, sản phẩm mà họ thích trên website trước, sau khi
xác định được mẫu mã, giá cả, họ sẽ trực tiếp đến xem tại cửa hàng hoặc đặt online để
hàng được giao đến tận nhà. Xu hướng này bắt nguồn từ việc phổ cập điện thoại thông
minh hiện nay tại Việt Nam, giúp ích khá nhiều cho các cửa hàng bán lẻ truyền thống
và làm cho thương mại điện tử phát triển nhanh chóng, cạnh tranh với các hình thức
bán lẻ truyền thống và đồng thời mang lại lợi ích cho khách hàng. Đó là lý do cho đến
thời điểm hiện tại Webrooming vẫn là xu hướng mua sắm được giới trẻ ưa chuộng.
Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi mua sản phẩm điện tử bằng hình thức
Webrooming, đặc biệt là trong giới trẻ hay nói cách khác là Gen Z cần được đặt ra và
có các nghiên cứu thực nghiệm để có câu trả lời chính xác.
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm liên quan
2.1.1. Quyết định sử dụng
Theo Azjen (1991), quyết định sử dụng là một quá trình cân nhắc dựa trên nhu
cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về sản phẩm và dịch vụ. Quá trình
ra quyết định là một quá trình lựa chọn dựa trên các giả định về giá trị, sở thích và
niềm tin của người ra quyết định. Khi nói đến quyết định sử dụng là nói đến “tần suất”
và khối lượng sử dụng hệ thống “bao nhiêu” của người sử dụng. Kauer (2012) nghiên 2
cứu về các nhân tố chấp nhận sản phẩm dịch vụ kết luận rằng tỉ lệ sử dụng thấp thì có
thể sẽ xảy ra sự chấp nhận thấp. Davis (1989) khẳng định ý định hành vi của một
người ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống. Ý định sử dụng được xem như nhân tố dự
đoán sử dụng. Tuy nhiên, sử dụng được xem như là biến phụ thuộc trong vài nghiên
cứu. Roger (2005) cho rằng khi muốn quyết định sử dụng một sản phẩm/dịch vụ nào
đó thì họ phải có ý định sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó. Ý định đó có thể hình thành
trước hoặc ngay khi họ quyết định sử dụng. Hai yếu tố này luôn chịu tác động bởi các
yếu tố khách quan khác như môi trường hay những yếu tố hành vi của bản thân họ.
2.1.2. Sản phẩm điện tử
Sản phẩm điện tử có nghĩa là bất kỳ sản phẩm hoặc thiết bị hoặc bộ phận cấu
thành nào của sản phẩm hoặc thiết bị đó có mạch điện tử mà trong quá trình hoạt động
có thể tạo ra hoặc phát ra trường bức xạ vật lý, chẳng hạn như nhưng không giới hạn ở
lò vi sóng, hệ thống laze hoặc máy điện nhiệt theo Radiation Safety Act 1975. 2.1.3. Hình thức Webrooming
Webrooming là một hành vi mua sắm của khách hàng trên nền tảng online.
Hành vi này cho phép người tiêu dùng có thể tham khảo thông tin về sản phẩm của
mình trên trang web trước khi đưa đến quyết định mua sắm, hoặc là mua trực tuyến
thông qua trang web hoặc là đến cửa hàng mua nó sau khi đã tham khảo. Đây là một
hình thức được đề cập một cách đối lập với Showrooming – khách hàng đến tận nơi
bán, tham khảo trực tiếp tại đó và lựa chọn mua hoặc không. Webrooming nổi lên
mạnh mẽ trong thời đại công nghệ số và dần được phổ biến thành một trong những
hành vi được người tiêu dùng và các doanh nghiệp cân nhắc sử dụng. Webrooming tạo
cho người tiêu dùng một sự hài lòng và tin tưởng ở sản phẩm, đồng thời tiết kiệm được
khoản chi phí và thời gian vận chuyển khi họ không cần phải đến tận nơi thực hiện
hành vi mua sắm trực tiếp tại cửa hàng. Cùng với tính chất của mình, hình thức mua
sắm này đã góp phần tạo nên cho doanh nghiệp, đặc biệt ở các nhà bán lẻ, một điểm
tiếp xúc với khách hàng trên nền tảng Internet, phát triển tiềm năng khách hàng thông
qua quy trình mua sắm. Nhà bán lẻ vì thế tận dụng được sự kết hợp giữa truyền thống
và hiện đại để tạo nên sự liền mạch trong hệ thống bán hàng đa kênh. 2.1.4. Thế hệ Z 3
Thế hệ Z hay Generation Z (Gen Z) là một đại từ dùng để đặt tên chung cho
những người sinh vào năm 1997 đến năm 2012. Đây là lớp thế hệ đầu tiên lớn lên với
sự tiếp cận Internet, các thiết bị kỹ thuật số và điện tử. Chính vì lẽ đó, thế hệ này còn
được nhắc đến với tên gọi “Công dân thời đại kỹ thuật số”. Gen Z sở hữu cho mình
bản tính cạnh trang cao, thích được làm việc một cách độc lập với ý kiến của riêng
mình và họ nhạy bén với các công nghệ hiện đại. Lớn lên với sự phát triển của
Internet, thế hệ này sở hữu cho mình một sự cởi mở trước đa dạng văn hoá dân tộc, sự
tò mò trước những sự phong phú của các nền kinh tế khác. Nhưng cũng vì thế, người
lớn lên trong thế hệ này dần trở nên có xu hướng thực dụng và khó tính với việc tiêu
dùng các sản phẩm, họ thường xuyên cân nhắc và đề cập đến nhiều khía cạnh hơn mà
không còn gói gọn ở “tính cần thiết” như trước kia, trước khi đưa đến quyết định có
mua chúng hay không. Đây là một thế hệ được đánh giá là có sự sử dụng xu hướng
Webrooming cao nhất do họ quan tâm đến trải nghiệm mua sắm, sự tiết kiệm, sự linh
hoạt và tự do trong khi thanh toán, đổi trả hay bảo hành sản phẩm của chính mình.
