PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
1.
Phân tích để làm khái niệm nhà nước:
- Khái niệm: Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã
hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức vàquản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng
như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Giải thích từ đặc biệt:
+ Tổ chức sự liên kết chặt chẽ giữa những người chung mục đích
+ Quyền lực khả năng áp đặt ý chí của chủ thể này lên chủ thể khác buộc chủ thể ấy phải phục tùng.
+ Quyền lực đặc biệt là là quyền lực có tính chi phối cao nhất, nó bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội, tác
động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chi phối mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội.
- Phân ch:
+ Đầu tiên, nhà nước là tổ chức có quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư và chính
quyền độc lập cũng như có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật để thiết lập trật tự xã hội trong phạm vi lãnh
thổ của mình.
+ Nhà nước quyền lực đặc biệt (quyền lực nhà nước).
+ Quyền lực của nhà nước tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước với các cá nhân và tỏ chức xã hội khác.
Trong mối quan hệ này, nhà nước là chủ thể của quyền lực còn các cá nhân, tổ chức xã hội khác phải tuân
thủ ý chí của nhà nước bởi vì họ là đối tượng của quyền lực đó.
+ Việc phân bố dân cư theo lãnh thổ, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, huyết thống,
nghề nghiệp cũng là một trong những đặc trung của nhà nước.
+ Không những thế nhà nuớc còn có quyền lực đặt ra pháp luật, dùng chính pháp luật để quản lý trật tự xã
hội.
+ Pháp luật chính là các quy tắc xử sự chung của con người trong đời sống cộng đồng. Nếu con người không
thực thi pháp luật sẽ bị bộ máy cưỡng chế củanhà nước bao gồm quân đội, cảnh sát, Toà án và một đội ngũ
công chức chuyên nghiệp xử lý và răn đe theo pháp luật.
+ Nhà nước còn có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của nước mình, có quyền thay mặt quốc gia
đưa ra quyết định về các vấnđề đối nội đối ngoại.
+ Nhà nước còn có quyền quy định các loại thuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân tổ chức trong xã hội
nhằm thiết lập nguồn tài chính nuôi bộ máy công quyền thực hiện các chức năng của mình.
2.
Phân ch để làm khái niệm pháp luật:
1. Khái niệm pháp luật:
- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận bảo đảm thực hiện, thể hiệný chí của giai cấp thống trị trong hội, nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội.
- Qua đây thể thấy định nghĩa của pháp luật chứa đựng các yếu tố như:
+ Thứ nhất: Pháp luật được xác định là hệ thống các quy tắc xử sự chung, bao gồm các quy phạm mang tính
pháp luật tính đạo đức, được áp dụng trên phạm vi cả nước, đối với mọi chủ thể trong hội.
+ Thứ hai: Pháp luật mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện. Tức là đối với các quy định của
pháp luật được áp dụng chung trong cộng đồng, chủ thể không có quyền đặt ý chí chủ quan của mình vào
quyết định là thực hiện hay không.Vì vậy nên pháp luật cũng đảm bảo cho việc thực hiện này bằng các biện
pháp giáo dục, tuyên truyền, ở mức độ có hành vi chống đối thì sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Điều
này đã góp phần tạo ra sự công bằng bình đẳng trong việc thực hiện quyền nghĩa vụ của chủ thể.
+ Thứ ba: Con đường hình thành của pháp luật được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận của Nnước
đối với những tập quán, tiền lệ đã có sẵn và được nâng lên thành pháp luật.
+ Thứ tư: Bản chất nội dung của pháp luật nhằm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.
Với những quy tắc xử sự tính bắt buộc chung pháp luật chính những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép
của nhà nước đối với hành vi ứng xử của các chủ thể trong hội. Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý chí
của nhà nước; thông qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm
hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào…
2. Định nghĩa quy phạm pháp luật:
- quy tắc xử sự bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận bảo đảm thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Như vậy khi nói đến pháp luật thì thường sẽ nói đến những quy phạm mang tính phổ biến, tức nói đến
những khuôn mẫu chung tính phổ biến. Trong hội hiện nay không chỉ pháp luật tính quy phạm
mà đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các tổ chức chính trị-xã hội đều có tính quy phạm.
- Tính quy phạm của pháp luật được thể hiện chỗ đây chính khuôn mẫu chung cho nhiều người cùng
thực hiện và cần phải tuân theo; khuôn mẫu này sẽ được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian và
thời gian rộng lớn.
3.
Trình bày khái niệm hình thức của nhà nước các yếu tố hợp thành hình thức nhà
nước. Nêu hình thức nhà nước của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam:
1. Khái niệm:
- Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để
chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lỉ xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như
lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Hình thức nhà nước cách tổ chức những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước.
- Hình thức nhà nước là một khái niệm chung, được hợp thành bởi ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức
cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
+ Bộ máy nhà nước tổng thể các quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức, hoạt
động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của
nhà nước.
2. Các yếu tố hợp thành nhà nước:
Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp bao gồm các yếu tố: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa
án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Chính quyền địa phương.
Cụ thể:
- Quốc hội
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền
lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất ớcgiám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà ớc.
- Chủ tịch ớc
Chủ tịch nước một thiết chế khá đặc thù. Chủ tịch nước người đứng đầu Nhà nước, thay
mặt nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu
trong số đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch
nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến
khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước.
- Chính ph
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Chính phủ là cơ quan hành pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, quan chấp
hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
+ Chính phủ gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ.
+ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định.
+ Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
+ Thủ tướng Chính phủ người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về
hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
+ Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng
Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng
Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Th
tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ.
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng quan ngang bộ chịu trách nhiệm nhân trước Thủ tướng Chính
phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của
Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.
- Tòa án nhân n
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao các Tòa án khác do luật định. Tòa án nhân dân nhiệm
vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Viện kiểm sát nhân n
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động pháp. Viện kiểmt
nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Viện kiểm sát nhân
dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Chính quyền địa phương
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam còn có chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương
được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Các cấp đơn vị hành chính bao gồm: Cấp tỉnh, cấp huyện cấp .
+ Hiện nay, Việt Nam có 05 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 58 tỉnh.
+ Cấp chính quyền địa phương gồm có: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với
đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
*Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân quan quyền lực nhà nước địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp pháp luật địa phương việc thực hiện nghị quyết của Hội
đồng nhân dân.
*Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu
quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
Hội đồng nhân dân quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm
vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao phó.
3. nh thức của nhà ớc:
+ Hình thức chính thể: 2 dạng bản chính thể quân chủchính thể cộng hòa
Chính thể quân chủ: Quân chủ tuyệt đối quân chủ hạn chế
Chính thể cộng hòa: Cộng hòa quý tộc cộng hòa dân chủ
+ Hình thức cấu trúc: 2 dạng bản nhà nước đơn nhất nhà nước tiểu bang
Nhà nước đơn nhất: nhà nước, trong đó lãnh thổ quốc gia được phân bố thành các
đơn vị hành chính - lãnh thổ; có một Chính phủ; một Hiến pháp; một hệ thống pháp luật; một quốc tịch; một
quy chế công dân; hệ thống các quan chính quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Nhà nước tiểu bang: nhà nước được thành lập bởi sự liên kết, hợp nhất hai hay nhiều
nhà nước thành viên. Nhà nước liên bang có chủ quyền chung nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền
riêng.
+ Chế độ chính trị: Trong lịch sử, đã tồn tại nhiều chế độ chính trị của các kiểu nhà ớc
khác nhau, nhưng chung quy lại có 2 loại chế độ chính trị chính: chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính tr
phản dân chủ.
Chế độ chính trị dân chủ: một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của hội căn
cứ vào việc khẳng định toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện hoặc thông qua người
đại diện do nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do quyền con người.
Chế độ chính trị phản dân chủ: chế độ nhân dân không quyền tham gia vào
việc tổ chức bộ máy nhà nước (đặc biệt là cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước) hoặc vào việc bàn bạc,
thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước.
4.
Trình bày nội dung năng lực chủ thể của pháp luật:
- Năng lực chủ thể của pháp luật bao gồm: năng lực pháp luật năng lực hành vi.
1. Năng lực pháp luật
- khả năng quyềnnghĩa vụ pháp nhà nước quy định cho các tổ chức, nhân nhất định.
- Chủ thể năng lực pháp luật thì sẽ được tham gia hoặc phải tham gia vào quan hệ pháp luật nhất định.
- Nếu chỉ có năng lực pháp luật, chủ thể chỉ tham gia một cách thụ động vào quan hệ pháp luật hoặc được
pháp luật bảo vệ trong các quan hệ nhất định. Bởi vì, chủ thể không thể tự tạo cho mình các quyền và nghĩa
vụ pháp lý, những quyền và nghĩa vụ mà họ có được trong mối quan hệ cụ thể là do ý chí của nhà nước, của
người thứ ba (ví dụ một đứa trẻ được hưởng quyền thừa kế của bố, khi bố chết).
2. Năng lực hành vi
- Là khả năng mà nhà nước thừa nhận cho tổ chức, cá nhân bằng những hành vi của chính bản thân mình có
thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
- Chủ thể có năng lực hành vi sẽ tham gia với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật một cách độc lập. Độc lập
trong việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.
=> Năng lực pháp luật năng lực hành vi là hai thuộc tính không thể tách rời của chủ thể, nhưng không
phải là thuộc tính tự nhiên, sẵn có khi người đó sinh ra, mà là những thuộc tính pháp lý đều do nhà nước
thừa nhận.
=> Năng lực pháp luật năng lực hành vi tạo thành năng lực chủ thể của pháp luật. Một chủ thể chỉ có
năng lực pháp luật thì không thể tham gia tích cực vào quan hệ pháp luật (không thể tự mình thực hiện
quyền, nghĩa vụ cụ thể); ngược lại, năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi. Không thể có chủ th
quan hệ pháp luật không có năng lực pháp luật mà lại có năng lực hành vi.
5.
Cho dụ thực tiễn về vi phạm pháp luật phân tích các dấu hiệu của vi phạm
pháp luật đó:
Dấu hiệu vi phạm pháp luật:
- Thứ nhất, vi phạm pháp luật phải là hành vi thực tế của cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào các quan hệ xã
hội. Tức, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để xác định đó là hành vi thực
hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật.
- Thứ hai, vi phạm pháp luật phải hành vi trái pháp luật
ví dụ: Chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm hoặc thực hiện các hành vi vượt
quá thẩm quyền.
- Thứ ba, vi phạm pháp luật phải hành vi của chủ thể năng lực trách nhiệm pháp lý, bởi lẽ hành vi
tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm
pháp luật. Trong đó, năng lực trách nhiệm pháp của chủ thể khả năng pháp luật quy định cho chủ
thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi
nhất định và trí tuệ phát triển bình thường.
- Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể, tức khi thực hiện hành vi trái luật, chủ thể có thể
nhận thức được hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi đó gây ra và điều khiển được hành vi của
mình. Ngược lại, trường hợp chủ thể thực hiện một hành vi tính chất trái pháp luật nhưng người này
không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được
hành vi và hậu quả của hành vi nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và
không phải là vi phạm pháp luật.
- Thứ năm, vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ như: Quan
hệ tài sản, quan hệ hôn nhân - gia đình…
6.
Trình bày khái niệm và nội dung các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo
quy định của Hiến pháp năm 2013:
Tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Ở ớc Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật”.
=> Từ Hiến pháp 2013 ta khái niệm: “Quyền nghĩa vụ bản của công dân các quyền nghĩa
vụ được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, hội, văn hóa, sở
để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của công dân và cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý
của công dân”.
Hiến pháp năm 2013 quy định công dân Việt Nam các nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44);
- Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (khoản 1 Điều 45);
- Nghĩa vụ quân sự tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (khoản 2 Điều 45);
- Nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn hội (Điều 46);
- Nghĩa vụ chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);
- Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47);
- Nghĩa vụ học tập (Điều 39);
- Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp pháp luật Việt Nam (Điều 46).
Các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, điểu chỉnh những
quan hệ quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt động bình thường của xã
hội.
Các quyền của công dân bao gồm: các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và các quyền
tự do nhân. Muốn được hưởng các quyền công dân của một nhà nước thì phải quốc tịch của nhà ớc
đó.
7.
Trình bày các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính:
1, Mặt khách quan
- Hành vi trái pháp luật mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước và
đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm .
- Thời gian thực hiện hành vi vi phạm .
- Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm .
- Công cụ, phương tiện vi phạm.
- Hậu quả mối quan hệ nhân quả
2, Mặt chủ quan
Lỗi dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính.
3, Chủ thể của vi phạm hành chính
+ Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính các tổ chức, của pháp luật hành chính.
+ nhân năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định.
+ Theo quy định của pháp luật hiện hành, nhân chủ thể của vi phạm hành chính phải người không
mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là :
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vị phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi
với lỗi cố ý
Người từ đủ 16 tuổi trở lên thể chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp.
+ Tổ chức chủ thể vi phạm hành chính bao gồm : các quan nhà nước, các tổ chức hội, các đơn vị
kinh tế , các đơn vị thuộc lực lượng trang nhân dân các tổ chức khác được thành lập theo quy định
của pháp luật.
4, Khách thể của vi phạm hành chính
+ Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản
lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.
8.
Cho dụ thực tiễn về vi phạm hành chính phân ch các yếu tố cấu thành của vi
phạm hành chính đó:
Ví dụ 1: Anh A là một người bán hoa tươi trên vỉa hè tại một khu vực mà quy định cấm bán hàng
rong.
- Yếu tố cấu thành của vi phạm này :
+ Mặt khách quan: Hành vi của anh A là bán hoa tươi trên vỉa hè tại khu vực có quy định cấm bán hàng
rong. Hành vi này vi phạm các quy định về trật tự đô thị, gây cản trở giao thông và ảnh hưởng đến mỹ quan
đô thị. Việc bán hàng rong trong khu vực cấm làm mất trật tự, tạo sự lộn xộn trên vỉa hè, có thể gây nguy
hiểm cho người đi bộ và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh hợp pháp khác.
+ Mặt chủ quan: Hành vi vi phạm này thể cố ý hoặc ý. Anh A thể biết rằng khu vực này cấm
bán hàng rong nhưng vẫn cố tình bán hoa để kiếm lời (cố ý). Tuy nhiên, cũng thể anh A không nhận thức
đầy đủ quy định cấm trong khu vực này hoặc không biết rằng bán hoa trên vỉa tại đây vi phạm (vô ý).
+ Chủ thể: Chủ thể của hành vi vi phạm là anh A, một cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã thực
hiện hành vi bán hàng rong trái phép tại khu vực có quy định cấm.
+ Khách thể: Khách thể của hành vi vi phạm này là trật tự an toàn đô thị, bao gồm việc duy trì trật tự giao
thông, mỹ quan đô thị các quy định về quản hành chính trong khu vực. Việc bán hàng rong tại khu vực
cấm gây ảnh hưởng đến trật tự và sự an toàn của khu vực, đồng thời gây khó khăn cho việc duy trì các hoạt
động kinh doanh hợp pháp.
dụ 2: Chị M khi tham gia giao thông đường bộ điều khiển xe không đội bảo hiểm.
- Yếu tố cấu thành của hành vi vi phạm này:
+ Mặt khách quan: Hành vi của chị M điều khiển xe nhưng không đội bảo hiểm khi tham gia
giao thông. Đây là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức
khỏe của người tham gia giao thông trong trường hợp có sự cố xảy ra.
+ Mặt chủ quan: Hành vi vi phạm này là cố ý (có thể chị M biết rõ yêu cầu phải đội mũ bảo hiểm khi lái xe
nhưng vẫn cố tình vi phạm) hoặc vô ý (chị M có thể quên hoặc không nhận thức được yêu cầu này). Tuy
nhiên, trong trường hợp này, vi phạm vẫn xảy ra do sự thiếu chú ý hoặc cố ý không tuân thủ.
+ Chủ thể: Chủ thể của hành vi vi phạm này là chị M, là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có giấy
phép lái xe mô tô nhưng không thực hiện đầy đủ quy định khi tham gia giao thông.
+ Khách thể: Khách thể của hành vi vi phạm này là trật tự an toàn giao thông. Việc không đội mũ bảo hiểm
gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông, làm tăng nguy tai nạn giao thông, đặc biệt trong
trường hợp xảy ra va chạm.
9.
Nêu dụ minh họa để phân biệt vi phạm hành chính tội phạm nh s
Trình bày khái niệm, dấu hiệu, phân loại và cấu thành tội phạm hình sự:
1. dụ minh họa phân biệt Vi phạm hành chính tội phạm hình sự:
Vi phạm hành chính Tội phạm hình sự
Vi phạm về giao thông: Một người điều khiển xe ô
không giấy phép lái xe hoặc không đeo dây an
toàn khi lái xe.
