Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế - Luật kinh tế | Trường đại học Luật, đại học Huế

Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế - Luật kinh tế | Trường đại học Luật, đại học Huế được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

Môn:

Luật kinh tế(HDLH) 111 tài liệu

Thông tin:
10 trang 8 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế - Luật kinh tế | Trường đại học Luật, đại học Huế

Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế - Luật kinh tế | Trường đại học Luật, đại học Huế được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

38 19 lượt tải Tải xuống
Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế
2.1 Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật về tập trung kinh tế bao gồm các quy định liên quan đến sự sở
hữu và hoạt động của các công ty và tổ chức có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
Điều này có thể bao gồm các quy định về độc quyền thị trường, cạnh tranh không
lành mạnh, kiểm soát chuyển đổi doanh nghiệp lớn, và các biện pháp để đảm bảo
sự công bằng và cạnh tranh trong môi trường kinh doanh. Các quốc gia thường có
các luật và quy định cụ thể để đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh sạch sẽ trong
hoạt động kinh doanh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Quy định trong các văn bản pháp luật như Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định
35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh. Cụ thể về pháp
luật tập trung kinh tế được quy định trong Chương V của Luật Cạnh tranh 2018 và
Chương V của Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
Trong pháp luật về tập trung kinh tế quy định chi tiết về các hình thức tập trung
kinh tế, đánh giá các tác động tích cực hoặc các tác động hạn chế cạnh tranh của
tập trung kinh tế, quy trình về thông báo tập trung kinh tế, các tập trung kinh tế có
điều kiện và các tập trung kinh tế bị cấm, các hành vi vi phạm về tập trung kinh tế.
2.1.1. Tập trung kinh tế phải thông báo
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018, Luật Cạnh tranh 2018
không quy định tất cả các DN tham gia TTKT đều phải nộp hồ sơ thông báo TTKT
đến cho CQCT, mà chỉ đưa ra cơ chế cho các DN nhận thấy thuộc ngưỡng thông
báo phải nộp hồ sơ thông báo TTKT.
Ngưỡng thông báo là một tiêu chí xây dựng dựa trên việc cân bằng giữa mục tiêu
kiểm soát các giao dịch TTKT diễn ra trên thị trường có thể gây tác động đến cạnh
tranh và chi phí hợp lý cho các bên liên quan, bao gồm cả chi phí thực hiện việc
thông báo của DN và chi phí để cơ quan cạnh tranh tiến hành rà soát các vụ việc có
quan ngại đáng kể (cho phí về tài chính, nhân lực, thời gian,…) Việc xây dựng cơ
chế và hệ thống ngưỡng phù hợp sẽ giúp CQCT có thể kiểm soát hiệu quả hơn các
giao dịch TTKT có tác động cạnh tranh trên thị trường và không gây gánh nặng
thực hiện các nghĩa vụ về pháp luật cho các DN tham gia
Theo khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018, ngưỡng thông báo TTKT được
xác định dựa vào 04 tiêu chí sau:
Thứ nhất, về tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia
TTKT:
Đây là tiêu chí đánh giá tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT, hay nói
cách khác, đây là tiêu chí đánh giá dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Cụ thể,
điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định các doanh nghiệp
dự định tham gia tập trung kinh tế (trừ các doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều
này), theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật Cạnh tranh năm 2018, phải thông
báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi thực hiện tập trung kinh tế nếu
thuộc trường hợp sau đây: “Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt
3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập
trung kinh tế”.
Thứ hai, về tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia
TTKT:
Theo điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị định 35/2020/NĐ – CP quy định: “Tổng
doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam của doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt
3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập
trung kinh tế”
Việc sử dụng tiêu chí tổng doanh thu là một căn cứ để xác định ngưỡng thông báo
TTKT là hoàn toàn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
hiện nay, vì doanh thu là yếu tố có thể phản ánh được quy mô của doanh nghiệp
một cách chính xác nhất. Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia TTKT cũng có thể
dễ dàng cung cấp số liệu về doanh thu của mình. Có thể nói, việc sử dụng tiêu chí
tổng doanh thu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan quản lý cạnh tranh
của Việt Nam kiểm soát được những hành vi TTKT xuyên biên giới trong khi việc
xác định thị phần trên thị trường liên quan tại Việt Nam đối với các bên là doanh
nghiệp nước ngoài khá khó khăn.
Thứ ba, về giá trị giao dịch của TTKT:
Có thể nói, tiêu chí về giá trị giao dịch sẽ thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp sau
khi thực hiện giao dịch TTKT, nếu giá trị giao dịch TTKT lớn thì khả năng cao sẽ
xuất hiện các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền và
các doanh nghiệp này thường có xu hướng lạm dụng vị thế này để thực hiện các
hành vi phản cạnh tranh nhằm củng cố sức mạnh của mình trên thị trường.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định hướng dẫn cụ thể cách tính giá trị
giao dịch, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực thi quy định về
thông báo TTKT. Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định, nếu giá trị giao
dịch của TTKT đạt từ 1.000 tỷ đồng trở lên, thì giao dịch đó sẽ phải được thông
báo tới cơ quan quản lý cạnh tranh.
Thứ tư, về thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia
TTKT:
Theo điểm d khoản 1 Điều 13 của Nghị định 35/2020/NĐ – CP quy định: “Thị
phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế từ 20% trở
lên trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực
hiện tập trung kinh tế.”