2.2. Tổng quan lý thuyết nghiên cứu liên quan
Lý thuyết Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model-TAM), được
nghiên cứu và phát triển bởi Fred Davis năm 1986, Lý thuyết Hành vi có kế hoạch
(Theory of Planned Behavior - TPB), do Icek Ajzen phát triển vào năm 1991, là hai
trong những thuyết nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hành vi của con người
trong việc dự kiến sử dụng và thái độ của họ trước khi thực hiện hành vi. Cả hai thuyết
trên đều được phát triển dựa trên Lý thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned
Action - TRA). Ở TAM thể hiện rõ hơn về người tiêu dùng khi họ có niềm tin ở công
nghệ nào sẽ mang lại giá trị và dễ sử dụng thì họ sẽ có khả năng sử dụng công nghệ
đó. TAM được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu các vấn đề về sử dụng công nghệ.
Các nhà quản lý dùng TAM nhằm hiểu rõ được hành vi của khách hàng và tối ưu hoá
thiết kế công nghệ để đáp ứng nhu cầu của họ. Bên cạnh TAM, việc sử dụng TPB cho
việc nghiên cứu này giúp người phát triển có thể nắm được ý định hành vi và mức độ
thực hiện hành vi là cao hay thấp ở đối tượng nghiên cứu. Sở hữu lẽ đó vì TPB cho
thấy những người tiêu dùng khi có thái độ tích cực, chuẩn mực chủ quan cao và kiểm
soát tốt hành vi cá nhận trong nhận thức sẽ đưa ra được ý định và mức độ thực hiện
cao. Tương tự với TAM, TPB cũng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài (kinh
nghiệm trước đó, cá tính cá nhân,…). Khi kết hợp cả hai lý thuyết trên sẽ giải thích và 4
dự đoán được hành vi sử dụng công nghệ của người tiêu dùng thông qua cách họ sử
dụng chúng trong những hoạt động đời sống, như mua sắm trực tuyến. Đây đều là
những lý thuyết phổ biến và hiệu quả khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi.
Trong khi TAM nghiên cứu về giá trị dự kiến và độ dễ dàng sử dụng dự kiến đến công
nghệ thì TPB lại phụ thuộc vào thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát nhận thức.
Chúng bổ sung cho nhau và tăng tính toàn diện của nhau. Vì thế việc kết hợp TAM và
TPB là một việc làm hợp lý khi thực hiện nghiên cứu này. Ngoài ra, trong bài nghiên
cứu còn sử dụng những yếu tố lý thuyết khác để tăng tính chính xác và sự toàn diện của mô hình.
2.3. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.3.1. Mối quan hệ giữa thái độ và quyết định sử dụng
Thái độ làm trung gian và là một phần tác động của nhận thức về tính hữu ích
và tính dễ sử dụng đối với ý định sử dụng. Các yếu tố nhận thức và tính cách người
tiêu dùng rất hữu ích của sản phẩm đó sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ mua sản
phẩm của họ (Sanjiwani & Suasana, 2019). Trong nghiên cứu của (Huang et al. ,2015)
thái độ là yếu tố quan trọng đối với việc sử dụng hoặc hành vi đối với việc sử dụng
được giải thích là thái độ của người tiêu dùng sử dụng một số công nghệ thông tin cả
tích cực và tiêu cực .Từ đó theo (Xia và cộng sự.,2018) đề cập với Davis, cũng tin rằng
mặc dù người tiêu dùng có thể có thái độ tiêu cực đối với các công nghệ mô tả thông
tin sản phẩm cụ thể, nhưng họ vẫn sẵn sàng sử dụng những công nghệ đó nếu họ cảm
thấy làm như vậy có thể cải thiện hiệu suất công việc của họ. Ngoài ra, thái độ của
người tiêu dùng không ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ thông tin (Tyas &
Darma, 2017) khi việc sử dụng hệ thống và được bao gồm trong phạm vi của nó. Dựa
trên điều này, giả thuyết được đề xuất là:
H1: Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.2. Mối quan hệ giữa nhận thức hữu ích và quyết định mua
Nhận thức hữu ích là yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định mua hàng trên trang
web. (Davis ,1989) cho rằng nhận thức hữu ích là mức độ một người tin rằng việc sử
dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất của mình. Ngoài ra, tính hữu ích được
cảm nhận từ trang web phụ thuộc vào hiệu quả đặc tính của công nghệ. Điều quan
trọng của việc nhận thức hữu ích là cung cấp thông tin quan trọng và mô tả sản phẩm
chi tiết trên trang web để giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm thông tin sản phẩm mà họ 5
cần mua qua đó giúp hỗ trợ họ đưa ra quyết định mua hàng (Lim và cộng sự, 2015).
