lOMoARcPSD| 61548544
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
Điều kiện kinh tế- xã hội:
Về kinh tế:
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuôc cách mạng công nghiệp đã hoàn
thành ở ớc Anh, bắt đầu chuyển sang ớc Pháp và Đức , nó đã làm xuất
hiện môt lực lượng sản xuất mới, đó là nền đại công nghiệp, mà tác đông của
nó vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu rông, cả về quy
mô sản xuất và năng suất lao đông, kinh nghiệm quản lý,... Kết quả tất yếu của
tác đông ấy là vừa làm cho lực lượng sản xuất phát triển, vừa dẫn tới mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa ngày càng
gia tăng.
Những cuôc khủng hoảng hàng hóa thừa theo chu kỳ (1825,
1836, 1847, 1857)
cho thấy mâu thuẫn ngày càng nhanh hơn, gay gắt hơn. Các cuôc khủng hoảng
là minh chứng cho sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường và hiện tượng
người lao đông thất nghiệp càng nhiều. Khi cung lớn hơn cầu thì dẫn tới khủng
hoàng thừa, sau khủng hoảng thừa thì người ta lại hạn chế sản xuất, thu hẹp
quy mô sản xuất dẫn tới cung nhỏ hơn cầu dẫn tới khủng hoảng thiếu. Qua
đó ta thấy đưc học thuyết kinh tế bàn tay vô hình (để thị trường tự điu ết)
không còn phù hợp nữa. Tất yếu cần được thay thế bằng môt học thuyết kinh
tế khác.
→ chứng tỏ schiến thắng môt cách thuyết phục về phương diện kinh tế của giai
cấp tư sản trước giai cấp phong kiến Vxã hội:
Giai cấp tư sản và giai cấp công nhân trở thành hai giai cấp cơ bản trong xã
hôi, vừa nương tựa vào nhau để cùng tồn tại, vừa có mâu thuẫn đối kháng với
nhau về lợi ích.
Cuôc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai
cấp sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực
ợng sản xuất mang nh chất xã hội với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Nhiều cuôc khởi
nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu tổ chức trên quy rông
khp.
- Phong trào Hiến chương của những người lao đông ở c
lOMoARcPSD| 61548544
Anh diễn ra trên 10 năm (1836 -
1848).
- Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi--di, nước Đc diễn ra năm 1844.
- Đặc bit, phong trào công nhân dệt thành phô Li-on, nước
Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có nh chất chính trrõ nét
Đánh giá:
- Các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự áplức thống trị
của giai cấp tư sản, chủ yếu diễn ra ở các nước mà cách mạng công nghiệp phát
triển mạnh (Anh, Pháp, Đức). Tuy nhiên các phòng trào nổ ra nhưng đều dẫn đến
thất bại, do nhiều nguyên nhân thất bại nhưng chủ yếu là thiếu bô máy lãnh đạo
và chưa đường lối ràng. Vì thế bức thiết cần hệ thng luận, cương lĩnh
soi đường kim chỉ nam cho mọi hoạt đông cách mạng. Đánh giá sự trưởng
thành của giai cấp công nhân, là ền đề ra đời của chủ nghĩa xã hôi khoa học.
Sự phát triển nhanh chóng có nh chính trị công khai của phong trào công
nhân đã minh chứng, lần đầu ên giai cấp công nhân đã xuất hiện
như môt lực lượng chính trị đôc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị
riêng của mình và đã bắt đầu hướng thẳng mũi nhọn của cuôc đấu tranh vào
kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản.
Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hoi một cách
bưc thiết phải có môt hệ thống luận soi đường và môt ơng lĩnh chính trị làm
kim chỉ nam cho hành đông cách mạng.
Điều kiện kinh tế- xã hôi ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng
của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời môt lý luận
mới, ến bô - CNXHKH.
Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận:
Tiền đề khoa học tự nhiên: cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hôi tạo nền
tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong khoa học tự nhiên, những phát
minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đôt
phá có nh cách mạng:
- Học thuyết ến hóa của Đacuyn: Học thuyết ến hóa là cơ sở KHTN chứng
minh rằng giữa tất cả các loài đều được ến hóa từ các loài trước đó bằng con
đường chọn lc tự nhiên thông qua đặc nh biến dị và di truyền. Đây cũng
chính là môt bằng chưng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần học xây
lOMoARcPSD| 61548544
dựng quan điểm duy vật sở để các nhà khoa học ếp thu những nhận
thức mới, hiểu biết hơn về giới tự nhiên.
- Học thuyết tế bào: đã bác bỏ phương pháp duy siêu hình để hình thành
nên phương pháp tư duy biện chưng khi xem xét sự phát triển của sự vt, hiện
ợng trong giới tự nhiên. Chứng minh nh thống nhất trong thế gii hữu cơ,
bác bỏ chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo và khẳng định nguồn gốc hình
thành của thế giới đông vật và thế giới thực vật là từ tế bào. Là môt phát minh
ảnh hưởng tới thế giới quan của các nhà khoa học nói chung và là cơ sở,
ền đề để chuyển từ phương pháp duy siêu hình sang phương pháp
tư duy biện chứng.
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã thể hin sthống nhất của
thế giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với thế giới vật chất.
Chứng minh rằng thế giới vật chất luôn nằm trong quá trình vận đông.
Những phát minh này ền đề khoa học cho sự ra đời của chnghĩa duy vật
biện chưng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho
các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hôi khoa học nghiên cứu những vấn đluận
chính trị- xã hội đương thời.
Tiền đtư tưởng luận: cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học
hôi cũng có những thành tưu đáng ghi nhận, trong đó có:
- Triết học cổ điển Đưc ại biểu là Hêghen và Phơbach): Mác thừa kế phép
bin chứng của Hêghen trên cơ sở loi bỏ các yếu tố duy tâm thần bí trong hệ
thống triết học của Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật ến của
Phơbách để xây dựng phép biện chưng duy vật.
- Kinh tế chính trị học cổ điển Anh ại biểu là Adam Smith và D.Ricardo):
Trong tư tưởng của các nhà không tưởng về kinh tế chính trị cổ điển Anh thì
Mác đã kế thừa được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư. Qua
nghiên cứu GTTD thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của
GCTS và cũng chỉ ra được hình thức bóc lôt của gia cấp tư sản đối với GCCN
là bóc lôt GTTD. Từ đó Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối lập
với GCTS thì giai cấp công dân là giai cấp cách mạng.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp (đại biểu là
Xanh Ximong,
S.Phurie và R.Oen): Thể hin nh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ
lOMoARcPSD| 61548544
chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đôt, của cải
khánh kiệt, đạo đức đảo lôn, tôi ác gia tăng. Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị
về xã hôi tương lai. Thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao đông trong
cuôc đấu tranh chống chế đô quân chủ chuyên chế và chủ nghĩa tư bản. Tuy
nhiên có hạn chế: không phát hiện ra quy luật vận đông phát triển của xã hôi;
không phát hiện ra lực lượng xã hội ên phong có ththực hiện cuộc
chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa công sản, giai cấp
công nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức,
bất công đương thời, xây dựng hôi mới tốt đẹp. Những giá trị khoa học,
cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra ền đ
tưởng- luận, để C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa những hạt nhân hợp , lọc bỏ
những bất hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hôi khoa học.
2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa
học.
o Với những điều kiện kinh tế- xã hội và những ền đề khoa học tự nhiên
tư tưởng lý luận là điều kiện cần cho môt học thuyết ra đời, song điều kiện đủ
để học thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo ra đời chính là vai trò của
C.Mác và Ph.Ănghen. Bằng trí tuệ uyên bác và sự phấn đấu trong phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao đông C.Mác và Ph.Ănghen
đến với nhau, đã ếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển, kinh tế chính trị
học cđiển Anh kho tàng tri thức của nhân loại để các ông trở thành những
nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng đại nhất thời đại. o Để đi phân
ch vai trò của C.Mác và Ph.Anghen đối với sự ra đời của
CNXHKH thì chúng ta đi phân ch sự chuyển biến lập trường triết học và lập
trường chính trị, Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và
Ph.Ănghen và tuyên ngôn
Đảng công sản- đánh dấu sự ra đời của CNXHKH.
Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
Lúc đầu các lập trường triết học của Mác Ăngghen lập trường triết học
lOMoARcPSD| 61548544
duy tâm do chu ảnh ởng từ tưởng của việc các ông sinh hoạt trong
phái Hêghen trẻ. Thông qua việc sinh hoạt đó thì 2 ông cũng thấy được những
mặt hạn chế của tư ởng triết học Hêghen đây dựa trên sở triết
học duy tâm. Bằng sự hiểu biết và nhận thưc của mình, các ông đã thấy
được sự bất hợp lý đó, và các ông đã có sự thay đổi về lập trường triết học là
chuyển từ lập trường triết học duy tâm sang lập trường triết học duy
vt. Và tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến đó chính là tác phẩm
“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời i đầu (1844)”.
Cũng thông qua tác phẩm đó là “Lược khảo khoa KTCTcũng giúp cho các ông
1 lần nữa khẳng
định sự chuyển biến từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật.
Cùng với quá trình chuyển biến đó thì các ông đã sự thay đổi về lập
trường
chính trị. Thông qua các việc cùng hoạt động trong phong trào công nhân,
hiểu được nh cảnh của những người công nhân và thấy được những nh
thần cách mạng của giai cấp công nhân thì cũng đã giúp cho các ông có
đưc sự chuyển biến về lập trường giai cấp đó chuyển từ lập trường
giai cấp tư sản sang lập trường giai cấp công nhân.
Cũng chính việc đứng trên lập trường của GCCN đã giúp cho các ông có thể
đi đến việc xây dựng lý luận, giúp GCCN thực hiện sứ mệnh lịch sử và cũng
chuyển tlập trường chính trị dân chủ tư sản sang lập trường cộng sản
chủ nghĩa.
Chỉ trong môt khoảng thời gian ngắn (từ 1843-1844) vừa hoạt đông thực
ễn, vừa nghiên cứu khoa học, Mác- Ăngghen đã thể hin quá trình chuyển
biến lập trường triết học và lập trường chính trị và từng bước củng cố, dưt
khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc lập trường đó, mà nếu không có
sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ không có chủ nghĩa xã hôi khoa học.
Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ănghen: ba phát kiến vĩ đại gắn liền
với 3 lĩnh vực cụ thtriết học, kinh tế chính trị chủ nghĩa xã hôi khoa
học.
- Chủ nghĩa duy vt lịch sử:
C.Mác và Ph.Ănghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng, thành
lOMoARcPSD| 61548544
tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Bằng phép biện chứng duy vật,
nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ
nghĩa duy vật lịch sử-phát kiến vĩ đại thứ nhất của C.Mác và Ph.Ăngghen,
sự khẳng đinh về mặt triết học sự sụp đổ của CNTB và sự thắng lợi của
CNXH đều tất yếu như nhau.
- Học thuyết về giá trị thặng dư:
Tviệc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác
Ph. Ăngghen đi
sâu nghiên cứu nền sản xuất công nghiệp nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa đã viết bô Tư bản, mà giá trị cốt lõi là “Học thuyết về giá trị thng
dư” - phát kiến vĩ đại thứ hai của C.Mác và Ănghen là sự khẳng định về
phương diện kinh tế, sự diệt vong không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản
và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hôi.
- Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN:
Trên cơ sở hai phát
kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết
về giá trị thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba,
sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp có mênh th
êu chủ nghĩa bản, xây dựng thành công chủ nghĩa hôi chủ nghĩa
công sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế có nh lịch sử của chủ nghĩa xã hôi
không tưởng-phê phán đã được khắc phục môt cách triệt để; đồng thời đã
luận chưng và khẳng định về phương diện chính trị-xã hội sự diệt vọng
không tránh khoi của chủ nghĩa bản sự thắng lợi tất yếu của chủ
nghĩa xã hội.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sra đời của chủ nghĩa hội khoa
học:
- Được sự uỷ nhiệm của những người công sản công nhân quốc tế, ngày
24
tháng 2 năm 1848, Tuyên ngôn của Đảng Công sản do C.Mác Ph.Ăngghen
soạn thảo được công bố trước toàn thế gii đánh dấu sự hình thành về
bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm 3 bô phận hợp thành: Triết học,
Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hôi khoa học.
lOMoARcPSD| 61548544
- Nội dung: chính tuyên ngôn của Đảng Công sản đã nêu phân ch môt
cách
có hệ thống lịch sử logic hoàn chỉnh về những vấn đề bản nhất, đầy đủ,
xúc ch chặt chẽ nhất thâu tóm hầu như toàn những luận điểm của chủ
nghĩa xã hôi khoa học; êu biểu và nổi bật là những luận điểm:
Cuôc đấu tranh của giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến môt
giai đoạn mà giai cấp công nhân không thể tự giải phóng mình nếu không
đồng thời giải phóng vĩnh viễn xã hội ra khỏi nh trạng phân chia giai cấp,
áp bưc, bóc lột và đấu tranh giai cấp. Song, giai cấp vô sản không
thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tchức ra chính đảng của giai
cấp, Đảng được hình thành phát triển xuất phát từ sứ mệnh của lịch sử
giai cấp công nhân.
Logic phát triển tất yếu của xã hôi sản cũng của thời đại bản chủ
nghĩa, đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hôi
là tất yếu như nhau.
GCCN do có địa vị kinh tế- xã hôi đại diện cho lực lượng sản xuất ên
ến, có sứ mệnh lịch sử thủ êu chủ nghĩa tư bản, đồng thời là lực lượng
ên phong trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hôi, chủ nghĩa công sản.
Những người cộng sản trong cuôc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản,
cần thiết phải thiết lập sự liên minh với các lực lượng dân chủ để đánh
đổ chế đô phong kiến chuyên chế, đồng thời không quên đấu tranh cho
mục êu cuối cùng chnghĩa công sản. Những người ng sản phải ến
hành cách mạng không ngừng nhưng phải chiến lược, sách lược khôn khéo
và kiến quyết.
- Gtrị: cương lĩnh chính trị, kim chỉ nam nh động của toàn bộ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là ngọn cdẫn dắt giai cấp
công nhân nhân dân lao động hoàn thành sứ mệnh lịch sử, mục êu cui
cùng là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tôc và giải phóng loài người khỏi áp
bức, bóc lôt, bảo đảm hòa bình, tự do và hạnh phúc.
Kết luận: Thông qua các chuyển biến lập trường chính trị, lập trường triết
học, ba phát kiến vĩ đại của Mác và sự ra đời của tác phẩm tuyên ngôn ĐCS
lOMoARcPSD| 61548544
đã thể hiện 1 cách nhất vai trò của Mac Anglen đối với sự ra đời của học
thuyết Mác và CNXHKH.
3. Những điều kiện khách quan chquan quy định sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân
"Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng ền phong,
giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chế độ người
bóc lột người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân
dân dao động khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, y dựng hội
cộng sản, chủ nghĩa văn minh.
Những điều kiện khách quan:
- Khẳng định nh tất yếu khách quan SMLS của GCCN, C.Mác Ph.Ăngghen đã nêu
rõ:”... cùng với sự phát triển của đại công nghiêp, chính
cái nền tảng đó giai cấp tư sản đã sản xuất chiếm hữu sản phẩm của nó,
đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết giai cấp tư sản sản sinh
ra người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản thắng
lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau
Điều kiện khách quan quy định SMLS của GCCN bao gồm:
- Thư nhất, do địa vị kinh tế của GCCN quy định:
GCCN con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp nh xã hội hóa ngày
càng cao, là chủ th của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Vì thế, GCCN đại
diện cho phương thưc sản xuất ên ến và LLSX hiện đại. Do lao động bằng
phương thưc công nghiệp ngày càng hiện đại, GCCN là người sản xuất ra của
cải vật chất chủ yếu cho hôi, làm giàu cho hội, vai trò quyết định sự
phát triển của xã hôi hiện đi.
Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế quy định GCCN là lực lượng phá
vỡ QHSX TBCN, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp “tự nó”
thành giai cấp “vì nó”. GCCN trở thành đại biểu cho sự ến hóa tất yếu của
lịch sử, là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện để tổ chưc và lãnh đạo xã hôi,
y dựng và phát triển LLSX và QHSX XHCN, tạo nền tảng vững chắc đ
lOMoARcPSD| 61548544
y dựng CNXH với cách môt chế độ xã hội kiểu mới, không còn chế đô áp
bức, bóc lôt người.
- Thư hai, do địa vị chính trị - xã hội của GCCN quy định:
GCCN không sở hữu
TLSX chủ yếu, phải bán sưc lao động để kiếm sống, bị bóc
lôt nặng nề, lợi ích cơ bản của họ đối lập trực ếp với lợi ích cơ bản của giai cấp
sản và thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân dân lao đông.
con đẻ của nề sản xuất đại công nghiệp do vậy GCCN được những
phẩm chất
của môt giai cấp ên ến, giai cấp cách mạng: nh tổ chưc kỷ lut, tự giác
đoàn kết trong cuôc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hôi.
GCCN được trang bị luận ên ến chủ nghĩa Mác Lênin, đội ền
phong là Đảng Công sản dn dắt
GCCN là môt giai cấp cách mạng, đại biểu cho LLSX hiện đại, cho phương thức
sản xuất ên ến thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập phương
thc sản xuất cộng sản chủ nghĩa, hình thái kinh tế - xã hôi cộng sản chủ nghĩa. Là
giai cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của ến trình phát triển lịch
sử đây đặc nh quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công
nhân.
Hoàn toàn không phải vì nghèo khổ mà giai cấp công nhân là môt giai cấp cách
mạng. Tình trạng nghèo khổ của giai cấp công nhân dưới chủ nghĩa tư bản là hậu
quả của sự bóc lôt, áp bức mà giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản tạo ra đối với
công nhân, đó là trạng thái mà cách mạng sẽ xóa bỏ để giải phóng giai cấp
công nhân và giải phóng xã hôi Điều kiện chủ quan:
- Sự phát triển của bản thân GCCN cả về số ợng và chất lượng:
Sự phát triển về số ợng phải gắn liền với sự phát triển vchất lượng của
GCCN hiện đại, đảm bảo cho GCCN thực hiện được SMLS của mình. Chất
ợng GCCN phải thể hin ở trình độ trưởng thành về ý thưc chính trị của môt
giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trách nhiệm của
mình đối với lịch sử, do đó GCCN phải được giác ngộ về luận khoa học và
cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Thông qua sự phát triển này thể thy sự lớn mạnh của GCCN cùng với quy
phát triển của nền sản xuất vật chất hiện đại trên nền tảng của công nghiệp,
của kỹ thuật và công nghệ.
lOMoARcPSD| 61548544
giai cấp đại biểu cho phương thưc sản xuất ên ến, chất lượng GCCN còn
phải thể hin ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hin
đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Để phát triển giai cấp công nhân về số ợng và chất lượng, theo chủ nghĩa
Mác – -nin phải đặc biệt chú ý đến hai biện pháp cơ bản:
+ Phát triển công nghiệp “ền đề thực ễn tuyệt đối cần thiết+ Sự trưởng
thành của Đảng Công sn hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân.
Chỉ với sự phát triển như vy về số ợng và chất lượng, đặc biệt về cht
ợng, giai cấp công nhân mới có ththực hiện được sứ mệnh lch sử của giai cấp
mình.
- Đảng Cộng sản là nhân tchủ quan quan trọng nhất để GCCN thực hiện
thắng lợi SMLS của mình
ĐCS đội ên phong của GCCN ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo cuôc
cách
mạng dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của GCCN với tư cách giai cấp
cách mạng.
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Công sản sự kết hợp giữa
chủ nghĩa xã hôi khoa học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
GCCN là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng,
làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đôi ên phong, bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp. ĐCS đại biểu trung thành cho lợi ích của
GCCN, của dân tôc và xã hôi. Sức mạnh của Đảng không chỉ thhin ở bản chất
GCCN mà còn ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, với quần chúng
lao đông đông đảo trong xã hôi, thực hiện cuôc cách mạng do Đảng lãnh đạo
để giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội
Sự lãnh đạo của Đảng:
Đảng đề ra đường lối
Tuyên truyn vận đông đưa đường lối vào thực ễn cuôc sống
Tổ chưc thực hiện đường lối
Gương mẫu thực hiện đường lối
Chủ nghĩa Mác- Lênin còn chỉ rõ, để cuôc cách mạng thực hin
SMLS của
GCCN đi tới thắng lợi, phải có sự liên minh giai cấp giữa GCCN với giai cấp
lOMoARcPSD| 61548544
nông dân các tầng lớp lao đông khác (trí thức, ểu thương) do GCCN thông qua
đôi ên phong của nó là ĐCS lãnh đạo.
4. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội?
Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội: thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc trên
toàn bộ các lĩnh vực của đời sống hội, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân nhân
dân lao động giành được chính quyền nhà nước cho đến khi CNXH tạo ra đưc
nhng cơ sở của chính mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. thời kỳ đấu tranh
quyết liệt giữa những nhân tố của xã hội mới với tàn dư của xã hội cũ để tạo ra
những ền đề vật chất nh thần cần thiết để Chnghĩa xã hội ra đời và pháp
trin.
Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Một là, chnghĩa hôi chủ nghĩa tư bản hai chế độ hội bn
chất
đối lập nhau. Chnghĩa tư bản dựa trên chế đô chiếm hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, tư liệu sản xuất thuôc về giai cấp tư sản, đại đa số người lao đông
phải đi làm thuê và bị áp bức, bóc lôt. Chủ nghĩa xã hôi là chế đô xã hôi dựa trên
cơ sở công hữu liệu sản xuất là chủ yếu, tư liệu sản xuất thuôc về đa số ngưi
lao đông không áp bức, bóc lôt.
Hai là, Chủ nghĩa tư bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định cho chủ
nghĩa xã hôi với nền sản xuất công nghiệp pháp triển cao, cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại nhưng để cơ sở vật chất đó phục vụ cho chủ nghĩa xã hôi cần
thiết phải có thời gian tổ chức, sắp xếp và xây dựng. Những nước chưa trải
qua chủ nghĩa tư bản ến lên chủ nghĩa xã hôi không kế thừa được những cơ
sở vật chất kĩ thuật mà chủ nghĩa tư bản tạo ra cần vì thế có thời gian dài để
ến hành công nghiệp hóa XHCN. Quá trình đó cũng diễn ra lâu hơn, khó khăn
phức tạp hơn trong đó có Việt Nam.
Thời kỳ quá đô ở những nước có trình đô kinh tế - chính trị khác nhau
là khác nhau. Thời kỳ quá đô của mỗi nước là dài ngắn khác nhau nó
còn tùy thuôc vào hoàn cảnh của mỗi nước. Vi những nước đã qua chế
đô tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật nhất định cho chủ nghĩa hôi nhưng muốn cơ sở ấy phục vụ cho
chủ nghĩa xã hôi cần có thời gian tổ chức, săp xếp lại. Với
những nước bỏ qua chế đô tư bản chủ nghĩa, ến thẳng lên chủ nghĩa xã
hôi càng cần môt thời gian lâu dài để thực hiện nhiệm vụ ến hành công
nghiệp hoá xã hôi chủ nghĩa.
lOMoARcPSD| 61548544
Ba là, nhng quan hệ xã hôi của Chủ nghĩa xã hội không nảy sinh tự phát
trong lòng chủ nghĩa tư bản (VD: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đó là
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà ở chế độ Tư bản chủ nghĩa không sản
sinh ra được vì bản chất của nó là chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX; Quan
hệ bình đẳng, công bằng tự do cũng không ra đời trong CNTB về bản chất
chủ CNTB là áp bức bóc lột bất công) , mà các quan hệ đó là kết quả quá trình
cải tạo và xây dựng Xã hôi chủ nghĩa. Sự phát triển của CNTB mới chỉ tạo ra
những điều kiện, ền đề vật chất cho sự ra đời của CNXH. Do vy, cần phải có thi
gian để xây dựng, phát triển các quan hệ đó.
Bốn , công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội mới mẻ trên tất cả lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, xã hôi, văn hóa tư tưởng.Vì trước đay chỉ là tổ chức
đấu tranh để giành lấy chính quyền. Đây là công việc hết sức khó khăn và
phức tạp. Giai cấp công nhân và nhân dân lao đông càng cần thời gian để làm
quen và thích nghi. o Liên hệ với Việt Nam:
- Căn cứ vào lý luận: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hôi của
Mác, Mác khẳng định rằng các hình thái kinh tế xã hôi là môt quá trình tất yếu của
lịch sử tự nhiên.
Sự vận đông của các mâu thuẫn trong lòng hình thái kinh tế hôi tư bản chủ nghĩa
dẫn tới sự ra đời của hình thái kinh tế hôi công sản chủ nghĩa tất yếu khách
quan. Hình thái KTXH sau ến bô hơn hình thái KTXH trước - Căn cứ vào xu thế thi
đại: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra môt thời đại mới, thời đại quá
đô từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế gii.
- Căn cứ vào thực n của cách mạng Việt Nam:
+) Các phong trào, cuôc khởi nghĩa và các con đường cứu nước nổ ra và trên quy
rông khắp nhưng đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là chưa giải quyết mẫu thuẫn
cơ bản trong lòng hôi Việt Nam đó mâu thuẫn giữa toàn thể dân tôc Việt Nam
với đế quốc xâm lược và xã hôi phong kiến tay sai. Làm cho cách mạng Việt Nam
rơi vào nh trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước giai cấp lãnh đạo cách
mạng
lOMoARcPSD| 61548544
5. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Khái niệm dân tộc: theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tôc là
quá trình phát triển lâu dài của hôi loài người, trải qua các hình thưc
cộng đồng từ thấp lên cao, bao gồm: thị tôc, bô lạc, bô tôc, dân tôc. Sự
biến đổi của phương thức sản xuất chính nguyên nhân quyết định sự
biến đổi của công đồng dân tôc. Cho đến nay, dân tôc được hiểu theo 2
nghĩa:
- Theo nghĩa rộng, dân tôc là khái niệm dùng để chỉ môt cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân môt nước, có lãnh thổ riêng, nền
kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống
văn hóa và truyền thống đâu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu
dài dựng nước giữu nước. Với nghĩa y, khái niệm dân tôc dùng để ch
môt quốc gia, nghĩa là toàn bô nhân dân của môt nước.
Theo nghĩa rộng dân tộc có những đặc trưng cơ bản sau: Thnhất, có
chung môt vùng lãnh thổ ổn định
Thhai, có chung môt phương thưc sinh hoạt kinh tế
Thba, chung môt ngôn ngữ làm công cụ giao ếp Th, chung
môt nền văn hóa và tâm lý
Thnăm, có chung một nhà nước (nhà nước dân tôc)
- Theo nghĩa hẹp, dân tôc là môt khái niệm đchỉ môt cộng đồng dân tộc
được hình thành trong lịch sử, mối liên hệ chặt chẽ bền vững,
chung ý thưc tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Công đồng này xuất
hiện sau bô lạc, bô tôc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tôc
người của các công đồng đó. Với nghĩa y, dân tôc một bộ phn hay
thành phần của quốc gia.
Dân tôc – tôc người có môt số đặc trưng cơ bản sau: Cộng đồng về ngôn
ng(bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngviết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói).
Đây là êu chí cơ bản để phân biệt
các tộc người khác nhau vấn đề luôn được các dân tôc coi trọng giữ
gìn.
Cộng đồng về văn hóa: văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật
thể ở mỗi tôc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập
quán, n ngưỡng, tôn giáo của tôc người đó
lOMoARcPSD| 61548544
Ý thưc tự giác tộc người: đây là êu chí quan trọng nhất để phân
định môt tôc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của
mỗi tôc người
Thực chất hai cách hiểu trên về dân tôc , tuy không đồng nhất nhưng
lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tôc quốc gia
bao hàm dân tôc tôc người. Dân tôc tôc người là bô phận hình thành
dân tôc quốc gia. Dân tôc tôc người ra đời trong những quốc gia nhất
định và thông thường những nhân tố hình thành dân tôc tôc người
không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin:
- Căn cưu đề ra cương lĩnh dân tộc:
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mỗi quan hệ giữa dân tôc với
giai cấp; kết hợp phân ch hai xu hướng khách quan trong sự phát triển
dân tôc đó là:
+) Xu hướng thứ nhất, công đồng dân muốn tách ra để hình thành
công đồng dân tôc đôc lập.
+) Xu hướng thứ hai, các dân tôc trong từng quốc gia, thậm chí các dân
tôc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau dựa vào kinh nghiệm ca
phong trào cách mạng thế giới và thực ễn
cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tôc những năm đầu thế
kỷ XX, V.I.Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tôc như sau:
“Các dân tôc
hoàn toàn bình đẳng, các dân tôc được quyền tự quyết, liên hiệp công
nhân tất cả các dân tôc lại”
- Thnhất các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: Đây quyền thiêng
liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tôc lớn
hay nhỏ, ở trình đô phát triển cao hay thấp. Các dân tôc đều có quyn lợi
nghĩa vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hôi,
không dân tôc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn
hóa.
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không môt dân
tôc nào có quyền đi áp bức, bóc lôt dân tôc khác. Trong môt quốc gia có
nhiều dân tôc, quyền bình đẳng dân tôc phải được thhiện trên sở pháp
, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế.
lOMoARcPSD| 61548544
Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tôc, trước hết phảithủ êu
nh trạng áp bưc giai cấp, trên cơ sđó xóa bo nh trạng áp bưc dân tộc;
phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực
đoan. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện
quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa
các dân tc.
Ý nghĩa: Bình đẳng dân tôc quyền thiêng liêng của dân tộc mục êu
phấn đấu của các dân tôc trong sự nghiệp giải phóng. Nó là cơ sở
để thực hiện quyền dân tôc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị
hợp tác giữa các dân tôc
- Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết
Đó là quyền các dân tôc tự quyết lấy vận mệnh của dân tộc mình,
quyền tự lựa chọn chế độ chính trcon đường phát triển của dân tôc
mình.
Quyền tquyết dân tôc bao gm quyn tách ra thành lập một quốc
gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với các dân
tôc khác trên cơ sở bình đẳng.
Quyền tự quyết dân tôc không đồng nhất với quyềncủa các tôc
người thiểu số trong môt quốc gia đa tôc người, nhất việc phân lập thành
quốc gia độc lập. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của
thế lực phản đông, thù địch li dụng chiêu bài
dân tôc tự
quyếtđể can thiệp vào công việc nôi của các nước, hoặc kích đông đòi
lỳ khai các dân tôc.
Ý nghĩa: Quyền dân tôc tự quyết là môt quyền cơ bản của dân tộc. Nó
là cơ sở để xóa bỏ sự hiệm khích, thù hằn giữa các dân tôc, phát huy
ềm năng của các dân tôc vào sự phát triển chung của nhân loại
- Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: Liên hiệp công nhân các
dân tôc phản ánh sự thống nhất giữa giải
phóng dân tôc và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ
giữa nh thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tôc là cơ sở vững chắc để đoàn
kết các tầng lớp nhân dân lao đông thuôc các dân tôc trong cuôc đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì đôc lập dân tôc và ến bô xã hôi. Vì
lOMoARcPSD| 61548544
vậy, nôi dung này vừa nôi dung chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để
liên kết các nôi dung của Cương lĩnh dân tôc thành môt chính thể.