Ngoài ra, nếu giao dịch TTKT thuộc ngưỡng phải thông báo theo quy định của
pháp luật, thì các doanh nghiệp tham gia giao dịch phải chuẩn bị hồ sơ thông báo
TTKT gồm các giấy tờ được liệt kê tại Điều 34 Luật Cạnh tranh năm 2018 và nộp
tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp
nhận hồ sơ thông báo TTKT đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra
thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc TTKT về một trong 02 nội dung là: TTKT
được thực hiện và TTKT phải thẩm định chính thức. Trường hợp Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia không thông báo kết quả thẩm định sơ bộ trong thời gian nêu trên
thì TTKT được phép thực hiện.
2.1.2. Tập trung kinh tế có điều kiện
Theo Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018, sau khi kết thúc thẩm định chính thức
việc TTKT, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định về một trong 03 nội dung
sau: TTKT được thực hiện; TTKT có điều kiện quy định tại Điều 42 Luật Cạnh
tranh; TTKT thuộc trường hợp bị cấm.
Theo đó, Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, TTKT có điều kiện là
TTKT được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây: (i)
Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia TTKT; (ii)
Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều
kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau TTKT; (iii)
Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị
trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của TTKT
2.1.3. Tập trung kinh tế bị cấm
So với Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã sửa đổi theo
hướng hoàn toàn mới khi quy định về TTKT bị cấm. Theo đó, Luật Cạnh tranh
năm 2018 không quy định cấm hành vi TTKT một cách cứng nhắc dựa trên mức
thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT chiếm trên 50% trên thị
trường liên quan như trong Luật Cạnh tranh năm 2004, mà thay vào đó chỉ quy
định cấm dựa trên bản chất gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế
cạnh tranh một cách đáng kể của giao dịch TTKT. Cụ thể, Điều 30 Luật Cạnh tranh
năm 2018 quy định TTKT bị cấm là: Doanh nghiệp thực hiện TTKT gây tác động
hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường
liên quan. Đồng thời, cơ quan cạnh tranh sẽ căn cứ vào một hoặc một số yếu tố
được quy định tại Điều 15 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP như thị phần kết hợp của
các doanh nghiệp tham gia TTKT, mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước
và sau khi TTKT… để đánh giá mức độ gây tác động hoặc khả năng gây tác động
hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Với cách quy định như vậy, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã thể hiện điểm tiến bộ là
luôn tôn trọng và cho phép các doanh nghiệp được quyền thực hiện hoạt động
TTKT để phát triển doanh nghiệp. Nhà nước sẽ chỉ can thiệp nếu hành vi TTKT có
nguy cơ gây tổn tại cho môi trường cạnh tranh.
2.1.4. Đánh giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế
Tại Điều 16 của Nghị định số 35/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Cạnh tranh 2018 đã nêu rõ việc Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh
giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế căn cứ vào một trong các yếu tố
hoặc kết hợp giữa các yếu tố
2.1.5. Các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế
Các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế phải áp dụng tố
tụng cạnh tranh theo Điều 44, Luật Cạnh tranh 2018. Hồ sơ khiếu nại được quy
định tại Khoản 3, Điều 77, Luật Cạnh tranh 2018.
“Điều 44. Các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế
1. Doanh nghiệp không thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật này.
2. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế khi chưa có thông báo kết quả thẩm
định sơ bộ của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 36, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này.
3. Doanh nghiệp thuộc trường hợp phải thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế
mà thực hiện việc tập trung kinh tế khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra quyết
định quy định tại Điều 41 của Luật này.
4. Doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ điều kiện được thể
hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 của
Luật này.
5. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 41 của Luật này.
6. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 30 của Luật
này.”
2.2 Thực trạng về kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam.
Hiện nay tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã
hội diễn ra ngày càng nhanh chóng, đã khiến cho nền kinh tế có nhiều thay đổi, kéo
theo đó là các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra ngày một sôi nổi, với quy mô đa
dạng, đặc biệt là sự xuất hiện ngày một gia tăng; của các công ty đa quốc gia, các
tập đoàn tài chính khổng lồ, gây những tác động đáng kể tới môi trường. Vấn đề về
tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế đã trở thành một vấn đề phức tạp,
có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nên kinh tế bao gồm:
Chính sách cải cách kinh tế: Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách cải cách
kinh tế để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy tư nhân hóa các
doanh nghiệp.
Quản lý và giám sát: Chính phủ Việt Nam đã tăng cường quản lý và giám sát các
lĩnh vực kinh tế để đảm bảo công bằng, minh bạch và tránh tình trạng tập trung quá
mức tại một số ngành.
Tư nhân hóa và cổ phần hóa: Việc tư nhân hóa và cổ phần hóa các doanh nghiệp
trước đây thuộc sở hữu của nhà nước là một trong những biện pháp nhằm giảm tập
trung kinh tế và tăng cường tính cạnh tranh.
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đã và đang mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều quốc
gia, tham gia các hiệp định thương mại để thúc đẩy xuất khẩu và tạo điều kiện cho
doanh nghiệp phát triển.