Theo (Chiu, Ling & Tang, 2005) nếu phải mất một khoảng thời gian dài để người dùng
tìm kiếm thông tin về sản phẩm nào đó, người tiêu dùng sẽ cảm thấy trang web không
hữu ích và ý định mua hàng trên trang web sẽ giảm đi đáng kể khi người tiêu dùng thích
sự tiện lợi hơn khi thông tin có sẵn và hữu ích trên các trang web để kích thích nhu cầu
mua sắm cũng như hỗ trợ họ đưa ra quyết định mua hàng một cách nhanh chóng và hiệu
quả. Bên cạnh đó, nhu cầu của người tiêu dùng về mô tả thông tin sản phẩm uy tín và
đáng tín cậy để đưa ra quyết định mua hàng trực tuyến là do họ không thể chạm và kiểm
tra sản phẩm thông qua trực tuyến (Tan và cộng sự, 2017). Trong nghiên cứu của
(Kothagoda & Herath ,2018) cho rằng người mua sắm trên web mong đợi một chức
năng hữu ích của một trang web. Do đó trang web nên thiết kế giao diện thân thiện,
chuẩn xác thông tin sản phẩm để thu hút cũng như gây ấn tượng với người tiêu dùng.
Giả thuyết được đề xuất:
H2: Nhận thức hữu ích ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.3. Mối quan hệ giữa nhận thức dễ sử dụng và quyết định mua
Nhận thức dễ sử dụng là một trong những thành tố quan trọng của mô hình
Chấp nhận Công nghệ - TAM. Theo (Davis, 1989) nhận thức dễ sử dụng là cảm nhận
của một người về khả năng dễ dàng thao tác ở một thiết bị hệ thống nào đó mà không
gặp quá nhiều trở ngại. Tính dễ sử dụng có thể là tính dễ lựa chọn và thanh toán các
đơn hàng, dễ điều khiển các tính năng của trang web và mức độ khai thác thông tin
trong lĩnh vực thương mại điện tử (Reibstein, 2002). Vì vậy, đối với các đối tượng
kinh doanh bằng trang web muốn tạo ấn tượng tốt đến khách hàng cần có một thiết kế
tốt, hấp dẫn, trực quan và dễ đọc, dễ điều hướng thì khách hàng sẽ sử dụng dễ dàng.
Giao diện của trang web là rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì với một trang web
có bố cục trực quan với người dùng sẽ làm tăng quyết định mua hàng (Chiu, Ling &
Tang, 2005). Hơn nữa, một trang web được thiết kế tốt sẽ làm tăng sự thỏa mãn của
khách hàng và sẽ dẫn đến quyết định mua hàng qua web cao hơn (Lee & Lin, 2005).
Vì vậy, với một trang web được đầu tư chỉn chu với giao diện trực quan, thông tin
được dễ đọc, bố cục hình ảnh hấp dẫn và gọn gàng thì người tiêu dùng sẽ sử dụng dễ
dàng. Do đó, tính dễ sử dụng được cảm nhận là một yếu tố quan trọng sẽ ảnh hưởng
đến quyết định mua hàng trực tuyến. Giả thuyết được đề xuất:
H3: Nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. 6
2.3.4. Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan và quyết định mua
Chuẩn mực chủ quan đề cập đến nhận thức của người dùng về những đánh giá
của xã hội ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của họ (Ajzen, 1991). Người tiêu dùng
có thể bị ảnh hưởng bởi các ý kiến và nhận xét được đánh giá bởi những người dùng
khác trong quá trình mua hàng với tư cách là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hội nhóm
hoặc những người dùng trước (Tan và cộng sự, 2017). Trong bài nghiên cứu của Ru và
cộng sự (2021) cũng có đề cập, người tiêu dùng thường đưa ra phán đoán sẽ tìm kiếm
thông tin từ nhiều nguồn bên ngoài khác nhau như các chuyên gia hoặc quan điểm của
các nhà lãnh đạo trước tiên để giảm bớt sự không chắc chắn về độ tin cậy của sản
phẩm. Nếu một cá nhân đang phân vân không biết nên mua sản phẩm điện tử của
thương hiệu nào, tại cửa hàng nào thì họ thường tìm kiếm ý kiến từ những người xung
quanh như bạn bè, gia đình,... Hầu hết sẽ bị ảnh hưởng và thường có xu hướng quyết
định mua sắm theo ý họ nói (Cheng & Yee, 2014). Đây là cơ sở để đề xuất giả thuyết:
H4: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
2.3.5. Mối quan hệ giữa nhận thức kiểm soát hành vi và quyết định mua
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) bổ sung cấu trúc nhận thức kiểm soát
hành vi và thiết lập nó như yếu tố quyết định giữa quyết định và hành vi thực tế
(Ajzen, 2002). Do đó, một người không kiểm soát được một tình huống có thể không
có khuynh hướng tham gia vào tình huống đó. Trong nghiên cứu này, thức kiểm soát
hành vi được hiểu là mức độ kiểm soát mà người tiêu dùng cảm nhận được đối với các
yếu tố bên ngoài trong quá trình mua hàng từ một cửa hàng trực tuyến (Amaro và
Duarte, 2015). Thương mại điện tử có thể đại diện cho cảm giác mất kiểm soát tình
hình do sự không chắc chắn gây ra bởi môi trường vô hình (Dabholkar và Sheng,
2009). Do đó, kiểm soát nhận thức trong nghiên cứu này là yếu tố chính cần được
nghiên cứu để hiểu được sự hình thành quyết định hành vi của người tiêu dùng trong
bối cảnh thương mại điện tử. Người ta cho rằng mọi người sẽ thích những tình huống
mà họ có thể kiểm soát hơn những tình huống mà các thế lực bên ngoài kiểm soát
(Wang, 2014). Về vấn đề này, nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập mối quan hệ tỷ
lệ thuận giữa thức kiểm soát hành vi của người tiêu dùng và quyết định mua hàng trực
tuyến của họ, thể hiện trong giả thuyết sau:
H5: Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. 7
2.3.6. Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và quyết định mua
Nhận thức rủi ro đã ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng, hình thành nên
tất cả các quyết định mua hàng và theo các mức độ khác nhau (Chaudhuri, 1997;
Mitchell, 1999). Mitchell (1999) đã chỉ ra rằng có những khách hàng có xu hướng xem
xét nhận thức về rủi ro hơn là tối đa hóa nhận thức về lợi ích trong quá trình mua hàng.