- Đây là vi phạm hành chính vì người vi phạm
không gây thiệt hại lớn cho xã hội và không cấu
thành tội phạm hình sự.
- Hình thức xử phạt: Phạt tiền, tạm giữ phương tiện,
hoặc buộc phải thi lại kỳ thi lấy giấy phép lái xe.
Vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm: Một cửa
hàng bán thực phẩm không có giấy phép kinh
doanh, hoặc thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an
toàn.
- Hành vi này bị coi là vi phạm hành chính vì không
gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn cần xử
để bảo vệ lợi ích cộng đồng.
- Hình thức xử phạt: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động
kinh doanh, yêu cầu cải thiện điều kiện vệ sinh.
Trộm cắp tài sản: Một người lén lút vào nhà người
khác để lấy cắp tài sản, gây thiệt hại cho chủ sở
hữu.
- Đây là hành vi trộm cắp tài sản, một tội phạm hình
sự vì hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền s
hữu tài sản của người khác.
- Hình thức xử phạt: Tùy mức độ nghiêm trọng có
thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hoặc tù
giam.
Cố ý gây thương tích: Một người trong lúc cãi vã
đã dùng vũ lực đánh người khác gây thương tích
nặng.
- Đây là hành vi tội phạm hình sự vì nó không chỉ
xâm phạm đến thân thể của người khác mà còn gây
thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe.
- Hình thức xử phạt: Có thể bị phạt tiền, phạt tù tùy
theo mức độ thương tích và tính chất của hành vi.
2. Khái niệm tội phạm hình sự
- Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) định nghĩa khái niệm “Tội
phạm” hay cũng chính là “Tội phạm hình sự” đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại
thực hiện một cách cố ý hoặc ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo
quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng
tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các
biện pháp khác.
3. Dấu hiệu của tội phạm hình sự
Hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm thông qua 5 đặc điểm sau:
đặc điểm nguy hiểm cho xã hội, đặc điểm có lỗi, đặc điểm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện, đặc điểm được quy định trong luật hình sự và đặc điểm phải chịu hình phạt.
Về bản chất pháp thì tội phạm một trong 4 loại vi phạm pháp luật, trong đó tội phạm vi phạm pháp
luật hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung. Song bên cạnh đó
nó còn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các
vi phạm pháp luật khác. Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:
Tính nguy hiểm đáng kể cho hội
- Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính
nguy hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác.
- Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu khác như tính được
quy định trong Bộ luật Hình sự của tội phạm.
- Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này ý nghĩa như sau:
+ Là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; Là dấu hiệu quan
trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm.
+ căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.
- Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chúng ta phải cân nhắc, xem xét, đánh
giá một cách toàn diện các yếu tố sau: Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm phạm; Phương pháp, thủ đoạn,
công cụ, phương tiện phạm tội; Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra; Hình thức và mức độ lỗi; Động
mục đích phạm tội; Nhân thân người phạm tội; Hoàn cảnh chính trị xa hội lúc nơi hành vi phạm
tội xảy ra; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tính lỗi
- Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa phải áp dụng hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất.
- Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu
nhằm cải tạo, giáo dục họ.
- Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội,
tức khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ đầy đủ điều kiện khả năng để lựa chọn một biện pháp xử
sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy
hiểm cho xã hội.
Tính trái pháp luật hình sự
- Bất kỳ một hành vi nào bị coi tội phạm cũng đều được quy định trong Bộ luật Hình sự.
- Đặc điểm này đã được pháp điển hóa tại Điều 2 Bộ luật Hình sự chỉ người nào phạm một tội đã được bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi đó chưa được quy
định trong Bộ luật Hình sự thì không bị coi là tội phạm.
- Đặc điểm này ý nghĩa về phương diện thực tiễn tránh việc xử tùy tiện của người áp dụng pháp luật.
- Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi Bộ luật Hình sự theo sát sự
thay đổi của tình hình kinh tế hội để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.
Tính phải chịu hình phạt
- Đặc điểm này không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết
kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.
- Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng bị đe dọa phải áp
dụng một hình phạt đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
- Từ việc phân tích các đặc điểm của tội phạm thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc điểm của nó:
tội phạm hành vi nguy hiểm cho hội, lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự phải chịu hình phạt.
4. Phân loại tội phạm hình sự
Phân loại tội phạm đối với người phạm tội:
- Tội phạm ít nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt quy định là phạt tiền, cải tạo không giam giữ
hoặc phạt tù đến 3 năm.
- Tội phạm nghiêm trọng: Mức cao nhất thuộc khung hình phạt quy định trên 03 năm đến 7 năm .
- Tội phạm rất nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt quy định là từ trên 07 năm tù đến 15 năm
tù.
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc
tử hình.
Phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại:
- Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện cũng được phân thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Loại tội phạm của pháp nhân thương mại được xác định theo cách là loại tội phạm tương ứng của người
phạm tội thuộc khoản được viện dẫn để quy định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
5. Cấu thành tội phạm hình sự:
- Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm
thể rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là:
+ Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã
hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề
cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ hội luật hình sự bảo vệ bị xâm hại.
+ Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm,
bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội… Thông qua biểu hiện bên ngoài ở mặt
khách quan của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
+ Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:
Hành vi: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm. Hành vi bao gồm hành vi hành động (ví dụ:
hành vi của tội giết người, tội cướp tài sản,…) và hành vi không hành động (ví dụ: hành vi của tội không
cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,…)
Hậu quả: Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả tội phạm. VD: tội hiếp dâm thì hậu quả không
phải là dấu hiệu định tội, tội vứt bỏ con mới đẻ thì hậu quả là dấu hiệu định tội.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi hậu quả của tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm
được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:
Lỗi: Lỗi dấu hiệu bắt buộc tất cả các tội phạm. Lỗi bao gồm:
Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa.
Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm người thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội (chủ
thể của tội phạm) phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định mà Bộ luật hình
sự quy định đối với mỗi loại tội phạm.
10.
Cho dụ thực tiễn về tội phạm hình sự phân ch các yếu tố cấu thành của tội
phạm hình sự đó:
dụ 1: Em M (16 tuổi) em K một cuộc cãi do mâu thuẫn nhân liên quan đến chuyện bạn
bè. Trong lúc tức giận, em M đã dùng một cây gậy bóng chày (do cả hai bạn cùng mang theo) đánh vào
đầu em K. Em K ngã xuống đất, đầu va mạnh xuống đất khiến em bị chấn thương nặng tử vong
sau đó.
- Yếu tố cấu thành tội phạm hình sự:
+ Mặt khách quan: Hành vi Em M dùng cây gậy bóng chày đánh vào đầu em K trong lúc cãi vã. Việc đánh
vào đầu là hành vi nguy hiểm có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến tính mạng. Hành động này đã dẫn đến
hậu quả là chấn thương sọ não cái chết của em K.
+ Mặt chủ quan: Cố ý gián tiếp: Mặc thể em M không ý định giết bạn mình ngay từ đầu, nhưng
hành động đánh vào đầu em K với một vật cứng như cây gậy bóng chày là hành vi có thể gây ra hậu quả chết
người. Em M có thể không mong muốn cái chết của K, nhưng em biết rõ việc đánh vào đầu có thể gây nguy
hiểm đến tính mạng của K và vẫn thực hiện hành vi đó.
+ Chủ thể: Em M là chủ thể của hành vi. Em M 16 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm nghiêm trọng như giết người theo Bộ luật Hình sự Việt Nam. Do đó, em M có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội giết người.
+ Khách thể: Tính mạng của người khác khách thể của tội giết người. Việc đánh vào đầu em K đã xâm
phạm trực tiếp đến quyền sống của em, dẫn đến cái chết của em K. Đây sự xâm phạm nghiêm trọng đến
quyền sống, được bảo vệ bởi pháp luật.
+ Hậu quả: Cái chết của em K hậu quả trực tiếp của hành vi của em M. Cái chết của em K một hậu quả
không thể khắc phục và là yếu tố quyết định mức độ nghiêm trọng của vụ án.
Ví dụ 2: Anh B vào một ngôi nhà trong khu dân cư, lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trị giá 10 triệu
đồng của chủ nhà khi không có sự cho phép của họ. Hành vi của anh B bị phát hiện và anh ta bị bắt
quả tang khi đang rời khỏi hiện trường.
- Yếu tố cấu thành tội phạm hình sự:
+ Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm trộm cắp là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác mà
không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Cụ thể trong ví dụ này, anh B đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản
của chủ nhà bằng việc lén lút lấy chiếc điện thoại mà không có sự đồng ý của chủ nhà. Hành vi này có thể
gây thiệt hại về tài sản cho nạn nhân.
+ Mặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản cố ý trực tiếp. Anh B ý thức ràng khi thực
hiện hành vi trộm cắp, biết rằng hành động của mình vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện để
chiếm đoạt tài sản của người khác. Anh ta không sự đồng ý của chủ sở hữu vẫn tiếp tục hành vi trộm
cắp.
+ Chủ thể: Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trên 16 tuổi) và
không có tình trạng mất năng lực hành vi. Trong trường hợp này, anh B là một người trưởng thành, có đủ
năng lực hành vi và nhận thức được hành vi của mình là phạm pháp nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi
trộm cắp.
+ Khách thể: Khách thể của tội trộm cắp quyền sở hữu tài sản của người khác. Việc lấy tài sản của chủ
nhà mà không có sự cho phép đã xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người sở hữu tài sản. Hành vi trộm cắp
làm mất đi tài sản của nạn nhân và gây tổn hại về vật chất.
+ Hậu quả: Hậu quả của hành vi trộm cắp là thiệt hại về tài sản của nạn nhân. Trong trường hợp này, chiếc
điện thoại trị giá 10 triệu đồng đã bị chiếm đoạt. Mức độ thiệt hại này có thể là cơ sở để xác định hình phạt
cho tội trộm cắp, nếu thiệt hại lớn có thể dẫn đến hình phạt nghiêm khắc hơn.
11.
Trình bày các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người:
1. Giới thiệu chung: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người những hành vi (hành động
hoặc không hành động) lỗi (cố ý hoặc ý), gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe
của người khác.
2. Khách th:
- Khách thể của các tội phạm này quyền sống, quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng, sức khỏe của
con người.
- Đối tượng tác động của các tội này người đang sống.
3. Mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi thuộc mặt khách quan của các tội phạm này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cùng
tính chất đều trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người
khác.
- Trong các tội phạm này, có tội hành vi phạm tội có thể là hành động hoặc không hành động như tội giết
người, tội vô ý làm chết người…; có tội chỉ là hành động như tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượ tquá mức cần thiết khi bắt
giữ người phạm tội, tội bức tử…; tội chỉ không hành động như tội không cứu giúp người khác trong
khi nguy hiểm đến tính mạng.
- Hậu quả: Hậu quả của các tội phạm này là thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại tính mạng, sức khôe của người
khác (trừ tội đe dọa giết người).
4. Chủ thể của tội phạm:
- Chủ thể của các tội phạm này chỉ nhân.
- Vài tội có chủ thể đặc biệt là tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ,
tội bức tử, còn lại các tội khác chủ thể củatội phạm chủ thể thường; đó bất kỳ người nào năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
5. Mặt chủ quan của tội phạm:
- Lỗi của người phạm tội các tội phạm này thể cố ý hoặcý.
6. Về hình phạt:
- Hình phạt thấp nhất cảnh cáo, cao nhất tử nh.
12.
Trình bày các tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người:
1. Khái niệm chung:
- Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi cố ý xâm phạm nhân phẩm, danh
dự của người khác.
- Các tội thuộc nhóm tội: Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, Tội mua bán
người, Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, Tôi làm nhục người khác.
2. Dấu hiêu pháp của tội phạm:
- Khách thể của tội phạm: Các tội phạm này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Mặt khách quan:
+ Hành vi phạm tội của tất cả các tội phạm này đều thể hiện dưới dạng hành động.
+ Hậu quả của các tội phạm này là thiệt hại về tinh thần và không phải là dấu hiệu bắt buộc của các cấu
thành tội phạm này (đều là cấu thành tội phạm hình thức).
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của các tội phạm này đều tội cố ý.
- Chủ thể của tội phạm: Các tội phạm khác chủ thể của tội phạm chủ thể thường.
- Hình phạt được quy định với các tội phạm này có các loại và mức độ rất khác nhau. Hình phạt chính thấp
nhất là cảnh cảo, cao nhất là tử hình.
13.
Trình bày khái niệm, hình thức, thời điểm hiệu lực nội dung bản của hợp
đồng dân sự:
1. Khái niệm:
- Hợp đồng sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
(Điều 385 BLDS 2015)
2. nh thức của hợp đồng dân sự
- Hình thức miệng (bằng lời nói)
- Hình thức viết (bằng văn bản)
- Hình thức công chứng, chứng thực, đăng
3. Thời điểm hiệu lực của hợp đồng dân sự
- Hợp đồng miêng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với nhau về những nội dung chủ
yếu của hợp đồng
- Hợp đồng bằng văn bản thường, hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng vào văn bản hợp đồng
- Hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký có hiệu lực tại thời điểm văn bản hợp đồng
được công chứng, chứng thực, đăng ký
- Ngoài ra, hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau các thời điểm nói trên nếu các bên đã tự thoả thuận để xác
định hoặc trong trường hợp mà pháp luật đã quy định cụ thể.
4. Nội dung của hợp đồng:
- tổng hợp các điều khoản các chủ thểtham gia giao kết hợp đồng đã thoả thuận.
- thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau:
+ Điều khoản cơ bản: Xác định nội dung chủ yếu, không thể thiếu đối với từng loại hợp đồng. VD: Đối
tượng, giá cả, địa điểm…
+ Điều khoản thông thường: những điều khoản được pháp luật quy định trước. Nếu khi giao kết các bên
không thoả thuận những điều khoản này thì vẫn coi như 2 bên mặc nhiên thoả thuận được thực hiện như
pháp luật đã quy định.
+ Điều khoản tuỳ nghi: những điều khoản các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn thoả
thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên.
5. Các hợp đồng dân sự thông dụng
- Hợp đồng mua bán tài sản
- Hợp đồng trao đổi tài sản
- Hợp đồng tặng cho tài sản
- Hợp đồng vay tài sản
- Hợp đồng thuê tài sản
14.
Trình bày các nội dung của quyền sở hữu:
1. Quyền chiếm hữu
- Quyền chiếm hữu là quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình, nắm giữ,
chi phối tài sản thuộc sở hữu nhưng không được trái pháp luật, đạo đức hội (Điều 186 BLDS)
- Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển
giao quyền sở hữu cho chủ thể khác như bán, trao đổi, tặng cho…hoặc theo căn cứ được quy định từ Điều
242 đến Điều 244 BLDS.
- Phân loại quyền chiếm hữu:
+ Căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể phân thành 2 loại: chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của
người không phải là chủ sở hữu. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ
xác lập quyền sở hữu, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định như đối với tài sản bị chôn giấu, bị vùi
lấp, bị chìm đắm, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên…
+ Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản thì chiếm hữu có thể phân
thành: chiếm hữu ngay tình và chiếm hữu không ngay tình
Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với
tài sản đang chiếm hữu (Điều 180 BLDS)
Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có
quyền đối với tài sản đang chiếm hữu (Điều 181 BLDS)
+ Ngoài ra, việc chiếm hữu còn được xác định theo tình trạng chiếm hữu liên tục (Điều 182) và chiếm hữu
công khai (Điều 183)
Chiếm hữu liên tục được hiểu là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có
tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản
được giao cho người khác chiếm hữu.
Chiếm hữu công khai việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang
chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản
của chính mình.
2. Quyền sử dụng
- Là quyền khai thác công dụng và khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho
phép.
- Quyền sử dụng một quyền năng pháp luật quy định cho chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu hợp
pháp) được phép sử dụng các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hoặc sản xuất, kinh
doanh nhưng việc sử dụng đó không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không được trái với đạo đức chung của hội.
- Thông thường, khi chủ sở hữu muốn chuyển quyền sử dụng cho người khác thì phải chuyển luôn quyền
chiếm hữu tài sản. Bởi lẽ, muốn khai thác công dụng của tài sản, trước hết người sử dụng phải thực hiện
hành vi chiếm hữu.
- Tuy nhiên, cũng trường hợp chủ sở hữu cho sử dụng tài sản không chuyển quyền chiếm hữu.
(VD: Cho thuê xe ô tô mà người lái xe là người làm công việc của chủ sở hữu; người sử dụng máy vi tính
ngay tại nhà của chủ sở hữu…)
3. Quyền định đoạt
- một quyền năng của chủ sở hữu để quyết định về “số phận” của tài sản.
- Quyền định đoạt tài sản biểu hiện 2 phương diện:
+ Định đoạt về số phận thực tế của tài sản (tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế nữa) như: tiêu
dùng hết, huỷ bỏ, hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản.
+ Định đoạt về số phận pháp lí của tài sản là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ người
này sang người khác. Thông thường, định đoạt về số phận pháp lí của tài sản phải thông qua các giao dịch
phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như: bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế…thông qua việc định
đoạt mà chủ sở hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi giữ); quyền
chiếm hữu và sử dụng tài sản trong một khoảng thời hạn (hợp đồng cho thuê, cho mượn) hoặc chủ sở hữu
chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác bằng hợp đồng bán, đổi, cho…
- Việc một người thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấmdứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp
luật liên quan đến tài sản đó.
(VD: Tiêu dùng hết tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản đó)
15.
Trình bày nội dung thừa kế theo di chúc:
A, Khái niệm di chúc: Di chúc được hình thành khi một người có ý định sẽ để lại tài sản của mình cho
người khác nếu họ chết đi, đó sự thể hiện ý chí của người lập đối với khối tài sản mình xác lập được.
- Theo Điều 646 Bộ luật dân sự 2005 quy định di chúc: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
B, Đặc điểm của di chúc
1, Di chúc chính sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc:
- Ý chí đơn phương này thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc không nghĩa vụ phải trao đổi với người thừa kế
về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di
chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị sự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc,
người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.
- Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản
thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm tài sản thuộc sở hữu của mình
mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng
hay thân thích với người lập di chúc.
- Đối với di chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chung của hai người, nhưng thực chất
vẫn thể hiện ý chí đơn phương của từng người trong việc định đoạt tài sản chung (ý chí đơn phương của
chồng vợ trùng nhau trong việc định đoạt tài sản chung vợ chồng). Mặt khác, di chúc chung của vợ
chồng vẫn chỉ thể hiện ý chí của một bên – bên chuyển giao tài sản.
- Khác với các giao dịch dân sự khác như hợp đồng, thì đó chính là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên, thì
trong di chúc, chỉ có ý chí của một bên.
- Đặc điểm ý chí đơn phương này đặc điểm khác biệt của di chúc với các loại giao dịch dân sự khác.
2, Di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác sau khi người lập di chúc chết.
- Di chúc được lập lại nhằm chuyển dịch tài sản của người chết sang cho người còn sống. Người thừa kế
theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Đây là một nội dung quan trọng không thể thiếu được
của một di chúc, nếu muốn được coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho những người
khác.
3, Di chúc chỉ hiệu lực khi người lập di chúc chết.
- Khoản 1 Điều 6643 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Di chúc hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”.
- Khi người lập di chúc còn sống di chúc có phù hợp với các quy định của pháp luật về hình thức và nội
dung, thì di chúc cũng chưa phát sinh hiệu lực. Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập di chúc
chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản mà họ sẽ
được hưởng. Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết.
C, Di chúc hợp pháp
- Để di chúc thực hiện được vai trò của mình là thể hiện ý chí cá nhân đối với tài sản của mình khi họ chết
thì di chúc đó phải hợp pháp, tức đáp ứng được đầy đủ các quy định của pháp luật.
- Bản chất của di chúc là một giao dịch dân sự nên trước tiên di chúc phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực
của giao dịch theo điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và di chúc cũng phải đáp ứng các điều kiện để trở
thành một bản di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Vậy, một bản di chúc hợp pháp cần đáp ứng các điều kiện sau:
+ Người lập di chúc từ đủ 15 tuổi trở lên, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.
+ Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện.
+ Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức hội.
+ Hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật.
D, Thừa kế theo di cc
- Tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân quyền lập di chúc để định đoạt tài sản
của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo
pháp luật”.
- Hiện nay, pháp luật thừa nhận hai hình thức thừa kế thừa kế di chúc thừa kế theo pháp luật.
- Di chúc chính hành vi pháp đơn phương của một người nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người
khác khi họ chết đi, Người muốn định đoạt tài sản của mình khi chết bằng di chúc phải tuân theo những quy
định nhất định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Như vậy, thừa kế theo di chúc việc chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo ý
chí đơn phương của người có tài sản được thể hiện thông qua bản di chúc.
E, Người lập di chúc quyền của người lập di chúc
- Người lập di chúc chính là người tự định đoạt tài sản của mình khi chết thông qua việc để lại di chúc bằng
hình thức văn bản hoặc di chúc miệng.
- Đối với người thành viên thì họ phải đủ điều kiện theo quy định tại điểm A khoản 1 Điều 630 Bộ luật
Dân sự năm 2015, nghĩa là họ minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
thi có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười
tám tuổi được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Người lập di chúc quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; quyền
phân định tài sản cho người thừa kế; quyền dành một phần trong khối di sản để di tặng; quyền dành một
phần tài sản trong khối di sản để dùng vào việc thờ cúng; quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế; quyền sửa
đổi, bổ sung và hủy bỏ di chúc; quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di
sản.
F, Người thừa kế theo di cc
- Người thừa kế người được hưởng di sản người chết để lại.
- Người thừa kế theo di chúc người được hưởng di sản người chết để lại theo di chúc.
- Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân thì họ phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế; hoặc
phải sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành tai trước khi người để lại di sản chết.
- Người thừa kế theo di chúc là tổ chức thì cơ quan, tổ chức là người thừa kế phải đáp ứng điều kiện phải còn
tồn tại thời điểm mở thừa kế. Với các trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại trước thời điểm mở thừa kế
thì sẽ không được trở thành chủ thể được hưởng thừa kế theo di chúc.
G, Hiệu lực của di chúc
- Khoản 1 Điều 6643 Bộ luật dân sự 2015 quy định:” Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở
thừa kế.”
- Thời điểm mở thừa kế được xác định thời điểm người tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một
người đã chết thì thời điểm mở thừa kế được xác định tại Khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đối với trường hợp người để lại di chúc chết một cái chết sinh học thời điểm mở thừa kế được xác định
thời điểm họ chết. Đxác định thời điểm này thì đó xác định theo giấy chứng tử. Thời gian trong giấy
chứng tử sẽ được xác định theo phút, giờ, ngày, tháng năm- đây chính căn cứ quan trọng để xác định thời
điểm di chúc có hiệu lực.
- Bên cạnh đó, cần chú ý, di chúc sẽ không hiệu lực toàn bộ hoặc một phần nếu người thừa kế theo di
chúc chết trước hoặc chết cùng với thời điểm người lập di chúc. di chúc cũng sẽ không còn hiệu lực nếu
di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế, nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ
còn 1 phần thì di chúc về phần di sản còn lại vẫn còn hiệu lực.
16.
Trình bày nội dung thừa kế theo pháp luật:
1. Khái niệm thừa kế theo pháp luật
- Khái niệm theo điều 649, Bộ luật dân sự năm 2015: Người được thừa kế theo pháp luật là
những người quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng. Mọi người bình
đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực
hiện trong phạm vi tài sản nhận.
- Như vậy, trong trường hợp thừa kế theo pháp luật thì pháp luật trực tiếp quyết định những người có quyền
hưởng thừa kế, phân định di sản cho những người thừa kế cùng hàng các trình tự khác trong quá trình
dịch chuyển di sản.
2. Các trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
Về các trường hợp thừa kế theo pháp luật, Điều 650 BLDS 2015 đã quy định:
Từ quy định trên, ta thể chia làm 6 trường hợp sau đây:
- Thừa kế khi không có di chúc: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có
di chúc. Những trường hợp sau đây được coi là không có di chúc:
+ Người có tài sản chết mà không lập di chúc hoặc có lập nhưng chính họ đã tiêu hủy (xé, đốt...) hoặc tuyên
bố hủy bỏ di chúc đã lập.
+ Người chết để lại di chúc nhưng kể thời điểm mở thừa kế di chúc đã bị thất lạc hoặc đã bị hại đến
mức không thể hiện đầy đủ ý chí của người lập di chúc đó cũng không thể chứng minh được ý nguyện
đích thực của người lập di chúc (Điều 642 BLDS 2015).
- Thừa kế khi di chúc không hợp pháp: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp
có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp.
+ Di chúc không hợp pháp những di chúc không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của
Điều 630 những điều kiện chung của một giao dịch dân sự theo Điều 122 BLDS 2015.
+ Di chúc không hợp pháp sẽ không hiệu lực pháp luật nên sẽ không làm phát sinh quan hệ thừa kế theo
di chúc.
+ Tùy theo phạm vi vi phạm của di chúc để xác định di chúc đó hiệu một phần hay hiệu toàn bộ.
A, DI CHÚC HIỆU HÓA TOÀN BỘ
* Di chúc được coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó do người không minh mẫn, sáng suốt lập ra, di chúc
không phải là ý nguyện đích thực của người lập (do sự lừa dối, bị cưỡng ép...), di chúc do người đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi lập mà không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, hoặc di chúc do người
dưới 15 tuổi lập ra.
* Ngoài ra di chúc cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu toàn bộ nội dung của nó trái pháp luật, trái đạo đức
xã hội.
Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người lập di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế
theo pháp luật.
B, DI CHÚC HIỆU HÓA MỘT PHẦN
* Di chúc bị coi là vô hiệu một phần nếu nội dung của nó chỉ có một phần không hợp pháp và phần không
hợp pháp đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại.
* Trường hợp này, phần di sản liên quan đến phần di chúc có hiệu lực sẽ được chia theo di chúc. Chỉ áp
dụng theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến phần di chúc bị vô hiệu.
- Thừa kế khi di sản không định đoạt trong di chúc: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với
phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
+ Trên thực tế những trường hợp người lập di chúc không định đoạt hết được tài sản của nh.
+ Đối với di sản không được định đoạt trong di chúc được giải quyết theo pháp luật tương tự như trường hợp
không di chúc, trừ những người bị người lập di chúc chỉ chỉ được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc
bị truất quyền thừa kế theo di chúc.
- Trường hợp không có người thừa kế: Trường hợp trường hợp toàn bộ những người thừa kế đã chết trước
hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc đều không có
người thừa kế theo quy định của pháp luật.
+ Một người thể vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc, vừa được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu
họ tồn tại vào thời điểm mở thừa kế toàn bộ di sản của người lập di chúc sẽ được dịch chuyển cho những
người thừa kế theo pháp luật.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, các
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc đều không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì toàn bộ
di sản của người lập di chúc được dịch chuyển toàn bộ cho những người thừa kế theo pháp luật của người
đó.
+ Nếu chỉ một hoặc một trong số người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di
sản liên quan đến họ mới áp dụng thừa kế theo pháp luật.
- Trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thừa kế: Trường hợp thừa kế theo
pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa theo di chúc không quyền hưởng di sản thừa kế.
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản là những
người đáng lẽ được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều
621 BLDS 2015.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo
pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại.
+ Nếu chỉ một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa
kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng
di sản đó.
- Trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản thừa kế: Trường hợp thừa kế theo pháp luật
được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản thừa kế.
+ Người thừa kế quyền nhận hoặc từ chối hưởng di sản của người chết để lại.
+ Phần di sản liên quan đến người đã từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế
khác.
+ Người từ chối hưởng di sản theo di chúc vẫn có thể thưởng thừa kế theo pháp luật nhưng trong trường hợp
họ từ chối toàn bộ thì toàn bộ phần di sản này sẽ đượcchia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều từ chối quyền hưởng di sản thì toàn bộ di sản của người
chết để lại sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu chỉ một hoặc một số người thừa kế từ chối quyền hưởng di sản thừa kế thì chia phần di sản liên quan
đến người này sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu việc từ chối nhận di sản đúng với quy định tại Điều 620 BLDS 2005 thì phần di sản liên quan đến
người từ chối nhận di sản sẽ được áp dụng thừa kế theo pháp luật.
+ Tuy nhiên, nếu người từ chối nhận di sản theo di chúc là người được nhận di sản thừa kế theo pháp luật t
phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật còn lại của người để lại di sản.
3. Các hàng thừa kế theo pháp luật
Hàng thừa kế thứ nhất: Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng, cha mẹ với con cái
- Vợ, chồng sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu vào thời điểm một bên chết mà quan hệ
hôn nhân về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại. Đặc biệt cần lưu ý đối với các trường hợp cụ thể tại điều 655 bộ
luật dân sự 2015, như sau:
+ Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì
người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản.
+ Trong trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc
quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa
kế. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với
người khác vẫn được thừa kế di sản.
+ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở
Miền Bắc, trước ngày 25/8/1977 ở Miền Nam, cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng thời gian từ
năm 1954 đến 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và kết hôn sau không bị Tòa án hủy bằng bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này vợ, chồng được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả
những người chồng (vợ) và ngược lại.
- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con để cha mẹ nuôi con nuôi:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó. Do vậy, cha mẹ của người con trong giả thủ
hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của con mình và ngược lại.
+ Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu việc nhận nuôi được
đăng ký theo quy định của pháp luật.
Hàng thừa kế thứ hai: Để xác định hàng thừa kế thứ hai cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông
ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột.
- Cụ thể ông nội, bà nội là người sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của
người đó.
- Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ
huyết thống.
Hàng thừa kế thứ ba:
- Cụ nội người đã sinh ra ông nội hoặcnội của một người.
- ơng tự cụ ngoại người sinh ra ông ngoại hoặc ngoại của người đó.
- Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là những anh, chị, em ruột của bố đẻ hoặc mẹ đẻ
của người đó.
=> Từ việc xác định các khái niệm trên việc xác định hàng thừa kế sẽ trở lên ràng, đơn giản. Nguyên
tắc và trình tự hưởng di sản đối với các hàng thừa kế. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di
sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế
trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Nếu
không còn ai là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ ba thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước.
4. Thừa kế thế vị
- Thừa kế thế vị trong trường hợp: “Con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
sống, nếu cháu cũng chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản
mà cha hoặc mẹ của chất được hưởng nếu còn sống”. (Điều 652 BLDS 2015).
- Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong quan hệ thừa kế theo pháp luật, không thể phát sinh từ quan hệ thừa kế
theo di chúc. Bởi vì, người được chỉ định thừa kế trong di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập
di chúc thì phần liên quan đến người chết trước đó không có hiệu lực thi hành.
- Việc thừa kế thế vị được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chất, đảm bảo quyền lợi của họ
khi cha, mẹ họ đã chết trước ông, bà.
- Việc xác định người thừa kế thế vị phải dựa trên những căn cứ sau:
+ Con, cháu của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản.
+ Con của người để lại di sản có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ nếu còn sống vào thời
điểm bố, mẹ chết. Nếu con là người bị tước quyền hưởng di sản thì cháu không được hưởng thừa kế thế vị
thay cha, mẹ của cháu đối với di sản của ông, bà.
- Trong trường hợp con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và cháu của con nuôi cũng
được hưởng thừa kế thế vị thay cha nuôi, mẹ nuôi nếu họ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, nuôi.
- Theo quy định của pháp luật thì con riêng của vợ, của chồng đối với cha kế, mẹ kể thì được hưởng thừa kế
theo pháp luật nếu quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng được thể hiện những mối quan hệ sau:
+ Không sự phân biệt đối xử giữa con riêng của vợ của chồng với các con chung của họ, cha kế, mẹ kế
coi con riêng như con ruột của mình và không dừng lại ở mặt hình thức mà còn thể hiện ở nghĩa vụ yêu
thương, nuôi dưỡng, giáo dục các con, chăm lo việc học tập và phát triển lành mạnh của con về thể chất, t
tuệ và đạo đức. Vì thế người con của con riêng này cũng được thừa kế thế vị.
+ Sự thể hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo luật định hay tự nguyện có trách nhiệm và công bằng giữa cha
kế, mẹ kế với con riêng của vợ, của chồng là căn cứ xác định thừa kế thế vị cho những người con của con
riêng.
5. Truất quyền thừa kế mối liên hệ với nguyên tắc của thừa kế
- Truất quyền thừa kế là một sự trừng phạt của người để lại thừa kế đối với người thừa kế, không cho họ
hưởng di sản của mình.
- Người để lại di sản có quyền chỉ định rõ ai được hưởng di sản cũng như ai không được hưởng di sản do
mình để lại mà không cần nêu rõ bất cứ lý do.
- Đây quyền tự do định đoạt của chủ sở hữu đối với khối tài sản của nh.
- Tuy nhiên sống trong trường hợp sau thì những người này vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 suất của một
người nếu di sản được chia theo pháp luật:
+ Người chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.
+ Con đã thành niên không khả năng lao động
=> Như vậy truất quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản. Tuy nhiên, quyền này bị
hạn chế bởi một số quy định của pháp luật để thể dung hoà được lợi ích của mọi người.
- Các nguyên tắc liên hệ đối với truất quyền thừa kế: Nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể.

