-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương các phương tiện truyền thông | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia sẻ thông tin, tạo sự liên kết lẫn nhau, để dẫn tới sự hiểu biết, thay đổi trong nhận thức và hành vi của đối tượng đích một cách tự nguyện, tiệm tiến và bền vững. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Các phương tiện truyền thông 9 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương các phương tiện truyền thông | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia sẻ thông tin, tạo sự liên kết lẫn nhau, để dẫn tới sự hiểu biết, thay đổi trong nhận thức và hành vi của đối tượng đích một cách tự nguyện, tiệm tiến và bền vững. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Các phương tiện truyền thông 9 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CPTTT
ĐỀCƯƠNGCPTTT
VĐ1. Bản chất truyền thông hiện đại [a][b][c][d][e][f][g]
1. ĐỊNHNGHĨATRUYỀNTHÔNG
Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia sẻ
thông tin, tạo sự liên kết lẫn nhau, để dẫn tới sự hiểu biết, thay đổi trong nhận
thức và hành vi của đối tượng đích một cách tự nguyện, tiệm tiến và bền vững.
Truyền thông là hành vi có tính mục đích: ◈ Truyền đạt ◈ Thông tin ◈ Kết nối ◈ Chia sẻ ◈ Tương giao ◈ Kiến tạo ◈ Định hướng
• Sức mạnh truyền thông rất rõ ràng. Tạo dựng nhận thức và hành vi
• Từ chỗ giao tiếp, sử dụng thông tin thành công cụ để chinh phục, tác động đối tác của mình.
2. MôhìnhtruyềnthôngICE/CIE:
1. Communication (giao tiếp/ truyền thông/ phương thức)
2. Information (thông tin/nội dung)
3. Education (giáo dục/mục tiêu)
3.Mởrộngcươngvịtruyềnthông:Không chỉ là hiệu ứng mà tác động tới hành
vi, thông qua quá trình xã hội học.
4.Bảnchấtcủatruyềnthông:
BẢN CHẤT CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ KIẾN TẠO Thông điệp Góc độ
Góc độ tính công cộng: Truyền thông là quá trình làm cho cái trước
đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai
hoặc nhiều người (Frank Dance, 1970).
Góc độ dẫn dắt: Truyền thông là quá trình dẫn dắt sự chú ý của người
khác nhằm mục đích trả lời sự mong mỏi (Cartier và Hanoov, 1950)
Góc độ phản ứng: Truyền thông là sự phản ứng của cơ thể đối với một
nhân tố kích thích (Stevens, 1950) Mã hóa
Truyền tin trung gian được gọi là Ký hiệu.
Trung tâm ký hiệu là ký hiệu ngôn ngữ.
HỆ THỐNG KÝ HIỆU TRUYỀN THÔNG ◈ Hệ thống ký hiệu ◆ Ngôn ngữ ◆ Hình ảnh ◆ Vật chất ◆ Âm thanh
◈ Quá trình tạo nghĩa: (meaning) ◆ Gán nghĩa ◆ Quy ước ◆ Thống nhất
Để hiểu một ấn phẩm truyền thông: Xác định các ký hiệu
Xác định ý nghĩa của các ký hiệu
Xác định mối tương quan giữa các ký hiệu
Kết nối tương quan với bối cảnh văn hóa, xã hộiGóc bao trùm.
VĐ2.Ưu và nhược điểm của các phương tiện truyền thông truyền thống; báo mạng điện tử; mạng xã hội
* Các phương tiện truyền thông truyền thống, hoặc một số được coi là phương
tiện truyền thông cũ, đã được sử dụng trong thế giới tiếp thị / quảng cáo
trong nhiều năm. Khi liên quan đến quảng cáo, các phương tiện truyền thông
truyền thống bao gồm quảng cáo truyền hình, báo, đài và tạp chí.
* Những hình thức truyền thông này là những cách vững chắc mà các doanh
nghiệp đã đạt được cả người tiêu dùng và các công ty khác trong nhiều thập
kỷ. Đó là nguồn gốc của quảng cáo và hình thức phổ biến nhất được các
doanh nghiệp sử dụng hàng ngày. Mặc dù phương tiện truyền thông truyền
thống có hiệu quả, trong suốt vài năm qua, chúng ta đã thấy ngày càng có
nhiều doanh nghiệp sử dụng phương tiện truyền thông mới để tiếp cận đối
tượng mục tiêu của mình
2.1.a. Ưu điểm các phương tiện truyền thông truyền thống Tivi(Television)
Ưu điểm: Trực quan, sinh động, nhiều người chú ý, gây hiệu quả mạnh, đến
được nhiều đối tượng.
Quảngc;ongoNó bao hàm việc treo các biển quảng cáo ngoài trời, đồng thời tổ chức những
sự kiện, những chương trình nhằm marketing cho sản phẩm, hay đơn giản
chỉ là tài trợ cho chương trình để được treo logo trên phông chương trình.
Ưu điểm : Quảng cáo ngoài trời và trên đường phố rất dễ đập vào mắt mọi
người. tổ chức sự kiện sẽ gián tiếp được đài truyền hình và các báo đài đưa
tin về thương hiệu của công ty. B;och>
Ưu điểm: Đối với tạp chí, hiệu quả lôi cuốn sự chú ý của người đọc có phần khá
hơn. Độc giả có khuynh hướng đọc kỹ tạp chí hơn là báo. Ngoài ra, do số
lượng các mẩu quảng cáo trên tạp chí không nhiều nên cơ hội để độc giả ghé
mắt qua quảng cáo của bạn cũng cao hơn và mức độ lặp lại cao hơn do thời
gian sử dụng của tạp chí dài hơn.
Điê @nthoAitrBctiCp
Ưu điểm: Có hiệu quả tác động cao nhất so với những phương tiện khác. Do
bạn được trực tiếp trao đổi với khách hàng nên có cơ hội lớn để giới thiệu
chi tiết về sản phẩm dịch vụ và tìm hiểu được chính xác nhu cầu và mong
muốn của khách hàng, ngoài ra bạn cũng có thể xây dựng mối quan hệ và
chiếm được thiện cảm của khách hàng hoặc có thể bán ngay được sản phẩm.
Trong trường hợp này khách hàng thường trả lời rất chính xác nhu cầu và
mong muốn của họ, qua đó bạn có thể chuẩn bị cho các bước bán hàng và quảng cáo tiếp theo.