Khích lệ doanh nghiệp và khởi nghiệp: Chính phủ cũng đang nỗ lực tạo ra môi
trường kinh doanh tích cực để khuyến khích sự đa dạng và cạnh tranh trong doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, hiện nay tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội diễn ra ngày càng nhanh chóng, đã khiến cho nền kinh tế có nhiều
thay đổi, kéo theo đó là các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra ngày một sôi nổi,
với quy mô đa dạng, đặc biệt là sự xuất hiện ngày một gia tăng; của các công ty đa
quốc gia, các tập đoàn tài chính khổng lồ, gây những tác động đáng kể tới môi
trường. Vấn đề về tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế đã trở thành một
vấn đề phức tạp, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nên kinh tế
Tính đến hết năm 2016, Bộ Công Thương đã thụ lý 32 vụ việc thông báo tập trung
kinh tế, và nhiều vụ việc tham vấn khác, cả trước và trong quá trình các doanh
nghiệp thực hiện tập trung kinh tế.
Từ năm 2019 đến 2022 đã tiếp nhận và xử lý 125 hồ sơ thông báo tập trung kinh
tế; theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018 với số lượng doanh nghiệp tham gia
tập trung kinh tế là 258 doanh nghiệp; trong đó, số lượng doanh nghiệp nước ngoài
là 131(chiếm 51%); và số lượng doanh nghiệp Việt Nam là 127 (chiếm 49%); Chủ
động nghiên cứu, rà soát các giao dịch mua bán, sáp nhập trên thị trường; Giám sát
việc thực hiện quyết định xin hưởng miễn trừ tập trung kinh tế của doanh nghiệp.
2.3. Bất cập về pháp luật về pháp luật trong quản lý tập trung kinh tế.
Bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng có thể đối mặt với những bất cập trong quản lý
tập trung kinh tế, và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Dưới đây là một số bất cập
phổ biến có thể thấy trong quản lý tập trung kinh tế ở một số quốc gia:
Thiếu minh bạch: Sự thiếu minh bạch trong quá trình ra quyết định kinh tế và
thiếu thông tin công bố có thể tạo ra cơ hội cho sự tập trung quyền lực và lợi ích cá
nhân.
Thách thức trong thi hành luật: Một số vấn đề có thể phát sinh khi có quy định
pháp luật, nhưng sự thiếu thi hành hiệu quả có thể giảm bớt hiệu lực của những
quy định đó.
Phân quyền không đồng đều: Nếu có sự chệch lệch trong quyền lực và quyền lợi
giữa các bên, có thể dẫn đến tập trung kinh tế tại một số ngành và doanh nghiệp
lớn, đồng thời làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thiếu minh bạch và chống tham nhũng: Sự thấp kém trong việc quản lý minh
bạch và đối phó với tham nhũng có thể tạo điều kiện cho sự tập trung quyền lực và
thậm chí làm tăng nguy cơ tham nhũng.
Chậm trễ trong hệ thống tư pháp: Nếu hệ thống tư pháp không hoạt động hiệu
quả, việc giải quyết tranh chấp kinh tế có thể bị chậm trễ, tạo điều kiện cho sự tập
trung quyền lực và làm suy giảm niềm tin của người dân vào công lý.
Để giải quyết những bất cập này, cần có sự cải thiện trong lĩnh vực minh bạch,
quyền lực phân quyền, thi hành pháp luật hiệu quả và chống tham nhũng. Điều này
đòi hỏi sự cộng tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Số vụ việc tập trung kinh tế vi phạm được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế;
trong khi thực tế hoạt động tại Việt Nam có quy mô ngày càng phát triển, tiềm ẩn
nhiều tác động tiêu cực tới thị trường, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực có quy
mô lớn, hoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế như lĩnh vực năng lượng
dược phẩm, phân phối, bán lẻ, vận tải, logistic, du lịch, các ngành ứng dụng công
nghệ
Các quy trình, thủ tục để kiểm soát tập trung kinh tế chưa thực sự minh bạch, rõ
ràng; theo hướng cắt giảm các thủ tục hành chính, không gây khó khăn, cản trở cho
việc kinh doanh của doanh nghiệp
Thiếu cơ chế phối hợp trao đổi thông tin đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà
nước, trong việc kiểm soát tập trung kinh tế
Mức độ quan tâm, nhận thức của cộng đồng xã hội, và doanh nghiệp về các quy
định của pháp luật cạnh tranh không cao.
2.4. Đề xuất biện pháp khắc phục.
Hiện nay với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2018 cùng với các văn bản pháp
luật khác đi kèm; đã khắc phục, bổ sung hoàn thiện một cách tương đối đầy đủ; và
toàn diện các vấn đề còn vướng mắc trong pháp luật cạnh tranh trước đây. Tuy
nhiên vẫn tồn tại những điểm hạn chế, nên vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp
luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế. Để khắc phục những bất cập
trong quản lý tập trung kinh tế tại Việt Nam, có thể đề xuất một số biện pháp như
sau:
- Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả với các bên liên quan trong quá trình đánh giá giao
dịch tập trung kinh tế.
Để tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của các nhận định,
đánh giá về các giao dịch tập trung kinh tế, cơ quan cạnh tranh cần nhờ đến sự trợ
giúp của các bên liên quan trong từng vụ việc nhất định.
