



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN Đề tài:
CHIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐỔI SỐ NĂM 2030 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ NGÀNH
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VÀ DOANH NGHIỆP VNPT Giảng viên: Vũ Thị Thúy Hằng Lớp học phần: 2287PCOM0111 Nhóm: 12 Nhóm trưởng: Hoàng Thị Vân Hà Nội, tháng 11 năm 2022 1 LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, mỗi người trong chúng ta đều có đầy đủ điều kiện để tiếp cận với
nhiều thông tin hơn, rút ngắn về khoảng cách, thu hẹp về không gian, tiết kiệm về thời
gian và tất cả đều được thực hiện thông qua một cú nhấp chuột. Chuyển đổi số là xu thế tất
yếu, diễn ra rất nhanh đặc biệt trong bối cảnh của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện
nay. Hiểu đơn giản, đây là cách ứng dụng công nghệ số một cách logic, hiệu quả vào tất cả
khía cạnh của đời sống, từ quản lí, sản xuất, kinh doanh… Trên thế giới nhiều quốc gia đã
và đang triển khai các chiến lược quốc gia về chuyển đổi số như tại Anh, Úc, Đan Mạch,
Estonia…Nội dung chuyển đổi số rất rộng và đa dạng nhưng có chung một số nội dung
chính gồm chính phủ số (như dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu mở), kinh tế số (như tài chính
số, thương mại điện tử), xã hội số (như giáo dục, y tế, văn hóa) và chuyển đổi số trong các
ngành trọng điểm (như nông nghiệp, du lịch, điện lực, giao thông). Trong bối cảnh hội
nhập toàn cầu, Việt Nam nói chung và ngành bưu chính viễn thông nói riêng cũng không
thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới và phải thực hiện rất khẩn trương nếu không
muốn bỏ lỡ cơ hội mà cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 mang lại. Và để tìm hiểu rõ
hơn về chuyển đổi số, ngành bưu chính viễn thông nói chung cũng như doanh nghiệp
VNPT nói riêng, nhóm chúng em đã nghiên cưu đề tài: “CHIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐỔI
SỐ NĂM 2030 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VÀ DOANH NGHIỆP VNPT” 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................................2
MỤC LỤC.........................................................................................................................................3
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM............................................................4
PHẦN 1: CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NÓ.........................................................5 I.
BỐI CẢNH............................................................................................................................5 1.
Bối cảnh thế giới.............................................................................................................5 2.
Bối cảnh trong nước........................................................................................................8
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ.........................................................................10
PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA 2030...........................................11 I.
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030.............................................................................................11
II. CÁC GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SỐ...............................................................................13 III.
MỤC TIÊU.......................................................................................................................14 1.
Mục tiêu chung đến năm 2025......................................................................................14 2.
Mục tiêu chuyển đổi nền kinh tế...................................................................................15 3.
Mục tiêu chuyển đổi số xã hội....................................................................................15 4.
Mục tiêu chuyển đổi số cơ quan nhà nước................................................................17 5.
Mục tiêu phát triển lực lượng lao động số................................................................18 6.
Mục tiêu phát triển hạ tầng số...................................................................................19 IV.
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA CHÍNH PHỦ:.............................................................20
V. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP............................................................................................21 1.
Nhiệm vụ:.....................................................................................................................21 2.
Giải pháp và chìa khóa cho giai đoạn tới..................................................................21
PHẦN 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN NGÀNH BƯU CHÍNH VIẾN THÔNG
NÓI CHUNG VÀ DOANH NGHIỆP VNPT NÓI RIÊNG............................................................22 I.
CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN VỚI NGÀNH BƯU CHÍNH VIẾN THÔNG.............................22 1.
Nội dung chuyển đổi số của ngành bưu chính viễn thông............................................22
1.1. Tổng quan về ngành bưu chính viễn thông..................................................................22
1.2. Chuyển đổi số tại ngành bưu chính viễn thông.........................................................23 2.
Đánh giá, nhiệm vụ và giải pháp...................................................................................26
2.1. Đánh giá.....................................................................................................................26
2.2. Nhiệm vụ của bưu chính trong phát triển kinh tế - xã hội:........................................26
2.3. Giải pháp....................................................................................................................27
II. CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN DOANH NGHIỆP VNPT...........................................................28 1.
Nội dung chuyển đổi số của doanh nghiệp VNPT........................................................28 3
1.1. Tổng quan về VNPT..................................................................................................28
1.2. Chuyển đổi số tại VNPT...............................................................................................29 2.
Đánh giá, nhiệm vụ và giải pháp VNPT.......................................................................33
2.1. Đánh giá.....................................................................................................................33
2.2. Phương hướng...........................................................................................................36
2.3. Giải pháp....................................................................................................................37
PHẦN TỔNG KẾT.........................................................................................................................38
Đề cương.........................................................................................................................................40 4
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 5
PHẦN 1: CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NÓ I. BỐI CẢNH 1. Bối cảnh thế giới
Ngày nay, sự phát triển với tốc độ chóng mặt của các công nghệ số mới đã và đang ảnh
hưởng đến mọi mặt hoạt động của xã hội loài người. Sử dụng công nghệ mới, từng cá
nhân có thể xây dựng lịch làm việc, giải trí, sinh hoạt,... hàng ngày dễ dàng hơn, tiếp cận
các sản phẩm có mức giá hợp lý hơn, tham gia các mạng xã hội mới, có các cơ hội giáo
dục tốt hơn và giảm bớt các công việc lao động chân tay bởi vì xu thế các công việc đã và đang thay đổi.
- Đối với công ty - tổ chức, các công nghệ mới đồng nghĩa với tạo ra các máy móc hoạt
động hiệu quả hơn, các sản phẩm tốt hơn và thậm chí các mô hình kinh doanh mới tối ưu
hơn dẫn đến gia tăng về doanh thu, nâng cao khả năng cạnh tranh, cuối cùng tạo nền tảng
cải thiện năng suất lao động.
- Đối với một quốc gia nói chung, chuyển đổi số tạo ra nhiều việc làm mới hơn, sử dụng
hiệu quả hơn các nguồn lực, tài nguyên, gia tăng xuất khẩu và cải thiện trong các lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe, giao thông...