Preview text:

PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
1. Phân tích để làm rõ khái niệm nhà nước:
- Khái niệm: Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã
hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức vàquản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng
như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Giải thích từ đặc biệt:
+ Tổ chức là sự liên kết chặt chẽ giữa những người có chung mục đích
+ Quyền lực là khả năng áp đặt ý chí của chủ thể này lên chủ thể khác và buộc chủ thể ấy phải phục tùng.
+ Quyền lực đặc biệt là là quyền lực có tính chi phối cao nhất, nó bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội, tác
động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chi phối mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. - Phân tích:
+ Đầu tiên, nhà nước là tổ chức có quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư và chính
quyền độc lập cũng như có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật để thiết lập trật tự xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình.
+ Nhà nước có quyền lực đặc biệt (quyền lực nhà nước).
+ Quyền lực của nhà nước tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước với các cá nhân và tỏ chức xã hội khác.
Trong mối quan hệ này, nhà nước là chủ thể của quyền lực còn các cá nhân, tổ chức xã hội khác phải tuân
thủ ý chí của nhà nước bởi vì họ là đối tượng của quyền lực đó.
+ Việc phân bố dân cư theo lãnh thổ, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, huyết thống,
nghề nghiệp cũng là một trong những đặc trung của nhà nước.
+ Không những thế nhà nuớc còn có quyền lực đặt ra pháp luật, dùng chính pháp luật để quản lý trật tự xã hội.
+ Pháp luật chính là các quy tắc xử sự chung của con người trong đời sống cộng đồng. Nếu con người không
thực thi pháp luật sẽ bị bộ máy cưỡng chế củanhà nước bao gồm quân đội, cảnh sát, Toà án và một đội ngũ
công chức chuyên nghiệp xử lý và răn đe theo pháp luật.
+ Nhà nước còn có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của nước mình, có quyền thay mặt quốc gia
đưa ra quyết định về các vấnđề đối nội đối ngoại.
+ Nhà nước còn có quyền quy định các loại thuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân tổ chức trong xã hội
nhằm thiết lập nguồn tài chính nuôi bộ máy công quyền và thực hiện các chức năng của mình.
2. Phân tích để làm rõ khái niệm pháp luật:
1. Khái niệm pháp luật:
- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiệný chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội.
- Qua đây có thể thấy định nghĩa của pháp luật có chứa đựng các yếu tố như:
+ Thứ nhất: Pháp luật được xác định là hệ thống các quy tắc xử sự chung, bao gồm các quy phạm mang tính
pháp luật và tính đạo đức, được áp dụng trên phạm vi cả nước, đối với mọi chủ thể trong xã hội.
+ Thứ hai: Pháp luật mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện. Tức là đối với các quy định của
pháp luật được áp dụng chung trong cộng đồng, chủ thể không có quyền đặt ý chí chủ quan của mình vào
quyết định là thực hiện hay không.Vì vậy nên pháp luật cũng đảm bảo cho việc thực hiện này bằng các biện
pháp giáo dục, tuyên truyền, ở mức độ có hành vi chống đối thì sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Điều
này đã góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
+ Thứ ba: Con đường hình thành của pháp luật là được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận của Nhà nước
đối với những tập quán, tiền lệ đã có sẵn và được nâng lên thành pháp luật.
+ Thứ tư: Bản chất nội dung của pháp luật là nhằm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.
Với những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung pháp luật chính là những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép
của nhà nước đối với hành vi ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý chí
của nhà nước; thông qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm gì
hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào…