Giao dịch tập trung kinh tế diễn ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Do
đó, để đánh giá mỗi giao dịch, cơ quan cạnh tranh cần tham khảo ý kiến chuyên
môn của cơ quan quản lý chuyên ngành. Đây là vấn đề rất quan trọng, giúp cho cơ
quan cạnh tranh hiểu đúng, hiểu rõ về các lĩnh vực chuyên ngành, từ đó có các
đánh giá, nhận định chính xác về tác động của các giao dịch tập trung kinh tế trong
lĩnh vực đó. ( Ví dụ, khi xem xét một giao dịch tập trung kinh tế giữa các DN trong
lĩnh vực ngân hàng, cơ quan cạnh tranh cần làm việc với các cơ quan chuyên môn
về ngân hàng như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
để tìm hiểu về tính chất và các vấn đề đặc thù của ngành ngân hàng ).
Quá trình xem xét một giao dịch tập trung kinh tế, cơ quan cạnh tranh cũng cần
tham khảo các số liệu của các cơ quan chuyên về số liệu thống kê như Tổng cục
Thống kê, cơ quan hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh. Các cơ quan này sẽ giúp
cơ quan cạnh tranh đánh giá tính chính xác của các số liệu phục vụ cho việc đánh
giá một giao dịch tập trung kinh tế.
Do đó, việc xây dựng một cơ chế phối hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vận
hành quy trình xem xét, đánh giá tác động của một giao dịch tập trung kinh tế, nhất
là trong bối cảnh cơ quan cạnh tranh bị giới hạn bởi thời gian thực hiện thủ tục do
luật định.
- Hoàn thiện tổ chức và bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực cơ quan cạnh tranh.
Như đã nêu trên, nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm soát tập trung kinh tế của
cơ quan cạnh tranh khá hạn chế, trong khi việc giải quyết các hồ sơ tập trung kinh
tế chịu sự giới hạn về thời gian luật định. Do đó, việc tuyển dụng, đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế của cơ quan cạnh tranh là hết sức cần thiết.
Theo đó, quá trình xây dựng và hoàn thiện tổ chức, nhân sự của cơ quan cạnh
tranh, cần xây dựng bộ phận kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế một cách
chuyên nghiệp, có quy mô đáp ứng nhu cầu giải quyết các hồ sơ tập trung kinh tế
với số lượng lớn.
Cơ quan cạnh tranh cũng cần chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho
cán bộ thực hiện công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao trong việc đánh giá các vụ việc phức tạp. Đặc biệt, cần học tập kinh
nghiệm của các quốc gia phát triển, đã có quá trình triển khai công tác kiểm soát
hoạt động tập trung kinh tế nhiều năm như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Australia. Cơ
quan cạnh tranh có thể xem xét đến việc cử cán bộ trực tiếp sang thực tập dài hạn
tại cơ quan cạnh tranh của các quốc gia này nhằm nắm bắt không chỉ các quy định
pháp luật mà còn là kỹ năng phân tích, đánh giá các giao dịch tập trung kinh tế tại
các quốc gia đó.
Ngoài ra, để có thể vận hành một cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, việc
nâng cao nhận thức của cộng đồng DNvề pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
cũng là một vấn đề quan trọng cần tính đến. Trước tiên, DNcần biết các trường hợp
tập trung kinh tế bị cấm hoặc phải thông báo đến cơ quan cạnh tranh để tránh các
vi phạm vô ý. Đồng thời, việc DNcó nhận thức đầy đủ, đúng đắn về pháp luật kiểm
soát tập trung kinh tế sẽ giúp cho các hồ sơ thông báo tập trung kinh tế có chất
lượng tốt, số liệu chuẩn xác, tin cậy, giúp cơ quan cạnh tranh thuận lợi trong việc
xác minh thông tin, số liệu, đánh giá thông tin và đưa ra quyết định.
Tăng cường minh bạch và thông tin công bố:
Yêu cầu các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp công bố thông tin liên quan đến
quyết định kinh tế, chiến lược phát triển, và các giao dịch kinh doanh quan trọng.
Tạo ra cơ sở dữ liệu trực tuyến để người dân có thể dễ dàng truy cập thông tin về
ngành kinh tế và doanh nghiệp.
Cải thiện quyền lực phân quyền:
Tăng cường vai trò và quyền lực của các cơ quan giám sát độc lập để đảm bảo sự
cân bằng và kiểm soát.
Thúc đẩy quyền lực và tự chủ của các doanh nghiệp tư nhân và nhóm doanh
nghiệp nhỏ.
Tăng cường hệ thống thực thi pháp luật:
Tăng cường hiệu quả của hệ thống tư pháp để đảm bảo thi hành công bằng và
nhanh chóng các quyết định pháp lý.
Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư và cán bộ tư pháp để nâng cao chất lượng và
tốc độ giải quyết vụ án.
Chống tham nhũng:
Thực hiện các biện pháp cụ thể để ngăn chặn và xử lý tham nhũng trong quản lý
kinh tế.
Tăng cường công tác giáo dục về tham nhũng và tăng cường sự tham gia của cộng
đồng trong quá trình giám sát.
Khuyến khích đầu tư và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua
giảm bớt thủ tục hành chính, chi phí và tăng cường hỗ trợ tài chính.
Phát triển chính sách khuyến khích đầu tư và hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp.
Tăng cường hợp tác quốc tế:
Tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại và hợp tác kinh tế quốc tế để tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và tăng cường cạnh tranh.