- Những tác động đến cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,... và cả xã hội nói chung tạo ra ảnh
hưởng và thúc đẩy lẫn nhau phát triển, ví dụ mọi người sẽ lựa chọn các công nghệ số
thường xuyên hơn, nâng cao kỹ năng số của cá nhân, các công ty sẽ tiếp cận lực lượng lao
động được trang bị kỹ năng tốt hơn. Nếu các công ty, tổ chức sớm tiến hành năng lực cạnh
tranh, tạo ra các công việc mới cũng như đảm bảo các công việc đang tồn tại sẽ mang đến
lợi ích cho các cá nhân và quốc gia nói chung.
- Chuyển đổi Số tạo tiềm năng khổng lồ cho các lĩnh vực: thương mại, công nghiệp và xã
hội nói chung, nó được hỗ trợ bởi một loạt các công nghệ mới liên kết lẫn nhau và được
xử lý bằng các máy tính (bao gồm khả năng xử lý lượng lớn dữ liệu (Big Data) và sử dụng
các cảm biến, robot, in 3D và trí tuệ nhân tạo xuyên suốt các ngành công nghiệp. Những
công nghệ này đã giúp một số công việc nhất định trở nên nhẹ nhàng hơn, thực hiện những
nhiệm vụ mà trước đây là không thể và thiết kế tạo ra các dịch vụ và sản phẩm tốt hơn.
= > Chuyển đổi số không phải là đổi mới một công nghệ duy nhất, trên thực tế, nó là một
loạt các công nghệ khác nhau có khả năng kết hợp với nhau và được trưởng thành đến một
mức độ mà chúng có thể được sử dụng để thương mại hóa, công nghiệp cho xã hội đó là: + Giao thông đi lại
Hiện nay, ngành vận tải đang trải qua những thay đổi cơ bản. Một số công nghệ hiện đại
mới xuất hiện, hỗ trợ lái xe đã là một lựa chọn và giao thông không người lái đang phát
triển nhanh chóng. Nó cũng trở nên phổ biến và lan rộng hơn đặc biệt ở thành thị khi mọi
người có nhu cầu thuê xe thay vì tự sở hữu một chiếc xe. Ngoài ra, in 3D, định vị địa lý tốt
hơn thông qua các cảm biến và dữ liệu vệ tinh; việc sử dụng máy bay không người lái
cũng thay đổi việc vận chuyển hàng hóa, ít xe tải hơn trên đường sẽ giảm tai nạn giao
thông và giúp môi trường sạch sẽ hơn. 6
+ Chăm sóc sức khỏe (Y tế)
Sự phát triển trong các lĩnh vực như di truyền, công nghệ gen, công nghệ nano tạo cơ hội
chăm sóc sức khỏe cá nhân tốt hơn, có thể được thực hiện tại nhà, đồng thời, các phần của
công việc phục hồi chức năng có thể được thực hiện với sự trợ giúp của máy móc, giải
phóng thời gian chăm sóc cá nhân. Trong tương lai, việc hành nghề y trở nên chính xác
hơn, vì các chương trình máy tính hỗ trợ quét, ghi nhật ký và chẩn đoán. Các thầy thuốc có
nhiều thời gian tập trung vào các nhiệm vụ quan trọng, gần gũi hơn với bệnh nhân, tạo ra
cơ hội kinh doanh cho các nhà sản xuất thiết bị. +Xây dựng
Nhiều dự án xây dựng đã sử dụng các công nghệ như cảm biến để giám sát, in 3D vật liệu,
vật liệu thông minh để đào và lát gạch, các ứng dụng mới giúp dễ dàng giữ tất cả các bản
vẽ, kho,... Một ứng dụng, giúp mọi người có thể truy cập tất cả thông tin và tham gia vào
quá trình xây dựng, Robot và số hóa có thể giảm một số công việc xuống cấp về thể chất
làm suy giảm thể chất và tạo ra các khả năng mới cho việc xây dựng hiệu quả trong điều
kiện an toàn và ít lỗi hơn. +Các dịch vụ tài chính
Sự phát triển các nền tảng tài chính mới và thực tiễn mới cho thanh toán và cho vay đã
được thúc đẩy bởi những đột phá về sức mạnh xử lý, điện toán đám mây và học máy, nơi
máy tính ngày càng thông minh mà không cần lập trình rõ ràng, dẫn đến sự cạnh tranh
ngày càng tăng để cung cấp dịch vụ tốt nhất cho thanh toán, tiếp thị, quản lý đầu tư, bảo
hiểm, tiền gửi và cho vay, gây áp lực ngày càng tăng đối với các công ty lớn và nhường
chỗ cho các nhà khai thác mới, sáng tạo.
+Những lợi ích cho nền kinh tế nói chung
Số hóa là động lực thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện năng suất làm cho quốc gia trở nên
hưng thịnh hơn. Đầu tư vào công nghệ thông tin và truyền thông như máy tính và phần
mềm là một phần quan trọng cho sự tăng trưởng trên. Công nghệ thông tin - Truyền thông
(CNTT-TT) là công cụ quan trọng trong tổ chức công việc, chúng có thể hỗ trợ trong các
quy trình thủ tục hàng ngày có tính chất lặp đi lặp lại và biến đổi các quy trình này trở nên
hiệu quả hơn và có thể dẫn đến sự đổi mới, tạo ra các sản phẩm mới. Ví dụ như các hệ
thống CNTT-TT trong đấu thầu và kế toán đã đơn giản hóa các dữ liệu nhập thủ công và
giảm được chi phí quản trị.
- Xuyên suốt các ngành công nghiệp và thương mại, các công ty được số hóa là những
công ty có năng suất cao hơn hẳn. Do đó, nếu các công ty thích ứng và áp dụng được các
công nghệ số, nền kinh tế sẽ trở nên giàu mạnh hơn.Và không chỉ những công ty sẽ dành
được các lợi ích. Các cá nhân và xã hội nói chung cũng sẽ giành được phần thưởng xứng
đáng. Càng nhanh chóng tận dụng cơ hội này, phần thưởng nhận được sẽ to lớn hơn.