Tựu chung lại tuy rằng gần đây những phương tiện truyền thông hiện
đại rất được ưa chuộng cùng với sự phát triển của khoa học công
nghệ, những phương tiện truyền thông truyền thông vẫn là một yếu
tố quan trọng giúp nhãn hàng tiếp cận được đến khách hàng một cách
khá trực tiếp và hiệu quả, đồng thời sở hữu cho mình những tệp khách
hàng quen và quan tâm tới nhãn hàng
2.1.b. Nhược điểm các phương tiện truyền thông truyền thống
Tivi/Truyềnhình:
Không lưu trữ được: Truyền hình truyền tải một lượng thông tin liên
tục và truyền tín hiệu với dung lượng rất lớn nên truyền hình buộc
người ta phải theo dõi sự kiện đó từ đầu đến cuối chứ không thể vừa làm việc vừa theo dõi.
Chi phí: vì chi phí quá cao nên các doanh nghiệp thật sự mạnh mới có
thể sử dụng được phương thức này.
Hơn nữa, số lượng quảng cáo trên truyền hình cũng rất lớn nên có thể
quảng cáo sẽ khiến người theo dõi truyền hình cảm thấy khó chịu, dẫn
đến phản tác dụng. Hãy thật cẩn thận, tận dụng khéo léo để biến
phương tiện truyền thông tin này được phát huy tối đa tác dụng của nó. Quảngc;ongo:
Khó tiếp cận được với khách hàng tiềm năng: Đây là một trong những
vấn đề nan giải đối với doanh nghiệp khi lựa chọn hình thức quảng
cáo ngoài trời. Bởi hầu hết các hình thức quảng cáo ngoài trời nói
chung đều không thể đảm bảo với doanh nghiệp rằng những thông
điệp truyền thông sẽ được tiếp cận đến với những khách hàng trong độ
tuổi thế này, mức thu nhập thế kia, khả năng tài chính trong mức nào…
Thời gian tiếp xúc ngắn ngủi: Khi di chuyển trên đường, trừ khi gặp
phải những cung đường ùn ứ, tắc nghẽn giao thông, thì người đi
đường hầu như chỉ có từ 5 – 10s để tiếp nhận thông tin từ các hình
thức quảng cáo ngoài trời. Đây là một khoảng thời gian vô cùng ngắn
ngủi để có thể tiếp cận lượng lớn thông tin quảng cáo.
Gặp khó trong việc sáng tạo nội dung: Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn
có rất nhiều điều luật ràng buộc, ngăn cấm triển khai, sáng tạo nên các
hình thức quảng cáo ngoài trời độc nhất và ấn tượng. Vì vậy, doanh
nghiệp sẽ không thể triển khai nên những tấm biển bảng quảng cáo
3D sáng tạo và độc đáo.
Hạn chế trong việc đo lường hiệu quả: Trước đây, việc đo lường hiệu
quả quảng cáo ngoài trời gần như là điều không thể, bởi hầu như bạn
không thể nào có đo lường kỹ càng được rằng có bao nhiêu người tiếp
cận được hình ảnh quảng cáo trên biển bảng, taxi, xe buýt,… Đó là
chưa tính đến việc liệu họ có trở thành khách hàng của doanh nghiệp
thông qua những hình ảnh quảng cáo ngoài trời của doanh nghiệp hay không. B;och>:
Tính cập nhật thấp, khả năng phát tán thông tin còn hạn chế: Tính
định kỳ dài khiến cho báo in hạn chế trong việc cập nhật và truyền bá
tin tức. Do báo in chỉ xuất hiện vào một thời điểm cụ thể và nhất định
với nội dung thông tin đề cập đến các vấn đề, sự kiện trong cả một
chu kỳ xuất bản. Vì vậy mà tính cập nhật thời sự và độ nhanh của báo in còn hạn chế.
Đơn điệu về mã và khả năng giải mã thông tin: Về mặt hình thức,
trong khi thị hiếu của công chúng đang ngày càng thay đổi theo chiều
hướng ưa chuộng tính thẩm mỹ cao thì ngoại trừ một số tờ báo có đủ
kinh phí để in màu với chất liệu giấy dày dặn, hình thức bắt mắt và
gây được ấn tượng thì phần lớn báo in Việt Nam vẫn là đen trắng, chất
liệu giấy chưa đẹp. Thứ hai, về nội dung, báo in là loại hình đơn điệu
nhất về mã (chỉ đơn thuần bao gồm kênh hình và kênh chữ) và khả
năng giải mã thông tin. Có thể bắt gặp ở bất kì tờ báo nào những bài
viết còn quá dài dòng, nặng về câu chữ, ảnh minh họa xuất hiện trong
các tác phẩm báo chí còn nhiều khiếm khuyết do chưa đủ các yếu tố
để cung cấp thông tin và đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa có
nhiều am hiểu về lĩnh vực này. Dung lượng chuyển tải thông tin
(trong một lần) bị hạn chế và sự đơn điệu trong việc thể hiện thông tin.
Khả năng tương tác kém: Đối với báo in thì sự phản hồi của người
đọc trải qua rất nhiều bước như là gửi email để phản hồi, thậm chí nếu
như bài báo đưa ra thông tin trái chiều không đúng sự thật mà bạn đọc
muốn khiếu nại tố cáo thì phải làm đơn rất lằng nhằng. Độ tương tác
giữa tòa soạn vào độc giả không cao nên việc nhận phản hồi qua lại
vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Chi phí phát hành tốn kém: Tuy hiện nay, kỹ thuật in hiện đại cho
phép bỏ qua một số khâu trong in sản phẩm. Tuy nhiên chi phí xuất
bản của báo in vẫn lớn hơn báo phát thanh và báo mạng điện tử rất
nhiều. Chưa kể sự chậm trễ trong khâu in xuất bản, việc phát hành báo
in được thực hiện theo hình thức trao tay, vì thế báo in đến với người
đọc sớm hay muộn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông
và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo.
Giới hạn đối tượng: Do đặc điểm được in trực tiếp lên giấy nên báo in
không có nhiều cơ hội trong việc áp dụng các công nghệ đa phương
tiện mới, điều này không ảnh hưởng nhiều tới độc giả ở độ tuổi trung
niên hay cao tuổi nhưng lại là hạn chế khi tiếp cận nhóm đối tượng là độc giả trẻ.
ĐiệnthoAitrBctiCp:
Khả năng khách hàng từ chối cao: Khách hàng luôn có tâm lý thận
trọng mỗi khi có số điện thoại lạ gọi đến. Họ sợ lừa đảo hoặc sản
phẩm không đảm bảo vì không được trực tiếp trải nghiệm. Vì thế điều
quan trọng của một Telesales là phá bỏ sự hoài nghi, mang đến sự
đảm bảo và uy tín đến khách hàng.
Cuộc gọi có thể bị gián đoạn bất kỳ lúc nào: Khách hàng có thể có
việc bận nên bạn cần tìm thời gian phù hợp để liên lạc. Hãy hỏi khách
hàng thời gian họ có thể trò chuyện và đặt lịch hẹn để liên lạc lại.