Học hỏi và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý kinh tế.
Các biện pháp này cần sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư
và các bên liên quan khác để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trong quản lý tập
trung kinh tế tại Việt Nam.
| 1/10

Preview text:

Chương 2: Pháp luật về tập trung kinh tế 2.1 Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật về tập trung kinh tế bao gồm các quy định liên quan đến sự sở
hữu và hoạt động của các công ty và tổ chức có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
Điều này có thể bao gồm các quy định về độc quyền thị trường, cạnh tranh không
lành mạnh, kiểm soát chuyển đổi doanh nghiệp lớn, và các biện pháp để đảm bảo
sự công bằng và cạnh tranh trong môi trường kinh doanh. Các quốc gia thường có
các luật và quy định cụ thể để đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh sạch sẽ trong
hoạt động kinh doanh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Quy định trong các văn bản pháp luật như Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định
35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh. Cụ thể về pháp
luật tập trung kinh tế được quy định trong Chương V của Luật Cạnh tranh 2018 và
Chương V của Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
Trong pháp luật về tập trung kinh tế quy định chi tiết về các hình thức tập trung
kinh tế, đánh giá các tác động tích cực hoặc các tác động hạn chế cạnh tranh của
tập trung kinh tế, quy trình về thông báo tập trung kinh tế, các tập trung kinh tế có
điều kiện và các tập trung kinh tế bị cấm, các hành vi vi phạm về tập trung kinh tế.
2.1.1. Tập trung kinh tế phải thông báo
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018, Luật Cạnh tranh 2018
không quy định tất cả các DN tham gia TTKT đều phải nộp hồ sơ thông báo TTKT
đến cho CQCT, mà chỉ đưa ra cơ chế cho các DN nhận thấy thuộc ngưỡng thông
báo phải nộp hồ sơ thông báo TTKT.
Ngưỡng thông báo là một tiêu chí xây dựng dựa trên việc cân bằng giữa mục tiêu
kiểm soát các giao dịch TTKT diễn ra trên thị trường có thể gây tác động đến cạnh
tranh và chi phí hợp lý cho các bên liên quan, bao gồm cả chi phí thực hiện việc
thông báo của DN và chi phí để cơ quan cạnh tranh tiến hành rà soát các vụ việc có
quan ngại đáng kể (cho phí về tài chính, nhân lực, thời gian,…) Việc xây dựng cơ
chế và hệ thống ngưỡng phù hợp sẽ giúp CQCT có thể kiểm soát hiệu quả hơn các
giao dịch TTKT có tác động cạnh tranh trên thị trường và không gây gánh nặng
thực hiện các nghĩa vụ về pháp luật cho các DN tham gia
Theo khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018, ngưỡng thông báo TTKT được
xác định dựa vào 04 tiêu chí sau:
Thứ nhất, về tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT:
Đây là tiêu chí đánh giá tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT, hay nói
cách khác, đây là tiêu chí đánh giá dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Cụ thể,
điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định các doanh nghiệp
dự định tham gia tập trung kinh tế (trừ các doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều
này), theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật Cạnh tranh năm 2018, phải thông
báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi thực hiện tập trung kinh tế nếu
thuộc trường hợp sau đây: “Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt
3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế”.
Thứ hai, về tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT:
Theo điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị định 35/2020/NĐ – CP quy định: “Tổng
doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam của doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt
3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế”
Việc sử dụng tiêu chí tổng doanh thu là một căn cứ để xác định ngưỡng thông báo
TTKT là hoàn toàn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
hiện nay, vì doanh thu là yếu tố có thể phản ánh được quy mô của doanh nghiệp
một cách chính xác nhất. Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia TTKT cũng có thể
dễ dàng cung cấp số liệu về doanh thu của mình. Có thể nói, việc sử dụng tiêu chí
tổng doanh thu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan quản lý cạnh tranh
của Việt Nam kiểm soát được những hành vi TTKT xuyên biên giới trong khi việc
xác định thị phần trên thị trường liên quan tại Việt Nam đối với các bên là doanh
nghiệp nước ngoài khá khó khăn.
Thứ ba, về giá trị giao dịch của TTKT:
Có thể nói, tiêu chí về giá trị giao dịch sẽ thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp sau
khi thực hiện giao dịch TTKT, nếu giá trị giao dịch TTKT lớn thì khả năng cao sẽ
xuất hiện các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền và
các doanh nghiệp này thường có xu hướng lạm dụng vị thế này để thực hiện các
hành vi phản cạnh tranh nhằm củng cố sức mạnh của mình trên thị trường.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định hướng dẫn cụ thể cách tính giá trị
giao dịch, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực thi quy định về
thông báo TTKT. Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định, nếu giá trị giao
dịch của TTKT đạt từ 1.000 tỷ đồng trở lên, thì giao dịch đó sẽ phải được thông
báo tới cơ quan quản lý cạnh tranh.
Thứ tư, về thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia TTKT:
Theo điểm d khoản 1 Điều 13 của Nghị định 35/2020/NĐ – CP quy định: “Thị
phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế từ 20% trở
lên trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực
hiện tập trung kinh tế.”