Bauer (1967) đã đề cập đến yếu tố rủi ro quyết định hành vi của người tiêu dùng, đây
là yếu tố chính ảnh hưởng đến người mua. Taylor (1974) cho rằng sự không chắc chắn
hoặc nhận thức rủi ro có thể tạo ra sự lo lắng ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định
của người tiêu dùng. Theo Forsythe & Shi (2003), rủi ro mua hàng về sản phẩm trong
quá trình mua có thể ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người Việt Nam. Điều
này được thể hiện ở giả thuyết sau:
H6: Nhận thức rủi ro có ảnh hưởng ngược chiều đến quyết định mua.
2.3.7. Mối quan hệ giữa niềm tin và quyết định mua
Theo Hsu và Hsu (2014), niềm tin được xem là nhận thức của cá nhân về các
thuộc tính của nhà cung cấp trực tuyến, đó là sự trung thực, liêm chính và nhân từ của
các nhà bán lẻ điện tử. Khái niệm niềm tin như một thái độ có thể được gọi là cảm xúc
tích cực hoặc tiêu cực đối với người bán hàng trực tuyến (Kim, 2012). Trong nghiên
cứu này, niềm tin được coi là sự kết hợp của cả niềm tin đáng tin cậy và ý định tin
tưởng đối với các công ty bán sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các trang web thương
mại điện tử. Một nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy bảo mật và quyền riêng tư có vai trò
quan trọng trong việc dự đoán niềm tin đối với việc sử dụng các nền tảng thương mại
điện tử (Hsu & Hsu, 2014). Trên cơ sở này, giả thuyết được đề xuất:
H7: Niềm tin có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua.
Từ các giả thuyết đã trình bày, mô hình lý thuyết đề xuất ở Hình 1. 8
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất Trong đó:
- TD: Thái độ; HI: Nhận thức sự hữu ích; DSD: Dễ sử dụng; CCQ: Chuẩn chủ quan;
KSHI: Nhận thức kiểm soát hành vi; RR: Nhận thức rủi ro; NT: Niềm tin; QD: Quyết định.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài này hướng đến những người thuộc thế hệ Z. Đó là
những người sinh sau năm 1997 đến năm 2010 hiện đang làm việc và sinh sống trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian khảo sát được chúng tôi thực hiện trong 6
ngày từ ngày 24-06-2023 đến ngày 29-06-2023. Nhóm tác giả đã thu thập được 365
phiếu khảo sát được dùng để phục vụ với mục đích nghiên cứu cho đề tài này.
3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Sau khi tham khảo ý kiến các
chuyên gia, các thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu được hiệu chỉnh cho phù
hợp với bối cảnh nghiên cứu và thiết kế thành bảng khảo sát cấu trúc chính thức. Bảng
khảo sát được chuyển đổi thành công cụ khảo sát trực tuyến Google Forms và gửi đến
các đáp viên. Dữ liệu thu thập được bao gồm 365 mẫu hợp lệ, được nhập liệu, mã hóa chuẩn bị phân tích.
3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Bài viết sử dụng các mô hình phân tích phù hợp ở các bước trong quy trình
phân tích. Đầu tiên là kiểm định độ phù hợp các thang đo trong mô hình lý thuyết bằng
Cronbach’s Alpha, kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các khái niệm bằng 9
phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis-EFA), kiểm định độ phù hợp
tổng quát của các khái niệm nghiên cứu bằng phân tích nhân tố khẳng định
(Confirmatory Factor Analysis-CFA) và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng mô
hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling –SEM). 4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Thang đo Biến ban đầu Biến giữ lại Cronbach’s – Mã hóa Alpha TD TD1, TD2, TD3 TD1, TD2, TD3 0,893 HI HI1, HI2, HI3, HI4 HI1, HI2, HI3, HI4 0,836 DSD1, DSD2, DSD3, DSD4, DSD1, DSD2, DSD3, DSD4, 0,783 DSD DSD5 DSD5 CCQ CCQ1, CCQ2, CCQ3 CCQ1, CCQ2, CCQ3 0,827 KSHV1, KSHV2, KSHV3, KSHV1, KSHV2, KSHV3, 0,866 KSHV KSHV4, KSHV5 KSHV4, KSHV5 RR RR1, RR2, RR3, RR4, RR5 RR2, RR3, RR4, RR5 0,850 NT NT1, NT2, NT3, NT4, NT5 NT2, NT3, NT4, NT5 0,817 QD QD1, QD2, QD3, QD4 QD1, QD2, QD3, QD4 0,876
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Từ kết quả ở Bảng 1, các thang đo đều đạt tiêu chuẩn lớn hơn 0,7 nên đạt được
độ tin cậy; thang đo RR loại biến quan sát RR1; thang đo NT loại biến NT1; các biến ở
cột biến giữ lại sẽ được tiếp tục phân tích EFA.
4.2. Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá, sử dụng phương pháp xoay xiên góc, kết
quả 2 nhân tố: nhận thức sự hữu ích (HI) và chuẩn chủ quan (CCQ) không đáp ứng
yêu cầu giá trị hội tụ và giá trị phân biệt nên loại khỏi mô hình. Ngoài ra, hai biến quan
sát RR1 và NT1 không đạt giá trị hội tụ nên cũng bị loại khỏi phân tích tiếp theo. Các
biến quan sát còn lại trong mô hình đều có trọng số nhân tố lớn hơn 0,5. Kết quả EFA
sẽ được sử dụng để phân tích CFA và SEM.
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định trình bày ở Hình 2. 10
Hình 2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Hình 2 cho thấy các chỉ số đo lường độ phụ hợp tổng quát của mô hình đều đáp
ứng tiêu chuẩn, cụ thể: Chi-Square/df = 1,435 < 3; GFI = 0,926 > 0,9, CFI = 0,973 >
0,9; TLI = 0,968 > 0,9 và RMSEA = 0,035 < 0,08. Như vậy, các khái niệm trong mô
hình lý thuyết đáp ứng được độ phù hượp tổng quát.
4.4. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính
Hình 3. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính trình bày ở Hình 3 cho thấy kết
quả đáp ứng tiêu chuẩn độ phù hợp tổng quát, trong đó: Chi-Square/df = 1,435 < 3;
GFI = 0,926 > 0,9, CFI = 0,973 > 0,9; TLI = 0,968 > 0,9 và RMSEA = 0,035 < 0,08.
Kết quả cụ thể các tham số trong mô hình trình bày ở Bảng 2 11
Bảng 2. Tổng hợp kết quả phân tích Mối quan hệ giả thuyết Trọng số S.E C.R p 0,234 H1 TD QD 0,063 3,73 *** (0,193) 0,613 H 0,059 10,45 *** 5 KSHV QD (0,625) 0,247 H 0,064 3,87 *** 3 DSD QD (0,191) H -0,216 6 RR QD 0,060 -3,58 *** (-0,196) H 0,178 7 NT QD 0,067 2,67 0,008 (0,139)
Nguồn: “Tổng hợp từ phân tích của nhóm tác giả”
Ghi chú: Trong ngoặc đơn trình bày trọng số hồi quy chuẩn hóa; *** P < 0,01.
4.5. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả ở Bảng 2, Bảng 3 trình bày tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu.
Bảng 3. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu Mối quan hệ giả thuyết Kết luận H1
Thái độ ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. Chấp nhận H
Nhận thức hữu ích ảnh hưởng cùng chiều đến quyết Không đủ 2 định mua. điều kiện kết luận H
Nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến 3 Chấp nhận quyết định mua. H
Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết Không đủ 4 định mua. điều kiện kết luận H
Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng cùng chiều 5 Chấp nhận đến quyết định mua. H
Nhận thức rủi ro có ảnh hưởng ngược chiều đến quyết 6 Chấp nhận định mua. H7
Niềm tin có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định mua. Chấp nhận
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả ở Bảng 2 và Bảng 3, có 4 yếu tố ảnh hưởng cùng chiều đến quyết
định mua là: thái độ, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức kiểm soát hành vi, niềm tin và
một yếu tố có mối quan hệ ngược chiều với quyết định mua là nhận thức rủi ro với
mức ý nghĩa thống kê là 1%. Hai yếu tố nhận thức hữu ích và chuẩn chủ quan không
đáp ứng các tiêu chuẩn trong quá trình phân tích nên loại khỏi mô hình.
4.6. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy thái độ, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức kiểm
soát hành vi và niềm tin là các yếu tố có ảnh hưởng (cùng chiều) đến quyết định mua sản
phẩm điện tử bằng hình thức Webrooming. Đồng thời, yếu tố nhận thức rủi ro cũng có ý 12
nghĩa theo kết quả nghiên cứu trên, cho thấy nó cũng có ảnh hưởng (ngược chiều) đến
quyết định mua sản phẩm điện tử bằng hình thức của thế hệ Z trên địa bàn TPHCM.
Trong đó, yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến
quyết định mua (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,625). Ngoài ra, nhận thức kiểm soát
hành vi phản ánh nhận thức của một người về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực
hiện hành vi mà họ quan tâm (Ajzen, 1991). Kết quả trên mâu thuẫn với nghiên cứu của
(Ajzen & Madden, 1986) rằng kiểm soát hành vi ít có khả năng ảnh hưởng đến quyết
định mua sản phẩm của khách hàng. Nhưng trong nghiên cứu của Taylor và Todd
(1995), Liao và cộng sự (2007) và Mathieson (1991) công nhận rằng kiểm soát hành vi
có tác động như một yếu tố quyết định quan trọng của quyết định mua hàng của người
tiêu dùng. Do đó, các cửa hàng cần phải hiểu và tạo động lực cho khách hàng bằng cách
cung cấp thông tin sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp và tạo động lực thông qua khuyến
mãi, ưu đãi hoặc chính sách bảo đảm để tạo những trải nghiệm đáng nhớ cho khách hàng.
Yếu tố thái độ cũng có ảnh hưởng tích cực đến việc quyết định mua sắm các
thiết bị điện tử bằng hình thức webrooming (trọng số hồi quy chuẩn hóa = 0,193). Một
cá nhân sẽ có thái độ tích cực đối với một hành vi nhất định nếu họ cho rằng việc thực
hiện hành vi đó sẽ dẫn đến hầu hết các kết quả tích cực (Goldsmith & Flynn, 2004).