Ý nghĩa: Liên hiệp công dân tất cả các dân tôc nôi dung bản nhất
trong cương lĩnh dân tôc của chủ nghãi Mác-Lênin.
6. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất, nguồn gốc nguyên
tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên
CNXH?
Tôn giáo môt hình thái ý thức hôi phản ánh ảo hiện thực khách
quan.
Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên và xã hôi trở thành siêu
nhiên, thần bí.
Ph.Ăngghen cho rằng: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chi là sự phản ánh
o - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ; chi sphản ánh trong đó những lực
ng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế ”.
Ở môt cách ếp cận khác, tôn giáo là môt thực thể xã hôi
các tôn giáo cụ th(ví dụ: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…), với các êu
chí cơ bản sau:
+ Có niềm n sâu sắc vào đấng siêu nhiên, đấng tối cao, thần linh để tôn thờ
(niềm
n tôn giáo);
+ Có hệ thống giáo thuyết (giáo , giáo luật, lễ nghi) phản ánh thế giới quan,
nhân
sinh quan, đạo đức, lễ nghi của tôn giáo;
+ Có hệ thống cơ sở thờ tự;
+ tổ chức nhân sự, quản điều hành việc đạo (người hoạt đông tôn
giáo chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp);
+ Có hệ thống n đồ đông đảo, những người tự nguyện n theo môt tôn
giáo nào đó, và được tôn giáo đó thừa nhận.
lOMoARcPSD| 61548544
Bản chất của tôn giáo:
Chnghĩa Mác Lênin khẳng định: Tôn giáo môt hiện tượng xã hôi - văn
hoá do con người sáng tạo ra. Con người ng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi
ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ. Nhưng,
sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuôc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá và
phục tùng tôn giáo điều kiện. Theo C. Mác: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm
giác của con người chưa m được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình
một lần nữa.
Chnghĩa Mác - Lênin cũng cho rằng, sản xuất vật chất các quan hkinh
tế, xét đến cùng nhân tố quyết định stồn tại phát triển của các hình
thái
ý thức xã hôi, trong đó có tôn giáo. Do đó, mọi quan niệm về tôn giáo, các tổ
chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt đông sản xuất, từ
những điều kiện nhất định trong hôi và thay đổi theo những thay
đổi của cơ sở kinh tế.
+ Vphương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế gii quan duy tâm,
sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
Mặc sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người công sản với
lập
trường mácxít không bao giờ thái đô xem thường hoặc trấn áp những nhu
cầu n ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền
tự do n ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân. Trong
những điều kiện cụ thcủa hôi, những người công sản những người
có n ngưỡng
tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng môt xã hôi tốt đẹp hơn ở thế giới hiện
thực. Xã hôi ấy chính xã hôi mà quần chúng n đồ cũng từng mơ ước
phản ánh nó qua môt số tôn giáo.
Về nguồn gốc của tôn giáo:
▪ Ba nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên, kinh tế -xã hôi; nguồn gốc nhận thức
nguồn gốc tâm lý.
- Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trong hôi công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát
triển,
trước thiên nhiên hùng vĩ tác đông chi phối khiến cho con người cảm thy
lOMoARcPSD| 61548544
yếu đuối bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự
nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi hôi xuất hiện các giai cấp đối kháng, áp bức bất công, do
không giải
thích được nguồn gốc của sphân hoá giai cấp và áp bức bóc lôt bất công,
tôi
ác..., công với lo strước sự thống trị của các lực lượng hôi, con người
trông chờ vào sự giải phóng của môt lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
- Nguồn gốc nhận thức
môt giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự
nhiên,
hôi chính bản thân mình giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và
chưa biếtvẫn tồn tại, khi những điều khoa học chưa giải thích được,
thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo.
Ngay cnhững vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình
đô dân
trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn điều kiện, mảnh đất
cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển.
Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính sự tuyệt đối hoá,
sự
ờng điệu mặt chủ thcủa nhận thức con người, biến cái nôi dung
khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.
- Nguồn gốc tâm
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, hôi, hay trong những
lúc ốm
đau, bệnh tật; ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm muốn được
bình yên khi làm môt vic lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đu
sự nghiệp kinh doanh…), con người cũng dễ m đến với tôn giáo.
Thậm chí cả nhng nh cảm ch cực như nh yêu, lòng biết ơn, lòng
kính
trọng đối với những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người
đến với tôn giáo (ví dụ: thờ các anh hùng dân tôc, thờ các thành hoàng
làng…).
lOMoARcPSD| 61548544
7. Phân ch các chức năng cơ bản của gia đình?
Chức năng tái sản xuất ra con người:
- Đây chức năng đặc thù của gia đình, không môt công đồng nào thể
thay thế.
Chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm, sinh tự nhiên của con người,
đáp
ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ n đáp ứng nhu
cầu về sức lao đông và duy trì sự trường tồn của xã hôi.
- Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người khôngchỉ việc riêng
của gia
đình mà là vấn đề xã hôi. Bởi vì, thực hiện chức năng này quyết định đến mật đô
dân cư và nguồn lực lao đông của môt quốc gia và quốc tế, môt yếu tố cấu thành
của tồn tại xã hôi.
- Thực hiện chức năng này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển mọi mặt của
đời
sống xã i. Vì vậy, phụ thuôc o nhu cầu của xã hôi, chức năng này được
thực hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích. Tnh đô phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hôi ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao đông gia
đình cung cấp.
Chức năng nuôi dưỡng, giáo duc:
- Chức năng này thể hiện nh cảm thiêng liêng, trách nhiệm của cha mẹ
với con cái, đồng thời thể hiện trách nhiệm của gia đình với xã hôi. Thực hiện
tốt chức năng nuôi
ỡng, giáo dục, đòi hỏi mỗi người làm cha, m mẹ phải kiến thức bản,
tương đối toàn diện về mọi mặt, văn hóa, học vấn, đặc biệt phương pháp
giáo dục.
- Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự
hình thành
nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người. Bởi vì, ngay khi sinh ra, mỗi người
đều chịu sự giáo dục trực ếp của cha mẹ và người thân trong gia đình. Những
hiểu biết
đầu ên gia đình đem lại thường để lại dấu ấn sâu đậm bền vững trong
cuôc
đời mỗi người. Vì vậy, gia đình là môt môi trường văn hóa, giáo dục, mỗi thành
viên
lOMoARcPSD| 61548544
trong đều chủ thsáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thgiáo dục đồng
thời
cũng là những người thụ ởng giá trị văn hóa và là khách thể chịu sự giáo dục
của các thành viên khác trong gia đình.
- Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng lâu dài toàn diện đến cuôc
đời
của mỗi thành viên, đây là chức năng hết sức quan trọng mặc dù trong xã hôi có
nhiều công đồng khác (nhà trường, các đoàn thể, chính quyền v.v..) cũng thc
hiện
chức năng này, nhưng không thể thay thế chức năng giáo dục của gia đình. Vi
chức
năng này, gia đình góp phần to lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai
của hôi, cung cấp nâng cao chất ợng nguồn lao đông để duy trì sự trường
tồn của hôi, đồng thời mỗi nhân từng bước được hôi hóa. Vì vậy, giáo
dục của gia
đình gắn liền với giáo dục của xã hôi. Nếu giáo dục của gia đình không gắn với
giáo dục của xã hôi, mỗi nhân sẽ khó khăn khi hòa nhập với xã hôi ngược
lại, giáo dục của hôi skhông đạt được hiệu quả cao khi không kết hợp với
giáo dục của
gia đình, không lấy giáo dục của gia đình làm nền tảng. Do vậy, cần tránh khuynh
ớng coi trọng giáo dục gia đình hạ thấp giáo dục của i hoặc ngược
lại.