2. Định nghĩa quy phạm pháp luật:
- Là quy tắc xử sự bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Như vậy khi nói đến pháp luật thì thường sẽ nói đến những quy phạm mang tính phổ biến, tức là nói đến
những khuôn mẫu chung và có tính phổ biến. Trong xã hội hiện nay không chỉ pháp luật có tính quy phạm
mà đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các tổ chức chính trị-xã hội đều có tính quy phạm.
- Tính quy phạm của pháp luật được thể hiện ở chỗ đây chính là khuôn mẫu chung cho nhiều người cùng
thực hiện và cần phải tuân theo; khuôn mẫu này sẽ được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian và thời gian rộng lớn.
3. Trình bày khái niệm hình thức của nhà nước và các yếu tố hợp thành hình thức nhà
nước. Nêu hình thức nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 1. Khái niệm:
- Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để
chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lỉ xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như
lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Hình thức nhà nước là cách tổ chức và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước.
- Hình thức nhà nước là một khái niệm chung, được hợp thành bởi ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức
cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.

+ Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức, hoạt
động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
2. Các yếu tố hợp thành nhà nước:
Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp bao gồm các yếu tố: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa
án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Chính quyền địa phương. Cụ thể: - Quốc hội
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền
lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. - Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là một thiết chế khá đặc thù. Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay
mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu
trong số đại biểu Quốc hội và chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch
nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến
khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước. - Chính phủ
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Chính phủ là cơ quan hành pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp
hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
+ Chính phủ gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
+ Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định.
+ Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
+ Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về
hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
+ Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng
Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng
Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ
tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ.
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính
phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của
Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ. - Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. Tòa án nhân dân có nhiệm
vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát
nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Viện kiểm sát nhân
dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Chính quyền địa phương
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam còn có chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương
được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Các cấp đơn vị hành chính bao gồm: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
+ Hiện nay, Việt Nam có 05 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 58 tỉnh.
+ Cấp chính quyền địa phương gồm có: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với
đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
*Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. *Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ
quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm
vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao phó.
3. Hình thức của nhà nước:
+ Hình thức chính thể:
có 2 dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa
✓ Chính thể quân chủ: Quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế
✓ Chính thể cộng hòa: Cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ
+ Hình thức cấu trúc: có 2 dạng cơ bản là nhà nước đơn nhất và nhà nước tiểu bang
✓ Nhà nước đơn nhất: là nhà nước, trong đó lãnh thổ quốc gia được phân bố thành các
đơn vị hành chính - lãnh thổ; có một Chính phủ; một Hiến pháp; một hệ thống pháp luật; một quốc tịch; một
quy chế công dân; có hệ thống các cơ quan chính quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương.
✓ Nhà nước tiểu bang: là nhà nước được thành lập bởi sự liên kết, hợp nhất hai hay nhiều
nhà nước thành viên. Nhà nước liên bang có chủ quyền chung nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền riêng.
+ Chế độ chính trị: Trong lịch sử, đã tồn tại nhiều chế độ chính trị của các kiểu nhà nước
khác nhau, nhưng chung quy lại có 2 loại chế độ chính trị chính: chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
✓ Chế độ chính trị dân chủ: là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội căn
cứ vào việc khẳng định toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện hoặc thông qua người
đại diện do nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người.
✓ Chế độ chính trị phản dân chủ: là chế độ mà nhân dân không có quyền tham gia vào
việc tổ chức bộ máy nhà nước (đặc biệt là cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước) hoặc vào việc bàn bạc,
thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước.
4. Trình bày nội dung năng lực chủ thể của pháp luật:
- Năng lực chủ thể của pháp luật bao gồm: năng lực pháp luật năng lực hành vi.
1. Năng lực pháp luật
- Là khả năng có quyền và nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước quy định cho các tổ chức, cá nhân nhất định.
- Chủ thể có năng lực pháp luật thì sẽ được tham gia hoặc phải tham gia vào quan hệ pháp luật nhất định.
- Nếu chỉ có năng lực pháp luật, chủ thể chỉ tham gia một cách thụ động vào quan hệ pháp luật hoặc được
pháp luật bảo vệ trong các quan hệ nhất định. Bởi vì, chủ thể không thể tự tạo cho mình các quyền và nghĩa
vụ pháp lý, những quyền và nghĩa vụ mà họ có được trong mối quan hệ cụ thể là do ý chí của nhà nước, của
người thứ ba (ví dụ một đứa trẻ được hưởng quyền thừa kế của bố, khi bố chết).
2. Năng lực hành vi
- Là khả năng mà nhà nước thừa nhận cho tổ chức, cá nhân bằng những hành vi của chính bản thân mình có
thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
- Chủ thể có năng lực hành vi sẽ tham gia với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật một cách độc lập. Độc lập
trong việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.
=> Năng lực pháp luật năng lực hành vi là hai thuộc tính không thể tách rời của chủ thể, nhưng không
phải là thuộc tính tự nhiên, sẵn có khi người đó sinh ra, mà là những thuộc tính pháp lý đều do nhà nước thừa nhận.
=> Năng lực pháp luật năng lực hành vi tạo thành năng lực chủ thể của pháp luật. Một chủ thể chỉ có
năng lực pháp luật thì không thể tham gia tích cực vào quan hệ pháp luật (không thể tự mình thực hiện
quyền, nghĩa vụ cụ thể)
; ngược lại, năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi. Không thể có chủ thể
quan hệ pháp luật không có năng lực pháp luật mà lại có năng lực hành vi.
5. Cho ví dụ thực tiễn về vi phạm pháp luật và phân tích các dấu hiệu của vi phạm pháp luật đó:
Dấu hiệu vi phạm pháp luật:
- Thứ nhất, vi phạm pháp luật phải là hành vi thực tế của cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào các quan hệ xã
hội. Tức, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để xác định đó là hành vi thực
hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật.
- Thứ hai, vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật
ví dụ: Chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm hoặc thực hiện các hành vi vượt quá thẩm quyền.
- Thứ ba, vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, bởi lẽ hành vi có
tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm
pháp luật. Trong đó, năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ
thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi
nhất định và trí tuệ phát triển bình thường.
- Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể, tức khi thực hiện hành vi trái luật, chủ thể có thể
nhận thức được hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi đó gây ra và điều khiển được hành vi của
mình. Ngược lại, trường hợp chủ thể thực hiện một hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng người này
không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được
hành vi và hậu quả của hành vi nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và
không phải là vi phạm pháp luật.
- Thứ năm, vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ như: Quan
hệ tài sản, quan hệ hôn nhân - gia đình…
6. Trình bày khái niệm và nội dung các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo
quy định của Hiến pháp năm 2013:
Tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật”
.
=> Từ Hiến pháp 2013 ta có khái niệm: “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là các quyền và nghĩa
vụ được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, là cơ sở
để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của công dân và cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân”.