Bạn chỉ có thể sử dụng giọng nói, ngữ điệu để bán hàng: Không có
sản phẩm trực quan, không có ngôn ngữ cơ thể, bạn không thể nhìn
thái độ của khách hàng. Bạn phải vận dụng tối đa giọng nói, ngữ điệu
và khả năng giao tiếp của một Telesales để mang đến hình ảnh sống
động nhất về sản phẩm và tính năng của nó.
Chi phí cao, không tiếp cận được tới nhiều khách hàng co
2.2.a. Ưu điểm báo mạng điện tử Ưu điểm
tính thời sự, thông tin nhanh và cập nhật tức thì. Hơn nữa
thông tin lại rất phong phú và đa dạng. Hơn nữa, báo
mạng điện tử tích hợp tính năng đa phương tiện: văn bản,
hình ảnh tĩnh và đồ họa, âm thanh, video, hình ảnh động
và gần đây nhất là các chương trình tương tác… Như vậy
có thể thấy báo mạng là vô cùng hấp dẫn và phong phú,
người xem có thể tùy ý lựa chọn cho mình những hình
thứcMột truyền tải thông tin nào thích hợp nhất.
Báo mạng có tính toàn cầu hóa thông tin, tính toàn cầu
hóa xóa nhòa ranh giới các quốc gia trên thế giới. Một
câu chuyện xảy ra ở cách chúng ta nửa vòng trái đất
nhưng tin tức đăng trên báo mạng chỉ sau sự kiện vài
giây. Như vậy chính báo mạng đã kéo cả thế giới xích lại
gần nhau, thế giới trở thành một mặt phẳng, khoảng cách địa lý như về 0.
là một kho lưu trữ thông tin, dự kiệu khổng lồ, không
giới hạn, chính vì thế rất tiện lợi cho việc tra cứu, tìm
hiểu. Nói không quá, có thể nói toàn bộ thế giới được mở
ra trong tầm tay chỉ bằng một cú click chuột. Quả là một
thế mạnh mà không một loại hình báo chí nào có thể cạnh tranh được.
báo mạng đem đến cho bạn đọc sự chủ động về chọn
cách tiếp cận thông tin, chọn thời gian tiếp cận( những
lúc làm việc, hay những lúc rảnh rỗi…) đem lại hiệu quả
cao hơn. Hơn nữa, báo mạng điện tử tạo cho người đọc
sự chủ động: muốn gì được nấy, nhiều thông tin đa chiều,
nhiều luồng tư tưởng khác nhau.
là sự tổng hợp thông tin giúp người đọc dễ dàng tiếp
nhận. Đó chính là tính liên kết của báo mạng, nói cụ thể
đó là một bài viết trên báo mạng luôn có dẫn có link từ
trang này đến trang khác, tạo nên một hệ thống các bài
viết, rất tiện cho những bạn đọc theo dõi sự kiện có tính xuyên suốt, dài kỳ.
Báo mạng cũng rất quan tâm đến tương tác bạn đọc, điều
đó cũng là một thế mạnh của báo mạng điện tử. Không
phải tự nhiên mà báo mạng đăng rất nhiều mục như giao
lưu trực tuyến, lấy ý kiến bạn đọc, bình chọn qua mạng,
mục bạn đọc góp ý dưới mỗi bài viết…Đây cũng là một
thế mạnh mà các loại hình báo chí khác khó có thể cạnh tranh.
2.2.b. Nhược điểm báo mạng điện tử
Đây là loại hình giúp chúng ta cập nhật tin tức một cách nhanh chóng.
Sự kiện luôn luôn xảy ra bất kể ngày đêm và báo mạng là nơi đăng tải
thông tin một cách kịp thời đáp ứng nhu cầu của độc giả. Làm được
điều này, thứ nhất đó là do bản chất của internet. Internet có tốc độ
truyền tin nhanh chóng. Thứ hai cách thức để đăng tải bài cũng dễ
dàng hơn báo in, báo phát thanh, báo truyền hình( các loại hình này
khi thực hiện gồm nhiều khâu và bị kiểm duyệt chặt chẽ, gắt gao)
Báo mạng điện tử hấp dẫn với đông đảo đối tượng bởi sự tác động vào
nhiều giác quan. Chúng ta có thể vừa đọc, vừa nghe, vừa xem clip
kèm theo bài báo. Điều này là lí do khiến cho rất nhiều người tìm đến
báo điện tử mỗi khi cần tìm kiếm thông tin.
Có khả năng lưu trữ thông tin là điều dễ dàng nhận thấy đối với loại
hình này.Thông tin dù là cũ hay mới thì cũng được lưu giữ lại trên báo
điện tử. Bởi vậy người đọc muốn tra cứu, tìm hiểu về sự kiện, tin tức
đã xảy ra rất lâu là điều hoàn toàn có thể thực hiện bằng các thao tác
đơn giản. Đây là đặc điểm mà báo phát thanh và báo truyền hình không làm được.
Có tính tương tác cao là một ưu điểm không thể không kể tới của báo
mạng. Báo điện tử không chỉ đưa ra các bài viết của các nhà báo,
phóng viên mà nó còn ngay lập tức nhận được sự phản hồi của bạn
đọc thông qua những dòng comment dưới mỗi bài viết. Thêm vào đó
chính bạn đọc cũng có thể sáng tác các tác phẩm để đăng tải lên báo
mạng. Có thể thấy báo mạng là một diễn đàn công khai mà người
phóng viên và bạn đọc có thể trao đổi, chia sẻ thẳng thắn về một vấn
đề trong xã hội, thông tin từ khắp nơi trên thế giới. Trong khi đó, báo
phát thanh, báo truyền hình, báo in bị hạn chế trong một phạm vi, khu vực nhất định.
2.3.a. Ưu điểm mạng xã hội
Cập nhật tin tức một cách nhanh chóng: Trước đây, nếu muốn cập
nhật tin tức thì chúng ta hoặc là nghe Radio hoặc là xem Tivi hoặc là
đọc báo… còn bây giờ chỉ cần lên các trang mạng xã hội thì chúng ta
đã dễ dàng nắm bắt được những thông tin mới nhất
Kết nối, giữ gìn các mối quan hệ: ta có thể duy trì và giữ gìn các mối
quan hệ được bền chặt hơn ở khắp mọi nơi trên thế giới...Bạn hoàn
toàn có thể Message, Zalo Call, Video Call, … chỉ với một chiếc máy
vi tính, điện thoại thông minh, hoặc là máy tính bảng có kết nối
Internet, mọi thứ đều hoàn toàn miễn phí
Nâng cao kỹ mềm, kỹ năng sống và sự hiểu biết về thế giới xung quanh
Giải trí: là nhu cầu thiết yếu của con người nên các nền tảng mạng xã
hội đã sử dụng rất nhiều phương pháp nhằm đem lại cho chúng ta
những trải nghiệm tuyệt vời nhất.