Chức năng kinh tế và tô chức êu dùng:
- Gia đình tham gia trực ếp vào quá trình sản xuất tái sản sản xuất ra
liệu sản
xuất liệu êu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà các đơn vị kinh tế
khác
không có được đó gia đình đơn vị duy nhất tham gia vào quá trình sn
xuất và tái sản xuất ra sức lao đông cho xã hôi.
- Gia đình còn là môt đơn vị êu dùng trong xã hôi. Gia đình thực hiện chức
năng tổ
chức êu dùng hàng hóa đduy trì đời sống của gia đình về lao đông sản xuất
cũng
như các sinh hoạt trong gia đình. Đó việc sử dụng hợp các khoản thu nhập
của

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61548544
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
Điều kiện kinh tế- xã hội:
Về kinh tế:
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuôc cách mạng công nghiệp đã hoàn
thành ở nước Anh, bắt đầu chuyển sang nước Pháp và Đức , nó đã làm xuất
hiện môt lực lượng sản xuất mới, đó là nền đại công nghiệp, mà tác đông của
nó vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu rông, cả về quy
mô sản xuất và năng suất lao đông, kinh nghiệm quản lý,... Kết quả tất yếu của
tác đông ấy là vừa làm cho lực lượng sản xuất phát triển, vừa dẫn tới mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng gia tăng.
✓ Những cuôc khủng hoảng hàng hóa thừa theo chu kỳ (1825, 1836, 1847, 1857)
cho thấy mâu thuẫn ngày càng nhanh hơn, gay gắt hơn. Các cuôc khủng hoảng
là minh chứng cho sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường và hiện tượng
người lao đông thất nghiệp càng nhiều. Khi cung lớn hơn cầu thì dẫn tới khủng
hoàng thừa, sau khủng hoảng thừa thì người ta lại hạn chế sản xuất, thu hẹp
quy mô sản xuất dẫn tới cung nhỏ hơn cầu và dẫn tới khủng hoảng thiếu. Qua
đó ta thấy được học thuyết kinh tế bàn tay vô hình (để thị trường tự điều tiết)
không còn phù hợp nữa. Tất yếu nó cần được thay thế bằng môt học thuyết kinh tế khác.
→ chứng tỏ sự chiến thắng môt cách thuyết phục về phương diện kinh tế của giai
cấp tư sản trước giai cấp phong kiến • Về xã hội:
✓ Giai cấp tư sản và giai cấp công nhân trở thành hai giai cấp cơ bản trong xã
hôi, vừa nương tựa vào nhau để cùng tồn tại, vừa có mâu thuẫn đối kháng với nhau về lợi ích.
✓ Cuôc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai
cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực
lượng sản xuất mang tính chất xã hội với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
. Nhiều cuôc khởi
nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu có tổ chức và trên quy mô rông khắp.
- Phong trào Hiến chương của những người lao đông ở nước lOMoAR cPSD| 61548544
Anh diễn ra trên 10 năm (1836 - 1848).
- Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi-lê-di, nước Đức diễn ra năm 1844.
- Đặc biệt, phong trào công nhân dệt thành phố Li-on, nước
Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có tính chất chính trị rõ nét Đánh giá:
- Các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự áplức thống trị
của giai cấp tư sản, chủ yếu diễn ra ở các nước mà cách mạng công nghiệp phát
triển mạnh (Anh, Pháp, Đức). Tuy nhiên các phòng trào nổ ra nhưng đều dẫn đến
thất bại, do nhiều nguyên nhân thất bại nhưng chủ yếu là thiếu bô máy lãnh đạo
và chưa có đường lối rõ ràng. Vì thế bức thiết cần có hệ thống lý luận, cương lĩnh
soi đường và là kim chỉ nam cho mọi hoạt đông cách mạng. Đánh giá sự trưởng
thành của giai cấp công nhân, là tiền đề ra đời của chủ nghĩa xã hôi khoa học.
 Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công
nhân đã minh chứng, lần đầu tiên giai cấp công nhân đã xuất hiện
như môt lực lượng chính trị đôc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị
riêng của mình và đã bắt đầu hướng thẳng mũi nhọn của cuôc đấu tranh vào
kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản.
Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hoi một cách
bưc thiết phải có môt hệ thống lý luận soi đường và môt cương lĩnh chính trị làm
kim chỉ nam cho hành đông cách mạng.
➢ Điều kiện kinh tế- xã hôi ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng
của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời môt lý luận mới, tiến bô - CNXHKH.
Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận:
Tiền đề khoa học tự nhiên: cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hôi tạo nền
tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong khoa học tự nhiên, những phát
minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đôt phá có tính cách mạng: -
Học thuyết tiến hóa của Đacuyn: Học thuyết tiến hóa là cơ sở KHTN chứng
minh rằng giữa tất cả các loài đều được tiến hóa từ các loài trước đó bằng con
đường chọn lọc tự nhiên thông qua đặc tính biến dị và di truyền. Đây cũng
chính là môt bằng chưng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần học xây lOMoAR cPSD| 61548544
dựng quan điểm duy vật và là cơ sở để các nhà khoa học tiếp thu những nhận
thức mới, hiểu biết hơn về giới tự nhiên. -
Học thuyết tế bào: đã bác bỏ phương pháp tư duy siêu hình để hình thành
nên phương pháp tư duy biện chưng khi xem xét sự phát triển của sự vật, hiện
tượng trong giới tự nhiên. Chứng minh tính thống nhất trong thế giới hữu cơ,
bác bỏ chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo và khẳng định nguồn gốc hình
thành của thế giới đông vật và thế giới thực vật là từ tế bào. Là môt phát minh
ảnh hưởng tới thế giới quan của các nhà khoa học nói chung và là cơ sở,
tiền đề để chuyển từ phương pháp tư duy siêu hình sang phương pháp tư duy biện chứng.
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã thể hiện sự thống nhất của
thế giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với thế giới vật chất.
Chứng minh rằng thế giới vật chất luôn nằm trong quá trình vận đông.
 Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật
biện chưng
chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho
các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hôi khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận
chính trị- xã hội đương thời.
Tiền đề tư tưởng lý luận: cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học
xã hôi cũng có những thành tưu đáng ghi nhận, trong đó có: -
Triết học cổ điển Đưc (đại biểu là Hêghen và Phơbach): Mác thừa kế phép
biện chứng của Hêghen trên cơ sở loại bỏ các yếu tố duy tâm thần bí trong hệ
thống triết học của Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bô của
Phơbách để xây dựng phép biện chưng duy vật. -
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (đại biểu là Adam Smith và D.Ricardo):
Trong tư tưởng của các nhà không tưởng về kinh tế chính trị cổ điển Anh thì
Mác đã kế thừa được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư. Qua
nghiên cứu GTTD thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của
GCTS và cũng chỉ ra được hình thức bóc lôt của gia cấp tư sản đối với GCCN
là bóc lôt GTTD. Từ đó Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối lập
với GCTS thì giai cấp công dân là giai cấp cách mạng.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp (đại biểu là Xanh Ximong,
S.Phurie và R.Oen): Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ lOMoAR cPSD| 61548544
chuyên chế chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đôt, của cải
khánh kiệt, đạo đức đảo lôn, tôi ác gia tăng. Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị
về xã hôi tương lai. Thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao đông trong
cuôc đấu tranh chống chế đô quân chủ chuyên chế và chủ nghĩa tư bản. Tuy
nhiên có hạn chế: không phát hiện ra quy luật vận đông phát triển của xã hôi;
không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc
chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa công sản, giai cấp
công nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức,
bất công đương thời, xây dựng xã hôi mới tốt đẹp.  Những giá trị khoa học,
cống hiến của các nhà tư tưởng
đã tạo ra tiền đề
tư tưởng- lý luận, để C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ
những bất hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hôi khoa học.