Hiến pháp năm 2013 quy định công dân Việt Nam có các nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44);
- Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (khoản 1 Điều 45);

- Nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (khoản 2 Điều 45);
- Nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 46);
- Nghĩa vụ chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);
- Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47);

- Nghĩa vụ học tập (Điều 39);
- Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 46).
Các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, điểu chỉnh những
quan hệ quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt động bình thường của xã hội.
Các quyền của công dân bao gồm: các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và các quyền
tự do cá nhân. Muốn được hưởng các quyền công dân của một nhà nước thì phải có quốc tịch của nhà nước đó.
7. Trình bày các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính: 1, Mặt khách quan
- Hành vi trái pháp luật mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước và
đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm .
- Thời gian thực hiện hành vi vi phạm .
- Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm .
- Công cụ, phương tiện vi phạm.
- Hậu quả và mối quan hệ nhân quả 2, Mặt chủ quan
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính.
3, Chủ thể của vi phạm hành chính
+ Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, của pháp luật hành chính.
+ Cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định.
+ Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người không
mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là :
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vị phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý
Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp.’
+ Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm : các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị
kinh tế , các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

4, Khách thể của vi phạm hành chính
+ Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản
lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.
8. Cho ví dụ thực tiễn về vi phạm hành chính và phân tích các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính đó:
Ví dụ 1: Anh A là một người bán hoa tươi trên vỉa hè tại một khu vực mà quy định cấm bán hàng rong.
- Yếu tố cấu thành của vi phạm này là:
+ Mặt khách quan: Hành vi của anh A là bán hoa tươi trên vỉa hè tại khu vực có quy định cấm bán hàng
rong. Hành vi này vi phạm các quy định về trật tự đô thị, gây cản trở giao thông và ảnh hưởng đến mỹ quan
đô thị. Việc bán hàng rong trong khu vực cấm làm mất trật tự, tạo sự lộn xộn trên vỉa hè, có thể gây nguy
hiểm cho người đi bộ và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh hợp pháp khác.
+ Mặt chủ quan: Hành vi vi phạm này có thể là cố ý hoặc vô ý. Anh A có thể biết rõ rằng khu vực này cấm
bán hàng rong nhưng vẫn cố tình bán hoa để kiếm lời (cố ý). Tuy nhiên, cũng có thể anh A không nhận thức
đầy đủ quy định cấm trong khu vực này hoặc không biết rằng bán hoa trên vỉa hè tại đây là vi phạm (vô ý).
+ Chủ thể: Chủ thể của hành vi vi phạm là anh A, một cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã thực
hiện hành vi bán hàng rong trái phép tại khu vực có quy định cấm.
+ Khách thể: Khách thể của hành vi vi phạm này là trật tự an toàn đô thị, bao gồm việc duy trì trật tự giao
thông, mỹ quan đô thị và các quy định về quản lý hành chính trong khu vực. Việc bán hàng rong tại khu vực
cấm gây ảnh hưởng đến trật tự và sự an toàn của khu vực, đồng thời gây khó khăn cho việc duy trì các hoạt
động kinh doanh hợp pháp.
Ví dụ 2: Chị M khi tham gia giao thông đường bộ điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm.
- Yếu tố cấu thành của hành vi vi phạm này:
+ Mặt khách quan: Hành vi của chị M là điều khiển xe mô tô nhưng không đội mũ bảo hiểm khi tham gia
giao thông. Đây là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức
khỏe của người tham gia giao thông trong trường hợp có sự cố xảy ra.
+ Mặt chủ quan: Hành vi vi phạm này là cố ý (có thể chị M biết rõ yêu cầu phải đội mũ bảo hiểm khi lái xe
nhưng vẫn cố tình vi phạm) hoặc vô ý (chị M có thể quên hoặc không nhận thức được yêu cầu này). Tuy
nhiên, trong trường hợp này, vi phạm vẫn xảy ra do sự thiếu chú ý hoặc cố ý không tuân thủ.
+ Chủ thể: Chủ thể của hành vi vi phạm này là chị M, là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có giấy
phép lái xe mô tô nhưng không thực hiện đầy đủ quy định khi tham gia giao thông.
+ Khách thể: Khách thể của hành vi vi phạm này là trật tự an toàn giao thông. Việc không đội mũ bảo hiểm
gây ảnh hưởng đến trật tự và an toàn giao thông, làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông, đặc biệt là trong
trường hợp xảy ra va chạm.
9. Nêu ví dụ minh họa để phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm hình sự
Trình bày khái niệm, dấu hiệu, phân loại và cấu thành tội phạm hình sự:
1. Ví dụ minh họa phân biệt Vi phạm hành chính và tội phạm hình sự: Vi phạm hành chính
Tội phạm hình sự
Vi phạm về giao thông: Một người điều khiển xe ô Trộm cắp tài sản: Một người lén lút vào nhà người
tô không có giấy phép lái xe hoặc không đeo dây an khác để lấy cắp tài sản, gây thiệt hại cho chủ sở toàn khi lái xe. hữu.
- Đây là vi phạm hành chính vì người vi phạm
- Đây là hành vi trộm cắp tài sản, một tội phạm hình
không gây thiệt hại lớn cho xã hội và không cấu
sự vì hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền sở
thành tội phạm hình sự.
hữu tài sản của người khác.
- Hình thức xử phạt: Phạt tiền, tạm giữ phương tiện,
- Hình thức xử phạt: Tùy mức độ nghiêm trọng có
hoặc buộc phải thi lại kỳ thi lấy giấy phép lái xe.
thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hoặc tù giam.
Vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm: Một cửa
Cố ý gây thương tích: Một người trong lúc cãi vã
hàng bán thực phẩm không có giấy phép kinh
đã dùng vũ lực đánh người khác gây thương tích
doanh, hoặc thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an nặng. toàn.
- Đây là hành vi tội phạm hình sự vì nó không chỉ
- Hành vi này bị coi là vi phạm hành chính vì không
xâm phạm đến thân thể của người khác mà còn gây
gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn cần xử lý thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe.
để bảo vệ lợi ích cộng đồng.
- Hình thức xử phạt: Có thể bị phạt tiền, phạt tù tùy
- Hình thức xử phạt: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động
theo mức độ thương tích và tính chất của hành vi.
kinh doanh, yêu cầu cải thiện điều kiện vệ sinh.
2. Khái niệm tội phạm hình sự
- Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) định nghĩa khái niệm “Tội
phạm” hay cũng chính là “Tội phạm hình sự” đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo
quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng
tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
3. Dấu hiệu của tội phạm hình sự
Hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm thông qua 5 đặc điểm sau:
đặc điểm nguy hiểm cho xã hội, đặc điểm có lỗi, đặc điểm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện, đặc điểm được quy định trong luật hình sự và đặc điểm phải chịu hình phạt.

Về bản chất pháp lý thì tội phạm là một trong 4 loại vi phạm pháp luật, trong đó tội phạm là vi phạm pháp
luật hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung. Song bên cạnh đó
nó còn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các
vi phạm pháp luật khác. Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:
Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
- Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính
nguy hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác.
- Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu khác như tính được
quy định trong Bộ luật Hình sự của tội phạm.
- Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa như sau:
+ Là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; Là dấu hiệu quan
trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm.
+ Là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.
- Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chúng ta phải cân nhắc, xem xét, đánh
giá một cách toàn diện các yếu tố sau: Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm phạm; Phương pháp, thủ đoạn,
công cụ, phương tiện phạm tội; Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra; Hình thức và mức độ lỗi; Động
cơ và mục đích phạm tội; Nhân thân người phạm tội; Hoàn cảnh chính trị xa hội lúc và nơi hành vi phạm
tội xảy ra; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tính có lỗi
- Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa phải áp dụng hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất.
- Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu
nhằm cải tạo, giáo dục họ.
- Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội,
tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp xử
sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Tính trái pháp luật hình sự
- Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong Bộ luật Hình sự.
- Đặc điểm này đã được pháp điển hóa tại Điều 2 Bộ luật Hình sự chỉ người nào phạm một tội đã được bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi đó chưa được quy
định trong Bộ luật Hình sự thì không bị coi là tội phạm.
- Đặc điểm này có ý nghĩa về phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tùy tiện của người áp dụng pháp luật.
- Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi Bộ luật Hình sự theo sát sự
thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.
Tính phải chịu hình phạt
- Đặc điểm này không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết
kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.
- Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng bị đe dọa phải áp
dụng một hình phạt đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
- Từ việc phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc điểm của nó:
tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.
4. Phân loại tội phạm hình sự
Phân loại tội phạm đối với người phạm tội:
- Tội phạm ít nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt quy định là phạt tiền, cải tạo không giam giữ
hoặc phạt tù đến 3 năm.
- Tội phạm nghiêm trọng: Mức cao nhất thuộc khung hình phạt quy định là trên 03 năm tù đến 7 năm tù.
- Tội phạm rất nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt quy định là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại:
- Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện cũng được phân thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
.
- Loại tội phạm của pháp nhân thương mại được xác định theo cách là loại tội phạm tương ứng của người
phạm tội thuộc khoản được viện dẫn để quy định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
5. Cấu thành tội phạm hình sự:
- Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có
thể rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là:
+ Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã
hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề
cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại.
+ Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm,
bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội… Thông qua biểu hiện bên ngoài ở mặt
khách quan của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
+ Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:
Hành vi: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm. Hành vi bao gồm hành vi hành động (ví dụ:
hành vi của tội giết người, tội cướp tài sản,…)
và hành vi không hành động (ví dụ: hành vi của tội không
cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,…)

• Hậu quả: Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả tội phạm. VD: tội hiếp dâm thì hậu quả không
phải là dấu hiệu định tội, tội vứt bỏ con mới đẻ thì hậu quả là dấu hiệu định tội
.
• Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm
được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:
Lỗi: Lỗi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm. Lỗi bao gồm:
Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa.
Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội (chủ
thể của tội phạm) phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định mà Bộ luật hình
sự quy định đối với mỗi loại tội phạm.
10. Cho ví dụ thực tiễn về tội phạm hình sự và phân tích các yếu tố cấu thành của tội phạm hình sự đó:
Ví dụ 1: Em M (16 tuổi) và em K có một cuộc cãi vã do mâu thuẫn cá nhân liên quan đến chuyện bạn
bè. Trong lúc tức giận, em M đã dùng một cây gậy bóng chày (do cả hai bạn cùng mang theo)
đánh vào
đầu em K. Em K ngã xuống đất, đầu va mạnh xuống đất khiến em bị chấn thương nặng và tử vong sau đó.

- Yếu tố cấu thành tội phạm hình sự:
+ Mặt khách quan: Hành vi Em M dùng cây gậy bóng chày đánh vào đầu em K trong lúc cãi vã. Việc đánh
vào đầu là hành vi nguy hiểm có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến tính mạng. Hành động này đã dẫn đến
hậu quả là chấn thương sọ não cái chết của em K.
+ Mặt chủ quan: Cố ý gián tiếp: Mặc dù có thể em M không có ý định giết bạn mình ngay từ đầu, nhưng
hành động đánh vào đầu em K với một vật cứng như cây gậy bóng chày là hành vi có thể gây ra hậu quả chết
người. Em M có thể không mong muốn cái chết của K, nhưng em biết rõ việc đánh vào đầu có thể gây nguy
hiểm đến tính mạng của K và vẫn thực hiện hành vi đó.
+ Chủ thể: Em M là chủ thể của hành vi. Em M 16 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm nghiêm trọng như giết người theo Bộ luật Hình sự Việt Nam. Do đó, em M có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội giết người.
+ Khách thể: Tính mạng của người khác là khách thể của tội giết người. Việc đánh vào đầu em K đã xâm
phạm trực tiếp đến quyền sống của em, dẫn đến cái chết của em K. Đây là sự xâm phạm nghiêm trọng đến
quyền sống, được bảo vệ bởi pháp luật.
+ Hậu quả: Cái chết của em K là hậu quả trực tiếp của hành vi của em M. Cái chết của em K là một hậu quả
không thể khắc phục và là yếu tố quyết định mức độ nghiêm trọng của vụ án.
Ví dụ 2: Anh B vào một ngôi nhà trong khu dân cư, lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trị giá 10 triệu
đồng của chủ nhà khi không có sự cho phép của họ. Hành vi của anh B bị phát hiện và anh ta bị bắt
quả tang khi đang rời khỏi hiện trường.