Ngoài ra, nếu giao dịch TTKT thuộc ngưỡng phải thông báo theo quy định của
pháp luật, thì các doanh nghiệp tham gia giao dịch phải chuẩn bị hồ sơ thông báo
TTKT gồm các giấy tờ được liệt kê tại Điều 34 Luật Cạnh tranh năm 2018 và nộp
tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp
nhận hồ sơ thông báo TTKT đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra
thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc TTKT về một trong 02 nội dung là: TTKT
được thực hiện và TTKT phải thẩm định chính thức. Trường hợp Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia không thông báo kết quả thẩm định sơ bộ trong thời gian nêu trên
thì TTKT được phép thực hiện.
2.1.2. Tập trung kinh tế có điều kiện
Theo Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018, sau khi kết thúc thẩm định chính thức
việc TTKT, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định về một trong 03 nội dung
sau: TTKT được thực hiện; TTKT có điều kiện quy định tại Điều 42 Luật Cạnh
tranh; TTKT thuộc trường hợp bị cấm.
Theo đó, Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, TTKT có điều kiện là
TTKT được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây: (i)
Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia TTKT; (ii)
Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều
kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau TTKT; (iii)
Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị
trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của TTKT
2.1.3. Tập trung kinh tế bị cấm
So với Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã sửa đổi theo
hướng hoàn toàn mới khi quy định về TTKT bị cấm. Theo đó, Luật Cạnh tranh
năm 2018 không quy định cấm hành vi TTKT một cách cứng nhắc dựa trên mức
thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT chiếm trên 50% trên thị
trường liên quan như trong Luật Cạnh tranh năm 2004, mà thay vào đó chỉ quy
định cấm dựa trên bản chất gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế
cạnh tranh một cách đáng kể của giao dịch TTKT. Cụ thể, Điều 30 Luật Cạnh tranh
năm 2018 quy định TTKT bị cấm là: Doanh nghiệp thực hiện TTKT gây tác động
hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường
liên quan. Đồng thời, cơ quan cạnh tranh sẽ căn cứ vào một hoặc một số yếu tố
được quy định tại Điều 15 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP như thị phần kết hợp của
các doanh nghiệp tham gia TTKT, mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước
và sau khi TTKT… để đánh giá mức độ gây tác động hoặc khả năng gây tác động
hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Với cách quy định như vậy, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã thể hiện điểm tiến bộ là
luôn tôn trọng và cho phép các doanh nghiệp được quyền thực hiện hoạt động
TTKT để phát triển doanh nghiệp. Nhà nước sẽ chỉ can thiệp nếu hành vi TTKT có
nguy cơ gây tổn tại cho môi trường cạnh tranh.
2.1.4. Đánh giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế
Tại Điều 16 của Nghị định số 35/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Cạnh tranh 2018 đã nêu rõ việc Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh
giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế căn cứ vào một trong các yếu tố
hoặc kết hợp giữa các yếu tố
2.1.5. Các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế
Các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế phải áp dụng tố
tụng cạnh tranh theo Điều 44, Luật Cạnh tranh 2018. Hồ sơ khiếu nại được quy
định tại Khoản 3, Điều 77, Luật Cạnh tranh 2018.
“Điều 44. Các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế
1. Doanh nghiệp không thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật này.
2. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế khi chưa có thông báo kết quả thẩm
định sơ bộ của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 36, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này.
3. Doanh nghiệp thuộc trường hợp phải thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế
mà thực hiện việc tập trung kinh tế khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra quyết
định quy định tại Điều 41 của Luật này.
4. Doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ điều kiện được thể
hiện trong quyết định về tập trung kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 của Luật này.
5. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 41 của Luật này.
6. Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 30 của Luật này.”
2.2 Thực trạng về kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam.
Hiện nay tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã
hội diễn ra ngày càng nhanh chóng, đã khiến cho nền kinh tế có nhiều thay đổi, kéo
theo đó là các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra ngày một sôi nổi, với quy mô đa
dạng, đặc biệt là sự xuất hiện ngày một gia tăng; của các công ty đa quốc gia, các
tập đoàn tài chính khổng lồ, gây những tác động đáng kể tới môi trường. Vấn đề về
tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế đã trở thành một vấn đề phức tạp,
có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nên kinh tế bao gồm:
Chính sách cải cách kinh tế: Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách cải cách
kinh tế để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy tư nhân hóa các doanh nghiệp.
Quản lý và giám sát: Chính phủ Việt Nam đã tăng cường quản lý và giám sát các
lĩnh vực kinh tế để đảm bảo công bằng, minh bạch và tránh tình trạng tập trung quá mức tại một số ngành.
Tư nhân hóa và cổ phần hóa: Việc tư nhân hóa và cổ phần hóa các doanh nghiệp
trước đây thuộc sở hữu của nhà nước là một trong những biện pháp nhằm giảm tập
trung kinh tế và tăng cường tính cạnh tranh.