2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
o Với những điều kiện kinh tế- xã hội và những tiền đề khoa học tự nhiên
tư tưởng lý luận là điều kiện cần cho môt học thuyết ra đời, song điều kiện đủ
để học thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo ra đời chính là vai trò của
C.Mác và Ph.Ănghen. Bằng trí tuệ uyên bác và sự phấn đấu trong phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao đông C.Mác và Ph.Ănghen
đến với nhau, đã tiếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển, kinh tế chính trị
học cổ điển Anh và kho tàng tri thức của nhân loại để các ông trở thành những
nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại. o Để đi phân
tích vai trò của C.Mác và Ph.Anghen đối với sự ra đời của

CNXHKH thì chúng ta đi phân tích sự chuyển biến lập trường triết học và lập
trường chính trị, Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và
Ph.Ănghen và tuyên ngôn
Đảng công sản- đánh dấu sự ra đời của CNXHKH.
Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
Lúc đầu các lập trường triết học của Mác và Ăngghen lập trường triết học lOMoAR cPSD| 61548544
duy tâm do chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của việc các ông sinh hoạt trong
phái Hêghen trẻ. Thông qua việc sinh hoạt đó thì 2 ông cũng thấy được những
mặt hạn chế của tư tưởng triết học Hêghen mà ở đây là dựa trên cơ sở triết
học duy tâm. Bằng sự hiểu biết và nhận thưc của mình, các ông đã thấy
được sự bất hợp lý đó, và các ông đã có sự thay đổi về lập trường triết học là
chuyển từ lập trường triết học duy tâm sang lập trường triết học duy
vật. Và tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến đó chính là tác phẩm
“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu (1844)”.
Cũng thông qua tác phẩm đó là “Lược khảo khoa KTCT” cũng giúp cho các ông 1 lần nữa khẳng
định sự chuyển biến từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật. ✓
Cùng với quá trình chuyển biến đó thì các ông đã có sự thay đổi về lập trường
chính trị. Thông qua các việc cùng hoạt động trong phong trào công nhân,
hiểu được tình cảnh của những người công nhân và thấy được những tinh
thần cách mạng của giai cấp công nhân thì cũng đã giúp cho các ông có
được sự chuyển biến về lập trường giai cấp đó là chuyển từ lập trường
giai cấp tư sản sang lập trường giai cấp công nhân.
Cũng chính việc đứng trên lập trường của GCCN đã giúp cho các ông có thể
đi đến việc xây dựng lý luận, giúp GCCN thực hiện sứ mệnh lịch sử và cũng
chuyển từ lập trường chính trị dân chủ tư sản sang lập trường cộng sản chủ nghĩa.
Chỉ trong môt khoảng thời gian ngắn (từ 1843-1844) vừa hoạt đông thực
tiễn, vừa nghiên cứu khoa học, Mác- Ăngghen đã thể hiện quá trình chuyển
biến lập trường triết học và lập trường chính trị và từng bước củng cố, dưt
khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc lập trường đó, mà nếu không có
sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ không có chủ nghĩa xã hôi khoa học.
Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ănghen: ba phát kiến vĩ đại gắn liền
với 3 lĩnh vực cụ thể là triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hôi khoa học.
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử:
C.Mác và Ph.Ănghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng, thành lOMoAR cPSD| 61548544
tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Bằng phép biện chứng duy vật,
nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ
nghĩa duy vật lịch sử-phát kiến vĩ đại thứ nhất của C.Mác và Ph.Ăngghen,
là sự khẳng đinh về mặt triết học sự sụp đổ của CNTB và sự thắng lợi của
CNXH đều tất yếu như nhau.
- Học thuyết về giá trị thặng dư:
Từ việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác và
Ph. Ăngghen đi
sâu nghiên cứu nền sản xuất công nghiệp nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa đã viết bô Tư bản, mà giá trị cốt lõi là “Học thuyết về giá trị thặng
dư” - phát kiến vĩ đại thứ hai của C.Mác và Ănghen là sự khẳng định về
phương diện kinh tế, sự diệt vong không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản
và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hôi.
- Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN: Trên cơ sở hai phát
kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết
về giá trị thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba,
sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp có sư mênh thủ
tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hôi và chủ nghĩa công sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hôi
không tưởng-phê phán đã được khắc phục môt cách triệt để; đồng thời đã
luận chưng và khẳng định về phương diện chính trị-xã hội sự diệt vọng
không tránh khoi của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học: -
Được sự uỷ nhiệm của những người công sản và công nhân quốc tế, ngày 24
tháng 2 năm 1848, Tuyên ngôn của Đảng Công sản do C.Mác và Ph.Ăngghen
soạn thảo được công bố trước toàn thế giới đánh dấu sự hình thành về cơ
bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm 3 bô phận hợp thành: Triết học,
Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hôi khoa học. lOMoAR cPSD| 61548544 -
Nội dung: chính tuyên ngôn của Đảng Công sản đã nêu và phân tích môt cách
có hệ thống lịch sử và logic hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất, đầy đủ,
xúc tích và chặt chẽ nhất thâu tóm hầu như toàn bô những luận điểm của chủ
nghĩa xã hôi khoa học; tiêu biểu và nổi bật là những luận điểm:

Cuôc đấu tranh của giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến môt
giai đoạn mà giai cấp công nhân không thể tự giải phóng mình nếu không
đồng thời giải phóng vĩnh viễn xã hội ra khỏi tình trạng phân chia giai cấp,
áp bưc, bóc lột và đấu tranh giai cấp. Song, giai cấp vô sản không
thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tổ chức ra chính đảng của giai
cấp, Đảng được hình thành và phát triển xuất phát từ sứ mệnh của lịch sử
giai cấp công nhân.
Logic phát triển tất yếu của xã hôi tư sản và cũng là của thời đại tư bản chủ
nghĩa, đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hôi
là tất yếu như nhau.
GCCN do có địa vị kinh tế- xã hôi đại diện cho lực lượng sản xuất tiên
tiến, có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, đồng thời là lực lượng
tiên phong trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hôi, chủ nghĩa công sản.
Những người cộng sản trong cuôc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản,
cần thiết phải thiết lập sự liên minh với các lực lượng dân chủ để đánh
đổ chế đô phong kiến chuyên chế, đồng thời không quên đấu tranh cho
mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa công sản. Những người công sản phải tiến
hành cách mạng không ngừng nhưng phải có chiến lược, sách lược khôn khéo và kiến quyết.
- Giá trị: cương lĩnh chính trị, là kim chỉ nam hành động của toàn bộ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp
công nhân và nhân dân lao động hoàn thành sứ mệnh lịch sử, mục tiêu cuối
cùng là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tôc và giải phóng loài người khỏi áp
bức, bóc lôt, bảo đảm hòa bình, tự do và hạnh phúc.

Kết luận: Thông qua các chuyển biến lập trường chính trị, lập trường triết
học, ba phát kiến vĩ đại của Mác và sự ra đời của tác phẩm tuyên ngôn ĐCS lOMoAR cPSD| 61548544
đã thể hiện 1 cách rõ nhất vai trò của Mac Anglen đối với sự ra đời của học
thuyết Mác và CNXHKH.
3. Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
"Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiền phong,
giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chế độ người
bóc lột người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân
dân dao động khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội
cộng sản, chủ nghĩa văn minh.