Những quốc gia tận dụng được các cơ hội số đầu tiên sẽ giành được các phần thưởng xứng
đáng, cả khía cạnh tài chính lẫn trong thị trường lao động. Trong thời kỳ chuyển đổi số,
một câu nói phổ biến là “winers take all”, điều này đòi hỏi phải đi nhanh trong việc chuyển đổi số.
- Sự thay đổi đang diễn ra nhanh chóng 7
- Sự cần thiết phải thích ứng với sự thay đổi là điều không mới mẻ, những tiến bộ về mặt
công nghệ đã đang và sẽ ảnh hưởng đến xã hội loài người. Điểm mới về chuyển đổi số là
tốc độ của sự thay đổi, trên thực tế chuyển đổi số sẽ ảnh hưởng đến một phần lớn trong xã
hội chúng ta. Một số công nghệ số mới đã được đề cập rộng rãi trong nhiều năm trước,
hiện nay, đã bắt đầu tạo ra sự biến đổi một cách nhanh chóng và mạnh mẽ, chúng đã, đang
và sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực sau: - Cách chúng ta làm việc.
- Những kỹ năng chúng ta phải trang bị.
- Không gian làm việc (hiện nay, đã được chuyển hóa bằng: máy tính, điện thoại di động và công nghệ đám mây).
Công việc có thể được xử lý ở bên ngoài trụ sở làm việc, ở nhà và ngay cả khi đang di
chuyển. Công nghệ cũng ảnh hưởng đến cách các công ty quản lý và cách công ty đổi mới
sáng tạo. Các sản phẩm và mô hình kinh doanh mới được sáng tạo và lan tỏa diện rộng
một cách nhanh chóng, nhưng chúng lại có vòng đời sản phẩm ngắn hơn so với các sản
phẩm công nghiệp truyền thống. Ví dụ trong lĩnh vực ngân hàng hiện tại đang được
chuyển hóa sang một loại hình thanh toán mới, gọi là các giải pháp FinTech mà các dịch
vụ thanh toán được dựa trên nền tảng ứng dụng (app-based).
Trong lĩnh vực khách sạn, các công ty dựa trên công nghệ số mới và các nền tảng không
sở hữu bất cứ tài sản hữu hình nào như khách sạn nhưng lại giành được thị phần lớn từ các
nhà hoạt động kinh doanh truyền thống trong ngành, hàng năm, đang có nhiều công ty mới
đang sử dụng các công nghệ số để triển khai các hoạt động trong nền kinh tế chia sẻ. Sự
phát triển này đã tạo điều kiện cho các khách hàng ở khía cạnh: nhận được giá thấp hơn,
có nhiều phương án lựa chọn và chất lượng tốt hơn với mức phí phải trả. Do đó, người tiêu
dùng cảm nhận được trong một số sản phẩm và dịch vụ, người tiêu dùng nhận được nhiều
giá trí hơn với mức giá phù hợp hơn.
Chuyển đổi số cũng đã, đang và sẽ nâng cao sức cạnh tranh trong nhiều ngành công
nghiệp, tạo ra thách thức cho các công ty đã thành lập hoạt động mang tính truyền thống.
Ví dụ như, các nền tảng trực tuyến đã giành được một phần lớn thị phần từ thị trường
thương mại bán lẻ mà không cần phải xây dựng các tòa nhà, trung tâm thương mại, tạo
nên cạnh tranh gay gắt đối với các cửa hàng nhỏ lẻ. Nhiều trong số các mô hình kinh
doanh mới đang được gia tăng nhanh chóng, bởi vì các công nghệ được đưa ra bởi các
công ty mới ưu việt và hiệu quả hơn so với các giải pháp cũ. Các giải pháp mới được tạo
ra phù hợp hơn với nhu cầu khách hàng và mang lại sự thuận tiện hơn cho hoạt động hàng
ngày của bộ phận lớn người dân. Cho dù những giải pháp này thuận tiện cho khách hàng
trong ngắn hạn, nhưng dài hạn có thể đem lại một số vấn đề trong trường hợp một số ít
nhà vận hành chiếm được thị phần lớn và lấn át thị trường, dẫn đến hệ quả: giảm tính
cạnh tranh, mức giá cao hơn và tăng trưởng - đổi mới giảm. Tăng cường sử dụng dữ liệu
cũng đặt ra vấn đề cho các công ty phải xử lý một cách phù hợp đối với những dữ liệu như dữ liệu cá nhân.
Công nghệ đang biến đổi thị trường lao động
Tiến bộ công nghệ luôn luôn tạo ra sự thay đổi đối với thị trường lao động, đương nhiên số
hóa cũng tạo ra sự tác động tương tự và sẽ xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều 8
công việc sẽ được xử lý hướng đến giải phóng sức lao động của con người, công việc sẽ
không cần thiết phải được hoàn thành trong giờ hành chính mà có thể được hoàn thành
bằng máy tính bảng hay điện thoại thông minh vào thời điểm thuận lợi tùy theo mỗi cá
nhân. Ngoài ra, nhiều công việc và nhiệm vụ có thể được giải quyết bởi máy tính và robot,
dẫn đến yêu cầu nhiều người phải trở nên chuyên sâu và chuyên biệt hơn, đòi hỏi người
lao động phải trang bị các kỹ năng mới trong nhiều lĩnh vực.
- Cụ thể các công việc có tính chất lặp đi lặp lại sẽ dễ bị thay đổi. Điều này đồng nghĩa với
việc chúng ta sẽ thấy những thay đổi rõ ràng nhất trong các ngành công nghiệp nổi bật với
các công việc có tính chất lặp đi lặp lại hàng ngày, nơi có tiềm năng áp dụng công nghệ tự
động hóa. Nó có thể được ứng dụng đối với các ngành như khách sạn, giao thông (nơi gần
2/3 thời gian làm việc có thể được tự động bằng cách sử dụng các công nghệ. Ngược lại,
những công việc mới đã và đang được tạo ra về CNTT-TT, phân tích, chăm sóc sức
khỏe... Khi tính chất công việc thay đổi tất yếu phải thay đổi kỹ năng và đương nhiên để
tồn tại mỗi người bằng cách nào đó phải tự trang bị. Lực lượng lao động trong tương lai có
thể sử dụng 20 đến 30% thời gian làm việc cho các công việc liên quan đến các kỹ năng xã
hội, sáng tạo hoặc giải quyết vấn đề...
- Một ví dụ về áp dụng số hóa trong ngành Ngân hàng: Ngân hàng Thương mại Trung
Quốc (CCB) lớn thứ 2 tại Trung Quốc vừa mở một chi nhánh tại Thượng Hải (được vận
hành bởi các công nghệ: nhận diện khuôn mặt (FR), trí tuê £ nhân tạo (AI) và thực tế ảo
(VR). Tại chi nhánh này, đầu tiên, khách hàng sẽ được quét ID để được vào cửa. Sau đó,
họ lấy số thứ tự từ trợ lý robot. Trong những lần tới tiếp theo, hệ thống chỉ cần nhận diện
khuôn mặt khách hàng để lấy thông tin. Tại sảnh chờ, khách hàng sẽ gặp robot thứ hai
chuyên trả lời thêm các câu hỏi hay thắc mắc. Ngân hàng cho biết, việc đưa robot vào
quản lý có thể xử lý được 90% nhu cầu về tiền mặt và phi tiền mặt của một điểm giao dịch
ngân hàng truyền thống. Theo số liệu của Hiệp hội Ngân hàng Trung Quốc, vào cuối năm
2017, tại 228.700 chi nhánh ngân hàng tại Trung Quốc đã lắp đặt hơn 800.000 máy tự
phục vụ (trong đó, 113.900 máy được cho là thông minh cung cấp dịch vụ gửi hoặc rút tiền.
Những tiềm năng đối với các công nghệ số mới và các cơ hội kinh doanh sẽ có những đòi
hỏi mới về các kỹ năng cũng như sự linh hoạt đối với nhà quản lý và người lao động.
Nhiều công việc mới sẽ đòi hỏi các kỹ năng mới, khẳng định tầm quan trọng trong sở hữu
các kỹ năng và các công cụ cần thiết để nắm lấy cơ hội nhận được từ quá trình chuyển đổi số. 2. Bối cảnh trong nước
Ngày 03/06/2020 chính phủ đã xây dựng “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm
2025, định hướng đến năm 2030”. Từ đó đến nay, chuyển đổi số ở nhà nước tại Việt Nam
đã có 1 số kết quả nhất định. Theo báo chính phủ thì tính đến ngày 27/04/2022 thì:
Thực trạng về chính phủ số: Các cơ sở dữ liệu về quốc gia đã được tích hợp, mở rộng và kết nối với nhau gồm:
Dữ liệu bảo hiểm xã hội
Dữ liệu công dân: Gần 78 triệu thông tin 9
Dữ liệu tìm vaccine Covid 19: 133 triệu mũi
Dữ liệu về thẻ căn cước công dân:
Dữ liệu về cán bộ, giáo viên: 570.000 thông tin thí điểm
7 triệu định danh trẻ em đăng ký khai sinh .v.v.v
Thực trạng kinh tế số: Theo ước tính của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong Quý I/2022
đạt khoảng 53 tỷ USD. Số doanh nghiệp công nghệ số thành lập mới tăng 500 doanh nghiệp so với năm 2021.
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tiếp tục được triển khai tích cực, có hiệu quả:
Cổng dịch vụ công quốc gia đã tích hợp 3.552 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của
các Bộ, ngành, địa phương, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp
Tích hợp thêm 11/25 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 (Theo quyết định 06).
Hệ thống hóa đơn điện tử đã được triển khai toàn quốc, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Đào tạo nhân lực cho chuyển đổi số tiếp tục được quan tâm:
Quý I/2022 đã bồi dưỡng, tập huấn được gần 1.000 cán bộ, công chức
Mục tiêu đến tháng 10/2022 sẽ bồi dưỡng, tập huấn được cho 10.000 cán bộ, công chức về chuyển đổi số.
Xã hội số, với trọng tâm là công dân số, được chú trọng phát triển:
Một số ứng dụng Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu của người dùng Việt Nam, được
đông đảo người dân sử dụng.
Thủ tướng Chính phủ yêu cần đẩy nhanh tốc độ tăng công dân số để đáp ứng yêu cầu phát triển thực tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được còn những tồn tại, hạn chế
Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến chưa cao, hiệu quả sử dụng còn hạn chế. Tỷ
lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến mới gần 54% và hồ sơ xử lý trực tuyến còn thấp, khoảng 9,4%.
Các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành triển khai chưa đáp ứng được tiến độ đề ra
An toàn, an ninh mạng còn sơ hở. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu người
dân còn chưa được chú trọng đúng mức
Công tác đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin ở nhiều nơi vẫn chưa được chú trọng.
Nguồn lực triển khai Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số còn hạn chế.
+Thực trạng chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam
Năm 2020: Theo Vinasa thì tại Việt Nam, hơn 92% doanh nghiệp đã có sự quan tâm hay
thậm chí đã ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, chỉ
có chưa đến 10% trong số họ nhận định rằng việc chuyển đổi số đã thành công và có thể
mang lại giá trị trọng yếu cho doanh nghiệp.
Đáng nói hơn, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đang chiếm phần đa với 97% nhưng
thực trạng đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ chưa đủ điều kiện để chuyển đổi số. 10
92% doanh nghiệp trong số này chưa có hiểu biết về chuyển đổi số, và 72% chưa biết bắt đầu từ đâu (6).