- Yếu tố cấu thành tội phạm hình sự:
+ Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm trộm cắp là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác mà
không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Cụ thể trong ví dụ này, anh B đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản
của chủ nhà bằng việc lén lút lấy chiếc điện thoại mà không có sự đồng ý của chủ nhà. Hành vi này có thể
gây thiệt hại về tài sản cho nạn nhân.
+ Mặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là cố ý trực tiếp. Anh B có ý thức rõ ràng khi thực
hiện hành vi trộm cắp, biết rằng hành động của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện để
chiếm đoạt tài sản của người khác. Anh ta không có sự đồng ý của chủ sở hữu và vẫn tiếp tục hành vi trộm cắp.
+ Chủ thể: Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trên 16 tuổi) và
không có tình trạng mất năng lực hành vi. Trong trường hợp này, anh B là một người trưởng thành, có đủ
năng lực hành vi và nhận thức được hành vi của mình là phạm pháp nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi trộm cắp.
+ Khách thể: Khách thể của tội trộm cắp là quyền sở hữu tài sản của người khác. Việc lấy tài sản của chủ
nhà mà không có sự cho phép đã xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người sở hữu tài sản. Hành vi trộm cắp
làm mất đi tài sản của nạn nhân và gây tổn hại về vật chất.
+ Hậu quả: Hậu quả của hành vi trộm cắp là thiệt hại về tài sản của nạn nhân. Trong trường hợp này, chiếc
điện thoại trị giá 10 triệu đồng đã bị chiếm đoạt. Mức độ thiệt hại này có thể là cơ sở để xác định hình phạt
cho tội trộm cắp, nếu thiệt hại lớn có thể dẫn đến hình phạt nghiêm khắc hơn.
11. Trình bày các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người:
1. Giới thiệu chung: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những hành vi (hành động
hoặc không hành động)
có lỗi (cố ý hoặc vô ý), gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe của người khác. 2. Khách thể:
- Khách thể của các tội phạm này là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người.
- Đối tượng tác động của các tội này là người đang sống.
3. Mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi thuộc mặt khách quan của các tội phạm này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng có cùng
tính chất là đều trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người khác.
- Trong các tội phạm này, có tội hành vi phạm tội có thể là hành động hoặc không hành động như tội giết
người, tội vô ý làm chết người…; có tội chỉ là hành động như tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượ tquá mức cần thiết khi bắt
giữ người phạm tội, tội bức tử…; có tội chỉ là không hành động như tội không cứu giúp người khác trong
khi nguy hiểm đến tính mạng.
- Hậu quả: Hậu quả của các tội phạm này là thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại tính mạng, sức khôe của người
khác (trừ tội đe dọa giết người).
4. Chủ thể của tội phạm:
- Chủ thể của các tội phạm này chỉ là cá nhân.
- Vài tội có chủ thể đặc biệt là tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ,
tội bức tử, còn lại các tội khác chủ thể củatội phạm là chủ thể thường; đó là bất kỳ người nào có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
5. Mặt chủ quan của tội phạm:
- Lỗi của người phạm tội ở các tội phạm này có thể là cố ý hoặc vô ý. 6. Về hình phạt:
- Hình phạt thấp nhất là cảnh cáo, cao nhất là tử hình.
12. Trình bày các tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người: 1. Khái niệm chung:
- Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi cố ý xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác.
- Các tội thuộc nhóm tội: Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, Tội mua bán
người, Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, Tôi làm nhục người khác.
2. Dấu hiêu pháp lý của tội phạm:
- Khách thể của tội phạm: Các tội phạm này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Mặt khách quan:
+ Hành vi phạm tội của tất cả các tội phạm này đều thể hiện dưới dạng hành động.
+ Hậu quả của các tội phạm này là thiệt hại về tinh thần và không phải là dấu hiệu bắt buộc của các cấu
thành tội phạm này (đều là cấu thành tội phạm hình thức).
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của các tội phạm này đều là tội cố ý.
- Chủ thể của tội phạm: Các tội phạm khác chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
- Hình phạt được quy định với các tội phạm này có các loại và mức độ rất khác nhau. Hình phạt chính thấp
nhất là cảnh cảo, cao nhất là tử hình.
13. Trình bày khái niệm, hình thức, thời điểm có hiệu lực và nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự: 1. Khái niệm:
- Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
(Điều 385 BLDS 2015)
2. Hình thức của hợp đồng dân sự
- Hình thức miệng (bằng lời nói)
- Hình thức viết (bằng văn bản)
- Hình thức có công chứng, chứng thực, đăng ký
3. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự
- Hợp đồng miêng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng
- Hợp đồng bằng văn bản thường, có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp đồng
- Hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký có hiệu lực tại thời điểm văn bản hợp đồng
được công chứng, chứng thực, đăng ký
- Ngoài ra, hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau các thời điểm nói trên nếu các bên đã tự thoả thuận để xác
định hoặc trong trường hợp mà pháp luật đã quy định cụ thể.
4. Nội dung của hợp đồng:
- Là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thểtham gia giao kết hợp đồng đã thoả thuận.
- Có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau:
+ Điều khoản cơ bản: Xác định nội dung chủ yếu, không thể thiếu đối với từng loại hợp đồng. VD: Đối
tượng, giá cả, địa điểm…

+ Điều khoản thông thường: Là những điều khoản được pháp luật quy định trước. Nếu khi giao kết các bên
không thoả thuận những điều khoản này thì vẫn coi như 2 bên mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như
pháp luật đã quy định.
+ Điều khoản tuỳ nghi: Là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn và thoả
thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên.
5. Các hợp đồng dân sự thông dụng
- Hợp đồng mua bán tài sản
- Hợp đồng trao đổi tài sản
- Hợp đồng tặng cho tài sản
- Hợp đồng vay tài sản
- Hợp đồng thuê tài sản
14. Trình bày các nội dung của quyền sở hữu:
1. Quyền chiếm hữu
- Quyền chiếm hữu là quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình, nắm giữ,
chi phối tài sản thuộc sở hữu nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 186 BLDS)
- Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển
giao quyền sở hữu cho chủ thể khác như bán, trao đổi, tặng cho…hoặc theo căn cứ được quy định từ Điều
242 đến Điều 244 BLDS
.
- Phân loại quyền chiếm hữu:
+ Căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể phân thành 2 loại: chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của
người không phải là chủ sở hữu
. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ
xác lập quyền sở hữu, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định như đối với tài sản bị chôn giấu, bị vùi
lấp, bị chìm đắm, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên…
+ Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản thì chiếm hữu có thể phân
thành: chiếm hữu ngay tình và chiếm hữu không ngay tình
Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với
tài sản đang chiếm hữu (Điều 180 BLDS)
Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có
quyền đối với tài sản đang chiếm hữu (Điều 181 BLDS)
+ Ngoài ra, việc chiếm hữu còn được xác định theo tình trạng chiếm hữu liên tục (Điều 182) và chiếm hữu
công khai (Điều 183)
Chiếm hữu liên tục được hiểu là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có
tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản
được giao cho người khác chiếm hữu.
Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang
chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình. 2. Quyền sử dụng
- Là quyền khai thác công dụng và khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp luật quy định cho chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu hợp
pháp) được phép sử dụng các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hoặc sản xuất, kinh
doanh nhưng việc sử dụng đó không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không được trái với đạo đức chung của xã hội.
- Thông thường, khi chủ sở hữu muốn chuyển quyền sử dụng cho người khác thì phải chuyển luôn quyền
chiếm hữu tài sản. Bởi lẽ, muốn khai thác công dụng của tài sản, trước hết người sử dụng phải thực hiện hành vi chiếm hữu.
- Tuy nhiên, cũng có trường hợp chủ sở hữu cho sử dụng tài sản mà không chuyển quyền chiếm hữu.
(VD: Cho thuê xe ô tô mà người lái xe là người làm công việc của chủ sở hữu; người sử dụng máy vi tính
ngay tại nhà của chủ sở hữu…)

3. Quyền định đoạt
- Là một quyền năng của chủ sở hữu để quyết định về “số phận” của tài sản.
- Quyền định đoạt tài sản biểu hiện ở 2 phương diện:
+ Định đoạt về số phận thực tế của tài sản (tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế nữa) như: tiêu
dùng hết, huỷ bỏ, hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản.
+ Định đoạt về số phận pháp lí của tài sản là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ người
này sang người khác. Thông thường, định đoạt về số phận pháp lí của tài sản phải thông qua các giao dịch
phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như: bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế…thông qua việc định
đoạt mà chủ sở hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi giữ); quyền
chiếm hữu và sử dụng tài sản trong một khoảng thời hạn (hợp đồng cho thuê, cho mượn) hoặc chủ sở hữu
chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác bằng hợp đồng bán, đổi, cho…
- Việc một người thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấmdứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp
luật liên quan đến tài sản đó.
(VD: Tiêu dùng hết tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản đó)
15. Trình bày nội dung thừa kế theo di chúc:
A, Khái niệm di chúc: Di chúc được hình thành khi một người có ý định sẽ để lại tài sản của mình cho
người khác nếu họ chết đi, đó là sự thể hiện ý chí của người lập đối với khối tài sản mà mình xác lập được.
- Theo Điều 646 Bộ luật dân sự 2005 quy định di chúc: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

B, Đặc điểm của di chúc
1, Di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc
:
- Ý chí đơn phương này thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với người thừa kế
về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di
chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị sự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc,
người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.
- Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản
thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm tài sản thuộc sở hữu của mình
mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng
hay thân thích với người lập di chúc.
- Đối với di chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chung của hai người, nhưng thực chất
vẫn thể hiện ý chí đơn phương của từng người trong việc định đoạt tài sản chung (ý chí đơn phương của
chồng và vợ trùng nhau trong việc định đoạt tài sản chung vợ chồng)
. Mặt khác, di chúc chung của vợ
chồng vẫn chỉ thể hiện ý chí của một bên – bên chuyển giao tài sản.
- Khác với các giao dịch dân sự khác như hợp đồng, thì đó chính là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên, thì
trong di chúc, chỉ có ý chí của một bên.
- Đặc điểm ý chí đơn phương này là đặc điểm khác biệt của di chúc với các loại giao dịch dân sự khác.
2, Di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác sau khi người lập di chúc chết.
- Di chúc được lập lại nhằm chuyển dịch tài sản của người chết sang cho người còn sống. Người thừa kế
theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Đây là một nội dung quan trọng không thể thiếu được
của một di chúc, nếu muốn được coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho những người khác.
3, Di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết.
- Khoản 1 Điều 6643 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”.
- Khi người lập di chúc còn sống di chúc có phù hợp với các quy định của pháp luật về hình thức và nội
dung, thì di chúc cũng chưa phát sinh hiệu lực. Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập di chúc
chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản mà họ sẽ
được hưởng. Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết. C, Di chúc hợp pháp
- Để di chúc thực hiện được vai trò của mình là thể hiện ý chí cá nhân đối với tài sản của mình khi họ chết
thì di chúc đó phải hợp pháp, tức đáp ứng được đầy đủ các quy định của pháp luật.
- Bản chất của di chúc là một giao dịch dân sự nên trước tiên di chúc phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực
của giao dịch theo điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và di chúc cũng phải đáp ứng các điều kiện để trở
thành một bản di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Vậy, một bản di chúc hợp pháp cần đáp ứng các điều kiện sau:
+ Người lập di chúc từ đủ 15 tuổi trở lên, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.
+ Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện.
+ Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
+ Hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật.
D, Thừa kế theo di chúc
- Tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản
của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”
.
- Hiện nay, pháp luật thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế di chúc và thừa kế theo pháp luật.
- Di chúc chính là hành vi pháp lý đơn phương của một người nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người
khác khi họ chết đi, Người muốn định đoạt tài sản của mình khi chết bằng di chúc phải tuân theo những quy
định nhất định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Như vậy, thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo ý
chí đơn phương của người có tài sản được thể hiện thông qua bản di chúc.
E, Người lập di chúc và quyền của người lập di chúc
- Người lập di chúc chính là người tự định đoạt tài sản của mình khi chết thông qua việc để lại di chúc bằng
hình thức văn bản hoặc di chúc miệng.
- Đối với người thành viên thì họ phải có đủ điều kiện theo quy định tại điểm A khoản 1 Điều 630 Bộ luật
Dân sự năm 2015
, nghĩa là họ minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
thi có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười
tám tuổi được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; quyền
phân định tài sản cho người thừa kế; quyền dành một phần trong khối di sản để di tặng; quyền dành một
phần tài sản trong khối di sản để dùng vào việc thờ cúng; quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế; quyền sửa
đổi, bổ sung và hủy bỏ di chúc; quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
F, Người thừa kế theo di chúc
- Người thừa kế là người được hưởng di sản mà người chết để lại.
- Người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản mà người chết để lại theo di chúc.
- Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân thì họ phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế; hoặc
phải sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành tai trước khi người để lại di sản chết.
- Người thừa kế theo di chúc là tổ chức thì cơ quan, tổ chức là người thừa kế phải đáp ứng điều kiện phải còn
tồn tại ở thời điểm mở thừa kế. Với các trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại trước thời điểm mở thừa kế
thì sẽ không được trở thành chủ thể được hưởng thừa kế theo di chúc.
G, Hiệu lực của di chúc
- Khoản 1 Điều 6643 Bộ luật dân sự 2015 quy định:” Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.”
- Thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một
người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế được xác định tại Khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đối với trường hợp người để lại di chúc chết là một cái chết sinh học thời điểm mở thừa kế được xác định
là thời điểm họ chết. Để xác định thời điểm này thì đó là xác định theo giấy chứng tử. Thời gian trong giấy
chứng tử sẽ được xác định theo phút, giờ, ngày, tháng năm- đây chính là căn cứ quan trọng để xác định thời
điểm di chúc có hiệu lực.
- Bên cạnh đó, cần chú ý, di chúc sẽ không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần nếu người thừa kế theo di
chúc chết trước hoặc chết cùng với thời điểm người lập di chúc. Và di chúc cũng sẽ không còn hiệu lực nếu
di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế, nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ
còn 1 phần thì di chúc về phần di sản còn lại vẫn còn hiệu lực.
16. Trình bày nội dung thừa kế theo pháp luật:
1. Khái niệm thừa kế theo pháp luật
- Khái niệm theo điều 649, Bộ luật dân sự năm 2015: Người được thừa kế theo pháp luật là
những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng. Mọi người bình
đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực
hiện trong phạm vi tài sản nhận.