Một số nghiên cứu trước đây đã tìm thấy mối quan hệ trực tiếp đáng kể giữa thái độ và
việc mua hàng qua mạng (Elliott & Speck, 2005). Do đó, thái độ nói chung được định
nghĩa là thước đo tích cực của cảm xúc khi mua hàng trực tuyến. Người tiêu dùng có
thái độ tích cực hơn sẽ mua hàng trực tuyến nhiều hơn. Thái độ được coi là yếu tố
chính dẫn đến ý định chấp nhận hành vi (Ajzen và Fishbein, 1980); (Ajzen, 1985 và
1991). Một số nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng thái độ có vai trò đóng vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành ý định mua hoặc mua nhiều hàng hóa hơn theo
nghiên cứu của (Pavlou và Fygenson, 2006). Mặt khác, có nhiều nghiên cứu liên quan
về mảng thương mại điện tử, hệ thống thông tin cũng cung cấp nhiều bằng chứng thực
nghiệm nói về mối quan hệ tích cực giữa thái độ và quyết định mua hàng (Tsai và
cộng sự, 2011). Vì vậy, với hình thức mua sắm trực tuyến hiện nay, người tiêu dùng
cho rằng họ có thái độ tích cực hơn thì sẽ mua hàng trực tuyến nhiều hơn.
Quyết định mua sản phẩm điện tử bằng hình thức webrooming của thế hệ Gen Z
cũng phụ thuộc không kém vào yếu tố nhận thức dễ sử dụng (trọng số hồi quy chuẩn 13
hóa = 0,191). Trang web được sử dụng làm phương tiện để cung cấp thông tin sản
phẩm, đồng thời người dùng phải cảm nhận được quá trình mua hàng một cách dễ
dàng để có thể hình thành yếu tố dễ sử dụng trong trường hợp này do đó tính dễ sử
dụng ảnh hưởng đến yếu tố hiệu quả khi mua hàng trực tuyến (Bauerová & Klepek,
2018). Đối với việc mua sắm trực tuyến qua webrooming thì việc thao tác dễ dàng các
tính năng trên trang web là một điều vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết định mua hàng của khách hàng. Nếu việc điều hướng các tác vụ quá khó khăn sẽ
làm thay đổi quyết định mua hàng của khách hàng ngay lập tức. Thế nên, các trang
web cần được thiết kế đơn giản, tiện lợi nhưng cũng không được quá sơ sài.
Bên cạnh các yếu tố trên, niềm tin cũng có tác động mạnh đến việc quyết định
một sản phẩm điện tử nào đó của người tiêu dùng (trọng số hồi quy chuẩn hóa =
0,139) Điều này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của (Kiew và cộng sự, 2021) mức
độ tin tưởng của người tiêu dùng càng cao thì quyết định mua hàng của người tiêu
dùng càng nhiều và (Rafsandjani, 2018) cho rằng biến niềm tin có ảnh hưởng đáng kể
nhất đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các trang thương mại điện tử.
Chính vì vậy, các trang web cần xây dựng niềm tin trong tâm trí người tiêu dùng bằng
cách tăng cường các chính sách bảo mật thông tin của khách hàng cũng như các quyền cơ bản khác của họ.
Một yếu tố khác có mối quan hệ chặt chẽ với việc ra quyết định mua của người
tiêu dùng nhưng có tác động ngược chiều đó là nhận thức rủi ro (trọng số chuẩn quy
hóa = -0,196). Điều đó có nghĩa là, đối với việc mua một sản phẩm điện tử bằng hình
thức webrooming mang lại cảm nhận rủi ro đến khách hàng càng lớn sẽ ảnh hưởng đến
việc không mua sản phẩm đó càng nhiều. Theo nghiên cứu của (Wu & Ke, 2015) rủi
ro nhận thức đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định mua sắm
của người tiêu dùng trực tuyến. Featherman và Fuller (2003) đã chứng minh rằng nhận
thức rủi ro làm giảm tác động việc đánh giá của người tiêu với các quyết định mua
hàng. Có thể thấy nếu rủi ro càng cao thì việc ra quyết định mua các sản phẩm của
khách hàng sẽ càng thấp. 5. Kết luận
Nhìn chung, xu hướng mua sắm Webrooming hiện nay đang phổ biến ở nhiều thế
hệ, trước tiên là Gen Z. Thế hệ Z là giai đoạn đầu tiên được tiếp xúc với công nghệ, và
ngày nay số lượng người sử dụng Internet để thực hiện tác vụ mua sắm ngày càng phổ 14
biến, đem lại một lời hứa hẹn về một tương lai có sự thay đổi tích cực trong giới kinh doanh.
Bài nghiên cứu đem đến những kết quả tốt để có thể làm tiền đề tham khảo
trong việc đưa ra lời giải đáp cho các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp, xoay quanh chủ
đề mua sắm các sản phẩm điện tử bằng hình thức Webrooming. Điều này cũng hỗ trợ
cho các doanh nghiệp có hình thức mua sắm trực tuyến có cái nhìn khách quan hơn về
người tiêu dùng trong quá trình mua sản phẩm của họ, từ đó, việc điều chỉnh chính
sách bán hàng sẽ được thực hiện triệt để và có hiệu quả hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
Chimkudo. (2018b, July 25). Webrooming VS Showrooming – Cuộc chiến về xu
hướng mua sắm của người tiêu dùng. Thư Viện Chụp Ảnh Sản Phẩm, Quảng Cáo Chimkudo.