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đã và đang mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều quốc
gia, tham gia các hiệp định thương mại để thúc đẩy xuất khẩu và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Khích lệ doanh nghiệp và khởi nghiệp: Chính phủ cũng đang nỗ lực tạo ra môi
trường kinh doanh tích cực để khuyến khích sự đa dạng và cạnh tranh trong doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, hiện nay tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội diễn ra ngày càng nhanh chóng, đã khiến cho nền kinh tế có nhiều
thay đổi, kéo theo đó là các hoạt động tập trung kinh tế diễn ra ngày một sôi nổi,
với quy mô đa dạng, đặc biệt là sự xuất hiện ngày một gia tăng; của các công ty đa
quốc gia, các tập đoàn tài chính khổng lồ, gây những tác động đáng kể tới môi
trường. Vấn đề về tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế đã trở thành một
vấn đề phức tạp, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nên kinh tế
Tính đến hết năm 2016, Bộ Công Thương đã thụ lý 32 vụ việc thông báo tập trung
kinh tế, và nhiều vụ việc tham vấn khác, cả trước và trong quá trình các doanh
nghiệp thực hiện tập trung kinh tế.
Từ năm 2019 đến 2022 đã tiếp nhận và xử lý 125 hồ sơ thông báo tập trung kinh
tế; theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018 với số lượng doanh nghiệp tham gia
tập trung kinh tế là 258 doanh nghiệp; trong đó, số lượng doanh nghiệp nước ngoài
là 131(chiếm 51%); và số lượng doanh nghiệp Việt Nam là 127 (chiếm 49%); Chủ
động nghiên cứu, rà soát các giao dịch mua bán, sáp nhập trên thị trường; Giám sát
việc thực hiện quyết định xin hưởng miễn trừ tập trung kinh tế của doanh nghiệp.
2.3. Bất cập về pháp luật về pháp luật trong quản lý tập trung kinh tế.
Bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng có thể đối mặt với những bất cập trong quản lý
tập trung kinh tế, và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Dưới đây là một số bất cập
phổ biến có thể thấy trong quản lý tập trung kinh tế ở một số quốc gia:
Thiếu minh bạch: Sự thiếu minh bạch trong quá trình ra quyết định kinh tế và
thiếu thông tin công bố có thể tạo ra cơ hội cho sự tập trung quyền lực và lợi ích cá nhân.
Thách thức trong thi hành luật: Một số vấn đề có thể phát sinh khi có quy định
pháp luật, nhưng sự thiếu thi hành hiệu quả có thể giảm bớt hiệu lực của những quy định đó.
Phân quyền không đồng đều: Nếu có sự chệch lệch trong quyền lực và quyền lợi
giữa các bên, có thể dẫn đến tập trung kinh tế tại một số ngành và doanh nghiệp
lớn, đồng thời làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thiếu minh bạch và chống tham nhũng: Sự thấp kém trong việc quản lý minh
bạch và đối phó với tham nhũng có thể tạo điều kiện cho sự tập trung quyền lực và
thậm chí làm tăng nguy cơ tham nhũng.
Chậm trễ trong hệ thống tư pháp: Nếu hệ thống tư pháp không hoạt động hiệu
quả, việc giải quyết tranh chấp kinh tế có thể bị chậm trễ, tạo điều kiện cho sự tập
trung quyền lực và làm suy giảm niềm tin của người dân vào công lý.
Để giải quyết những bất cập này, cần có sự cải thiện trong lĩnh vực minh bạch,
quyền lực phân quyền, thi hành pháp luật hiệu quả và chống tham nhũng. Điều này
đòi hỏi sự cộng tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Số vụ việc tập trung kinh tế vi phạm được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế;
trong khi thực tế hoạt động tại Việt Nam có quy mô ngày càng phát triển, tiềm ẩn
nhiều tác động tiêu cực tới thị trường, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực có quy
mô lớn, hoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế như lĩnh vực năng lượng
dược phẩm, phân phối, bán lẻ, vận tải, logistic, du lịch, các ngành ứng dụng công nghệ
Các quy trình, thủ tục để kiểm soát tập trung kinh tế chưa thực sự minh bạch, rõ
ràng; theo hướng cắt giảm các thủ tục hành chính, không gây khó khăn, cản trở cho
việc kinh doanh của doanh nghiệp
Thiếu cơ chế phối hợp trao đổi thông tin đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà
nước, trong việc kiểm soát tập trung kinh tế
Mức độ quan tâm, nhận thức của cộng đồng xã hội, và doanh nghiệp về các quy
định của pháp luật cạnh tranh không cao.
2.4. Đề xuất biện pháp khắc phục.
Hiện nay với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2018 cùng với các văn bản pháp
luật khác đi kèm; đã khắc phục, bổ sung hoàn thiện một cách tương đối đầy đủ; và
toàn diện các vấn đề còn vướng mắc trong pháp luật cạnh tranh trước đây. Tuy
nhiên vẫn tồn tại những điểm hạn chế, nên vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp
luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế. Để khắc phục những bất cập
trong quản lý tập trung kinh tế tại Việt Nam, có thể đề xuất một số biện pháp như sau:
- Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả với các bên liên quan trong quá trình đánh giá giao dịch tập trung kinh tế.
Để tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của các nhận định,
đánh giá về các giao dịch tập trung kinh tế, cơ quan cạnh tranh cần nhờ đến sự trợ
giúp của các bên liên quan trong từng vụ việc nhất định.