Năm 2021: Đa phần doanh nghiệp đều ứng dụng các phần mềm, giải pháp hoạt động quản
lý đa kênh, bán hàng online, quản trị kênh phân phối. Cụ thể:
Khoảng 100.000 cửa hàng tại Việt Nam đang sử dụng phần mềm KiotViet cho hoạt động
bán hàng và quản lý các kênh bán hàng, con số cũng tương tự với Sapo cũng như các phần
mềm hỗ trợ khác như Harvan, Nhanh .v.v.v
Hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang trực tiếp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử như Lazada, Shopee .v.v.v
20% quảng cáo tại Việt Nam đang được chi cho các kênh tiếp thị số (Digital Marketing)
gồm Facebook, Google, Tiktok .v.v.v
60% doanh nghiệp đang sử dụng phần mềm kế toán, trong đó 200.000 doanh nghiệp đang sử dụng phần mềm Misa.
Trên 200.000 doanh nghiệp đang sử dụng các phần mềm hóa đơn điện tử
Hầu hết doanh nghiệp trang bị chữ ký số
Đây là các hoạt động thuộc giai đoạn 1: Số hóa số liệu và một phần nhỏ của giai đoạn 2:
Số hóa quy trình (Quy trình số dựa trên nền tảng dữ liệu số), tuy nhiên vẫn chưa đạt hiệu
quả cao. Nhiều doanh nghiệp rơi vào “bẫy chuyển đổi số” khi mới áp dụng một phần công
nghệ nhưng đã lầm tưởng bản thân đã hoàn thành lộ trình chuyển đổi… Rất ít doanh
nghiệp đi đến được tận cùng của chuyển đổi số: Giai đoạn 3 – Chuyển đổi mô hình kinh doanh. II.
SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ
Báo cáo đến từ những công ty chuyên nghiên cứu thị trường lớn như IDC, Gartner,… đều
cho thấy chuyển đổi số thực sự rất quan trọng và nhiều lợi ích của chuyển đổi số có ảnh
hưởng tới mọi mặt hoạt động doanh nghiệp.
Những lợi ích dễ dàng nhận biết nhất của chuyển đổi số trong doanh nghiệp đó là giảm chi
phí vận hành, tiếp cận khách hàng trong thời gian dài, lãnh đạo dễ dàng báo cáo kịp thời
và tối ưu hóa được năng suất công việc cho nhân viên… Những điều này làm tăng tính
hiệu quả cũng như sự cạnh tranh tổ chức, doanh nghiệp được nâng cao.
Đối với con người bình thường, chuyển đổi số làm thay đổi phong cách sống của chúng ta.
Đối với nhà nước, chuyển đổi số dùng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi trải nghiệm
người dùng với các dịch vụ do nhà nước cung cấp, làm thay đổi nghiệp vụ, mô hình cùng
phương thức hoạt động của cơ quan nhà nước.
Nhìn chung, dựa theo các chuyên gia phân tích và nghiên cứu thị trường thì 5 mục đích
cuối cùng mà các doanh nghiệp chuyển đổi số bao gồm: Tăng tốc độ thị trường, tăng vị trí
cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng doanh thu, tăng năng suất nhân viên,…
Chuyển đổi số trong doanh nghiệp thế nào hiệu quả? 11
Chuyển đổi số mang lại thay đổi lớn, làm gián đoạn toàn bộ nhiều ngành công nghiệp,
đồng thời, lại tạo ra sự sáng tạo phá hủy giúp một số doanh nghiệp tăng trưởng và phát
triển kỷ lục. Nhiều tập đoàn lớn, lâu đời chật vật trong khi các doanh nghiệp mới, nhỏ và
linh hoạt hơn nhờ áp dụng những mô hình kinh doanh mới. Nhưng cơ hội vẫn dành cho tất
cả. Chuyển đổi số doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua việc tư duy lại hướng kinh
doanh, đánh giá lại chuỗi giá trị, kết nối lại với khách hàng và cấu trúc lại doanh nghiệp.
Chuyển đổi số mang lại cơ hội kinh doanh mới. Mỗi người dân có thể thành một doanh
nghiệp, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trên các nền tảng số, các sàn thương mại điện tử. Từ
tháng 8/2020 đến hết 30/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thực hiện triển khai thí
điểm chuyển đổi số tại xã Yên Hòa, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Một trong những
trọng tâm quan trọng là phát triển kinh tế số nông thôn, hỗ trợ bà con nông dân đưa đặc
sản cá trạch sụn kho niêu của địa phương lên sàn thương mại điện tử. Hiệu quả kinh doanh
đã được cải thiện rõ rệt. Trước khi chuyển đổi số sản phẩm đơn điệu chưa có bao bì, hộp
đựng, sản phẩm chưa bắt mắt về hình thức; sản lượng bán ra từ tháng 01/2019 đến tháng
8/2020 là 934 sản phẩm. Từ khi thực hiện chuyển đổi số, trong thời gian 10 tháng (từ
tháng 9/2020 đến hết 30/6/2021), số lượng sản phẩm bán ra là 4.204, tăng 4,5 lần; ước tính
tăng thu nhập cho lao động của Hợp tác xã từ 1,5 triệu đồng/người/tháng lên 4,5 triệu
đồng/ người/tháng, gấp 03 lần so với trước đây. Sản phẩm được thiết kế bao bì, đóng gói
bắt mắt, không những đáp ứng nhu cầu sử dụng, mà còn trở thành món quà tặng, mang lại
trải nghiệm mới cho người dân cả nước. Tương tự, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tận
dụng các nền tảng số để thực hiện chuyển đổi số, thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng hiệu quả hơn.
Chuyển đổi số là chuyển đổi tư duy và nhận thức. Tương tự như trên, một xưởng gỗ có thể
tự đặt câu hỏi là mình vẫn đóng và bán đồ gỗ như bao nhiêu năm qua hay mình sẽ bán
thiết kế đồ gỗ nội thất theo nhu cầu của khách hàng, cho phép khách hàng được tham gia
có ý kiến đối với đồ gỗ của họ theo cách họ muốn, được nhìn trực quan phiên bản số 3D
trước khi quyết định lựa chọn? Doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ cần đổi mới nhận thức và
đưa ra bài toán. Công nghệ số sẽ giúp giải quyết.
Chuyển đổi số cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nhanh hơn, tiết kiệm hơn, hiệu quả
hơn thông qua việc sử dụng các nền tảng.