Tiếp thị Thương hiệu: Các chủ doanh nghiệp có thể tiếp thị thương
hiệu của mình bằng phương tiện truyền thông xã hội để họ có thể tiếp
cận khách hàng một cách dễ dàng. Trên thực tế, có rất nhiều doanh
nghiệp nhỏ ngày nay hoàn toàn dựa vào mạng xã hội để quảng bá
thương hiệu của mình. Không có chúng đơn giản là chúng không thể hoạt động. Tìm kiếm việc làm
Một số người cũng sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm cơ hội việc làm.
Tất cả các trang mạng xã hội đều quảng cáo các lời mời làm việc.
2.3.b. Nhược điểm mạng xã hội 1. Nghiện
Nhiều người sử dụng mạng xã hội bị nghiện vì nó bị phân tâm khỏi thế giới
thực. Đặc biệt, thanh thiếu niên và trẻ em thường bị ảnh hưởng. Họ không
còn có thể tưởng tượng một cuộc sống mà không có mạng xã hội. Những
người đó luôn kiểm tra newsfeed của họ và hồ sơ của những người khác lãng
phí rất nhiều thời gian. Đôi khi những cơn nghiện này có thể dẫn đến những hậu quả bi thảm.
2. Rủirovềsứckhỏe
Sử dụng quá nhiều các trang mạng xã hội có thể thúc đẩy, cô đơn, trầm cảm, lo
lắng và các nguy cơ sức khỏe tâm thần khác. Đặc biệt, người lớn thường bị
ảnh hưởng đến việc thay đổi hành vi cá nhân của họ. Ngoài ra, ánh sáng
nhân tạo phát ra từ màn hình và màn hình điện thoại di động được coi là có
hại cho mắt và nó được biết là nguyên nhân gây ra những thay đổi trong chu kỳ ngủ của con người.
Bên cạnh sức khỏe tinh thần, việc sử dụng mạng xã hội kéo dài cũng ảnh hưởng
gián tiếp đến sức khỏe thể chất của chúng ta. Những người sử dụng mạng xã
hội luôn ngồi trước máy tính xách tay hoặc cầm điện thoại di động, bỏ qua
các hoạt động thể chất.
3. Tươngt;cMặtđốimặt
Nhiều người dùng mạng xã hội thường không muốn giao tiếp trực tiếp với
người khác. Thay vào đó, họ dễ dàng mở hồ sơ và bày tỏ ý kiến của mình.
Đã qua rồi cái thời, chúng ta đến thăm trực tiếp bạn bè khi chúng ta muốn
gặp họ. Điều này có thể tác động tiêu cực đến các mối quan hệ mà chúng ta
đang có với bạn bè và gia đình.
4. TintứcgiảmAo
Nói chung là dễ dàng lan truyền thông tin sai lệch và sai sự thật bằng cách sử
dụng phương tiện truyền thông xã hội. Một số thông tin lan truyền trên mạng
xã hội là từ các nguồn không đáng tin cậy được tạo ra hoàn toàn với mục
đích hủy hoại danh tiếng của ai đó và gây ra tổn thất.
Vì người dùng được tự do bày tỏ quan điểm của mình, ngay cả những trang
mạng xã hội đó cũng sẽ không thực hiện bất kỳ hành động nào để xóa
chúng, trừ khi người đọc báo cáo bài đăng. Thậm chí, một số người dùng
còn phản ứng và chia sẻ những bài viết như vậy mà không xác minh được tính trung thực trong đó. 5. TộiphAmmAng
Một số trang mạng xã hội cũng có thể được sử dụng làm nền tảng cho tội phạm
mạng như quấy rối, bắt nạt, tống tiền, đe dọa và rình rập. Vì vậy, không có
gì ngạc nhiên khi việc sử dụng các trang web đó có thể dẫn đến lo lắng, trầm
cảm hoặc thậm chí tự tử.
Thông thường, trẻ em có thể dễ dàng trở thành nạn nhân của những tội phạm
mạng này. Vì ai cũng có thể dễ dàng tạo hồ sơ giả, những đứa trẻ này có thể
dễ dàng bị những kẻ bắt nạt nhắm tới. Hơn nữa, họ rất dễ ẩn danh không bị lộ danh tính. 6. Hacking
Các trang mạng xã hội thường là mục tiêu của tin tặc để hack và xâm nhập vào
máy tính của ai đó để họ lấy thông tin bí mật nhằm đánh cắp danh tính.
Những người sử dụng hồ sơ mạng xã hội luôn chia sẻ hình ảnh, lối sống và
thông tin cá nhân của họ với công chúng. Những thông tin này đủ để tin tặc
có thể xâm nhập hồ sơ của bạn. Vì vậy, người dùng phải cẩn thận và có ý
thức và cẩn thận về tài khoản của mình để tránh những sự cố như vậy.
7. Mốiquantâmvềquyềnriêngtư
Vì hầu hết các trang mạng xã hội đều cho phép thông tin của người dùng được
chia sẻ công khai nên mức độ riêng tư mà nó mang lại đang giảm dần.
Người dùng không bao giờ biết ai đã truy cập hồ sơ của họ và lấy thông tin
về họ. Mặc dù các trang mạng xã hội không thể đảm bảo bảo vệ sự riêng tư
của bạn 100%, nhưng họ đang cố gắng hết sức để giữ an toàn.
VĐ3.KCthợpc;cmediatrongmôhìnhPESO
1. Khái niệm mô hình PESO:
PESO là 4 loại hình truyền thông - paid (trả tiền), earned (lan truyền), shared
(chia sẻ) và owned (sở hữu) - được kết hợp lại cùng nhau.
Paid media (Truyền thông trả tiền): Trả tiền để được phân phối,
cho dù đó là một nội dung bình thường hay một quảng cáo
(chẳng hạn việc chạy ads trên Facebook, Youtube, Tiktok…).
Earned media (Truyền thông lan truyền): Là những gì thảo luận
trên các kênh truyền thông hoặc báo chí (chẳng hạn việc thương
hiệu của mình được nhắc tên hay bàn luận đến trong một bài
báo uy tín mà ta hoàn toàn không phải trả phí).
Shared media (Truyền thông chia sẻ): Lan tỏa nội dung trong
nhóm công chúng của chính thương hiệu (chẳng hạn việc một
nội dung trong chiến dịch của thương hiệu mình được nhiều
người dùng chia sẻ, lan truyền trong các hội nhóm của họ)
Owned media (Truyền thông sở hữu): Sử dụng một nhóm công
cụ mà công ty được toàn quyền kiểm soát về nội dung và dữ
liệu (chẳng hạn xây dựng content trên Fanpage, Blog,
Website… của chính công ty).
2. Sự ứng dụng của mô hình PESO:[h]
Mô hình PESO là sự kết hợp linh hoạt giữa 4 kênh trên bằng việc bù đắp cho
những điểm yếu và gia tăng điểm mạnh của nhau để đạt được hiệu quả truyền thông tốt nhất. Media Ưu điểm Nhược điểm Paid Có thể gia tăng Không đáng tin: hầu quy mô: càng hết công chúng có nhiều chi phí thì thái độ nghi ngờ đối mức độ lan tỏa với quảng cáo. càng rộng.
Đắt đỏ: khả năng tiếp Độ chắc chắn: đảm
cận tỉ lệ thuận với chi bảo công chúng có phí bỏ ra. thể tiếp cận với Không lâu bền: thông điệp. khi ngừng đầu tư Tốc độ: nhanh thì kết quả cũng chóng đạt được giảm nhanh hiệu quả. chóng. Earned
Độ uy tín: được Không chắc chắn:
“chứng nhận” bởi không thể đảm bảo
bên thứ ba có
mình sẽ được nhắc tên quyền lực. trong một bài báo hay Chi phí hợp lý: tận quảng cáo. dụng được số Khó gia tăng quy mô: lượng và niềm tin khó tận dụng ở quy của một nhóm mô toàn cầu hay với công chúng vững một lượng lớn các mạnh. thông điệp. Lợi ích lâu dài:
Đắt đỏ: cần thời gian những nội dung đã và chi phí để xây được đăng tải có dựng một chương thể sử dụng vào trình PR hiệu quả. mục đích SEO. Shared Đáng tin: người Không chắc chắn: khó dùng có xu hướng
có thể đoán được nội tin những người dung nội dung nào sẽ dùng khác hơn là được chia sẻ. các nhà quảng cáo. Không gia tăng quy Chi phí thấp: nội mô: chỉ sản xuất thêm dung của bạn được nội dung không có lan tỏa đến đâu nghĩa là sẽ có thêm phụ thuộc vào chất lượt chia sẻ. lượng chứ không thời gian phản hồi và phải số tiền đằng góp ý chậm sau nó. tính tương tác cao Owned Rủi ro thấp: bạn sở Tốc độ chậm: xây hữu kênh truyền dựng một nhóm công thông của mình mà chúng là một công không phụ thuộc việc cần thời gian. vào chính sách hay Không độc lập: xây nền tảng nào. dựng một nhóm công Tài sản dài lâu: chúng cần sự kết hợp chừng nào nội giữa cả 3 kênh trên. dung chưa lỗi thời thì vẫn còn giá trị thu hút công chúng.
3. Ví dụ về ứng dụng mô hình PESO
Dell là ví dụ tốt nhất về một công ty đang tái cấu trúc marketing, truyền thông
thương hiệu để tạo nên một hệ sinh thái hướng đến nội dung, để tiếp cận và
kết nối hiệu quả hơn với người tiêu dùng.
Vậy Dell đã áp dụng PESO như thế nào?
Trong suốt sự kiện Dell World vừa diễn ra năm 2014, hãng đã thu
hút hơn 3,000 khách hàng, nhà phân tích, những người khởi nghiệp
và truyền thông từ khắp thế giới, Dell đã lần đầu tiên ra mắt "Chỉ
số Tiếp nhận Công nghệ Toàn cầu (Global Technology Adoption
Index - GTAI). Ý tưởng bắt nguồn từ khía cạnh truyền thông, được
xem như cơ hội để cung cấp một cái "neo" với giới truyền thông
trong khi thảo luận. Nhưng khi họ bắt đầu thuyết trình ý tưởng này
đến phòng marketing, với sự tham gia của đội ngũ quản trị thương
hiệu, ý tưởng này đã tác động rất lớn đến tổng thể một chương
trình lớn hơn, liên quan đến báo chí, quảng cáo tự nhiên, các kênh
truyền thông sở hữu (owned media) và mạng xã hội.
Ông Monique Bonner, phó giám đốc phụ trách Marketing toàn cầu
của Dell, cho biết thêm: "Đội ngũ quản trị thương hiệu của chúng
tôi đã nghiên cứu và chuyển hóa ý tưởng này thành một loạt các
công cụ như infographic, quảng cáo tự nhiên, etc… tất cả đều trở
về website mà Dell sở hữu. Về bản chất, chúng tôi đã tạo ra những
loại nội dung phù hợp với khách hàng mục tiêu dựa trên định hướng từ PR."
Trong ví dụ của Dell, đây là cách họ thực hiện: Paid Media:
Các bài đăng trên mạng xã hội dưới hình thức trả tiền đã tăng
cường thêm sức ảnh hưởng của chiến dịch trên LinkedIn và Twitter. Earned Media:
Đội ngũ PR trình bày và thuyết phục các phóng viên cũng như các
kênh truyền thông có uy tín đăng tải câu chuyện này bao gồm các
trang về công nghệ và kinh tế như The Irish Times, ZDnet và eWeek.
Chiến dịch quảng cáo tự nhiên GTAI trên The New York Times
được tung ra một ngày sau khi thông cáo báo chí được phủ đầy
trên các phương tiện truyền thông. Shared Media
Video và nội dung được đăng tải trên các trang kinh doanh và công nghệ. Owned Media:
Michael Dell thông báo chỉ số GTAI trong buổi họp báo của Dell World.
Kết quả của chỉ số GTAI được chia sẻ rộng rãi trên các nền tảng
mạng xã hội của Dell (điển hình là: LinkedIn, Twitter, Facebook với hashtag #delltechindex)
Trang web thuộc sở hữu của Dell, Tech Page One, đã tung ra một
câu chuyện mang tên "Tech Hype meets Tech Reality" (tạm dịch:
Công nghệ – Từ ảo tưởng đến Thực tế) được dùng để chia sẻ
những khám phá hay từ GTAI.
Điều gì khiến mô hình PESO hiệu quả với chiến dịch này?
Trong ví dụ GTAI, Dell đã cộng tác chặt chẽ với các agency hàng đầu của
họ, WPP Team Dell – bao gồm các agency như PPR Worldwide về mặt
truyền thông, Y&R cho quảng cáo, VML hỗ trợ Digital, Mediacom giúp đặt
mua truyền thông và hàng loạt các công ty khác.