Hạnh L. (2022). Nghiên cứu hành vi và thói quen mua sắm của GEN Z, GEN
X, GEN Y Quý II/2020. Copyright (C) by © 2016 Admicro, VCCorp Corporation. All Rights Reserved.
Jenny. (2023). Gen Z là gì? Giải mã xu hướng Marketing hướng đến thế hệ gen Z. GoSELL.
Mona Media. (2023, March 18). Gen Z là ai? Tìm hiểu hành vi mua sắm online
của Gen Z hiện nay. https://mona.media/gen-z-la-ai/
Tcct. (2020, February 26). Vận dụng mô hình kết hợp TAM và TPB để đánh giá
việc áp dụng IFRS. Tạp Chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/van-
dung-mo-hinh-ket-hop-tam-va-tpb-de-danh-gia-viec-ap-dung-ifrs-tai-cac-doanh-
nghiep-o-thanh-pho-ho-chi-minh-68915.htm
Vy Q. (2023, August 11). Thế hệ Gen Z Là Gì Và Những Điều “Lồi Lõm”
Trong Mắt Các Gen Khác. Glints Vietnam Blog. https://glints.com/vn/blog/gen-z-va- nhung-tinh-cach-loi-lom/ 15 Tiếng Anh
Agarwal, R., & Prasad, J. (1997). The role of innovation characteristics and
perceived voluntariness in the acceptance of information technologies. Decision sciences, 28(3), 557-582.
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and
human decision processes, 50(2), 179-211.
Cheng, B. L., & Yee, S. W. (2014). Factors influencing consumers’ online
purchase intention: A study among university students in Malaysia. International
Journal of Liberal Arts and Social Science, 2(8), 121-133.
Chiu, Y. B., Ling, C. P., & Tang, L. L. (2005). “Gender differs: Assessing a
model of online purchase intentions in e-tail service”. International Journal of Service
Industry Management, 16(5), 416-435.
Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user
acceptance of information technology. MIS quarterly, 319-340.
Decker, A., (2021). Showrooming and Webrooming: How They Can Help Your Business Grow.
https://www.techopedia.com/definition/31036/webrooming?
fbclid=IwAR0BaGFhttBG12kKV0DKRyDzBFzklVkJnzACPtW3Lhtb1OcBn8FUOQ CsPJA
Hsu, S.-H., & Luan, P. M. (2017). The Perception Risk of Online Shopping
Impacted on the Consumer’s Attitude and Purchase Intention in Hanoi, Vietnam. Journal of Business, 4(4).
Jadil, Y., Rana, N. P., & Dwivedi, Y. K. (2022). Understanding the drivers of
online trust and intention to buy on a website: An emerging market perspective.
International Journal of Information Management Data Insights, 2(1), 100065.
Jiao, C., & Hu, B. (2022). Showrooming, webrooming, and operational
strategies for competitiveness. Production and Operations Management, 31(8), 3217- 3232.
Kauer, M. (2012). Identification as Determining Factor of Technology
Acceptance for Hedonic and Dual Use Products. 16
Kianª, T. P., Boonb, G. H., Fongc, S. W. L., & Aid, Y. J. (2017). Factors that
influence the consumer purchase intention in social media websites. PROCEEDING
OF ICARBSS 2017 LANGKAWI, MALAYSIA, 2017(29th), 214.
Koththagoda, K. C., & Herath, H. M. R. P. (2018). Factors influencing online
purchase intention: The mediation role of consumer attitude. Journal of Marketing and Consumer Research, 42, 66-74.
Lim, Y. J., Osman, A., Salahuddin, S. N., Romle, A. R., & Abdullah, S. (2015).
Factors influencing online shopping behavior: The mediating role of purchase
intention. Procedia Economics and Finance, 35, 401-410.
Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005). Customer perceptions of e se ‐ rvice quality in online
shopping. International journal of retail & distribution management, 33(2), 161-176.
Osbourne, S., (2022). Webrooming vs. Showrooming: A Marketing Guide for Retailers
https://www.google.com/url?q=https://www.qudini.com/webrooming-vs-
showrooming/?fbclid%3DIwAR0TzgZDBvL9jUQ--
Peña-García, N., Gil-Saura, I., Rodríguez-Orejuela, A., & Siqueira-Junior, J. R.
(2020). Purchase intention and purchase behavior online: A cross-cultural approach. Heliyon, 6(6).
Podder, B. (2005). “Factors Influencing the Adoption and Uageof Internet
Banking: A New Zealand Perspective”. doctoral dissertation, New Zealand.
Reibstein, D. J. (2002). What attracts customers to online stores, and what
keeps them coming back?. Journal of the academy of Marketing Science, 30, 465-473.
Roger, E. (1995). Diffusion of innovations, The Free Press, New York, NY. Rouse, M.,(2014).Webrooming
https://www.techopedia.com/definition/31036/webrooming?
fbclid=IwAR0BaGFhttBG12kKV0DKRyDzBFzklVkJnzACPtW3Lhtb1OcBn8FUOQ CsPJA
Ru, L. J., Kowang, T. O., Long, C. S., Fun, F. S., & Fei, G. C. (2021). Factors
Influencing Online Purchase Intention of Shopee’s Consumers in
Malaysia. International Journal of Academic Research in Business and Social Sciences, 11(1), 761-776. 17
Sanjiwani, N. M. D., & Suasana, I. G. A. K. G. (2019). Peran brand image
dalam memediasi pengaruh kualitas produk terhadap keputusan pembelian. E-Jurnal
Manajemen Universitas Udayana, 8(11), 6721.