Với dân số hiện tại là 96 triệu dân, và nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ
nhất nhì tại khu vực, nắm giữ dân số trẻ, năng động và có khả năng tiếp cận công nghệ
cao, nhanh chóng. Đây là những cơ hội mạnh mẽ để những doanh nghiệp tại Việt Nam tạo
sự đột phá trên thị trường “chuyển đổi số”. 12
PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA 2030 I. TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Theo Chương trình, đến năm 2030, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung
cấp 100% trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động.
100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 70%
hồ sơ công việc tại cấp xã sẽ được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc
thuộc phạm vi bí mật nhà nước); hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế
trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà nước và hạ tầng kết nối mạng
Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm
30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, doanh nghiệp, tăng 30% dịch
vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp; 70% haọt động kiểm
tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ
thống thông tin của cơ quan quản lý.
Ngoài ra, Việt Nam đặt mục tiêu gia nhập nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện
tử (EGDI). Về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, mục tiêu đến năm 2030,
Việt Nam sẽ phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang; phổ cập dịch vụ
mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử là trên 80%. Việt
Nam sẽ thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).
Bên cạnh đó, Quyết định nêu rõ nhiệm vụ, giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số là
chuyển đổi nhận thức; kiến tạo thể chế; phát triển hạ tầng số; phát triển nền tảng số;
tạo lập niềm tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát
triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số.
Nhiệm vụ, giải pháp phát triển Chính phủ số là phát triển hạ tầng Chính phủ số phục
vụ cơ quan nhà nước trên cơ sở kết hợp thế mạnh của Mạng Truyền số liệu chuyên
dùng, mạng Internet, trung tâm dữ liệu của cơ quan nhà nước để phục vụ kết nối
liên thông, xuyên suốt 4 cấp hành chính, sử dụng cơ chế mã hóa và công nghệ bảo
đảm an toàn, an ninh mạng do Việt Nam làm chủ một cách an toàn, bảo mật.
Tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin của các Bộ, ngành, địa phương, chuyển đổi
hạ tầng công nghệ thông tin thành hạ tầng số ứng dụng công nghệ điện toán đám
may phục vụ kết nối, quản lý các nguồn lực, dữ liệu của cơ quan nhà nước một cách
an toàn, linh hoạt, ổn định và hiệu quả.
Đẩy mạnh triển khai các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án phát triển
Chính phủ điện tử; xây dựng Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn), tích hợp với thàh
phần dữ liệu mở của hệ tri thức Việt số hóa, cung cấp dữ liệu mở, cung cấp hiện
trạng và lộ trình xây dựng dữ liệu trong các cơ quan nhà nước, mức độ chia sẻ và sử
dụng dữ liệu và các thông tin cần thiết để kết nối; phát triển, hoàn thiện Hệ thống
thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với hệ thống thông tin báo cáo của các Bộ, cơ
quan, địa phương; áp dụng công nghệ mới nhất về truyền thông xã hội (Social), 13
cung cấp thông tin, dịch vụ hành chính công một các đơn giản, thuận tiện trên di
động (Mobile), phân tích dữ liệu (Big Data Analytics), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế
ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) để thực hiện chuyển đổi số toàn diện các mặt công
tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước và cung cấp trải nghiệm tốt nhất, thân
thiện nhất cho người dùng; phát triển, hoàn thiện hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc
gia kết nối với Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử của các Bộ,
ngành, địa phương để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; đưa toàn bộ
các dịch vụ công trực tuyến lên mức độ 3, 4;
Đồng thời, chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường
mạng, biểu mẫu, chế độ báo cáo; tăng cường gửi, nhận văn bản, báo cáo điện tử tích
hợp chữ ký số giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và
các doanh nghiệp; thực hiện số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc điện tử của các cơ
quan nhà nước theo quy định; thử nghiệm triển khai hiệu quả một số dịch vụ trên
nền tảng đô thị thông minh, thửu nghiệm Trung tâm giám sát, điều hành đô thị
thông minh; lựa chọn đô thị điển hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để
triển khai thử nghiệm, gắn liền phát triển dịch vụ đô thị thông minh với hệ thống
chính quyền điện tử, phát triển bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Xác định
mô hình triển khai thành công để phổ biến, nhân rộng; xây dựng chương trình nâng
cao nhận thức, đào tạo kỹ năng về chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số cho cán
bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước… II.
CÁC GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SỐ
Giai đoạn 1: Kinh doanh truyền thống
Các nhà lãnh đạo luôn xem nhẹ và từ chối việc thay đổi. Bởi vì họ mong muốn tập
trung những khách hàng truyền thống, quy trình, số liệu, mô hình kinh doanh và
công nghệ, họ tin rằng đây vẫn là giải pháp cho sự tương thích kỹ thuật số. Dữ liệu
bị bỏ qua, phân tích chỉ để cung cấp thông tin. Công nghệ mới và giải pháp công
nghệ hiếm khi xuất hiện trong quá trình xử lý và quản lý nguồn dữ liệu.
Giai đoạn 2: Hiện tại và hoạt động
Đây là một trong các giai đoạn chuyển đổi số quan trọng mà bạn cần lưu ý. Các
khảo sát trải nghiệm khách hàng và lắng nghe của phương tiện truyền thông đang
được tiến hành nhằm cải thiện quy trình và tăng sự cạnh tranh giữa các đối thủ trong
các kênh truyền thông mới.
Giai đoạn 3: Chính thức hóa
Một sự chuyển đổi đang hình thành có thể thấy được. Dữ liệu khách hàng đang bắt
đầu cung cấp thông tin cho các quyết định quan trọng và các khảo sát đang được
tiến hành để tìm ra những lỗ hổng trong quá trình phân tích dữ liệu.
Giai đoạn 4: Chiến lược 14
Chiếc lược thuộc một trong các giai đoạn chuyển đổi số mang tính quyết định hiện
nay. Giả sử khách hàng là trung tâm của quá trình hoạt động. Các nhóm nhận ra sức
mạnh của sự hợp tác trong nghiên cứu, làm việc và đóng góp chung vào lộ trình
chiến lược cho những nỗ lực tìm hiểu và chuyển đổi số mới. Giai đoạn 5: Hội tụ
Một nhóm phụ trách chuyển đổi kỹ thuật số được thành lập để thực hiện chiến lược
và hoạt động dựa trên các mục tiêu kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm. Cơ sở
hạ tầng mới được tạo ra hỗ trợ chuyển đổi số hóa tổng thể.