VĐ4.Liệtkêc;cmediatrongmôhìnhPOEM
Mô hình Paid – Owned – Earned Media (POEM) được biết đến như chiếc
“kiềng ba chân” vững chãi làm bệ phóng cho sự thành công của mỗi chiến
dịch digital marketing. Đây là sự kết hợp giữa 3 phương tiện truyền thông:
Paid Media - Truyền thông trả phí
Owned Media - Truyền thông sở hữu
Earned Media - Truyền thông lan truyền
1.PaidMedia(Truyềnthôngtrảph>)
Paid Media là các công cụ, kênh truyền thông mà thương hiệu cần chi trả một
khoản tiền để quảng bá sản phẩm/ dịch vụ của mình, bao gồm các hoạt động:
Quảng cáo truyền hình, quảng cáo hiển thị, quảng cáo tìm kiếm hoặc tài trợ.
Hiện tại, Paid Media đang được sử dụng rộng rãi để tạo ra truyền thông lan
truyền hoặc thúc đẩy lưu lượng truy cập trang web, mạng xã hội,...
Lợi ích của các phương tiện truyền thông trả phí là tính tức thời và khả năng
kiểm soát. Với vị trí quảng cáo được đảm bảo, thương hiệu có thể tiếp cận
được thị trường mục tiêu ngay lập tức. Điều này cho phép các nhà tiếp thị
kiểm soát thời gian, địa điểm và cách thức truyền tải thông điệp.
Nhờ hiệu quả trong việc tiếp cận đối tượng lớn, Paid Media thường được đẩy
mạnh trước khi bán hàng và giảm dần trong thời gian thấp điểm. Tuy nhiên,
hình thức này cũng có những bất lợi như chi phí cao, độ uy tín của các kênh
không được đảm bảo, gây phiền nhiễu cho người nhận. Đồng thời đây cũng
là hình thức có tính hỗn tạp và gây suy giảm tỷ lệ phản hồi.
Ví dụ: Bài advertorial, Quảng cáo, Outdoor, Display Ads, Paid Search, Sponsorship
2.OwnedMedia(Truyềnthôngsởhữu)
Owned Media là tập hợp tất cả các công cụ, kênh thuộc quyền sở hữu và kiểm
soát của thương hiệu, chẳng hạn như trang web, cộng đồng, blog, fanpage, ứng dụng,...
Owned Media giúp xây dựng mối quan hệ và nuôi dưỡng nhu cầu của khách
hàng mới và khách hàng sẵn có. Điểm mạnh của hình thức này là rủi ro thấp
và mang đến lợi ích lâu dài. Tương tự như Paid Media, quyền kiểm soát nội
dung cũng là một lợi ích quan trọng của Owned Media. Theo đó, nội dung
trên website hoặc cộng đồng có thể điều chỉnh linh hoạt và không tốn chi phí.
Bên cạnh đó, Owned Media cũng có những bất lợi trong một số trường hợp nếu
khách hàng không thể tìm thấy hoặc không biết đến sự tồn tại của nội dung
do thương hiệu đăng tải. Thông thường, thương hiệu cần có một loại phương
tiện khác như Paid hoặc Earned Media để nâng cao nhận thức và hướng
khách hàng đến những “tài sản” sở hữu này. Không những vậy, Owned
Media còn là một hình thức khá tốn thời gian để phát triển.
Ví dụ: Website, Mobile side, Landing page, Newsletter, Blog, Facebook/Youtube
3.EarnedMedia(Truyềnthônglantruyền)
Earned Media là những kênh thúc đẩy thảo luận, phản hồi của khách hàng hoặc
các bên liên quan về thương hiệu, chẳng hạn như đánh giá của khách hàng
hoặc một bài đăng trên Facebook. Nhờ được “sản xuất” bởi chính khách
hàng, những nội dung phát sinh trên Earned Media thường đáng tin hơn so với Paid hoặc Owned Media.
Thay vì thụ động chờ đợi khách hàng đăng tải nội dung, Earned Media nên
được tích hợp vào chiến lược IMC của thương hiệu. Thương hiệu có thể chủ
động sáng tạo hoặc đóng góp nội dung để nhận được đề cập của báo chí
cũng như tạo những cuộc thi với giải thưởng hấp dẫn để thúc đẩy người
dùng tạo nội dung cho thương hiệu.
Dù Earned Media là phương tiện truyền thông miễn phí, nhưng chúng rất khó
kiểm soát và đo lường, thậm chí có thể gây hại cho thương hiệu bởi những
nội dung tiêu cực do người dùng tạo ra. Vì vậy, để tối ưu hiệu quả chiến dịch
truyền thông, thương hiệu cần tích hợp cả 3 loại phương tiện: Tiếp cận đa
dạng đối tượng thông qua Paid Media, tạo nội dung hấp dẫn, hướng đến
khách hàng và giải quyết vấn đề của họ trên Owned Media, sau đó khuyến
khích họ chia sẻ, đánh giá hoặc ủng hộ thương hiệu.
Ví dụ: Editorial, Review, Share, WOM, Buzz, Viral
Case study: Một ví dụ điển hình về việc kết hợp của 3 phương tiện truyền thông
Paid - Owned - Earned đến từ thương hiệu Burger King. Thương hiệu đã thực hiện
chiến dịch quảng cáo dài 15s (Paid Media) “Google Home for the Whopper” để
hướng dẫn mọi người hỏi “OK, Google, What is the Whopper burger?” (tạm dịch:
“OK, Google, Whopper burger là gì?”) Khi người dùng tìm kiếm “What is the
Whopper burger?” trên Google, các thông tin về chiến dịch sẽ xuất hiện và cho
người dùng biết tất cả về Burger King. Ngoài ra, thương hiệu còn cập nhật thông
tin về Whopper - Burger King trên Wikipedia (Owned Media) và để thông tin này
xuất hiện đầu tiên trên Google Home. Điều này đã thúc đẩy nhiều lượt chia sẻ của
người dùng hơn (Earned Media), giúp quảng cáo của thương hiệu tiếp cận 9,3 tỷ
người trên toàn cầu. Ngoài ra, chiến dịch còn giành giải Grand Prix Direct tại
Cannes 2017 và mang lại cho Burger King 135 triệu đô la Mỹ. NHÓM3
VĐ5.Quy trình viết phóng sự truyền hình
5.1. Khái niệm phóng sự truyền hình:
Khái niệm phóng sự truyền hình là một thể loại báo truyền hình thuộc nhóm
chính luận nghệ thuật, phản ánh các sự kiện, con người, tình huống, hoàn
cảnh điển hình trong quá trình phát sinh, phát triển, đồng thời thẩm định
hiện thực đó qua cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo lý trí, vừa cảm xúc với bút
phát giàu chất văn học bằng phương tiện kỹ thuật truyền hình
5.2. Đặc trưng của phóng sự truyền hình
Gồm 4 đặc trưng:
Ngôn ngữ phóng sự truyền hình là ngôn ngữ tổng hợp của 2 yếu tố hình ảnh và âm thanh
Thủ pháp Montage: góp phần làm tăng hiệu quả phản ánh của phóng
sự và rút ngắn độ dài thời gian xảy ra sự kiện trên màn ảnh
Phỏng vấn: được sử dụng như 1 phương tiện thu thập và khai thác
thông tin từ nhân chứng, phục vụ đắc lực cho chủ đề của phóng sự truyền hình
Phóng viên trước ống kính: Sự xuất hiện của phóng viên trước ống
kính máy quay phim tại bối cảnh của sự kiện, vấn đề sẽ làm tăng tính
thuyết phục của những thông tin được phóng sự đưa ra
5.3. Phân loại phóng sự truyền hình Gồm 4 loại: Phóng sự sự kiện Phóng sự vấn đề Phóng sự chân dung Phóng sự điều tra
5.4.KịchbảnphóngsBtruyềnhình
Kịch bản phóng sự truyền hình là ý tưởng của biên tập được viết ra dưới
dạng văn bản để mọi người hiểu về chủ đề, nội dung và dự kiến hình ảnh
5.5.QuytrìnhviCtkịchbảntruyềnhình
Quy trình viết kịch bản truyền hình gồm 4 bước:
Bước 1: Tìm đề tài
Đầy là bước đầu tiên định hướng tiếp cận vấn đề. Việc lựa chọn đề tài,
xác định tư tưởng chủ đề mang tính chất khoanh vùng đối tượng phản ảnh.
Khi lựa chọn đề tài, cần phải dựa vào hai yếu tố đề tài có tính thời sự
được xã hội quan tâm và đề tài đó phải nằm trong kế hoạch tuyên
truyền của cơ quan báo chí trong từng thời điểm cụ thể, ví dụ: vấn đề
giá cả, tham nhũng.. , đồng thời cũng cần chú ý tới tính khả thi của đề tài
Có nhiều cách để xác định đề tài: tham khảo những trang báo điện tử
trên mạng, theo dõi tin tức thực tế, quan sát bên ngoài để tìm chất liệu cho chính mình…
Bước 2: Lên ý tưởng
Sau khi tìm được đề tài cần lên ý tưởng để khai thác đề tài đó bằng các cách:
Họp ban biên tập là bước đầu tiên trong việc lên ý tưởng kịch bản,
cùng bàn luận về những góc nhìn xoay quanh ý tưởng đó, xem xét độ
phù hợp, xây dựng khung chương trình để đưa ra ý tưởng phù hợp nhất
Để có được những ý tưởng sát với thực tế và gần gũi với khán giả cần
theo dõi báo chí, theo dõi mạng xã hội, cập nhập những thông tin với
tiêu chí nhanh chóng và chính xác, theo dõi những sự kiện diễn ra
hàng ngày vì đặc điểm của phóng sự gắn với tin tức
Tự tìm kiếm những thông tin, ý tưởng để liên hệ được với các nhân
vật, các sự kiện theo dòng chảy thời gian. Bước 3: Khảo sát
Khảo sát kịch bản: Kịch bản được đưa ra để phản biện về tính khả thi
và sức ảnh hưởng của ý tưởng đó tới công chúng
Khảo sát thị trường: Tới hiện trường, thu thập, và xác thực thông
thông tin từ hiện trường để đưa ra những dự báo có tính khả thi cao trong kịch bản
Bước 4: Thảo luận đưa ra kịch bản cuối cùng
VĐ6.Phân tích các cấp độ truyền thông
6.1. Khái quát về truyền thông Định nghĩa:
Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia
sẻ thông tin, tạo sự liên kết lẫn nhau, để dẫn tới sự hiểu biết, thay đổi trong
nhận thức và hành vi của đối tượng đích một cách tự nguyện, tiệm tiến và bền vững.
Nội dung truyền thông:
Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ.
Truyền thông bằng lời được thể hiện bằng ngôn từ.
Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý
nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định. Các biển báo giao thông là
một dạng truyền thông biểu tượng.
Hình thức truyền thông: Truyền thông thể hiện qua nhiều hình thức như
động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu truyền thông: Có thể là cá nhân, tổ chức, hay cả cộng đồng.
6.2. Các cấp độ truyền thông
6.2.1. Phân theo cấp độ thời gian
- Gồm các cấp độ: Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tính chất và giá trị truyền
thông cũng sẽ khác nhau, tùy từng cấp độ.
=> Người làm truyền thông cần hiểu và hành động hợp lý nhằm đảm bảo mục
tiêu truyền thông, xác định thời gian cho chiến lược truyền thông là dài hay
ngắn tùy vào nhu cầu và mục đích của tổ chức. 6.2.2. Phân theo cấp độ đối
tượng [i][j][k] Cấp
độ 1: Truyền thông nội tâm: Cấp độ truyền thông thấp nhất nhưng cũng cơ bản nhất.
Truyền thông nội tâm (Giao tiếp nội tâm) là một hình thức giao tiếp
diễn ra trong 1 cá nhân. Kiểu giao tiếp này được gọi là tự nói chuyện
và là quá trình nội bộ mà mọi người sử dụng để suy nghĩ, phản ánh và
hiểu ý nghĩa trong những trải nghiệm của họ
Vì một người đang đóng những vai trò kép này, truyền thông nội tâm
là hình thức giao tiếp đơn giản và dễ hiểu nhất. Kiểu giao tiếp này
được sử dụng cho các nhiệm vụ như viết để ghi chú nhắc nhở, nói
chuyện với chính mình hoặc suy nghĩ về 1 vấn đề cần được giải quyết
Cấp độ 2 – Cá nhân:
Chủ thể: một cá nhân hay một tổ chức
Thực hiện: cá nhân hay tổ chức riêng lẻ, độc lập
Nhóm công chúng: địa phương, khách hàng hay các cá nhân riêng lẻ cần quan tâm.
Ở cấp độ này, người làm truyền thông chỉ tập trung vào họ là chính, mọi thứ
được thực hiện một cách tự lực. Các chiến lược PR không được xem xét cẩn
thận, ý tưởng sáng tạo yếu kém và không ấn tượng gì với công chúng. Một
số trường hợp, còn gây ra hiệu ứng ngược. Do đó, truyền thông cấp độ này
được gọi là “PR được nhìn bằng đôi mắt cận thị”.
Một số biểu hiện khác của truyền thông cấp độ cá nhân:
Các lãnh đạo xem nhẹ việc chăm sóc hình ảnh truyền thông. Họ
thường thuê một số công ty làm truyền thông không chuyên nghiệp để
thực hiện những hình thức PR nhỏ lẻ và rời rạc, không đem đến hiệu quả gì.
Các cá nhân đặc biệt như các chính trị gia, nhà khoa học, nghệ
sĩ, ca sĩ, diễn viên,… Họ thực hiện truyền thông cá nhân với với
mục tiêu dài hạn với nhiều phương pháp khác nhau, và có thể rất thành công.
Cấp độ 3 – Nhóm: Cấp độ truyền thông này được chú trọng hơn cấp độ cá
nhân nhưng chưa đủ tầm ảnh hưởng và hiệu quả truyền thông thực sự.
Chủ thể: nhóm người, các công ty
Thực hiện: câu lạc bộ, hiệp hội, công ty truyền thông
Đối tượng: một khu vực hay các nhóm công chúng đa dạng
Cấp độ truyền thông theo nhóm được gọi là cấp độ trung bình. Các hoạt
động truyền thông xoáy quanh những chính sách hay lợi ích của nhau hoặc
là trong một nhóm tổ chức nhỏ, một vài công ty với nhau thông qua những
kế hoạch mang tính ngắn và trung hạn, nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế hơn
là phát triển và xây dựng thương hiệu bền vững.
Hoạt động truyền thông ở cấp độ này thường mang tính chủ quan và làm
theo kinh nghiệm. Trong khi đối tượng mục tiêu thường được hưởng lợi ích
tương đối trọn vẹn còn các đối tượng khác thì không được hưởng lợi gì hoặc có lợi ít rất thấp.
Cấp độ 4 – Đại chúng: Đây là cấp độ cao nhất mà bất cứ người làm truyền
thông nào cũng phải hướng đến. Cấp độ này thể hiện ý nghĩa nhân văn nhất,
nền tảng nhất, và đạt được hiệu quả cao nhất.
Chủ thể: tập đoàn, các tổ chức lớn
Thực hiện: nhóm chuyên gia PR các lĩnh vực, các công ty truyền thông chuyên nghiệp
Đối tượng: hầu hết toàn bộ công chúng
Hoạt động truyền thông do một bộ phần PR chuyên nghiệp đảm trách, đôi
khi cũng cần hỗ trợ của các cơ quan có thẩm quyền như chính phủ, cơ quan
thẩm định, tổ chức chuyên môn,…. Vấnđề7.Ngo
PTTTđAichúngkh;c
Bên cạnh các phương tiện truyền thông truyền thống (TV, Báo in, OOH, Radio,
SMS …), với sự phát triển của công nghệ đã kéo theo sự phát triển của
nhiều các phương thiện truyền thông đại chúng kỹ thuật số (digital media) phải kể đến như:
Social network: Facebook, Instagram, Twitter, Pinterest, Flickr, Youtube,
Website: E-com platform, landing page, official website, blog, forum, …
Digital advertisement: Facebook Ads, Google Ads, Paid content, social media ads,...
—----------------------------------------- Website Marketing
Search Marketing (SEO & SEM)
Mobile Marketing: quảng cáo trong ứng dụng Email Marketing
Social Marketing: tất cả các hoạt động quảng cáo trên social channel: ads, post, reels,..
Display Advertising: quảng cáo hiển thị trên các trang web Nguồn
Vấnđề8.TinhiệnđAi?PhóngsBhiệnđAi? 8.1.TinhiệnđAi
Tin hiện đại là một phương thức truyền tải thông tin và tin tức thông
qua các phương tiện truyền thông kỹ thuật số như trang web, ứng
dụng di động, mạng xã hội, email, tin nhắn và các kênh truyền hình số.
Tin hiện đại có thể được truyền tải nhanh chóng, rộng rãi và dễ dàng
tiếp cận trên nhiều nền tảng khác nhau, cho phép người dùng cập nhật
thông tin một cách nhanh chóng và thường xuyên.
Tuy nhiên, tin hiện đại cũng đặt ra nhiều thách thức cho người sử
dụng khi phải đánh giá tính xác thực và đáng tin cậy của thông tin và
tin tức được truyền tải trên các nền tảng truyền thông kỹ thuật số. Do
đó, việc có kiến thức và kỹ năng đọc hiểu thông tin và phân tích tin
tức là rất quan trọng trong thời đại này.
8.2.PhóngsBhiệnđAi
8.2.1.Nguồngốc,sBrađ=iv<ph;ttriểncủaphóngsB 1. Thế giới
Phóng sự bắt đầu khẳng định vị trí từ sau Chiến tranh thứ nhất với sự tham gia của các nhà văn
Phóng sự xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và khẳng định năng lực phản
ánh hiện thực vào đầu thế kỷ XX ở phương Tây. 2. Việt Nam
Phóng sự hình thành và phát triển cùng với sự bùng nổ của báo chí
chữ quốc ngữ và những biến động xã hội cuối XIX, đầu XX
Manh nha, định hình từ 1920 nhưng tới tập kỷ 1930 mới thực sự bùng nổ
Những tác phẩm phóng sự đc viết ra theo những khuynh hướng khác nhau
Trước Cách mạng tháng Tám
Tâng bốc, ca ngợi chế độ thực dân, muốn xoa dịu hoặc xóa
nhòa đấu tranh giai cấp bằng cách đề cao những kẻ đi “bảo
hộ”, làm tan rã tinh thần đấu tranh chống xâm lược
Viết về cuộc sống của những con người bần cùng, đề cập
những bất công trong xã hội
Phóng sự trên hệ thống báo chí cách mạng xuất bản công
khai và bí mật: kêu gọi tinh thần chiến đấu, chống lại chế độ
thực dân phong kiến, vạch rõ con đường đấu tranh giải phóng dân tộc
Sau Cách mạng tháng Tám: Phóng sự phản ánh khí thế hào
hùng của một đất nước quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ
nền độc lập, tự do của Tổ quốc
Thời kỳ chống Mỹ: phóng sự đề cập tới đề tài đấu tranh thống
nhất đất nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc
Thời kỳ đổi mới từ 1986: Phóng sự nêu lên những vấn đề nóng
bỏng, bức xúc khiến những người có thẩm quyền phải đưa ra giải pháp
8.2.2.Kh;iniệmvềphóngsBhiệnđAi
Phóng sự hiện đại là một loại hình báo chí, truyền thông, và nghệ
thuật phóng tác dựa trên thực tế hiện đại, trong đó các tác giả sử dụng
kỹ thuật viết tường thuật và các phương tiện truyền thông khác để tái
hiện lại các sự kiện, tình huống và câu chuyện trong xã hội đương đại.