Tyas, E. I., & Darma, E. S. (2017). Pengaruh Perceived Usefulness, Perceived
Ease of Use, Perceived Enjoyment, dan Actual Usage Terhadap Penerimaan Teknologi
Informasi: Studi Empiris Pada Karyawan Bagian Akuntansi dan Keuangan Baitul
Maal Wa Tamwil Wilayah Daerah Istimewa Yogyakarta. Reviu Akuntansi Dan Bisnis Indonesia, 1(1), 25-35.
Xia, M., Zhang, Y., & Zhang, C. (2018). A TAM-based approach to explore the
effect of online experience on destination image: A smartphone user's
perspective. Journal of destination marketing & management, 8, 259-270. PHỤ LỤC
Thang đo các khái niệm nghiên cứu Mã hoá Nội dung Thái độ
Mua sắm các thiết bị điện tử bằng hình thức Webrooming là một TD1 quyết định đúng đắn.
Sử dụng xu hướng Webrooming để mua thiết bị điện tử là một ý kiến TD2 sáng suốt. TD3
Tôi thích mua các thiết bị điện tử bằng hình thức Webrooming. Nhận thức hữu ích
Hình thức Webrooming trong việc mua sắm các thiết bị điện tử giúp HI1
tôi mua được hàng chất lượng hơn. HI2
Hình thức Webrooming giúp tôi lựa chọn sản phẩm dễ dàng hơn. HI3
Tôi đánh giá Webrooming hữu ích trong việc mua sắm của tôi. HI4
Xu hướng Webrooming giúp tôi ra quyết định mua sắm dễ dàng hơn. Nhận thức dễ sử dụng 18
Tôi thấy dễ tìm kiếm thông tin sản phẩm điện tử trên Internet trước DSD1 khi mua. DSD2
Tôi thấy Webrooming dễ sử dụng.
Tôi thấy Webrooming cho phép khách hàng dễ dàng kiểm tra tình DSD3
trạng còn hàng , giá cả của sản phẩm điện tử. DSD4
Tôi thấy Webrooming cho phép đổi trả dễ dàng.
Tôi thấy Webrooming giúp mua sản phẩm điện tử môt cách dễ dàng DSD5
hơn trên nhiều kênh khác nhau. Chuẩn chủ quan
Tôi thấy người tiêu dùng trên Webrooming có kinh nghiệm sử dụng CCQ1
sản phẩm điện tử, các ý kiến đánh giá của chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực đó
Tôi thấy Webrooming có đội ngũ nhân viên hỗ trợ tư vấn ảnh hưởng CCQ2
đến quyết định mua hàng.
Tôi thấy nhóm tham khảo cũng giúp người tiêu dùng trong việc lựa CCQ3
chọn sản phẩm và thương hiệu khi xem trên Webrooming.
Nhận thức kiểm soát hành vi
Tôi tin rằng đây là khả năng định hướng mục tiêu, lựa chọn sản phẩm
KSHV1 và định vị về thương hiệu.
Tôi tin rằng đây là khả năng tự kiểm soát và quản lý hành vi mua KSHV2 hàng trên mạng.
Tôi tin rằng đây là khả năng quản lý động lực và lý do để mua sản KSHV3 phẩm.
Tôi tin rằng đây là khả năng kiểm soát cảm xúc và tránh những quyết
KSHV4 định mua hàng thiếu suy nghĩ.
Tôi tin rằng đây là khả năng kiểm soát tài chính và tìm kiếm sản phẩm
KSHV5 có giá trị phù hợp nhất với ngân sách cá nhân. Nhận thức rủi ro
Tôi tin rằng đây là mức độ hiểu biết về sản phẩm điện tử mà khách RR1 hàng quan tâm.
Tôi tin rằng đây là mức độ hiểu biết về thị trường, cạnh tranh và các RR2
thông tin liên quan đến sản phẩm.
Tôi tin rằng đây là mức độ nhận thức về các kênh thông tin, như RR3
website, blog, mạng xã hội được sử dụng để tìm kiếm thông tin về sản phẩm.
Tôi tin rằng đây là khả năng phán đoán độ chính xác của thông tin RR4
được cung cấp bởi các trang web bán hàng.
Tôi tin rằng đây là mức độ sẵn sàng thay đổi và cập nhật kiến thức về RR5
sản phẩm, thị trường và các kênh thông tin. Niềm tin 19
Tôi tin rằng việc xem qua các sản phẩm điện tử trước khi ra cửa hàng NT1
giúp tôi mua hàng giá rẻ hơn. NT2
Webrooming rất an toàn khi tôi cập nhật các thông tin cá nhân.
Tôi tin rằng những nhận xét về sản phẩm trên Webrooming không NT3 khác thực tế.
Tôi tin rằng Webrooming cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm hơn NT4
ngoài cửa hàng thực tế.
Tôi tin rằng sử dụng Webrooming giúp tôi muốn mua sản phẩm điện NT5 tử hơn. Quyết định sử dụng QD1
Tôi sẽ quyết định mua sản phẩm điện tử bằng hình thức Webrooming.
Tôi sẽ giới thiệu cho người khác mua sản phẩm điện tử bằng hình QD2 thức Webrooming.
Tôi sẽ luôn sử dụng các trang web online để mua sản phẩm điện tử QD3 khi có thể.
Tôi quyết định sẽ tiếp tục dùng Webrooming khi mua sản phẩm điện QD4
tử một cách thường xuyên. 20