Giai đoạn 6: Đổi mới và thích ứng
Theo các chuyên gia, việc áp dụng các giai đoạn chuyển đổi số là con đường cần
thiết của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh. Một môi trường mới sẽ được tạo ra
phù hợp với xu hướng của công nghệ hiện đại ngày nay.
Do đó, dựa trên trải nghiệm của khách hàng và nghiên cứu cách mọi người thay đổi,
có thể đạt được những thay đổi lớn hơn, sáng tạo hơn và hiệu quả hơn trong hoạt
động kinh doanh và thương mại. III. MỤC TIÊU 1.
Mục tiêu chung đến năm 2025
Chương trình đề ra mục tiêu đến năm 2025 phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu
quả, hiệu lực hoạt động với 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp
trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động. 90% hồ sơ
công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công
việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi
bí mật nhà nước). 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo
cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin
báo cáo Chính phủ. 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ
điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh
nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng
bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một
lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân và phát triển kinh tế - xã hội; 50%
hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi
trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý. Phấn đấu Việt Nam sẽ gia
nhập nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).
Về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu đến
năm 2025 là kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh
vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; Việt Nam sẽ
thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI), thuộc nhóm 50 nước 15
dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI), thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII).
Về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, mục tiêu đến năm 2025 là hạ tầng
mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ
mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản
thanh toán điện tử trên 50%; phấn đấu Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI). 2.
Mục tiêu chuyển đổi nền kinh tế
Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành cơ cấu hợp lý, hiệu quả trong từng ngành, lĩnh
vực; giữa các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; phát triển được nhiều sản phẩm
quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao; tạo bứt phá về năng lực cạnh tranh
của một số ngành kinh tế chủ lực và chuyển biến thực chất, rõ nét về mô hình tăng
trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, nâng cao tính tự chủ, khả
năng thích ứng, sức chống chịu của nền kinh tế.
Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể là: Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân trên
6,5%/năm, trong đó tốc độ tăng năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế
tạo đạt 6,5 - 7%/năm, tốc độ tăng năng suất lao động của các vùng kinh tế trọng
điểm và 05 thành phố trực thuộc trung ương cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động trung bình cả nước.
Đến năm 2025, thu hẹp khoảng cách về năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước
trong nhóm ASEAN-4, đặc biệt đối với các chỉ số về thể chế, cơ sở hạ tầng và
nguồn nhân lực. Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 bình quân
3,7% GDP. Giảm tối thiểu 10% tổng số đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2021,
có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính.
Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt tối thiểu 85% GDP, dư nợ thị trường trái
phiếu đạt tối thiểu 47% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 20% GDP.
Tỷ trọng chi cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt không dưới 1%
GDP; số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình
15%/năm giai đoạn 2021 - 2025
Phấn đấu đạt khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp, trong đó có khoảng 60.000 đến 70.000
doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
vào GDP khoảng 55%; tối thiểu có 05 đến 10 sản phẩm quốc gia xây dựng được thương hiệu quốc tế.
Phấn đấu đến hết năm 2025 có khoảng 35.000 hợp tác xã, trong đó có trên 3.000
hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản, khoảng 50%
hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị. 16
Tập trung cơ cấu lại đầu tư công, ngân sách nhà nước, hệ thống các tổ chức tín dụng.
Để đạt được các mục tiêu đặt ra, Nghị quyết cũng nêu rõ những nhiệm vụ và giải
pháp chủ yếu. Theo đó, nhiệm vụ thứ nhất là tập trung hoàn thành các mục tiêu cơ
cấu lại đầu tư công, ngân sách nhà nước, hệ thống các tổ chức tín dụng và đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Mục tiêu chuyển đổi số xã hội
Triển khai y tế thông minh và giáo dục thông minh
Về lĩnh vực y tế, trước đây cơ sở y tế trên địa bàn sử dụng rất nhiều phần mềm khác
nhau, hệ thống báo cáo khác nhau. Từ khi thực hiện chuyển đổi số, việc tích hợp sử
dụng 1 phần mềm duy nhất - VNPT HMIS đã số hóa và liên thông các loại báo cáo,
sổ sách và liên thông tới cấp huyện, cấp tỉnh, góp phần giảm tải công việc hành
chính cho các trạm. Toàn bộ dữ liệu dân số, số hộ được cập nhật vào hệ thống là cơ
sở để triển khai và quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử của người dân, đáp ứng được chủ
trương lớn của ngành Y tế. 17 -
Triển khai trung tâm điều hành thông minh cấp xã (IOC)
Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp xã giúp tổng hợp, điều hành toàn bộ các
hoạt động kinh tế - xã hội của xã, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của
xã trên tất cả lĩnh vực. Với viê £
c triển khai thí điểm giai đoạn 1, các chỉ tiêu này đã góp phần giúp cho Lãnh
đạo cấp xã theo dõi một cách trực quan các chỉ tiêu này và hỗ trợ cho công tác chỉ
đạo điều hành. Trong thời gian tới sẽ tiếp tục nghiên cứu tích hợp thêm các nội
dung dịch vụ số khác để đáp ứng đúng tiêu chí trung tâm điều hành thông minh cấp xã. -
Triển khai hệ thống internet wifi miễn phí
Với mục tiêu nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng các dịch vụ viễn thông trên địa bàn,
tăng khả năng tiếp nhận thông tin, tiện ích, công nghệ và các dịch vụ VT-CNTT
hiện đại, đồng hành cùng người dân trong chuyển đổi số, VNPT Quảng Nam sẽ hỗ
trợ thiết lập, cung cấp và duy trì các điểm dịch vụ truy cập internet wifi miễn phí tại
các nhà văn hóa thôn và khối phố.