Giao dịch tập trung kinh tế diễn ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Do
đó, để đánh giá mỗi giao dịch, cơ quan cạnh tranh cần tham khảo ý kiến chuyên
môn của cơ quan quản lý chuyên ngành. Đây là vấn đề rất quan trọng, giúp cho cơ
quan cạnh tranh hiểu đúng, hiểu rõ về các lĩnh vực chuyên ngành, từ đó có các
đánh giá, nhận định chính xác về tác động của các giao dịch tập trung kinh tế trong
lĩnh vực đó. ( Ví dụ, khi xem xét một giao dịch tập trung kinh tế giữa các DN trong
lĩnh vực ngân hàng, cơ quan cạnh tranh cần làm việc với các cơ quan chuyên môn
về ngân hàng như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
để tìm hiểu về tính chất và các vấn đề đặc thù của ngành ngân hàng ).
Quá trình xem xét một giao dịch tập trung kinh tế, cơ quan cạnh tranh cũng cần
tham khảo các số liệu của các cơ quan chuyên về số liệu thống kê như Tổng cục
Thống kê, cơ quan hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh. Các cơ quan này sẽ giúp
cơ quan cạnh tranh đánh giá tính chính xác của các số liệu phục vụ cho việc đánh
giá một giao dịch tập trung kinh tế.
Do đó, việc xây dựng một cơ chế phối hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vận
hành quy trình xem xét, đánh giá tác động của một giao dịch tập trung kinh tế, nhất
là trong bối cảnh cơ quan cạnh tranh bị giới hạn bởi thời gian thực hiện thủ tục do luật định.
- Hoàn thiện tổ chức và bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực cơ quan cạnh tranh.
Như đã nêu trên, nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm soát tập trung kinh tế của
cơ quan cạnh tranh khá hạn chế, trong khi việc giải quyết các hồ sơ tập trung kinh
tế chịu sự giới hạn về thời gian luật định. Do đó, việc tuyển dụng, đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế của cơ quan cạnh tranh là hết sức cần thiết.
Theo đó, quá trình xây dựng và hoàn thiện tổ chức, nhân sự của cơ quan cạnh
tranh, cần xây dựng bộ phận kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế một cách
chuyên nghiệp, có quy mô đáp ứng nhu cầu giải quyết các hồ sơ tập trung kinh tế với số lượng lớn.
Cơ quan cạnh tranh cũng cần chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho
cán bộ thực hiện công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao trong việc đánh giá các vụ việc phức tạp. Đặc biệt, cần học tập kinh
nghiệm của các quốc gia phát triển, đã có quá trình triển khai công tác kiểm soát
hoạt động tập trung kinh tế nhiều năm như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Australia. Cơ
quan cạnh tranh có thể xem xét đến việc cử cán bộ trực tiếp sang thực tập dài hạn
tại cơ quan cạnh tranh của các quốc gia này nhằm nắm bắt không chỉ các quy định
pháp luật mà còn là kỹ năng phân tích, đánh giá các giao dịch tập trung kinh tế tại các quốc gia đó.
Ngoài ra, để có thể vận hành một cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, việc
nâng cao nhận thức của cộng đồng DNvề pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
cũng là một vấn đề quan trọng cần tính đến. Trước tiên, DNcần biết các trường hợp
tập trung kinh tế bị cấm hoặc phải thông báo đến cơ quan cạnh tranh để tránh các
vi phạm vô ý. Đồng thời, việc DNcó nhận thức đầy đủ, đúng đắn về pháp luật kiểm
soát tập trung kinh tế sẽ giúp cho các hồ sơ thông báo tập trung kinh tế có chất
lượng tốt, số liệu chuẩn xác, tin cậy, giúp cơ quan cạnh tranh thuận lợi trong việc
xác minh thông tin, số liệu, đánh giá thông tin và đưa ra quyết định.
Tăng cường minh bạch và thông tin công bố:
Yêu cầu các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp công bố thông tin liên quan đến
quyết định kinh tế, chiến lược phát triển, và các giao dịch kinh doanh quan trọng.
Tạo ra cơ sở dữ liệu trực tuyến để người dân có thể dễ dàng truy cập thông tin về
ngành kinh tế và doanh nghiệp.
Cải thiện quyền lực phân quyền:
Tăng cường vai trò và quyền lực của các cơ quan giám sát độc lập để đảm bảo sự cân bằng và kiểm soát.
Thúc đẩy quyền lực và tự chủ của các doanh nghiệp tư nhân và nhóm doanh nghiệp nhỏ.
Tăng cường hệ thống thực thi pháp luật:
Tăng cường hiệu quả của hệ thống tư pháp để đảm bảo thi hành công bằng và
nhanh chóng các quyết định pháp lý.
Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư và cán bộ tư pháp để nâng cao chất lượng và
tốc độ giải quyết vụ án. Chống tham nhũng:
Thực hiện các biện pháp cụ thể để ngăn chặn và xử lý tham nhũng trong quản lý kinh tế.
Tăng cường công tác giáo dục về tham nhũng và tăng cường sự tham gia của cộng
đồng trong quá trình giám sát.
Khuyến khích đầu tư và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua
giảm bớt thủ tục hành chính, chi phí và tăng cường hỗ trợ tài chính.
Phát triển chính sách khuyến khích đầu tư và hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp.
Tăng cường hợp tác quốc tế:
Tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại và hợp tác kinh tế quốc tế để tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và tăng cường cạnh tranh.
Học hỏi và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý kinh tế.
Các biện pháp này cần sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư
và các bên liên quan khác để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trong quản lý tập
trung kinh tế tại Việt Nam.