- Như vậy, trong trường hợp thừa kế theo pháp luật thì pháp luật trực tiếp quyết định những người có quyền
hưởng thừa kế, phân định di sản cho những người thừa kế cùng hàng và các trình tự khác trong quá trình dịch chuyển di sản.
2. Các trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
Về các trường hợp thừa kế theo pháp luật, Điều 650 BLDS 2015 đã quy định:
Từ quy định trên, ta có thể chia làm 6 trường hợp sau đây:
- Thừa kế khi không có di chúc: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có
di chúc. Những trường hợp sau đây được coi là không có di chúc:
+ Người có tài sản chết mà không lập di chúc hoặc có lập nhưng chính họ đã tiêu hủy (xé, đốt...) hoặc tuyên
bố hủy bỏ di chúc đã lập.
+ Người chết có để lại di chúc nhưng kể thời điểm mở thừa kế di chúc đã bị thất lạc hoặc đã bị hư hại đến
mức không thể hiện đầy đủ ý chí của người lập di chúc đó và cũng không thể chứng minh được ý nguyện
đích thực của người lập di chúc (Điều 642 BLDS 2015).
- Thừa kế khi di chúc không hợp pháp: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp
có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp.
+ Di chúc không hợp pháp là những di chúc không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của
Điều 630 và những điều kiện chung của một giao dịch dân sự theo Điều 122 BLDS 2015.
+ Di chúc không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật nên sẽ không làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.
+ Tùy theo phạm vi vi phạm của di chúc để xác định di chúc đó vô hiệu một phần hay vô hiệu toàn bộ.
A, DI CHÚC VÔ HIỆU HÓA TOÀN BỘ
* Di chúc được coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó do người không minh mẫn, sáng suốt lập ra, di chúc
không phải là ý nguyện đích thực của người lập (do sự lừa dối, bị cưỡng ép...), di chúc do người đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi lập mà không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, hoặc di chúc do người
dưới 15 tuổi lập ra.

* Ngoài ra di chúc cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu toàn bộ nội dung của nó trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người lập di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật.
B, DI CHÚC VÔ HIỆU HÓA MỘT PHẦN

* Di chúc bị coi là vô hiệu một phần nếu nội dung của nó chỉ có một phần không hợp pháp và phần không
hợp pháp đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại.

* Trường hợp này, phần di sản liên quan đến phần di chúc có hiệu lực sẽ được chia theo di chúc. Chỉ áp
dụng theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến phần di chúc bị vô hiệu.
- Thừa kế khi di sản không định đoạt trong di chúc: Trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với
phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
+ Trên thực tế có những trường hợp người lập di chúc không định đoạt hết được tài sản của mình.
+ Đối với di sản không được định đoạt trong di chúc được giải quyết theo pháp luật tương tự như trường hợp
không có di chúc, trừ những người bị người lập di chúc chỉ rõ chỉ được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc
bị truất quyền thừa kế theo di chúc.
- Trường hợp không có người thừa kế: Trường hợp trường hợp toàn bộ những người thừa kế đã chết trước
hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc đều không có
người thừa kế theo quy định của pháp luật.
+ Một người có thể vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc, vừa được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu
họ tồn tại vào thời điểm mở thừa kế và toàn bộ di sản của người lập di chúc sẽ được dịch chuyển cho những
người thừa kế theo pháp luật.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, các
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc đều không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì toàn bộ
di sản của người lập di chúc được dịch chuyển toàn bộ cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó.
+ Nếu chỉ một hoặc một trong số người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di
sản liên quan đến họ mới áp dụng thừa kế theo pháp luật.
- Trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thừa kế: Trường hợp thừa kế theo
pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa theo di chúc không có quyền hưởng di sản thừa kế.
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản là những
người đáng lẽ được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS 2015.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo
pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại.
+ Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa
kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản đó.
- Trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản thừa kế: Trường hợp thừa kế theo pháp luật
được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản thừa kế.
+ Người thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối hưởng di sản của người chết để lại.
+ Phần di sản liên quan đến người đã từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Người từ chối hưởng di sản theo di chúc vẫn có thể thưởng thừa kế theo pháp luật nhưng trong trường hợp
họ từ chối toàn bộ thì toàn bộ phần di sản này sẽ đượcchia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều từ chối quyền hưởng di sản thì toàn bộ di sản của người
chết để lại sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu chỉ một hoặc một số người thừa kế từ chối quyền hưởng di sản thừa kế thì chia phần di sản liên quan
đến người này sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.
+ Nếu việc từ chối nhận di sản đúng với quy định tại Điều 620 BLDS 2005 thì phần di sản liên quan đến
người từ chối nhận di sản sẽ được áp dụng thừa kế theo pháp luật.
+ Tuy nhiên, nếu người từ chối nhận di sản theo di chúc là người được nhận di sản thừa kế theo pháp luật thì
phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật còn lại của người để lại di sản.
3. Các hàng thừa kế theo pháp luật
Hàng thừa kế thứ nhất: Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng, cha mẹ với con cái
- Vợ, chồng sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu vào thời điểm một bên chết mà quan hệ
hôn nhân về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại. Đặc biệt cần lưu ý đối với các trường hợp cụ thể tại điều 655 bộ
luật dân sự 2015
, như sau:
+ Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì
người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản.
+ Trong trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc
quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa
kế. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với
người khác vẫn được thừa kế di sản.
+ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở
Miền Bắc, trước ngày 25/8/1977 ở Miền Nam, cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng thời gian từ
năm 1954 đến 1975)
lấy vợ, lấy chồng khác và kết hôn sau không bị Tòa án hủy bằng bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này vợ, chồng được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả
những người chồng (vợ) và ngược lại.
- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con để và cha mẹ nuôi và con nuôi:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó. Do vậy, cha mẹ của người con trong giả thủ
hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của con mình và ngược lại.
+ Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu việc nhận nuôi được
đăng ký theo quy định của pháp luật.
Hàng thừa kế thứ hai: Để xác định hàng thừa kế thứ hai cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông
ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột.
- Cụ thể ông nội, bà nội là người sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của người đó.
- Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ huyết thống.
Hàng thừa kế thứ ba:
- Cụ nội là người đã sinh ra ông nội hoặc bà nội của một người.
- Tương tự cụ ngoại là người sinh ra ông ngoại hoặc bà ngoại của người đó.
- Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là những anh, chị, em ruột của bố đẻ hoặc mẹ đẻ của người đó.
=> Từ việc xác định rõ các khái niệm trên việc xác định hàng thừa kế sẽ trở lên rõ ràng, đơn giản. Nguyên
tắc và trình tự hưởng di sản đối với các hàng thừa kế. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di
sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế
trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
. Nếu
không còn ai là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ ba thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước.
4. Thừa kế thế vị
- Thừa kế thế vị trong trường hợp: “Con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
sống, nếu cháu cũng chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản
mà cha hoặc mẹ của chất được hưởng nếu còn sống”
. (Điều 652 BLDS 2015).
- Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong quan hệ thừa kế theo pháp luật, không thể phát sinh từ quan hệ thừa kế
theo di chúc. Bởi vì, người được chỉ định thừa kế trong di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập
di chúc thì phần liên quan đến người chết trước đó không có hiệu lực thi hành.
- Việc thừa kế thế vị được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chất, đảm bảo quyền lợi của họ
khi cha, mẹ họ đã chết trước ông, bà.
- Việc xác định người thừa kế thế vị phải dựa trên những căn cứ sau:
+ Con, cháu của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản.
+ Con của người để lại di sản có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ nếu còn sống vào thời
điểm bố, mẹ chết. Nếu con là người bị tước quyền hưởng di sản thì cháu không được hưởng thừa kế thế vị
thay cha, mẹ của cháu đối với di sản của ông, bà.

- Trong trường hợp con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và cháu của con nuôi cũng
được hưởng thừa kế thế vị thay cha nuôi, mẹ nuôi nếu họ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà nuôi.
- Theo quy định của pháp luật thì con riêng của vợ, của chồng đối với cha kế, mẹ kể thì được hưởng thừa kế
theo pháp luật nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng được thể hiện ở những mối quan hệ sau:
+ Không có sự phân biệt đối xử giữa con riêng của vợ của chồng với các con chung của họ, cha kế, mẹ kế
coi con riêng như con ruột của mình và không dừng lại ở mặt hình thức mà còn thể hiện ở nghĩa vụ yêu
thương, nuôi dưỡng, giáo dục các con, chăm lo việc học tập và phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí
tuệ và đạo đức. Vì thế người con của con riêng này cũng được thừa kế thế vị.
+ Sự thể hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo luật định hay tự nguyện có trách nhiệm và công bằng giữa cha
kế, mẹ kế với con riêng của vợ, của chồng là căn cứ xác định thừa kế thế vị cho những người con của con riêng.
5. Truất quyền thừa kế và mối liên hệ với nguyên tắc của thừa kế
- Truất quyền thừa kế là một sự trừng phạt của người để lại thừa kế đối với người thừa kế, không cho họ
hưởng di sản của mình.
- Người để lại di sản có quyền chỉ định rõ ai được hưởng di sản cũng như ai không được hưởng di sản do
mình để lại mà không cần nêu rõ bất cứ lý do.
- Đây là quyền tự do định đoạt của chủ sở hữu đối với khối tài sản của mình.
- Tuy nhiên sống trong trường hợp sau thì những người này vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 suất của một
người nếu di sản được chia theo pháp luật:
+ Người chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.
+ Con đã thành niên mà không có khả năng lao động
=> Như vậy truất quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản. Tuy nhiên, quyền này bị
hạn chế bởi một số quy định của pháp luật để có thể dung hoà được lợi ích của mọi người.
- Các nguyên tắc liên hệ đối với truất quyền thừa kế: Nguyên tắc tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể.