TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN MÔN MARKETING CĂN BẢN
Năm học: 2022 – 2023
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Phương Linh
Lớp học phần: Marketing căn bản
Mã lớp học phần: 2236BMKT0111
Nhóm thực hiện: 02
Đề tài: Chọn một công ty một loại (hoặc một nhãn hiệu)
sản phẩm đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”
trong 3 năm gần đâu. Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân
tố môi trường marketing đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của sản phẩm đó.
HÀ NỘI - 2022
Mục lục
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm môi trường marketing vĩ mô
2. Đặc điểm chính của môi trường marketing vĩ mô
3. Các nhóm môi trường marketing vĩ mô
3.1. Môi trường nhân khẩu học
3.2. Môi trường kinh tế
3.3. Môi trường điều kiện tự nhiên
3.4. Môi trường khoa học kỹ thuật – công nghệ
3.5. Môi trường chính trị - pháp luật
3.6. Môi trường văn hóa – xã hội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ MÔI
TRƯỜNG MARKETING VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH SỮA TƯƠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
VINAMILK
1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
2. Ảnh hưởng của yếu tố môi trường marketing đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk
2.1. Ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học đến hoạt động
sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk
2.1.1. Khái quát về môi trường nhân khẩu học tại Việt Nam
2.1.2. Những ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh sữa
tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
2.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
2.2.1. Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2 năm gần
đây (12/2019 - 12/2021)
2.2.2. Tác động của nhân tố kinh tế đến hoạt động sản
xuất sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
2.3. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
2.4. Ảnh hưởng của môi trường khoa học thuật công nghệ
đến hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk.
2.4.1. Khái quát về môi trường khoa học kỹ thuật - công nghệ
trên thế giới
2.4.2. Khái quát về môi trường khoa học kỹ thuật - công nghệ
của Vinamilk
2.4.3. Những ảnh hưởng của khoa học kỹ thuậtcông nghệ đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi Công ty Cổ phần sữa Việt
Nam
2.5. Ảnh hưởng củai trường chính trị - pháp luật đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa Việt
Nam Vinamilk.
2.5.1. Khái quát về môi trường chính trị - pháp luật ở Việt Nam
2.5.2. Những ảnh hưởng của môi trường chính trị - pháp luật đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk
2.6. Ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật công nghệ đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa Việt
Nam Vinamilk
2.6.1. Văn hóa tiêu dùng sữa tươi của người Việt Nam.
2.6.2. Những ảnh hưởng của văn hóa hội đến hoạt động
Marketing của Vinamilk.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm
Môi trường marketing tổng hợp các yếu tố, các lực lượng
bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt
động marketing của doanh nghiệp.
Môi trường marketing những lực lượng trên bình diện
hội rộng lớn. tác động đến quyết định marketing của các
doanh nghiệp trong toàn ngành, thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân do đó ảnh hưởng đến cả các lực lượng thuộc môi
trường marketing (giáo trình Marketing căn bản - Đại học kinh
tế quốc dân).
2. Đặc điểm chính của môi trường marketing vĩ mô
Nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi mua của khách
hàng và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng tới tất cả các doanh nghiệp, thậm chí cả những
công ty lớn
Nhà quản trị marketing phải dự đoán làm cho hoạt động
marketing thích ứng với cả cơ hội lẫn sức ép của môi trường vĩ mô.
3. Các nhóm môi tường marketing vĩ mô
3.1. Môi trường nhân khẩu học
Nhân khẩu học nghiên cứu vấn đề dân số con người n
quy mô, mật độ dân số, phân bố dân cư, tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, cấu
tuổi tác, giới tính, sắc tộc, nghề nghiệp… Tất cả các yếu tố về nhân
khẩu học này ảnh hưởng trực tiếp tới quy đặc điểm thị
trường. Do đó, luôn đối tượng nghiên cứu của các doanh
nghiệp, các nhà hoạt động thị trường, các chuyên gia marketing. Các
đặc điểm và xu hướng chủ yếu của môi trường nhân khẩu được quan
tâm bởi người làm marketing bao gồm: quy tốc độ tăng dân
số; sự thay đổi cấu tuổi tác trong dân cư; quy gia đình; phân
bố dân quá trình đô thị hóa; trình độ học vấn liên quan tới sở
thích, hành vi, nhu cầu; sự di chuyển từ một thị trường đại chúng
sang vi thị trường.
a. Quy mô, mật độ và tốc độ tăng dân số
Đây là nhân tố quan trọng tác động tới “quy mô nhu cầu”. Quy
dân số lớn sẽ báo hiệu một thị trường lớn, từ đó thu hút các
doanh nghiệp. Dân số tăng nhanh, chậm hay giảm sút chỉ số báo
hiệu triển vọng tương ứng của quy thị trường, tuy nhiên đôi khi
thể hội cho doanh nghiệp này nhưng lại nguy của
doanh nghiệp khác.
dụ: Thị trường Trung Quốc, thị trường Việt Nam, thị trường
EU…mỗi thị trường lại có quy mô dân số khác nhau, tuy nhiên dân số
tăng nhu cầu tăng không nghĩa sức mua thị trường tăng bởi
điều này còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế loại hàng
hóa.
b. Cơ cấu dân số, tình trạng hôn nhân, gia đình
cấu dân số tác động rất lớn đến cấu nhu cầu của các
hàng hóa dịch vụ cụ thể đến đặc tính nhu cầu. Mỗi một tham số
của cấu dân số sẽ tác động tới các quyết định marketing. Trong
lĩnh vực hàng tiêu dùng, yếu tố được quan trọng nhất ảnh hưởng tới
cấu hàng hóa dịch vụ tiêu dùng “giới tính” “tuổi tác”. Sự
biến đổi về cấu giới tính tuổi sẽ tạo hội cho nhóm hàng này
và khó khăn cho nhóm hàng khác. Ngoài ra còn có cơ cấu theo thành
thị nông thôn, cấu nghề nghiệp, cấu theo trình độ học vấn.
Các khía cạnh liên quan tới gia đình như: tuổi kết hôn, tuổi sinh con
đầu lòng, quy gia đình, số lượng gia đình, số con trong gia đình…
đều có tác động lớn tới tính chất và trạng thái của cầu thị trường.
c. Tốc độ đô thị hóa
Tốc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô thị và miễn cưỡng
trở thành n đô thị của hội sẽ trở thành hội kinh doanh
phát đạt cho nhiều ngành. Quá trình di dân từ nông thôn lên thành
thị tạo ra các nhu cầu về nhà ở, xuất hiện nhu cầu của một hội
công nghiệp như: bảo hiểm y tế, nhân thọ, dịch vụ cho thuê, phương
tiện đi lại,…
d. Các chỉ số khác
Xu hướng chung là trình độ học vấn của khách hàng ngày càng
tăng, đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp những sản phẩm chất
lượng tốt, không gây ảnh hưởng tới cộng đồng sự phát triển bền
vững của con người. Biểu hiện chính người tiêu dùng đòi hỏi sản
phẩm sạch, không hóa chất, chất lượng sản phẩm phải được quản
bởi các chỉ tiêu hóa lý sinh nghiêm ngặt.
Do nhu cầu của quần chúng khác nhau, người tiêu dùng đòi hỏi
khắt khe hơn nên marketing phải nắm bắt được những nhóm người
khác nhau trong xã hội.
3.2. Môi trường kinh tế
Các yếu tố kinh tế chủ yếu gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GDP), kim ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng lạm phát, thất nghiệp,
tỷ giá, lãi suất ngân hàng,…
Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sức
mua của khách hàng cách thức tiêu dùng. Thị trường cần sức
mua cũng như người mua. Tổng sức mua tuỳ thuộc vào thu nhập
hiện tại, giá cả, tiền tiết kiệm và tín dụng.
Những người làm marketing cần phải lưu ý các xu hướng chính
trong thay đổi thu nhập các động thái thay đổi tiêu dùng của
khách hàng. Các thay đổi trong những biến số kinh tế chủ yếu như
thu nhập, tỉ trọng thu nhập dành cho tiêu dùng, cấu chi tiêu, tiết
kiệm, hay vay mượn có một tác động rất lớn lên thị trường.
Các doanh nghiệp có sản phẩm giá tị lớn hoặc mức sinh lời cao
cần nghiên cứu kỹ lưỡng những xu hướng biến động của môi tường
kinh tế để chủ động có những điều chỉnh thích ứng. Trong trường hợp
nền kinh tế gặp khủng hoẳng, các nhà quản trị marketing cần tiến
hành các bước cần thiết để thay thế sản phẩm, giảm chi phí vượt
qua những trở ngại.
3.3. Môi trường điều kiện tự nhiên
Môi trường điiều kiện tự nhiên bao gồm môi trường thể chất
(đất đai, không khí, biển, núi, sông ngòi, động thực vật…) các tài
nghiên thiên nhiên cần thiết để làm nguyên liệu đầu vào cho quá
trình sản xuất tại các doanh nghiệp.
Hiện nay, môi trường tự nhiên đang được các nước triên thế
giới nhất mực quan tâm bởi lẽ sự phát triển của khoa học công nghệ
của những nước tiên tiến đang gây tổn thương nghiêm trọng đến môi
trường thiên nhiên của nhân loại. Sự mất cân đối sinh thái sẽ tạo ra
những thảm họa không lường trước được, vậy, các nhà làm
marketing cần phải biết đến những đe dọa và cơ may có dính đế bốn
xu hướng trong môi trường thiên nhiên.
Sự khan hiếm những nguyên liệu nào đó đang xảy ra: chất liệu
của trái đất bao gồm những thứ tính chất vô tận như không khí,…
những thứ hạn gồm hai loại: tài nguyên hạn nhưng tái tạo
lại được như rừng thực phẩm; tài nguyên hạn nhưng không
thể tái tạo lại được như dầu hỏa, than đá, những loại khoáng sản
khác.
Phí tổn về năng lượng gia tăng: đầu hoả, một trong số những
nguồn i nguyên hạn nhưng không thể tái tạo lại được, đang tạo
thành vấn đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển trong tương lai.
Các nền kinh tế chính yếu trên thế giới đang phụ thuộc nặng nề vào
dầu hoả và cho đến khi những dạng năng lượng thay thế có tính hiệu
năng chi phí khác được tìm ra, dầu hoả vẫn sẽ tiếp tục thống trị bức
tranh kinh tế và chính trị của thế giới.
Mức độ ô nhiễm gia tăng: điều không thể tránh khỏi một số
hoạt động kỹ nghệ sẽ làm thiệt hại đến chất lượng của môi trường
thiên nhiên. Các chất thải hoá học, chất phóng xạ, độ thuỷ ngân
trong biển đang mức nguy hiểm, sự vung vãi trong môi trường
những vỏ đồ hộp, đồ nhựa, các chất liệu bao khác tính chất
phân huỷ theo đường sinh học.
Sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền trong việc quản trị tài
nguyên thiên nhiên: nhiều quan khác nhau đang đóng vai trò tích
cực trong việc bảo vệ môi trường. Sự bảo vệ đó có thể sẽ làm cản trở
sự phát triển trong việc gia tăng nhân dụng khi các sở kinh doanh
buộc phải mua thiết bị kiểm soát ô nhiễm thay mua thiết bị sản
xuất tân tiến hơn.
Những yếu tố nói trên thể trở thành may cũng thể
đe dọa đối với các nhà làm Marketing. Cấp quản trị Marketing cần
phải quan tâm đến môi trường thiên nhiên, vừa để đạt được những
tài nguyên cần thiết, vừa để tránh làm thiệt hại đến môi trường.
Thay chống đối tất cả các hình thức điều tiết, sở kinh doanh
nên giúp đỡ việc triển khai những giải pháp thể chấp nhận được
trong các vấn đề về nguyên liệu năng lượng đang đặt ra cho đất
nước.
3.4. Môi trường khoa học công nghệ
Khoa học kỹ thuật khoa học ứng dụng mang đến cho đời
sống con người những tác động đầy kịch tính. Tiến bộ khoa học kỹ
thuật đã tạo ra điều kỳ diệu cho cuộc sống con người. Nhưng khoa
học kỹ thuật cũng hiểm họa lớn nhất cho cuộc sống con người.
Bom khinh khí, các dạng khác nhau của thuốc kích thích đang đe dọa
cuộc sống bình an của nhân loại.
Sự tác động mang tính hai mặt của tiến bộ khoa học kỹ thuật
diễn ra không những do con người khác nhau khai nó vào những mục
đích khác nhau ngay trong ứng dụng sản phẩm hàng hóa đôi khi
cũng hàm chứa tác động cả hai mặt trong khi con người muốn khai
thác mặt tích cực của nó. Điều đó khiến các nhà quản trị marketing
khi đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm mới đều phải quan
tâm tới tính hai mặt của . rất nhiều vấn đề của tiến bộ khoa
học kỹ thuật các nhà quản trị marketing của doanh nghiệp phải
quan tâm như:
Tốc độ tiến bộ của khoa học kỹ thuật q nhanh, thời gian kể
từ khi phát hiện khoa học để đến khi sản phẩm ngày càng rút
ngắn.
Những phát minh khoa học đã làm cho sản phẩm mới hoàn
thiện hơn xuất hiện liên tục. Với phát minh số hóa ta thấy các sản
phẩm kỹ thuật số rất hoàn chỉnh đã xuất hiện ở nhiều lĩnh vực.
Thời đại kinh tế tri thức đang xuất hiện làm mở khả năng
tận trong phát minh khoa học công nghệ. Nhiều công nghệ mới
làm biến đổi tận gốc rễ những công nghệ truyền thống, tạo ra khả
năng thay thế triệt để các hàng hóa truyền thống.
Sự tham gia của Việt Nam vào thị trường thế giới trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra áp lực lớn buộc
nhiều loại hàng hóa của Việt Nam, muốn nâng cao được sức cạnh
tranh, phải lấy tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế để quyết định việc lựa
chọn công nghệ.
Những biến đổi đang diễn ra trong môi trường khoa học kỹ
thuật đòi hỏi các chuyên gia marketing - chuyên gia thị trường phải
tư vấn cho lãnh đạo các doanh nghiệp có sự hợp tác chặt chẽ với các
viện, các chuyên gia vấn về khoa học kỹ thuật đồng thời phải
hướng các kỹ các công ty hành động theo quan điểm thị trường
- khách hàng.
3.5. Môi trường chính trị - pháp luật
Môi trường chính trị - luật pháp bao gồm thể chế chính trị, sự
ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, chính sách,
các đạo luật, bộ luật c quy định thể cản trở hoặc tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động Marketing. Các yếu tố thuộc môi
trường này chi phối mạnh mẽ sự hình thành hội thương mại
khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Phân tích
môi trường chính trị - pháp luật giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn
với những thay đổi có lợi hoặc bất lợi của điều
kiện chính trị cũng như mức độ hoàn thiện thực thi pháp luật
trong nền kinh tế.
a. Chính trị
Sự ổn định hay biến động của chính trị giúp nhà quản trị lường
trước được những thách thức hội nhằm đưa ra những chiến
lược Marketing phù hợp. Muốn đưa ra được những chiến lược
Marketing hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải nhạy cảm với tình hình
chính trị quốc gia hoặc khu vực địa đó; đưa ra những dự báo về
diễn biến tình hình chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực.
b. Luật pháp
Việc ban hành hệ thống luật pháp chất lượng điều kiện
đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh
nghiệp buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, trách
nhiệm nếu không sẽ gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp phải hiểu rõ tinh
thần của luật pháp chấp hành tốt những quy định của pháp luật,
nghiên cứu để tận dụng được các hội từ các điều khoản của pháp
lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể
đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu
hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh.
c. Chính phủ
Chính phủ vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh
tế. Để tận dụngđược hội, giảm thiểu nguy các doanh nghiệp
phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên
những chương trình chi tiêu của chính phủ và cũng phải thiết lập một
quan hệ tốt đẹp, thậm chí thể thực hiện sự vận động hành lang
khi cần thiết nhằm tạo ra 1 môi trường thuận lợi cho hoạt động của
doanh nghiệp.
Chính phủ luôn trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng thông
qua luật pháp. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp phải điều chỉnh
các hoạt động Marketing sao cho đáp ứng được quyền lợi của người
tiêu dùng.
3.6. Môi trường văn hóa - xã hội
Văn hoá được hiểu một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm
tin, truyền thống các chuẩn mực hành vi của một nhóm người cụ
thể. Văn hoá theo nghĩa này một hệ thống những giá trị được cả
tập thể giữ gìn. Văn hoá được hình thành trong những điều kiện nhất
định về vật chất, môi trường tự nhiên, các điều kiện sống, kinh
nghiệm, lịch sử của cộng đồng sự tác động qua lại với các nền
văn hoá khác.
Con người sống trong bất kỳ hội nào cũng mang một bản
sắc văn hoá tươngng với hội đó. Bản sắc văn hoá khác nhau sẽ
hình thành nên các quan điểm khác nhau về các giá trị chuẩn
mực. Trong môi trường marketing mô, yếu tố văn hoá hội bao
hàm những định chế lực lượng đang tác động đến giá trị căn bản,
nhận thức, thị hiếu cũng phương cách thay thế xử sự xã hội:
Các giá trị căn bản, nhận thức, thị hiếu, trình độ văn hóa, lối
sống và các chuẩn mực ứng xử,…
Các nhóm xá hôi, xu thế, lối sống cộng đồng.
Các quan niệm.
- Các giá trị căn bản, nhận thức, thị hiếu, trình độ văn hoá,
lối sống và các chuẩn
- Các nhóm xã hội, xu thế, lối sống cộng đồng.
- Các quan niệm.
- Tạo nên cơ hội hấp dẫn cho cả một ngành kinh doanh.
- Đòi hỏi những điều mang tính chất cấm kỵ nếu nhà
kinh doanh vi phạm
- Tạo ra xu hướng, trào lưu tiêu dùng một sản phẩm nào đó.
-
Căn cứ vào mức độ ổn định hoặc thay đổi của các chuẩn mực
giá trị liên quan đến văn hoá, người ta chia văn hoá theo 3 mức
độ:
Nền văn hóa: đây những chuẩn mực giá trị phản ánh bản sắc
văn hóa của một đất nước, của một vùng, miền hoặc của một dân
tộc. Những chuẩn mực hội này được lưu giữa một các rất tring
thành theo thời gian hoàn cảnh. Nhứng giá trị văn hóa cơ bản của
hội được thể hiện qua thái độ của con người với bản thân mình,
đối với người khác, đói với các thể chế tồn tại trong hội, đối với
toàn cã hội, tự nhiên và vũ trụ.
Nhánh văn hóa: đây những chuẩn mực giá trị được một
nhóm, một bộ phận người, do điều kiện hoàn cảnh sống giống
nhau, họ có quan điểm giống nhau trong khi vẫn bào tồn bản sắc căn
hóa cốt lõi, truyền thống. So với những chuẩn mực giá trị gắn với nền
văn hóa, chuẩn mực giá trị do nhánh văn hóa tạo ra thể biến đổi
theo thời gian và hoan cảnh.
Sự biến đổi văn hóa: các giá trị cốt lõi thường tính bền vững
nhưng vẫn những biến đổi văn hóa xảy ra. Một số chuẩn mực giá
trị văn hóa thể thay đổi nhanh theo từng tình huống. vậy, các
nhà Marketing phải tiên đoán được những biến đổi này nhằm nhận
dạng các cơ hội và những thách thức mới.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ MÔI
TRƯỜNG MARKETING VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH SỮA TƯƠI CỦA VINAMILK
1. Giới thiệu về Vinamilk
Tên công ty: Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk được ra đời từ ngày 20/08/1976. Đây công ty được
thành lập dựa trên sở tiếp quản 3 nhà máy sữa, do chế độ để
lại. Từ đó tới nay, khi lần lượt được nhà nước phong tặng các Huân
chương Lao Động, Danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi
mới… Vinamilk đã cho xây dựng các trang trại sữa khắp mọi
miền đất nước. Không chỉ phát triển ở thị trường trong nước, Vinamilk
còn mở rộng thương hiệu đến New Zealand hơn 20 nước khác,
trong đó Mỹ. Ngoài ra, Vinamilk còn thương hiệu tiên phong mở
lối cho thị trường thực phẩm Organic cao cấp tại Việt Nam, với c
sản phẩm từ sữa tươi chuẩn USDA Hoa Kỳ.
Các sản phẩm của doanh nghiệp: Vinamilk đã cung cấp hơn 250
sản phẩm khác nhau với các ngành hàng cụ thể như: sữa tưỡi, sữa
chua, sữa bột trẻ em người lớn, sữa đặc, khem phô mai, ngoài
ra còn sữa đậu nành, nước giải khát.
2. Ảnh hưởng các yếu tố môi trường marketing đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần
sữa Việt Nam Vinamilk.
2.1. Ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk
- Nền văn hoá: đây là những chuẩn mực giá trị phản ánh bản
sắc văn hoá của mộ
2.1.1. Khái quát về môi trường nhân khẩu học tại Việt
Nam
Theo cập nhật mới nhất vào ngày 26/06/2022 từ Liên Hợp Quốc,
dân số của Việt Nam 98.943.593 người. Dự kiến dân số nước ta sẽ
tăng 784.706 người đạt 99.329.145 người vào đầu năm 2023. Gia
tăng dân số tự nhiên dự báo số dương bởi số lượng sinh sẽ nhiều
hơn số người chết đến 879.634 người.
Dự báo dân số Việt Nam đến năm 2050:
Theo ước
tính, tỷ lệ thay
đổi dân số
hàng ngày của
Việt Nam năm
2022: 4.175
trẻ em được
sinh ra trung
bình mỗi
ngày, 1.765
người chết trung bình ngày, 260 người di trung bình ngày. Do đó,
dân số Việt Nam tăng trưởng 2.150 người mỗi ngày trong năm
2022.
Mật độ dân số Việt Nam hiện nay 319 người/km tính đến2
26/06/2022 với số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc về dân số tổng
diện tích đất nước ta.
Tnh độ học vấn của người dân ngày càng được nâng cao. Song
mức sống của người dân cũng được cải thiện. Tỷ trọng lao động qua
trình đ đào tạo năm 2021 66%. Tỷ lệ dân số 15-60 tuổi biết chữ
của cả nước khoảng 98%. Cả nước hiện vẫn còn gần 1,5 triệu người
đang bị mù chữ.
2.1.2. Những ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk
Môi trường nhân khẩu học ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của Vinamilk, sau đâu một số hội môi
trường nhân khẩu học đem lại cho Vinamilk:
Định vị thương hiệu: Khi nhắc tới Vinamilk ta thể thấy doanh
nghiệp này đang nhắm vào nhiều nhóm đối tượng khách hàng như
trẻ em, các phụ nữ mang thai, nhóm đối tượng người lớn nhóm
người cao tuổi. Mỗi nhóm đối tượng này sẽ những sản phẩm riêng
biệt được sản xuất phù hợp với đặc điểm nhu cầu của mỗi nhóm
đối tượng đó. Tuy nhiên, nhóm khách hàng mục tiêu của Vinamilk
chủ yếu trẻ nhỏ. Doanh nghiệp đã thu hút sự chú ý của người tiêu
dùng bằng yếu tố như: âm nhạc trong nhận diện thương hiệu
Vinamilk. Chúng ta thường thấy những quảng cáo trên các phương
tiện truyền thông đại chúng của Vinamilk xuất hiện kèm với những
2025 2030 2035 2040 2045 2050
96000000
98000000
100000000
102000000
104000000
106000000
108000000
110000000
112000000
101106835
104163519
106296108
107795031
108901037
109605011
hình ảnh thân quen đó là những chú bò ngộ nghĩnh, sinh động. Thêm
vào đó những âm thanh vui tươi, đáng yêu, không chỉ được các
bạn nhỏ rất yêu thích mà ngay cả người lớn cũng rất chú ý.
Với đặc điểm dân số Việt Nam hiện nay, đây được coi sự thành
công trong việc định vị thương hiệu của mình trong môi trường sữa
đầy cạnh tranh như hiện nay.
Thực đơn giá bán: Xu hướng tăng lên về thu nhập trung bình
trong dân chúng ngoài việc sẽ tạo ra một sức mua cao hơn trên thị
trường còn dẫn đến những nhu cầu, mong muốn khác biệt hơn.
Vinamilk một danh mục sản phẩm đa dạng, hướng tới nhiều đối
tượng khách hàng, chất lượng sản phẩm thì không thua kém hàng
ngoại nhập trong khi giá cả lại rất cạnh tranh. Đặc biệt dòng sản
phẩm sữa đặc “Ông Thọ” là sản phẩm giá rẻ, phù hợp với nhu cầu thị
hiếu của người dân hiện nay. Hơn hết, Vinamilk doanh nghiệp sữa
lớn nhất Việt Nam với thị phần khoảng 55%, trong đó chiếm 45% thị
phần trong thị trường sữa nước, 80% thị phần về sữa đặc, 80% thị
phần sữa chua, hơn 30% thị phần ngành hàng sữa bột. thể thấy
Vinamilk có khả năng chi phối thị trường bằng khả năng định giá bán
của họ.
Chương trình khuyến mãi: Khách hàng chính yếu tố sự tác
động trực tiếp đến thành công của một thương hiệu. Mỗi sản phẩm
đều được xây dựng dựa trên nhu cầu của họ. Để quảng một sản
phẩm mới đồng thời nhằm lắng nghe phản hồi của khách hàng,
Vinamilk thường chương trình tặng thử 1 sản phẩm mới khi mua
các sản phẩm của Vinamilk. Tích điểm đổi quà hay quà tặng đi kèm
sản phẩm là những chương trình khuyến mãi của Vinamilk. Đối tượng
Vinamilk hướng tới trẻ nhỏ, nên các phần quà tặng đều những
món đồ chơi như: đèn lồng vào dịp Tết Trung thu, thú nhồi bông, hộp
đựng bút, ô tô, …
Phân phối sản phẩm: Vinamilk chia khách hàng của mình làm 3
nhóm chính:
Nhóm khách hàng nhân: người tiêu dùng ph thông,
nhu cầu mua các sản phẩm của Vinamilk để s dụng. Đây nhóm
khách hàng yêu cầu về sản phẩm tương đối đa dạng (chất lượng
sản phẩm tốt, giá trị dinh dưỡng cao, giá cả phù hợp,…) chiếm tỉ
trong cũng khá cao.
Nhóm khách hàng tổ chức: những nhà phân phối, đại lý, bán
buôn, bán lẻ, cửa hàng, siêu thị,.. mong muốn và sẵn sàng phân phối
sản phẩm của công ty. Đây nhóm yêu cầu về chiết khấu,
thưởng doanh số, đơn hàng đúng tiến độ,.. liên quan đến phân phối
sản phẩm.
Nhóm khách hàng đối tác: những doanh nghiệp sử dụng sữa
của Vinamilk để tạo ra sản phẩm của mình như các nhà hàng, quán
nước,.. Họ yêu cầu cao về việc giao hàng đúng thời điểm, chất lượng
và yêu cầu nguồn hàng trực tiếp từ nhà máy để đảm bảo độ mới.
Từ đó, Vinamilk những chính sách trong quản lý, kiểm soát hệ
thống phân phối của mình: đối với các hệ thống siêu thị, Vinamilk
thường yêu cầu trưng bày sản phẩm những gian hàng có vị trí đẹp,
thu hút người dùng. Họ thường xuyên hợp tác với đối tác để đưa ra
các chiến dịch chiêu thị kiểm soát việc thực hiện siêu thị.
Thường xuyên mở các cuộc khảo sát lấy ý kiến khách hàng tại đây.
Xây dựng hình ảnh: Vinamilk tích cực tham gia hoạt động trong
các lĩnh vực hội, nhân văn cộng đồng như: ủng hộ đồng bào
lụt, chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em trên toàn quốc, hỗ trợ
tiền phẫu thuật hở môi, hàm ếch cho trẻ em dị tật, …Thông qua các
chương trình trò chơi truyền hình một số hoạt động nhân đạo,
Vinamilk đã trở nên gần gũi, thân thiết hơn với người dân Việt Nam.
Bên cạnh đó, môi trường nhân khẩu học cũng đưa đến cho
Vinamilk một số thách thức như:
Tâm khách hàng: Tâm “sính ngoại” của người tiêu dùng Việt
Nam, thích dùng hàng nước ngoài xách tay hơn hàng nội địa.
Giá của đối thủ cạnh tranh: Vinamilk đã những chính sách ổn
định giá cả trong suốt thời gian qua, chấp nhận giảm lãi hoặc bù đắp
từ việc kinh doanh nhiều dòng sữa khác nhau để chia sẻ gánh nặng
chi tiêu với người tiêu dùng trong giai đoạn khó khăn của Covid – 19.
2.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk.
2.2.1. Tình hình kinh tế của Việt Nam giai đoạn
12/2019-12/2021
a. Tình hình và diễn biến kinh tế tổng quát
Sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 gây sốc cho nền kinh tế
toàn cầu nói chung Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên đến cuối năm
2021, khi việc triển khai tiêm phòng vắc-xin nhanh chóng đã giúp
giảm nhanh số ca lây nhiễm tại nhiều quốc gia trên thế giới, nền kinh
tế đã có những tín hiệu phục hồi tích cực.
Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh
tế toàn cầu thương mại đầu tư. Ngoài ra các yếu tố khác như
lạm phát, thị trường tài chính thất nghiệp cũng chịu ảnh hưởng
đáng kể.
Thương mại toàn cầu: trong thời gian dịch bùng phát mạnh mẽ,
thương mại toàn cầu xu hướng giảm mạnh nhưng cũng xu
hướng phục hồi mạnh mẽ trong năm 2021. Theo phóng viên TTXVN
tại Geneva (Thụy Sĩ), trong năm 2021, thương mại toàn cầu đạt mức
cao kỷ lục - 28.500 tỷ USD, tăng khoảng 25% so với năm 2020
tăng khoảng 13% so với mức trước đại dịch khi đại dịch COVID-19
bùng phát.
Đầu quốc tế: Các biện pháp phong tỏa để đối phó với đại dịch
Covid-19 đã làm chậm lại các dự án đầu hiện có. Cuộc khủng
hoảng đã tác động tiêu cực đến hầu hết các loại hình đầu tư, nhất
đầu trực tiếp vào các dự án công nghiệp sở hạ tầng. Đầu
trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm mạnhcác nền kinh tế phát triển
chuyển đổi, giảm vừa phải các nền kinh tế đang phát triển do sự
gia tăng luồng đầu vào châu Á. Tuy nhiên, Theo báo cáo của
UNCTAD, FDI toàn cầu đã tăng 77%, từ mức 929 tỷ USD năm 2020
lên ước tính 1.650 tỷ USD năm 2021; trong đó các nền kinh tế phát
triển ghi nhận mức tăng vốn FDI mạnh nhất từ trước đến nay.
Lạm phái: Theo Ngân hàng Thế giới (WB), giá nhiều mặt hàng đã
tăng mạnh trong năm 2021 so với năm 2020. Giá dầu Brent, giá kim
loại bản, giá một số mặt hàng nông sản đều tăng. IMF OECD
cùng nhận định lạm phát giá tiêu dùng trên toàn thế giới tăng trong
những tháng gần đây do giá hàng hóa cao hơn, trở ngại từ phía
cung, nhu cầu tiêu dùng mạnh khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, rủi
ro lạm phát trong ngắn hạn tăng lên. Tác động của chi phí vận
chuyển giá hàng hóa tăng sẽ khiến gia tăng lạm phát dự báo
có thể kéo dài đến hết năm 2022.
Thị trường tài chính: theo WB, điều kiện tài chính toàn cầu khá
khác biệt giữa các nền kinh tế phát triển các nền kinh tế mới nổi
đang phát triển. các nền kinh tế phát triển, các điều kiện tài
chính tương đối hỗ trợ. Tại các nền kinh tế mới nổi đang phát
triển, các điều kiện tài chính đã thắt chặt hơn kể từ giữa tháng
6/2021. Việc chưa thể kiểm soát dịch bệnh rủi ro của từng quốc
gia tiếp tục tạo ra chênh lệch lãi suất và chi phí đi vay, đồng thời làm
suy yếu đồng nội tệ tại một số nền kinh tế mới nổi đang phát
triển.
Nhìn chung, kinh tế thế giới dần hồi phục sau thời điểm chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi dịch bệnh trong năm 2020. Theo Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức 5,9% năm 2021
dự báo mức 4,9% trong năm 2022. Nền kinh tế toàn cầu được
kỳ vọng sẽ trở lại trạng thái ổn định sau khi vượt qua những khó
khăn do đại dịch COVID-19 gây ra.
Thị trường lao động thì đã được cải thiện trên diện rộng nhưng
tình trạng thiếu hụt lao động trong một số lĩnh vực đã xuất hiện. Đại
dịch COVID-19 đã dẫn đến những thay đổi nhất định về nhu cầu lao
động, kỹ năng của lực lượng lao động, nhu cầu việc làm,... trước diễn
biến phức tạp của dịch bệnh thậm chí nhiều người đã rút lui khỏi thị
trường lao động, lựa chọn nghỉ hưu sớm như một giải pháp bảo vệ
chính mình. Sự thiếu hụt lao động ngày càng nét tại những quốc
gia phụ thuộc vào lực lượng lao động xuyên biên gii.
Không chỉ thế giới, Việt Nam cũng một trong những quốc gia
chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19. Đại dịch COVID-19
làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào lao động; từ đó người lao
động mất việc làm, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Trong năm 2021, tình hình
dịch kéo dài phức tạp hơn trong năm 2020 khiến hàng triệu người
mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực
dịch vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp xây dựng 16,3 triệu
người (chiếm 33,2%), giảm 254,2 nghìn người so với năm trước; khu
vực dịch vụ 18,6 triệu người (chiếm 37,9%), giảm 808.000 người so
với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản 14,2 triệu
người (chiếm 28,9%), tăng 37.300 người so với năm trước.Việc tỷ lệ
thất nghiệp gia tăng dẫn đến làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ
gia đình người lao động. Cụ thể thu nhập bình quân của hộ gia
đình đã giảm 12% dẫn đến mức tiêu thụ trong nền kinh tế cũng giảm
theo. Từ đó, làm giảm cầu nhiều mặt hàng, gây tình trạng thừa
hàng hóa tại các doanh nghiệp khiến họ buộc phải thu hẹp quy
sản xuất.
Chi phí sử dụng lao động cao hơn: trong thời kỳ này, các doanh
nghiệp phải đầu thêm tư trangcác biện pháp an toàn trong lao
động để tránh lây nhiễm vi-rút. Điều đó nghĩa việc đầu cho
mở rộng sản xuất sẽ giảm đilàm giảm sản lượng, doanh thu cũng
như lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc)
cũng chịu ảnh hưởng bởi đại dịch, tăng cường kinh tế hoạt động
thương mại, đầu các quốc gia này đều suy giảm, thậm chí suy
giảm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, việc đại dịch bùng phát mạnh mẽ
cũng khiến các quốc gia này phải hạn chế các hoạt động xuất nhập
khẩu, đóng cửac cảng hải quan để thực hiện giãn cách phòng
ngừa sự lây lan của Covid-19. Điều này ảnh hưởng trược tiếp đến
các hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta, gây nên tình trạng
thiếu nguồn cung một số mặc hàng thiết yếu, đặc biệt trang thiết
bị y tế cũng như thừa sản phẩm nông lâm ngư nghiệp vốn
nguồn xuát khẩu đem lại nhiều lợi nhận cho nền kinh tế. Ngoài ra,
việc các quốc gia này phải đáp ứng phần lớn tài chính cho ngành y tế
đồng nghĩa với việc vốn đầu cho các nước khác bị suy giảm, làm
FDI của Việt Nam suy giảm nhanh chóng trong thời điểm dịch bùng
phát mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê, mặc dù dịch
Covid -19 vẫn diễn biến phức tạp trong năm 2021 nhưng vốn FDI vào
Việt Nam đã đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020. Điều này
cho thấy các nhà đầu nước ngoài đang đặt niềm tin rất lớn vào
môi trường đầu Việt Nam. Vốn đầu đăng mới điều chỉnh
đều tăng so với năm 2020, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh tới
40,5%.
Tuy nhiên, những đứt gãy trong chuỗi cung ứng trên thị trường do
CVID-19 gây ra đã tạo nên nhiều thay đổi đối với ngành thương mại.
Theo đó, các giải pháp kỹ thuật được đẩy mạnh để tiếp tục một số
hoạt động kinh tế hội từ xa. Đây hội phát triển cho các
hoạt động kinh tế - hội, đặc biệt lĩnh vực Thương mại điện tử đã
vươn lên phát triển mạnh mẽ: Thị trường thương mại điện tử Việt
Nam (TMĐT) ngày càng được mở rộng hiện đã trở thành phương
thức kinh doanh phổ biến được doanh nghiệp, người dân biết đến. Sự
đa dạng về hình hoạt động, về đối tượng tham gia, về quy trình
hoạt động chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ với sự hỗ trợ của hạ
tầng Internet ứng dụng công nghệ hiện đại đã đưa TMĐT trở
thành trụ cột quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế số của
quốc gia. Mặc gặp những ảnh hưởng tiêu cực trong năm 2020 do
đại dịch COVID-19, thương mại điện tử Việt Nam vẫn những bước
tăng tốc mạnh mẽ, trở thành một trong những thị trường TMĐT tăng
trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo Sách trắng
Thương mại điện tử Việt Nam, năm 2020, tốc độ tăng trưởng của
TMĐT đạt mức 18%, quy đạt 11,8 tỷ USD nước duy nhất
Đông Nam Á tăng trưởng TMĐT 2 con số. Theo tính toán của các
tập đoàn lớn thế giới như Google, Temasek Bain&Company, nhiều
khả năng quy của nền kinh tế số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 52 tỷ
USD và giữ vị trí thứ 3 trong khu vực ASEAN vào năm 2025.
a. Các chỉ số kinh tế vĩ mô:
GDP Tổng sản phẩm quốc nội: tổng sản phẩm trong nước (GDP)
năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02%. Thế nhưng,
dịch bệnh bùng phát cuối năm 2019 đã làm ảnh hưởng nặng nề tới
nền kinh tế năm 2020 và 2021. Theo Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng
trưởng GDP giảm mạnh tuy nhiên vẫn giữ được mức dương. Năm
2020, tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 2,91% thuộc nhóm
mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Năm 2021 tuy sự sụt giảm
(2,58%) nhưng vẫn con số đáng mong ước với nhiều quốc gia trên
thế giới ở thời điểm này.
Lạm phát: Theo Tổng cục Thống kê, mặt bằng giá năm 2020 tăng
khá cao so với cùng kỳ năm 2019, ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%,
ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành giá của năm 2020, dẫn
đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra
gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành
sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ,
ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng
tháng với xu hướng giảm dần đạt mức 3,23%. Năm 2021, trong
bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, giá nguyên
nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục
tăng nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của Việt
Nam chỉ tăng 1,84% so với năm trước, thấp nhất trong 6 năm qua,
đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, tiếp tục năm kiểm soát lạm phát
thành công.
Lãi suất: trong tình hình dịch bệnh khó khăn, ngân hàng xu
hướng giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh
doanh, tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn trước ảnh hưởng của
dịch Covid-19. Năm 2020, NHNN đã điều chỉnh giảm 1,5-2,0%/năm
lãi suất điều hành, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho
TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN; giảm 0,6-1,0%/năm
trần lãi suất tiền gửi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 1,5%/năm
trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ
trợ giảm chi p vay vốn của doanh nghiệp, người dân. Trong bối
cảnh đại dịch COVID-19, hàng loạt giải pháp hỗ trợ khách hàng,
chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH, cho vay hỗ trợ người
dân, doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ dịch bệnh
đã được NHNN chỉ đạo triển khai kịp thời. Nhờ đó, mặc cầu tín
dụng suy giảm nghiêm trọng do tác động của dịch COVID-19, nhưng
từ tháng 9.2020 tín dụng tăng trở lại, đến ngày 10.12.2020, tín dụng
toàn hệ thống tăng 9,02% so với cuối năm 2019.
Thất nghiệp: trước diễn biến phức tạp kéo dài của đợt dịch
Covid-19 lần thứ tư, tình hình lao động việc làm càng gặp nhiều khó
khăn hơn. Lực lượng lao động, số người việc làm giảm; tỷ lệ thiếu
việc làm thất nghiệp tăng so với những năm trước đó. Cụ thể,
năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người,
giảm 1,2 triệu người so với năm 2019. Năm 2021, số người thất
nghiệp hơn 1,4 triệu người, tăng 203,7 nghìn người so với năm
2020. Kéo theo đó, thu nhập bình quân của người lao động cũng bị
giảm khá mạnh so với các năm trước.
b. Các khối hiệp ước kinh tế
Việt Nam đã tham gia nhiều khối hiệp ước kinh tế như:
ASEAN(Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á), APEC(Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á Thái Bình Dương), WTO(Tổ chức Thương mại Thế
giới), ASEM(Diễn đàn hợp tác Á - Âu),... ký kết nhiều hiệp định về hợp
tác kinh tế thương mại với các nước trên thế giới. Đặc biệt,
ASEAN-một tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á đã giúp đất nước ổn định kinh tế thời
dịch bệnh. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam cùng Cộng
đồng ASEAN đã tự tin thể hiện bản lĩnh mạnh mẽ, sự nỗ lực tinh
thần tự cường, tiếp tục kiến tạo vai trò trung tâm” trong hợp tác
kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương.
Thứ nhất, các quốc gia ASEAN tiếp tục chủ động hợp tác với các
nền kinh tế lớn nhằm tận dụng cơ hội phát triển và sự ủng hộ “vai trò
trung tâm” trong hợp tác kinh tế của ASEAN.
Thứ hai, thượng tôn pháp luật, xây dựng các khuôn khổ hợp tác
mang tính ổn định, đặc biệt cho phát triển nền kinh tế số, đủ sức
cạnh tranh, thu hút sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng, tạo dựng
lòng tin với các đối tác kinh tế.
Thứ ba, nỗ lực đầu sở hạ tầng, cả hạ tầng cứng hạ tầng
mềm, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho
hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Thứ tư, nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển, lấy người dân làm
trung tâm, lấy lợi ích cng đồng làm cơ sở.
Thứ năm, ASEAN coi trọng sự đồng hành giữa chính phủ doanh
nghiệp nước ngoài, cam kết đưa lại hiệu quả cho cả hai phía.
Thêm vào đó sự áp dụng điều chỉnh phù hợp chính sách tài
khóa chính sách tiền tệ nhằm ổn định tăng trưởng kinh tế
trong thời kì khó khăn:
Chính sách tài khóa: Thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Tài
chính đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ như: gia hạn thuế, miễn
giảm nhiều khoản phí, lệ phí, cũng như nhiều giải pháp để cân đối
ngân sách Nhà nước. Cụ thể như:
Một là, đầu tư nghiên cứu, sản xuất vaccine thiết bị y tế (tương
tự như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, Philippines…).
Hai là, trợ cấp người lao động tự do, mất việc chưa được nhận trợ
cấp thất nghiệp, lao động mất việc từ 14 ngày trở lên, hộ kinh doanh
thể thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh ngừng
kinh doanh từ ngày 1/4/2020 (tương tự như Anh, Hàn Quốc,…).
Ba là, trợ cấp bằng tiền mặt cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người
có công với cách mạng (tương tự như Úc, Mỹ, Đức…).
Bốn là, gia hạn nộp thuế: Cho phép giãn, hoãn nộp thuế thu nhập
DN, thuế thu nhập nhân, tiền thuê đất (tương tự như Mỹ, EU,
Pháp, Trung Quốc, …).
Năm là, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu
nhập cá nhân (tương tự như Trung Quốc, Singapore,…).
Sáu là, giảm 10% giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất kinh
doanh.
Bảy là, tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Tám là, lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn.
Và cuối cùng là, giảm, miễn nhiều loại phí, lệ phí như: Miễn lệ phí
môn bài đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp; giảm mức thu lệ phí đăng ký doanh nghiệp; giảm
mức phí công bố thông tin doanh nghiệp; Giảm phí trước b xe ôtô
sản xuất hoặc lắp ráp trong nước, giảm giá và miễn hoàn toàn không
thu đối với 15 loại dịch vụ chứng khoán…
Chính sách tiền tệ: Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời
nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ
tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao
khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện
pháp hỗ trợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch
COVID-19. Các giải pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai thể
được cụ thể hoá như sau:
Hạ lãi suất điều hành tạo định hướng lãi suất giảm lãi suất cho
các tổ chức tín dụng (qua kênh cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu)
để các tổ chức tín dụng có thể hạ lãi suất cho vay.
Hạ lãi suất vay vốn cho khách hàng với mức giảm phổ biến từ 0,5-
2%, thậm chí từ 2,5 - 4%/năm một số ngân hàng lớn (VietinBank,
Vietcombank, Techcombank…).
cấu lại thời hạn trả, giảm chi phí thanh toán. Hay cho vay tiền
để trả lương ngừng việc cho người lao động từ Ngân hàng Chính sách
xã hội.
2.2.2. Những ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt
Nam Vinamilk
Môi trường kinh tế đem lại nhiều hội đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Vinamilk. Cụ thể là: việc toàn cầu hóa
hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, đặc biệt khi Việt
Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp có nhiều cơ hội hợp tác với các đối
tác nước ngoài trong ngành sản xuất kinh doanh sữa. Hơn hết, giá
các sản phẩm sữa trên thế giới xu hướng tăng cao tạo điều kiện
cạnh tranh về giá thuận lợi cho ngành sữa Việt Nam mở cửa thị
trường nước ngoài. Đồng thời, hội tiếp c với công nghệ mới
tiên tiến hơn hội không ngừng cải tiến, hoàn thiện mình
trong môi trường cạnh tranh cao.
Bên cạnh đó, Vinamilk vẫn phải đối mặt với một số thách thức
như: Môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn khi tham gia các hiệp hội
kinh tế. Mặc khả năng cạnh tranh về giá nhưng các công ty
sữa Việt Nam lại gặp khó khăn về chất lượng sản phẩm so với các
công ty nước ngoài. Và, chi phí đầu tư cho công nghệ kỹ thuật là cao,
nguồn nhân lực cũng đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao hơn
2.3. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động
sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam
Vinamilk
2.3.1. Thực trạng môi trường tự nhiên Việt Nam
Khí hậu nước ta: khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa
nhiều, diễn biến phức tạp. Hằng năm lanh thổ Việt Nam cả trên đất
liền biển, nhận được một lượng bức xạ mặt trời rất lớn, số giờ
nắng nhiều, nhiệt độ cao, lượng mưa đ ẩm tương đối của không
khí lớn. Khí hậu nước ta thay đổi theo mùa và theo vùng (từ thấp đến
cao, từ Bắc vài Nam và từ Đông sang Tây)
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang diễn biến khá phức tạp, biến đổi
khí hậuViệt Nam thực tiễn xảy ra trong những năm vừa qua có thể
cho thấy được biến đổi khí hậu diễn ra rất nhanh và nhanh hơn nhiều
so với dự kiến , khi nhìn lại đối chiếu với những nhận định trước
đây, vào thời điểm trước năm 2010, những khởi đầu của nhiều
nghiên cứu về vấn đề thiệt hại của biến đổi khí hậu trên thế giới,
thì ta thấy được rằng nước ta vẫn một quốc gia chịu tác động khá
nặng nề của thực trạng biến đổi khí hậu, căn cứ vào kịch bản nước
biển dâng cao một trong những yếu tố bản biến đổi khí hậu
Việt Nam gây nên.
Việt Nam khá nhiều đa dạng các nguồn năng lượng cấp:
Nhiên liệu hóa thạch, năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng
lượng mặt trời... Tuy nhiên, nguồn năng lượng chủ yếu vẫn sử dụng
từ các nhiên liệu hóa thạch: Than đá, dầu thô, khí đốt... và thủy điện.
Dự báo nguồn năng lượng này cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng
và sản xuất, nhưng đến năm 2030, Việt Nam sẽ không còn tiềm năng
thủy điện lớn đã khai thác hết, trữ lượng than đá cũng đang cạn
dần. Năm 2015, khả năng khai thác than đá đáp ứng từ 96% - 100%
nhu cầu s dụng. Năm 2020, khả năng khai thác chỉ đáp ứng được
60% và đến năm 2035, tỉ lệ này chỉ còn 34%.
2.3.2. Những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến
hoạt động marketing của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk
Thương hiệu sữa Vinamilk đã tầm nh hưởng sức vang lớn
đối với dòng sản phẩm sữa trong nước. Điều đó được tạo nên nhờ
việc chăn nuôi sữa thành công áp dụng các công nghệ tiên
tiến. Hiện nay, Vinamilk đang có 10 trang trại trong đó có 7 trang trại
theo Chuẩn quốc tế tại Việt Nam như ở: Đà Lạt, Tĩnh, Lâm Đồng,
Tây Ninh,…
Với Việt Nam khí hậu mang tính nhiệt đới ẩm gió mùa sẽ tạo ra
những thách thức đối với ngành sữa. Tính mau hỏng, dễ bị biến
chất,.. của sữa nếu không được bảo quản sử kịp thời. Điều đó
gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của sữa từ đây đặt ra yêu cầu cần
chiến lược cụ thể để bảo quản sữa sản xuất sản phẩm chất
lượng cao.
Việt Nam 1 số thi thoảng xảy ra lụt khiến cho quá trình
nuôi trồng của Vinamilk ảnh hưởng đáng kể như: những trang trại sẽ
bị ngập úng thiếu cỏ cho bò, ảnh hưởng đến sức khỏe thể trạng của
bò.
Trước sự thay đổi khí hậu của toàn cầu cũng đã nh hường trực
tiếp đến quá trình nuôi bò. Khoảng nhiệt độ tối ưu đối với sữa
20-22 độ C cứ mỗi một độ tăng lên trên mức tối ưu này thì năng
suất sữa sẽ giảm khoảng 2%.
Bên cạnh đó thì về tính chất của khí hậu cũng ưu điểm không
nhỏ. Khí hậu rất thuận lợi cho việc nuôi trồng. Tạo nguồn nguyên liệu
cung cấp cho sản xuất. Vinamilk cần khai thác ưu điểm này một cách
triệt để, từ đó sẽ tạo ra được nguồn nguyên liệu đủ để đáp ứng cho
việc sản xuất. Đây một hội cũng thể thách thức với
Vinamilk nếu nắm bắt được vượt qua thì đây quả thật một
điều tốt. Như vậy sẽ giúp Vinamilk giảm được giá thành chất
lượng sữa vẫn không đổi
Tình trạng cạn kiệt nguồn năng lượng địa khai không còn cảnh
báo của một tương lai xa mà đang được chứng minh bằng những con
số cụ thể những sự kiện diễn ra nhanh chóng trong thực tế. Điều
đó làm cho giá nhiên liệu ngày căng tăng làm ảnh hưởng tương đối

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN MÔN MARKETING CĂN BẢN Năm học: 2022 – 2023
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Phương Linh
Lớp học phần: Marketing căn bản
Mã lớp học phần: 2236BMKT0111 Nhóm thực hiện: 02
Đề tài: Chọn một công ty và một loại (hoặc một nhãn hiệu)
sản phẩm đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”
trong 3 năm gần đâu. Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân
tố môi trường marketing vĩ mô đến hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm đó. HÀ NỘI - 2022 Mục lục
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm môi trường marketing vĩ mô
2. Đặc điểm chính của môi trường marketing vĩ mô
3. Các nhóm môi trường marketing vĩ mô 3.1.
Môi trường nhân khẩu học 3.2. Môi trường kinh tế 3.3.
Môi trường điều kiện tự nhiên 3.4.
Môi trường khoa học kỹ thuật – công nghệ 3.5.
Môi trường chính trị - pháp luật 3.6.
Môi trường văn hóa – xã hội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ MÔI
TRƯỜNG MARKETING VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH SỮA TƯƠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
1. Giới thiệu về Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
2. Ảnh hưởng của yếu tố môi trường marketing vĩ mô đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 2.1.
Ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học đến hoạt động
sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 2.1.1.
Khái quát về môi trường nhân khẩu học tại Việt Nam 2.1.2.
Những ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh sữa
tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 2.2.
Ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk 2.2.1.
Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2 năm gần đây (12/2019 - 12/2021)
2.2.2. Tác động của nhân tố kinh tế vĩ mô đến hoạt động sản
xuất sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
2.3. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk 2.4.
Ảnh hưởng của môi trường khoa học kĩ thuật – công nghệ
đến hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk. 2.4.1.
Khái quát về môi trường khoa học kỹ thuật - công nghệ trên thế giới 2.4.2.
Khái quát về môi trường khoa học kỹ thuật - công nghệ của Vinamilk 2.4.3.
Những ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật – công nghệ đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi Công ty Cổ phần sữa Việt Nam 2.5.
Ảnh hưởng của môi trường chính trị - pháp luật đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk. 2.5.1.
Khái quát về môi trường chính trị - pháp luật ở Việt Nam 2.5.2.
Những ảnh hưởng của môi trường chính trị - pháp luật đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 2.6.
Ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật – công nghệ đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 2.6.1.
Văn hóa tiêu dùng sữa tươi của người Việt Nam. 2.6.2.
Những ảnh hưởng của văn hóa xã hội đến hoạt động Marketing của Vinamilk.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm
Môi trường marketing là tổng hợp các yếu tố, các lực lượng
bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt
động marketing của doanh nghiệp.
Môi trường marketing vĩ mô là những lực lượng trên bình diện
xã hội rộng lớn. Nó tác động đến quyết định marketing của các
doanh nghiệp trong toàn ngành, thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân và do đó nó ảnh hưởng đến cả các lực lượng thuộc môi
trường marketing vĩ mô (giáo trình Marketing căn bản - Đại học kinh tế quốc dân).
2. Đặc điểm chính của môi trường marketing vĩ mô
Nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi mua của khách
hàng và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng tới tất cả các doanh nghiệp, thậm chí cả những công ty lớn
Nhà quản trị marketing phải dự đoán và làm cho hoạt động
marketing thích ứng với cả cơ hội lẫn sức ép của môi trường vĩ mô.
3. Các nhóm môi tường marketing vĩ mô
3.1. Môi trường nhân khẩu học
Nhân khẩu học nghiên cứu vấn đề dân số và con người như
quy mô, mật độ dân số, phân bố dân cư, tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, cơ cấu
tuổi tác, giới tính, sắc tộc, nghề nghiệp… Tất cả các yếu tố về nhân
khẩu học này có ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô và đặc điểm thị
trường. Do đó, nó luôn là đối tượng nghiên cứu của các doanh
nghiệp, các nhà hoạt động thị trường, các chuyên gia marketing. Các
đặc điểm và xu hướng chủ yếu của môi trường nhân khẩu được quan
tâm bởi người làm marketing bao gồm: quy mô và tốc độ tăng dân
số; sự thay đổi cơ cấu tuổi tác trong dân cư; quy mô gia đình; phân
bố dân cư và quá trình đô thị hóa; trình độ học vấn liên quan tới sở
thích, hành vi, nhu cầu; sự di chuyển từ một thị trường đại chúng sang vi thị trường.
a. Quy mô, mật độ và tốc độ tăng dân số
Đây là nhân tố quan trọng tác động tới “quy mô nhu cầu”. Quy
mô dân số lớn sẽ báo hiệu một thị trường lớn, từ đó thu hút các
doanh nghiệp. Dân số tăng nhanh, chậm hay giảm sút là chỉ số báo
hiệu triển vọng tương ứng của quy mô thị trường, tuy nhiên đôi khi
nó có thể là cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng lại là nguy cơ của doanh nghiệp khác.
Ví dụ: Thị trường Trung Quốc, thị trường Việt Nam, thị trường
EU…mỗi thị trường lại có quy mô dân số khác nhau, tuy nhiên dân số
tăng và nhu cầu tăng không có nghĩa là sức mua thị trường tăng bởi
điều này còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và loại hàng hóa.
b. Cơ cấu dân số, tình trạng hôn nhân, gia đình
Cơ cấu dân số có tác động rất lớn đến cơ cấu nhu cầu của các
hàng hóa dịch vụ cụ thể và đến đặc tính nhu cầu. Mỗi một tham số
của cơ cấu dân số sẽ tác động tới các quyết định marketing. Trong
lĩnh vực hàng tiêu dùng, yếu tố được quan trọng nhất ảnh hưởng tới
cơ cấu hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng là “giới tính” và “tuổi tác”. Sự
biến đổi về cơ cấu giới tính và tuổi sẽ tạo cơ hội cho nhóm hàng này
và khó khăn cho nhóm hàng khác. Ngoài ra còn có cơ cấu theo thành
thị và nông thôn, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu theo trình độ học vấn.
Các khía cạnh liên quan tới gia đình như: tuổi kết hôn, tuổi sinh con
đầu lòng, quy mô gia đình, số lượng gia đình, số con trong gia đình…
đều có tác động lớn tới tính chất và trạng thái của cầu thị trường. c. Tốc độ đô thị hóa
Tốc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô thị và miễn cưỡng
trở thành dân cư đô thị của xã hội sẽ trở thành cơ hội kinh doanh
phát đạt cho nhiều ngành. Quá trình di dân từ nông thôn lên thành
thị tạo ra các nhu cầu về nhà ở, xuất hiện nhu cầu của một xã hội
công nghiệp như: bảo hiểm y tế, nhân thọ, dịch vụ cho thuê, phương tiện đi lại,… d. Các chỉ số khác
Xu hướng chung là trình độ học vấn của khách hàng ngày càng
tăng, đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp những sản phẩm có chất
lượng tốt, không gây ảnh hưởng tới cộng đồng và sự phát triển bền
vững của con người. Biểu hiện chính là người tiêu dùng đòi hỏi sản
phẩm sạch, không hóa chất, chất lượng sản phẩm phải được quản lý
bởi các chỉ tiêu hóa lý sinh nghiêm ngặt.
Do nhu cầu của quần chúng khác nhau, người tiêu dùng đòi hỏi
khắt khe hơn nên marketing phải nắm bắt được những nhóm người khác nhau trong xã hội. 3.2. Môi trường kinh tế
Các yếu tố kinh tế chủ yếu gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GDP), kim ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng lạm phát, thất nghiệp,
tỷ giá, lãi suất ngân hàng,…
Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sức
mua của khách hàng và cách thức tiêu dùng. Thị trường cần có sức
mua cũng như người mua. Tổng sức mua tuỳ thuộc vào thu nhập
hiện tại, giá cả, tiền tiết kiệm và tín dụng.
Những người làm marketing cần phải lưu ý các xu hướng chính
trong thay đổi thu nhập và các động thái thay đổi tiêu dùng của
khách hàng. Các thay đổi trong những biến số kinh tế chủ yếu như
thu nhập, tỉ trọng thu nhập dành cho tiêu dùng, cơ cấu chi tiêu, tiết
kiệm, hay vay mượn có một tác động rất lớn lên thị trường.
Các doanh nghiệp có sản phẩm giá tị lớn hoặc mức sinh lời cao
cần nghiên cứu kỹ lưỡng những xu hướng biến động của môi tường
kinh tế để chủ động có những điều chỉnh thích ứng. Trong trường hợp
nền kinh tế gặp khủng hoẳng, các nhà quản trị marketing cần tiến
hành các bước cần thiết để thay thế sản phẩm, giảm chi phí và vượt qua những trở ngại.
3.3. Môi trường điều kiện tự nhiên
Môi trường điiều kiện tự nhiên bao gồm môi trường thể chất
(đất đai, không khí, biển, núi, sông ngòi, động thực vật…) và các tài
nghiên thiên nhiên cần thiết để làm nguyên liệu đầu vào cho quá
trình sản xuất tại các doanh nghiệp.
Hiện nay, môi trường tự nhiên đang được các nước triên thế
giới nhất mực quan tâm bởi lẽ sự phát triển của khoa học công nghệ
của những nước tiên tiến đang gây tổn thương nghiêm trọng đến môi
trường thiên nhiên của nhân loại. Sự mất cân đối sinh thái sẽ tạo ra
những thảm họa không lường trước được, Vì vậy, các nhà làm
marketing cần phải biết đến những đe dọa và cơ may có dính đế bốn
xu hướng trong môi trường thiên nhiên.
Sự khan hiếm những nguyên liệu nào đó đang xảy ra: chất liệu
của trái đất bao gồm những thứ có tính chất vô tận như không khí,…
và những thứ có hạn gồm hai loại: tài nguyên có hạn nhưng tái tạo
lại được như rừng và thực phẩm; và tài nguyên có hạn nhưng không
thể tái tạo lại được như dầu hỏa, than đá, và những loại khoáng sản khác.
Phí tổn về năng lượng gia tăng: đầu hoả, một trong số những
nguồn tài nguyên có hạn nhưng không thể tái tạo lại được, đang tạo
thành vấn đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển trong tương lai.
Các nền kinh tế chính yếu trên thế giới đang phụ thuộc nặng nề vào
dầu hoả và cho đến khi những dạng năng lượng thay thế có tính hiệu
năng chi phí khác được tìm ra, dầu hoả vẫn sẽ tiếp tục thống trị bức
tranh kinh tế và chính trị của thế giới.
Mức độ ô nhiễm gia tăng: điều không thể tránh khỏi là một số
hoạt động kỹ nghệ sẽ làm thiệt hại đến chất lượng của môi trường
thiên nhiên. Các chất thải hoá học, chất phóng xạ, và độ thuỷ ngân
trong biển đang ở mức nguy hiểm, sự vung vãi trong môi trường
những vỏ đồ hộp, đồ nhựa, các chất liệu bao bì khác có tính chất
phân huỷ theo đường sinh học.
Sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền trong việc quản trị tài
nguyên thiên nhiên: nhiều cơ quan khác nhau đang đóng vai trò tích
cực trong việc bảo vệ môi trường. Sự bảo vệ đó có thể sẽ làm cản trở
sự phát triển trong việc gia tăng nhân dụng khi các cơ sở kinh doanh
buộc phải mua thiết bị kiểm soát ô nhiễm thay vì mua thiết bị sản xuất tân tiến hơn.
Những yếu tố nói trên có thể trở thành cơ may cũng có thể là
đe dọa đối với các nhà làm Marketing. Cấp quản trị Marketing cần
phải quan tâm đến môi trường thiên nhiên, vừa để đạt được những
tài nguyên cần thiết, vừa để tránh làm thiệt hại đến môi trường.
Thay vì chống đối tất cả các hình thức điều tiết, cơ sở kinh doanh
nên giúp đỡ việc triển khai những giải pháp có thể chấp nhận được
trong các vấn đề về nguyên liệu và năng lượng đang đặt ra cho đất nước.
3.4. Môi trường khoa học công nghệ
Khoa học kỹ thuật và khoa học ứng dụng mang đến cho đời
sống con người những tác động đầy kịch tính. Tiến bộ khoa học kỹ
thuật đã tạo ra điều kỳ diệu cho cuộc sống con người. Nhưng khoa
học kỹ thuật cũng là hiểm họa lớn nhất cho cuộc sống con người.
Bom khinh khí, các dạng khác nhau của thuốc kích thích đang đe dọa
cuộc sống bình an của nhân loại.
Sự tác động mang tính hai mặt của tiến bộ khoa học kỹ thuật
diễn ra không những do con người khác nhau khai nó vào những mục
đích khác nhau mà ngay trong ứng dụng sản phẩm hàng hóa đôi khi
cũng hàm chứa tác động cả hai mặt trong khi con người muốn khai
thác mặt tích cực của nó. Điều đó khiến các nhà quản trị marketing
khi đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm mới đều phải quan
tâm tới tính hai mặt của nó. Có rất nhiều vấn đề của tiến bộ khoa
học kỹ thuật mà các nhà quản trị marketing của doanh nghiệp phải quan tâm như:
Tốc độ tiến bộ của khoa học kỹ thuật quá nhanh, thời gian kể
từ khi có phát hiện khoa học để đến khi có sản phẩm ngày càng rút ngắn.
Những phát minh khoa học đã làm cho sản phẩm mới hoàn
thiện hơn xuất hiện liên tục. Với phát minh số hóa ta thấy các sản
phẩm kỹ thuật số rất hoàn chỉnh đã xuất hiện ở nhiều lĩnh vực.
Thời đại kinh tế tri thức đang xuất hiện làm hé mở khả năng vô
tận trong phát minh khoa học và công nghệ. Nhiều công nghệ mới
làm biến đổi tận gốc rễ những công nghệ truyền thống, tạo ra khả
năng thay thế triệt để các hàng hóa truyền thống.
Sự tham gia của Việt Nam vào thị trường thế giới trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra áp lực lớn buộc
nhiều loại hàng hóa của Việt Nam, muốn nâng cao được sức cạnh
tranh, phải lấy tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế để quyết định việc lựa chọn công nghệ.
Những biến đổi đang diễn ra trong môi trường khoa học kỹ
thuật đòi hỏi các chuyên gia marketing - chuyên gia thị trường phải
tư vấn cho lãnh đạo các doanh nghiệp có sự hợp tác chặt chẽ với các
viện, các chuyên gia tư vấn về khoa học kỹ thuật và đồng thời phải
hướng các kỹ sư ở các công ty hành động theo quan điểm thị trường - khách hàng.
3.5. Môi trường chính trị - pháp luật
Môi trường chính trị - luật pháp bao gồm thể chế chính trị, sự
ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, chính sách,
các đạo luật, bộ luật và các quy định có thể cản trở hoặc tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động Marketing. Các yếu tố thuộc môi
trường này chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội thương mại và
khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Phân tích
môi trường chính trị - pháp luật giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn
với những thay đổi có lợi hoặc bất lợi của điều
kiện chính trị cũng như mức độ hoàn thiện và thực thi pháp luật trong nền kinh tế. a. Chính trị
Sự ổn định hay biến động của chính trị giúp nhà quản trị lường
trước được những thách thức và cơ hội nhằm đưa ra những chiến
lược Marketing phù hợp. Muốn đưa ra được những chiến lược
Marketing hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải nhạy cảm với tình hình
chính trị ở quốc gia hoặc khu vực địa lý đó; đưa ra những dự báo về
diễn biến tình hình chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực. b. Luật pháp
Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện
đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh
nghiệp buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách
nhiệm nếu không sẽ gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh
thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật,
nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp
lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể
đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu
hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh. c. Chính phủ
Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh
tế. Để tận dụngđược cơ hội, giảm thiểu nguy cơ các doanh nghiệp
phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên
những chương trình chi tiêu của chính phủ và cũng phải thiết lập một
quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện sự vận động hành lang
khi cần thiết nhằm tạo ra 1 môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.
Chính phủ luôn có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng thông
qua luật pháp. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp phải điều chỉnh
các hoạt động Marketing sao cho đáp ứng được quyền lợi của người tiêu dùng.
3.6. Môi trường văn hóa - xã hội
Văn hoá được hiểu là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm
tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi của một nhóm người cụ
thể. Văn hoá theo nghĩa này là một hệ thống những giá trị được cả
tập thể giữ gìn. Văn hoá được hình thành trong những điều kiện nhất
định về vật chất, môi trường tự nhiên, các điều kiện sống, kinh
nghiệm, lịch sử của cộng đồng và có sự tác động qua lại với các nền văn hoá khác.
Con người sống trong bất kỳ xã hội nào cũng mang một bản
sắc văn hoá tương ứng với xã hội đó. Bản sắc văn hoá khác nhau sẽ
hình thành nên các quan điểm khác nhau về các giá trị và chuẩn
mực. Trong môi trường marketing vĩ mô, yếu tố văn hoá – xã hội bao
hàm những định chế và lực lượng đang tác động đến giá trị căn bản,
nhận thức, thị hiếu cũng phương cách thay thế xử sự xã hội:
Các giá trị căn bản, nhận thức, thị hiếu, trình độ văn hóa, lối
sống và các chuẩn mực ứng xử,…
Các nhóm xá hôi, xu thế, lối sống cộng đồng. Các quan niệm. -
Các giá trị căn bản, nhận thức, thị hiếu, trình độ văn hoá, lối sống và các chuẩn -
Các nhóm xã hội, xu thế, lối sống cộng đồng. - Các quan niệm. -
Tạo nên cơ hội hấp dẫn cho cả một ngành kinh doanh. -
Đòi hỏi những điều mang tính chất cấm kỵ mà nếu nhà kinh doanh vi phạm -
Tạo ra xu hướng, trào lưu tiêu dùng một sản phẩm nào đó. - …
Căn cứ vào mức độ ổn định hoặc thay đổi của các chuẩn mực
giá trị có liên quan đến văn hoá, người ta chia văn hoá theo 3 mức độ:
Nền văn hóa: đây là những chuẩn mực giá trị phản ánh bản sắc
văn hóa của một đất nước, của một vùng, miền hoặc của một dân
tộc. Những chuẩn mực cã hội này được lưu giữa một các rất tring
thành theo thời gian và hoàn cảnh. Nhứng giá trị văn hóa cơ bản của
xã hội được thể hiện qua thái độ của con người với bản thân mình,
đối với người khác, đói với các thể chế tồn tại trong xá hội, đối với
toàn cã hội, tự nhiên và vũ trụ.
Nhánh văn hóa: đây là những chuẩn mực giá trị mà được một
nhóm, một bộ phận người, do có điều kiện và hoàn cảnh sống giống
nhau, họ có quan điểm giống nhau trong khi vẫn bào tồn bản sắc căn
hóa cốt lõi, truyền thống. So với những chuẩn mực giá trị gắn với nền
văn hóa, chuẩn mực giá trị do nhánh văn hóa tạo ra có thể biến đổi
theo thời gian và hoan cảnh.
Sự biến đổi văn hóa: các giá trị cốt lõi thường có tính bền vững
nhưng vẫn có những biến đổi văn hóa xảy ra. Một số chuẩn mực giá
trị văn hóa có thể thay đổi nhanh theo từng tình huống. Vì vậy, các
nhà Marketing phải tiên đoán được những biến đổi này nhằm nhận
dạng các cơ hội và những thách thức mới.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ MÔI
TRƯỜNG MARKETING VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH SỮA TƯƠI CỦA VINAMILK
1. Giới thiệu về Vinamilk
Tên công ty: Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk được ra đời từ ngày 20/08/1976. Đây là công ty được
thành lập dựa trên cơ sở tiếp quản 3 nhà máy sữa, do chế độ cũ để
lại. Từ đó tới nay, khi lần lượt được nhà nước phong tặng các Huân
chương Lao Động, Danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi
mới… Vinamilk đã cho xây dựng các trang trại bò sữa ở khắp mọi
miền đất nước. Không chỉ phát triển ở thị trường trong nước, Vinamilk
còn mở rộng thương hiệu đến New Zealand và hơn 20 nước khác,
trong đó có Mỹ. Ngoài ra, Vinamilk còn là thương hiệu tiên phong mở
lối cho thị trường thực phẩm Organic cao cấp tại Việt Nam, với các
sản phẩm từ sữa tươi chuẩn USDA Hoa Kỳ.
Các sản phẩm của doanh nghiệp: Vinamilk đã cung cấp hơn 250
sản phẩm khác nhau với các ngành hàng cụ thể như: sữa tưỡi, sữa
chua, sữa bột trẻ em và người lớn, sữa đặc, khem và phô mai, ngoài
ra còn sữa đậu nành, nước giải khát.
2. Ảnh hưởng các yếu tố môi trường marketing vĩ mô đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk.
2.1. Ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk -
Nền văn hoá: đây là những chuẩn mực giá trị phản ánh bản sắc văn hoá của mộ
2.1.1. Khái quát về môi trường nhân khẩu học tại Việt Nam
Theo cập nhật mới nhất vào ngày 26/06/2022 từ Liên Hợp Quốc,
dân số của Việt Nam là 98.943.593 người. Dự kiến dân số nước ta sẽ
tăng 784.706 người và đạt 99.329.145 người vào đầu năm 2023. Gia
tăng dân số tự nhiên dự báo là số dương bởi số lượng sinh sẽ nhiều
hơn số người chết đến 879.634 người.
Dự báo dân số Việt Nam đến năm 2050: 112000000 109605011 110000000 108901037 Theo ước 107795031 108000000 tính, tỷ lệ thay 106296108 đổi dân số 106000000 104163519 hàng ngày của 104000000 Việt Nam năm 102000000 101106835 2022: 4.175 100000000 trẻ em được 98000000 sinh ra trung bình mỗi 96000000 2025 2030 2035 2040 2045 2050 ngày, 1.765
người chết trung bình ngày, 260 người di cư trung bình ngày. Do đó,
dân số Việt Nam tăng trưởng là 2.150 người mỗi ngày trong năm 2022.
Mật độ dân số Việt Nam hiện nay là 319 người/km 2 tính đến
26/06/2022 với số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc về dân số và tổng
diện tích đất nước ta.
Trình độ học vấn của người dân ngày càng được nâng cao. Song
mức sống của người dân cũng được cải thiện. Tỷ trọng lao động qua
trình độ đào tạo năm 2021 là 66%. Tỷ lệ dân số 15-60 tuổi biết chữ
của cả nước khoảng 98%. Cả nước hiện vẫn còn gần 1,5 triệu người đang bị mù chữ.
2.1.2. Những ảnh hưởng của môi trường nhân khẩu học
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
Môi trường nhân khẩu học có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của Vinamilk, sau đâu là một số cơ hội môi
trường nhân khẩu học đem lại cho Vinamilk:
Định vị thương hiệu: Khi nhắc tới Vinamilk ta có thể thấy doanh
nghiệp này đang nhắm vào nhiều nhóm đối tượng khách hàng như
trẻ em, các phụ nữ mang thai, nhóm đối tượng người lớn và nhóm
người cao tuổi. Mỗi nhóm đối tượng này sẽ có những sản phẩm riêng
biệt được sản xuất phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của mỗi nhóm
đối tượng đó. Tuy nhiên, nhóm khách hàng mục tiêu của Vinamilk
chủ yếu là trẻ nhỏ. Doanh nghiệp đã thu hút sự chú ý của người tiêu
dùng bằng yếu tố như: âm nhạc trong nhận diện thương hiệu
Vinamilk. Chúng ta thường thấy những quảng cáo trên các phương
tiện truyền thông đại chúng của Vinamilk xuất hiện kèm với những
hình ảnh thân quen đó là những chú bò ngộ nghĩnh, sinh động. Thêm
vào đó là những âm thanh vui tươi, đáng yêu, không chỉ được các
bạn nhỏ rất yêu thích mà ngay cả người lớn cũng rất chú ý.
Với đặc điểm dân số Việt Nam hiện nay, đây được coi là sự thành
công trong việc định vị thương hiệu của mình trong môi trường sữa
đầy cạnh tranh như hiện nay.
Thực đơn và giá bán: Xu hướng tăng lên về thu nhập trung bình
trong dân chúng ngoài việc sẽ tạo ra một sức mua cao hơn trên thị
trường còn dẫn đến những nhu cầu, mong muốn khác biệt hơn.
Vinamilk có một danh mục sản phẩm đa dạng, hướng tới nhiều đối
tượng khách hàng, chất lượng sản phẩm thì không thua kém hàng
ngoại nhập trong khi giá cả lại rất cạnh tranh. Đặc biệt dòng sản
phẩm sữa đặc “Ông Thọ” là sản phẩm giá rẻ, phù hợp với nhu cầu thị
hiếu của người dân hiện nay. Hơn
hết, Vinamilk là doanh nghiệp sữa
lớn nhất Việt Nam với thị phần khoảng 55%, trong đó chiếm 45% thị
phần trong thị trường sữa nước, 80% thị phần về sữa đặc, 80% thị
phần sữa chua, hơn 30% thị phần ngành hàng sữa bột. Có thể thấy
Vinamilk có khả năng chi phối thị trường bằng khả năng định giá bán của họ.
Chương trình khuyến mãi: Khách hàng chính là yếu tố có sự tác
động trực tiếp đến thành công của một thương hiệu. Mỗi sản phẩm
đều được xây dựng dựa trên nhu cầu của họ. Để quảng bá một sản
phẩm mới đồng thời nhằm lắng nghe phản hồi của khách hàng,
Vinamilk thường có chương trình tặng thử 1 sản phẩm mới khi mua
các sản phẩm của Vinamilk. Tích điểm đổi quà hay quà tặng đi kèm
sản phẩm là những chương trình khuyến mãi của Vinamilk. Đối tượng
Vinamilk hướng tới là trẻ nhỏ, nên các phần quà tặng đều là những
món đồ chơi như: đèn lồng vào dịp Tết Trung thu, thú nhồi bông, hộp đựng bút, ô tô, …
Phân phối sản phẩm: Vinamilk chia khách hàng của mình làm 3 nhóm chính:
Nhóm khách hàng cá nhân: là người tiêu dùng phổ thông, có
nhu cầu mua các sản phẩm của Vinamilk để sử dụng. Đây là nhóm
khách hàng có yêu cầu về sản phẩm tương đối đa dạng (chất lượng
sản phẩm tốt, giá trị dinh dưỡng cao, giá cả phù hợp,…) và chiếm tỉ trong cũng khá cao.
Nhóm khách hàng tổ chức: là những nhà phân phối, đại lý, bán
buôn, bán lẻ, cửa hàng, siêu thị,.. mong muốn và sẵn sàng phân phối
sản phẩm của công ty. Đây là nhóm có yêu cầu về chiết khấu,
thưởng doanh số, đơn hàng đúng tiến độ,.. liên quan đến phân phối sản phẩm.
Nhóm khách hàng đối tác: là những doanh nghiệp sử dụng sữa
của Vinamilk để tạo ra sản phẩm của mình như các nhà hàng, quán
nước,.. Họ yêu cầu cao về việc giao hàng đúng thời điểm, chất lượng
và yêu cầu nguồn hàng trực tiếp từ nhà máy để đảm bảo độ mới.
Từ đó, Vinamilk có những chính sách trong quản lý, kiểm soát hệ
thống phân phối của mình: đối với các hệ thống siêu thị, Vinamilk
thường yêu cầu trưng bày sản phẩm ở những gian hàng có vị trí đẹp,
thu hút người dùng. Họ thường xuyên hợp tác với đối tác để đưa ra
các chiến dịch chiêu thị và kiểm soát việc thực hiện ở siêu thị.
Thường xuyên mở các cuộc khảo sát lấy ý kiến khách hàng tại đây.
Xây dựng hình ảnh: Vinamilk tích cực tham gia hoạt động trong
các lĩnh vực xã hội, nhân văn vì cộng đồng như: ủng hộ đồng bào lũ
lụt, chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em trên toàn quốc, hỗ trợ
tiền phẫu thuật hở môi, hàm ếch cho trẻ em dị tật, …Thông qua các
chương trình trò chơi truyền hình và một số hoạt động nhân đạo,
Vinamilk đã trở nên gần gũi, thân thiết hơn với người dân Việt Nam.
Bên cạnh đó, môi trường nhân khẩu học cũng đưa đến cho
Vinamilk một số thách thức như:
Tâm lý khách hàng: Tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng Việt
Nam, thích dùng hàng nước ngoài xách tay hơn hàng nội địa.
Giá của đối thủ cạnh tranh: Vinamilk đã có những chính sách ổn
định giá cả trong suốt thời gian qua, chấp nhận giảm lãi hoặc bù đắp
từ việc kinh doanh nhiều dòng sữa khác nhau để chia sẻ gánh nặng
chi tiêu với người tiêu dùng trong giai đoạn khó khăn của Covid – 19.
2.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk.
2.2.1. Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 12/2019-12/2021
a. Tình hình và diễn biến kinh tế tổng quát
Sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 gây cú sốc cho nền kinh tế
toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên đến cuối năm
2021, khi việc triển khai tiêm phòng vắc-xin nhanh chóng đã giúp
giảm nhanh số ca lây nhiễm tại nhiều quốc gia trên thế giới, nền kinh
tế đã có những tín hiệu phục hồi tích cực.
Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh
tế toàn cầu là thương mại và đầu tư. Ngoài ra các yếu tố khác như
lạm phát, thị trường tài chính và thất nghiệp cũng chịu ảnh hưởng đáng kể.
Thương mại toàn cầu: trong thời gian dịch bùng phát mạnh mẽ,
thương mại toàn cầu có xu hướng giảm mạnh nhưng cũng có xu
hướng phục hồi mạnh mẽ trong năm 2021. Theo phóng viên TTXVN
tại Geneva (Thụy Sĩ), trong năm 2021, thương mại toàn cầu đạt mức
cao kỷ lục - 28.500 tỷ USD, tăng khoảng 25% so với năm 2020 và
tăng khoảng 13% so với mức trước đại dịch khi đại dịch COVID-19 bùng phát.
Đầu tư quốc tế: Các biện pháp phong tỏa để đối phó với đại dịch
Covid-19 đã làm chậm lại các dự án đầu tư hiện có. Cuộc khủng
hoảng đã tác động tiêu cực đến hầu hết các loại hình đầu tư, nhất là
đầu tư trực tiếp vào các dự án công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm mạnh ở các nền kinh tế phát triển và
chuyển đổi, giảm vừa phải ở các nền kinh tế đang phát triển do sự
gia tăng luồng đầu tư vào châu Á. Tuy nhiên, Theo báo cáo của
UNCTAD, FDI toàn cầu đã tăng 77%, từ mức 929 tỷ USD năm 2020
lên ước tính 1.650 tỷ USD năm 2021; trong đó các nền kinh tế phát
triển ghi nhận mức tăng vốn FDI mạnh nhất từ trước đến nay.
Lạm phái: Theo Ngân hàng Thế giới (WB), giá nhiều mặt hàng đã
tăng mạnh trong năm 2021 so với năm 2020. Giá dầu Brent, giá kim
loại cơ bản, giá một số mặt hàng nông sản đều tăng. IMF và OECD
cùng nhận định lạm phát giá tiêu dùng trên toàn thế giới tăng trong
những tháng gần đây do giá hàng hóa cao hơn, trở ngại từ phía
cung, nhu cầu tiêu dùng mạnh khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, rủi
ro lạm phát trong ngắn hạn tăng lên. Tác động của chi phí vận
chuyển và giá hàng hóa tăng sẽ khiến gia tăng lạm phát và dự báo
có thể kéo dài đến hết năm 2022.
Thị trường tài chính: theo WB, điều kiện tài chính toàn cầu khá
khác biệt giữa các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi
và đang phát triển. Ở các nền kinh tế phát triển, các điều kiện tài
chính tương đối hỗ trợ. Tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát
triển, các điều kiện tài chính đã thắt chặt hơn kể từ giữa tháng
6/2021. Việc chưa thể kiểm soát dịch bệnh và rủi ro của từng quốc
gia tiếp tục tạo ra chênh lệch lãi suất và chi phí đi vay, đồng thời làm
suy yếu đồng nội tệ tại một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.
Nhìn chung, kinh tế thế giới dần hồi phục sau thời điểm chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi dịch bệnh trong năm 2020. Theo Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức 5,9% năm 2021
và dự báo ở mức 4,9% trong năm 2022. Nền kinh tế toàn cầu được
kỳ vọng sẽ trở lại trạng thái ổn định sau khi vượt qua những khó
khăn do đại dịch COVID-19 gây ra.
Thị trường lao động thì đã được cải thiện trên diện rộng nhưng
tình trạng thiếu hụt lao động trong một số lĩnh vực đã xuất hiện. Đại
dịch COVID-19 đã dẫn đến những thay đổi nhất định về nhu cầu lao
động, kỹ năng của lực lượng lao động, nhu cầu việc làm,... trước diễn
biến phức tạp của dịch bệnh thậm chí nhiều người đã rút lui khỏi thị
trường lao động, lựa chọn nghỉ hưu sớm như một giải pháp bảo vệ
chính mình. Sự thiếu hụt lao động ngày càng rõ nét tại những quốc
gia phụ thuộc vào lực lượng lao động xuyên biên giới.
Không chỉ thế giới, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia
chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19. Đại dịch COVID-19
làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động; từ đó người lao
động mất việc làm, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Trong năm 2021, tình hình
dịch kéo dài và phức tạp hơn trong năm 2020 khiến hàng triệu người
mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực
dịch vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng 16,3 triệu
người (chiếm 33,2%), giảm 254,2 nghìn người so với năm trước; khu
vực dịch vụ 18,6 triệu người (chiếm 37,9%), giảm 808.000 người so
với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 14,2 triệu
người (chiếm 28,9%), tăng 37.300 người so với năm trước.Việc tỷ lệ
thất nghiệp gia tăng dẫn đến làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ
gia đình và người lao động. Cụ thể thu nhập bình quân của hộ gia
đình đã giảm 12% dẫn đến mức tiêu thụ trong nền kinh tế cũng giảm
theo. Từ đó, làm giảm cầu ở nhiều mặt hàng, gây tình trạng dư thừa
hàng hóa tại các doanh nghiệp khiến họ buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất.
Chi phí sử dụng lao động cao hơn: trong thời kỳ này, các doanh
nghiệp phải đầu tư thêm tư trang và các biện pháp an toàn trong lao
động để tránh lây nhiễm vi-rút. Điều đó có nghĩa là việc đầu tư cho
mở rộng sản xuất sẽ giảm đi và làm giảm sản lượng, doanh thu cũng
như lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc)
cũng chịu ảnh hưởng bởi đại dịch, tăng cường kinh tế và hoạt động
thương mại, đầu tư các quốc gia này đều suy giảm, thậm chí là suy
giảm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, việc đại dịch bùng phát mạnh mẽ
cũng khiến các quốc gia này phải hạn chế các hoạt động xuất nhập
khẩu, đóng cửa các cảng hải quan để thực hiện giãn cách và phòng
ngừa sự lây lan của Covid-19. Điều này ảnh hưởng trược tiếp đến
các hoạt động xuất – nhập khẩu của nước ta, gây nên tình trạng
thiếu nguồn cung một số mặc hàng thiết yếu, đặc biệt là trang thiết
bị y tế cũng như dư thừa sản phẩm nông – lâm – ngư nghiệp vốn là
nguồn xuát khẩu đem lại nhiều lợi nhận cho nền kinh tế. Ngoài ra,
việc các quốc gia này phải đáp ứng phần lớn tài chính cho ngành y tế
đồng nghĩa với việc vốn đầu tư cho các nước khác bị suy giảm, làm
FDI của Việt Nam suy giảm nhanh chóng trong thời điểm dịch bùng
phát mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê, mặc dù dịch
Covid -19 vẫn diễn biến phức tạp trong năm 2021 nhưng vốn FDI vào
Việt Nam đã đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020. Điều này
cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang đặt niềm tin rất lớn vào
môi trường đầu tư Việt Nam. Vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh
đều tăng so với năm 2020, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh tới 40,5%.
Tuy nhiên, những đứt gãy trong chuỗi cung ứng trên thị trường do
CVID-19 gây ra đã tạo nên nhiều thay đổi đối với ngành thương mại.
Theo đó, các giải pháp kỹ thuật được đẩy mạnh để tiếp tục một số
hoạt động kinh tế và xã hội từ xa. Đây là cơ hội phát triển cho các
hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt lĩnh vực Thương mại điện tử đã
vươn lên và phát triển mạnh mẽ: Thị trường thương mại điện tử Việt
Nam (TMĐT) ngày càng được mở rộng và hiện đã trở thành phương
thức kinh doanh phổ biến được doanh nghiệp, người dân biết đến. Sự
đa dạng về mô hình hoạt động, về đối tượng tham gia, về quy trình
hoạt động và chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ với sự hỗ trợ của hạ
tầng Internet và ứng dụng công nghệ hiện đại đã đưa TMĐT trở
thành trụ cột quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế số của
quốc gia. Mặc dù gặp những ảnh hưởng tiêu cực trong năm 2020 do
đại dịch COVID-19, thương mại điện tử Việt Nam vẫn có những bước
tăng tốc mạnh mẽ, trở thành một trong những thị trường TMĐT tăng
trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo Sách trắng
Thương mại điện tử Việt Nam, năm 2020, tốc độ tăng trưởng của
TMĐT đạt mức 18%, quy mô đạt 11,8 tỷ USD và là nước duy nhất ở
Đông Nam Á có tăng trưởng TMĐT 2 con số. Theo tính toán của các
tập đoàn lớn thế giới như Google, Temasek và Bain&Company, nhiều
khả năng quy mô của nền kinh tế số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 52 tỷ
USD và giữ vị trí thứ 3 trong khu vực ASEAN vào năm 2025.
a. Các chỉ số kinh tế vĩ mô:
GDP – Tổng sản phẩm quốc nội: tổng sản phẩm trong nước (GDP)
năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02%. Thế nhưng,
dịch bệnh bùng phát cuối năm 2019 đã làm ảnh hưởng nặng nề tới
nền kinh tế năm 2020 và 2021. Theo Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng
trưởng GDP giảm mạnh tuy nhiên vẫn giữ được ở mức dương. Năm
2020, tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 2,91% và thuộc nhóm có
mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Năm 2021 tuy có sự sụt giảm
(2,58%) nhưng vẫn là con số đáng mong ước với nhiều quốc gia trên
thế giới ở thời điểm này.
Lạm phát: Theo Tổng cục Thống kê, mặt bằng giá năm 2020 tăng
khá cao so với cùng kỳ năm 2019, ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%,
ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành giá của năm 2020, dẫn
đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra
gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành
sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ,
ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng
tháng với xu hướng giảm dần và đạt mức 3,23%. Năm 2021, trong
bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, giá nguyên
nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục
tăng nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của Việt
Nam chỉ tăng 1,84% so với năm trước, thấp nhất trong 6 năm qua,
đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, tiếp tục là năm kiểm soát lạm phát thành công.
Lãi suất: trong tình hình dịch bệnh khó khăn, ngân hàng có xu
hướng giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh
doanh, tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn trước ảnh hưởng của
dịch Covid-19. Năm 2020, NHNN đã điều chỉnh giảm 1,5-2,0%/năm
lãi suất điều hành, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho
TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN; giảm 0,6-1,0%/năm
trần lãi suất tiền gửi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 1,5%/năm
trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ
trợ giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp, người dân. Trong bối
cảnh đại dịch COVID-19, hàng loạt giải pháp hỗ trợ khách hàng,
chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH, cho vay hỗ trợ người
dân, doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ dịch bệnh
đã được NHNN chỉ đạo triển khai kịp thời. Nhờ đó, mặc dù cầu tín
dụng suy giảm nghiêm trọng do tác động của dịch COVID-19, nhưng
từ tháng 9.2020 tín dụng tăng trở lại, đến ngày 10.12.2020, tín dụng
toàn hệ thống tăng 9,02% so với cuối năm 2019.
Thất nghiệp: trước diễn biến phức tạp và kéo dài của đợt dịch
Covid-19 lần thứ tư, tình hình lao động việc làm càng gặp nhiều khó
khăn hơn. Lực lượng lao động, số người có việc làm giảm; tỷ lệ thiếu
việc làm và thất nghiệp tăng so với những năm trước đó. Cụ thể,
năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người,
giảm 1,2 triệu người so với năm 2019. Năm 2021, số người thất
nghiệp là hơn 1,4 triệu người, tăng 203,7 nghìn người so với năm
2020. Kéo theo đó, thu nhập bình quân của người lao động cũng bị
giảm khá mạnh so với các năm trước.
b. Các khối hiệp ước kinh tế
Việt Nam đã tham gia nhiều khối hiệp ước kinh tế như:
ASEAN(Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á), APEC(Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á – Thái Bình Dương), WTO(Tổ chức Thương mại Thế
giới), ASEM(Diễn đàn hợp tác Á - Âu),... ký kết nhiều hiệp định về hợp
tác kinh tế và thương mại với các nước trên thế giới. Đặc biệt,
ASEAN-một tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á đã giúp đất nước ổn định kinh tế thời
kì dịch bệnh. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam cùng Cộng
đồng ASEAN đã tự tin thể hiện bản lĩnh mạnh mẽ, sự nỗ lực và tinh
thần tự cường, tiếp tục kiến tạo “vai trò trung tâm” trong hợp tác
kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương.
Thứ nhất, các quốc gia ASEAN tiếp tục chủ động hợp tác với các
nền kinh tế lớn nhằm tận dụng cơ hội phát triển và sự ủng hộ “vai trò
trung tâm” trong hợp tác kinh tế của ASEAN.
Thứ hai, thượng tôn pháp luật, xây dựng các khuôn khổ hợp tác
mang tính ổn định, đặc biệt cho phát triển nền kinh tế số, đủ sức
cạnh tranh, thu hút sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng, tạo dựng
lòng tin với các đối tác kinh tế.
Thứ ba, nỗ lực đầu tư cơ sở hạ tầng, cả hạ tầng cứng và hạ tầng
mềm, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho
hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Thứ tư, nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển, lấy người dân làm
trung tâm, lấy lợi ích cộng đồng làm cơ sở.
Thứ năm, ASEAN coi trọng sự đồng hành giữa chính phủ và doanh
nghiệp nước ngoài, cam kết đưa lại hiệu quả cho cả hai phía.
Thêm vào đó là sự áp dụng và điều chỉnh phù hợp chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ nhằm ổn định và tăng trưởng kinh tế trong thời kì khó khăn:
Chính sách tài khóa: Thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Tài
chính đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ như: gia hạn thuế, miễn
giảm nhiều khoản phí, lệ phí, cũng như nhiều giải pháp để cân đối
ngân sách Nhà nước. Cụ thể như:
Một là, đầu tư nghiên cứu, sản xuất vaccine và thiết bị y tế (tương
tự như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, Philippines…).
Hai là, trợ cấp người lao động tự do, mất việc chưa được nhận trợ
cấp thất nghiệp, lao động mất việc từ 14 ngày trở lên, hộ kinh doanh
cá thể có thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh ngừng
kinh doanh từ ngày 1/4/2020 (tương tự như Anh, Hàn Quốc,…).
Ba là, trợ cấp bằng tiền mặt cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người
có công với cách mạng (tương tự như Úc, Mỹ, Đức…).
Bốn là, gia hạn nộp thuế: Cho phép giãn, hoãn nộp thuế thu nhập
DN, thuế thu nhập cá nhân, tiền thuê đất (tương tự như Mỹ, EU, Pháp, Trung Quốc, …).
Năm là, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu
nhập cá nhân (tương tự như Trung Quốc, Singapore,…).
Sáu là, giảm 10% giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất và kinh doanh.
Bảy là, tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Tám là, lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn.
Và cuối cùng là, giảm, miễn nhiều loại phí, lệ phí như: Miễn lệ phí
môn bài đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp; giảm mức thu lệ phí đăng ký doanh nghiệp; giảm
mức phí công bố thông tin doanh nghiệp; Giảm phí trước bạ xe ôtô
sản xuất hoặc lắp ráp trong nước, giảm giá và miễn hoàn toàn không
thu đối với 15 loại dịch vụ chứng khoán…
Chính sách tiền tệ: Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời
nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ
tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao
khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện
pháp hỗ trợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch
COVID-19. Các giải pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai có thể
được cụ thể hoá như sau:
Hạ lãi suất điều hành tạo định hướng lãi suất và giảm lãi suất cho
các tổ chức tín dụng (qua kênh cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu)
để các tổ chức tín dụng có thể hạ lãi suất cho vay.
Hạ lãi suất vay vốn cho khách hàng với mức giảm phổ biến từ 0,5-
2%, thậm chí từ 2,5 - 4%/năm ở một số ngân hàng lớn (VietinBank, Vietcombank, Techcombank…).
Cơ cấu lại thời hạn trả, giảm chi phí thanh toán. Hay cho vay tiền
để trả lương ngừng việc cho người lao động từ Ngân hàng Chính sách xã hội.
2.2.2. Những ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô đến
hoạt động sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
Môi trường kinh tế vĩ mô đem lại nhiều cơ hội đến hoạt động sản
xuất kinh doanh sữa tươi của Vinamilk. Cụ thể là: việc toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, đặc biệt khi Việt
Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp có nhiều cơ hội hợp tác với các đối
tác nước ngoài trong ngành sản xuất kinh doanh sữa. Hơn hết, giá
các sản phẩm sữa trên thế giới có xu hướng tăng cao tạo điều kiện
cạnh tranh về giá thuận lợi cho ngành sữa Việt Nam mở cửa thị
trường nước ngoài. Đồng thời, có cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới
tiên tiến hơn và có cơ hội không ngừng cải tiến, hoàn thiện mình
trong môi trường cạnh tranh cao.
Bên cạnh đó, Vinamilk vẫn phải đối mặt với một số thách thức
như: Môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn khi tham gia các hiệp hội
kinh tế. Mặc dù có khả năng cạnh tranh về giá nhưng các công ty
sữa Việt Nam lại gặp khó khăn về chất lượng sản phẩm so với các
công ty nước ngoài. Và, chi phí đầu tư cho công nghệ kỹ thuật là cao,
nguồn nhân lực cũng đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao hơn
2.3. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến hoạt động
sản xuất kinh doanh sữa tươi của Công ty sữa Việt Nam Vinamilk
2.3.1. Thực trạng môi trường tự nhiên Việt Nam
Khí hậu nước ta: là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa
nhiều, diễn biến phức tạp. Hằng năm lanh thổ Việt Nam cả trên đất
liền và biển, nhận được một lượng bức xạ mặt trời rất lớn, số giờ
nắng nhiều, nhiệt độ cao, lượng mưa và độ ẩm tương đối của không
khí lớn. Khí hậu nước ta thay đổi theo mùa và theo vùng (từ thấp đến
cao, từ Bắc vài Nam và từ Đông sang Tây)
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang diễn biến khá phức tạp, biến đổi
khí hậu ở Việt Nam thực tiễn xảy ra trong những năm vừa qua có thể
cho thấy được biến đổi khí hậu diễn ra rất nhanh và nhanh hơn nhiều
so với dự kiến , khi nhìn lại và đối chiếu với những nhận định trước
đây, vào thời điểm trước năm 2010, những khởi đầu của nhiều
nghiên cứu về vấn đề thiệt hại của biến đổi khí hậu ở trên thế giới,
thì ta thấy được rằng nước ta vẫn là một quốc gia chịu tác động khá
nặng nề của thực trạng biến đổi khí hậu, căn cứ vào kịch bản nước
biển dâng cao là một trong những yếu tố cơ bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam gây nên.
Việt Nam có khá nhiều và đa dạng các nguồn năng lượng sơ cấp:
Nhiên liệu hóa thạch, năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng
lượng mặt trời... Tuy nhiên, nguồn năng lượng chủ yếu vẫn sử dụng
từ các nhiên liệu hóa thạch: Than đá, dầu thô, khí đốt... và thủy điện.
Dự báo nguồn năng lượng này cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng
và sản xuất, nhưng đến năm 2030, Việt Nam sẽ không còn tiềm năng
thủy điện lớn vì đã khai thác hết, trữ lượng than đá cũng đang cạn
dần. Năm 2015, khả năng khai thác than đá đáp ứng từ 96% - 100%
nhu cầu sử dụng. Năm 2020, khả năng khai thác chỉ đáp ứng được
60% và đến năm 2035, tỉ lệ này chỉ còn 34%.
2.3.2. Những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến
hoạt động marketing của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
Thương hiệu sữa Vinamilk đã có tầm ảnh hưởng và sức vang lớn
đối với dòng sản phẩm sữa trong nước. Điều đó được tạo nên nhờ
việc chăn nuôi bò sữa thành công và áp dụng các công nghệ tiên
tiến. Hiện nay, Vinamilk đang có 10 trang trại trong đó có 7 trang trại
theo Chuẩn quốc tế tại Việt Nam như ở: Đà Lạt, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Tây Ninh,…
Với Việt Nam khí hậu mang tính nhiệt đới ẩm gió mùa sẽ tạo ra
những thách thức đối với ngành sữa. Tính mau hỏng, dễ bị biến
chất,.. của sữa nếu không được bảo quản và sử lý kịp thời. Điều đó
gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của sữa từ đây đặt ra yêu cầu cần
có chiến lược cụ thể để bảo quản sữa và sản xuất sản phẩm chất lượng cao.
Ở Việt Nam có 1 số thi thoảng xảy ra lũ lụt khiến cho quá trình
nuôi trồng của Vinamilk ảnh hưởng đáng kể như: những trang trại sẽ
bị ngập úng thiếu cỏ cho bò, ảnh hưởng đến sức khỏe thể trạng của bò.
Trước sự thay đổi khí hậu của toàn cầu cũng đã ảnh hường trực
tiếp đến quá trình nuôi bò. Khoảng nhiệt độ tối ưu đối với bò sữa là
20-22 độ C và cứ mỗi một độ tăng lên trên mức tối ưu này thì năng
suất sữa sẽ giảm khoảng 2%.
Bên cạnh đó thì về tính chất của khí hậu cũng có ưu điểm không
nhỏ. Khí hậu rất thuận lợi cho việc nuôi trồng. Tạo nguồn nguyên liệu
cung cấp cho sản xuất. Vinamilk cần khai thác ưu điểm này một cách
triệt để, từ đó sẽ tạo ra được nguồn nguyên liệu đủ để đáp ứng cho
việc sản xuất. Đây là một cơ hội cũng có thể là thách thức với
Vinamilk nếu nắm bắt được và vượt qua nó thì đây quả thật là một
điều tốt. Như vậy sẽ giúp Vinamilk giảm được giá thành mà chất
lượng sữa vẫn không đổi
Tình trạng cạn kiệt nguồn năng lượng địa khai không còn là cảnh
báo của một tương lai xa mà đang được chứng minh bằng những con
số cụ thể và những sự kiện diễn ra nhanh chóng trong thực tế. Điều
đó làm cho giá nhiên liệu ngày căng tăng làm ảnh hưởng tương đối