Ngoài ra, VNPT Quảng Nam cũng đã phối hợp cùng với Bảo hiểm xã hội, Bưu
điện, Đoàn thanh niên của xã để cài đặt và hướng dẫn người dân cài đặt các ứng
dụng thông minh theo định hướng của tỉnh và chính phủ như Ứng dụng Smart
Quảng Nam; Sổ sức khỏe điện tử SSKĐT; Hệ thống định danh điện tử PostID; Bảo
hiểm xã hội số VSSID;... 18
Chuyển đổi số cấp xã là một chủ trương đúng đắn của Chính phủ giúp thu hẹp
khoảng cách số giữa khu vực nông thôn và thành thị, thúc đẩy ứng dụng công nghệ
thông tin và chuyển đổi số trong chính quyền xã góp phần nâng cao năng lực, hiệu
lực, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo điều hành.
Các nội dung triển khai trong chương trình thí điểm năm 2021 chỉ là những nội
dung cơ bản. Trong giai đoạn tiếp theo 2022-2025 sẽ thực hiện triển khai các nội
dung như: Hệ thống camera giám sát an ninh; Hệ thống năng lượng thông minh;
Thiết lập nhà văn hóa thông minh tại các thôn và các khối phố; Hệ thống truyền
thanh thông minh; Triển khai nông nghiệp thông minh; Thực hiện tuyên truyền, vận
động người dân tham gia vào việc xây dựng xã thông minh; Hỗ trợ người dân, hộ
kinh doanh, chính quyền quảng bá hình ảnh, thông tin, sản phẩm, dịch vụ, nét văn
hóa đặc trưng của địa phương lên môi trường mạng và các sàn thương mại điện tử.
4. Mục tiêu chuyển đổi số cơ quan nhà nước
Chuyển đổi số cơ quan nhà nước tập trung vào phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ
quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; tạo lập dữ liệu về kinh tế - xã hội
phục vụ ra quyết định chính sách; tạo lập dữ liệu mở dễ dàng truy cập, sử dụng,
tăng cường công khai, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, thúc đẩy phát triển
các dịch vụ số trong nền kinh tế; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, cả
trên thiết bị di động để người dân, doanh nghiệp có trải nghiệm tốt nhất về dịch vụ,
nhanh chóng, chính xác, không giấy tờ, giảm chi phí. -
Về cơ cấu lại đầu tư công: Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì,
phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng thể chế quản lý đầu tư công; cải thiện các yếu tố để tăng cường năng lực
hấp thụ vốn của nền kinh tế, nhất là phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công. Hoàn
thiện hệ thống pháp luật quản lý đầu tư công phù hợp thông lệ quốc tế, đảm bảo đạt
chất lượng tương đương trung bình các nước ASEAN 4, trong đó ưu tiên đổi mới
cách thức lập và thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư công.
Nghiên cứu xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân
quyền, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phát huy tính chủ động, sáng
tạo, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu
gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả; giải quyết những vướng mắc trong quy trình quản lý đầu tư. -
Về cơ cấu lại ngân sách nhà nước: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành và địa phương xây dựng Đề án Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ
ngân sách nhà nước để đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ
động của ngân sách địa phương trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Rà
soát tình hình thực hiện và xây dựng đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhà
nước trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét. Nghiên cứu xây dựng các 19
chính sách tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng bền vững, tăng tỷ
trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, hỗ trợ thực hiện hiệu
quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện nghiêm nguyên tắc chỉ vay nợ
cho chi đầu tư phát triển. -
Đối với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng: Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu hoàn thiện thể
chế trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phù hợp với nguyên tắc thị trường,
bảo đảm an toàn, lành mạnh và ổn định của hệ thống; tăng cường tính minh bạch,
cạnh tranh, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển mới. Hoàn thiện
trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2022 và tổ chức thực hiện hiệu quả
Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025. 5.
Mục tiêu phát triển lực lượng lao động số
Theo Điều tra Lao động, Việc làm năm 2021 của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có
lực lượng lao động dồi dào với khoảng 50,5 triệu người và hầu hết lực lượng lao
động được toàn dụng (97,02% lực lượng lao động có việc làm), đồng nghĩa với tỷ lệ
thất nghiệp của Việt Nam luôn ở mức thấp (dưới 3%/năm) và cũng chỉ tăng nhẹ
ngay cả trong thời kỳ bị tác động của đại dịch Covid-19.
Trong giai đoạn 2021-2030, chuyển đổi số được xem là lựa chọn duy nhất, là nhiệm
vụ bao trùm cho bứt phá phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh đó,
chiến lược phát triển nhân lực quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng
trong 10 năm tới phải chú trọng giải quyết vấn đề nguồn nhân lực chủ động thích
ứng để tiếp cận với thành tựu của khoa học công nghệ mới và hóa giải thách thức của nó.
Trong đó, cần chú trọng phát triển và hoàn thiện khung năng lực số, cũng như có
chiến lược để tăng cường năng lực này cho người dân nói chung và lực lượng lao
động nói riêng. Đặc biệt chú trọng có cơ chế, chính sách đào tạo đặc thù cho nhóm
lao động phi chính thức để họ có thể được trang bị kiến thức và kỹ năng lao động
phù hợp, bao gồm cả kỹ năng số nhằm mục tiêu hỗ trợ họ chuyển đổi việc làm sang
khu vực chính thức của nền kinh tế và thích ứng với sự chuyển đổi và ứng dụng
công nghệ mới trong thời gian tới.
Quan trọng hơn nữa, cần đổi mới và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục đại học
và giáo dục nghề nghiê £
p để trang bị năng lực số bền vững cho người học, nhanh
chóng tạo ra đội ngũ nhân lực đủ trình độ và chất lượng cao có khả năng thích ứng
với chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề cấp thiết và sống còn
trong giai đoạn 2021-2030. Đồng thời, phải có chính sách phát triển thị trường lao
động chất lượng cao linh hoạt, đồng bộ, cũng như cơ chế, chính sách đột phá để
phát huy và sử dụng hiệu quả nhân lực này, nhất là nhân tài, thu hút được nhiều 20