Những điều kiện khách quan:
- Khẳng định tính tất yếu khách quan SMLS của GCCN, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu
rõ:”... cùng với sự phát triển của đại công nghiêp, chính
cái nền tảng đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó,
đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết giai cấp tư sản sản sinh
ra người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng
lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
Điều kiện khách quan quy định SMLS của GCCN bao gồm:
- Thư nhất, do địa vị kinh tế của GCCN quy định: ✓
GCCN là con đẻ, là sản phẩm của nền đại công nghiệp có tính xã hội hóa ngày
càng cao, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Vì thế, GCCN đại
diện cho phương thưc sản xuất tiên tiến và LLSX hiện đại. Do lao động bằng
phương thưc công nghiệp ngày càng hiện đại, GCCN là người sản xuất ra của
cải vật chất chủ yếu cho xã hôi, làm giàu cho xã hội, có vai trò quyết định sự
phát triển của xã hôi hiện đại. ✓
Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế quy định GCCN là lực lượng phá
vỡ QHSX TBCN, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp “tự nó”
thành giai cấp “vì nó”. GCCN trở thành đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của
lịch sử, là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện để tổ chưc và lãnh đạo xã hôi,
xây dựng và phát triển LLSX và QHSX XHCN, tạo nền tảng vững chắc để lOMoAR cPSD| 61548544
xây dựng CNXH với tư cách là môt chế độ xã hội kiểu mới, không còn chế đô áp bức, bóc lôt người.
- Thư hai, do địa vị chính trị - xã hội của GCCN quy định: ✓ GCCN không sở hữu
TLSX chủ yếu, phải bán sưc lao động để kiếm sống, bị bóc
lôt nặng nề, lợi ích cơ bản của họ đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giai cấp tư
sản và thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân dân lao đông.
Là con đẻ của nề sản xuất đại công nghiệp do vậy GCCN có được những phẩm chất
của môt giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng: tính tổ chưc và kỷ luật, tự giác và
đoàn kết trong cuôc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hôi.
GCCN được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa Mác – Lênin, có đội tiền
phong là Đảng Công sản dẫn dắt
GCCN là môt giai cấp cách mạng, đại biểu cho LLSX hiện đại, cho phương thức
sản xuất tiên tiến thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập phương
thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, hình thái kinh tế - xã hôi cộng sản chủ nghĩa. Là
giai cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiến trình phát triển lịch
sử đây là đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công nhân.
Hoàn toàn không phải vì nghèo khổ mà giai cấp công nhân là môt giai cấp cách
mạng. Tình trạng nghèo khổ của giai cấp công nhân dưới chủ nghĩa tư bản là hậu
quả của sự bóc lôt, áp bức mà giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản tạo ra đối với
công nhân, đó là trạng thái mà cách mạng sẽ xóa bỏ để giải phóng giai cấp
công nhân và giải phóng xã hôi Điều kiện chủ quan:
- Sự phát triển của bản thân GCCN cả về số lượng và chất lượng: ✓
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng của
GCCN hiện đại, đảm bảo cho GCCN thực hiện được SMLS của mình. Chất
lượng GCCN phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thưc chính trị của môt
giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trách nhiệm của
mình đối với lịch sử, do đó GCCN phải được giác ngộ về lý luận khoa học và
cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. ✓
Thông qua sự phát triển này có thể thấy sự lớn mạnh của GCCN cùng với quy
mô phát triển của nền sản xuất vật chất hiện đại trên nền tảng của công nghiệp,
của kỹ thuật và công nghệ. lOMoAR cPSD| 61548544 ✓
Là giai cấp đại biểu cho phương thưc sản xuất tiên tiến, chất lượng GCCN còn
phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện
đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Để phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng, theo chủ nghĩa
Mác – Lê-nin phải đặc biệt chú ý đến hai biện pháp cơ bản:
+ Phát triển công nghiệp – “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” + Sự trưởng
thành của Đảng Công sản – hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân.
Chỉ với sự phát triển như vậy về số lượng và chất lượng, đặc biệt về chất
lượng, giai cấp công nhân mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình.
- Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để GCCN thực hiện
thắng lợi SMLS của mình ✓
ĐCS – đội tiên phong của GCCN ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo cuôc cách
mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của GCCN với tư cách là giai cấp cách mạng. ✓
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Công sản là sự kết hợp giữa
chủ nghĩa xã hôi khoa học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. ✓
GCCN là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng,
làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đôi tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp. ĐCS đại biểu trung thành cho lợi ích của
GCCN, của dân tôc và xã hôi. Sức mạnh của Đảng không chỉ thể hiện ở bản chất
GCCN mà còn ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, với quần chúng
lao đông đông đảo trong xã hôi, thực hiện cuôc cách mạng do Đảng lãnh đạo
để giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội ✓ Sự lãnh đạo của Đảng:
• Đảng đề ra đường lối
• Tuyên truyền vận đông đưa đường lối vào thực tiễn cuôc sống
• Tổ chưc thực hiện đường lối
• Gương mẫu thực hiện đường lối
Chủ nghĩa Mác- Lênin còn chỉ rõ, để cuôc cách mạng thực hiện SMLS của
GCCN đi tới thắng lợi, phải có sự liên minh giai cấp giữa GCCN với giai cấp lOMoAR cPSD| 61548544
nông dân và các tầng lớp lao đông khác (trí thức, tiểu thương) do GCCN thông qua
đôi tiên phong của nó là ĐCS lãnh đạo.
4. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội?
Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội: là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc trên
toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân
dân lao động giành được chính quyền nhà nước cho đến khi CNXH tạo ra được
những cơ sở của chính mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Là thời kỳ đấu tranh
quyết liệt giữa những nhân tố của xã hội mới với tàn dư của xã hội cũ để tạo ra
những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để Chủ nghĩa xã hội ra đời và pháp triển.
Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Một là, chủ nghĩa xã hôi và chủ nghĩa tư bản là hai chế độ xã hội có bản chất
đối lập nhau. Chủ nghĩa tư bản dựa trên chế đô chiếm hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, tư liệu sản xuất thuôc về giai cấp tư sản, đại đa số người lao đông
phải đi làm thuê và bị áp bức, bóc lôt. Chủ nghĩa xã hôi là chế đô xã hôi dựa trên
cơ sở công hữu tư liệu sản xuất là chủ yếu, tư liệu sản xuất thuôc về đa số người
lao đông không áp bức, bóc lôt. ✓
Hai là, Chủ nghĩa tư bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định cho chủ
nghĩa xã hôi với nền sản xuất công nghiệp pháp triển cao, cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại nhưng để cơ sở vật chất đó phục vụ cho chủ nghĩa xã hôi cần
thiết phải có thời gian tổ chức, sắp xếp và xây dựng. Những nước chưa trải
qua chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hôi không kế thừa được những cơ
sở vật chất kĩ thuật mà chủ nghĩa tư bản tạo ra cần vì thế có thời gian dài để
tiến hành công nghiệp hóa XHCN. Quá trình đó cũng diễn ra lâu hơn, khó khăn
và phức tạp hơn trong đó có Việt Nam.
 Thời kỳ quá đô ở những nước có trình đô kinh tế - chính trị khác nhau
là khác nhau. Thời kỳ quá đô của mỗi nước là dài ngắn khác nhau nó
còn tùy thuôc vào hoàn cảnh của mỗi nước. Với những nước đã qua chế
đô tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật nhất định cho chủ nghĩa xã hôi nhưng muốn cơ sở ấy phục vụ cho
chủ nghĩa xã hôi cần có thời gian tổ chức, săp xếp lại. Với
những nước bỏ qua chế đô tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hôi càng cần có môt thời gian lâu dài để thực hiện nhiệm vụ tiến hành công
nghiệp hoá xã hôi chủ nghĩa. lOMoAR cPSD| 61548544
Ba là, những quan hệ xã hôi của Chủ nghĩa xã hội không nảy sinh tự phát
trong lòng chủ nghĩa tư bản (VD: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đó là
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà ở chế độ Tư bản chủ nghĩa không sản
sinh ra được vì bản chất của nó là chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX; Quan
hệ bình đẳng, công bằng tự do cũng không ra đời trong CNTB về bản chất
chủ CNTB là áp bức bóc lột bất công) , mà các quan hệ đó là kết quả quá trình
cải tạo và xây dựng Xã hôi chủ nghĩa. Sự phát triển của CNTB mới chỉ tạo ra
những điều kiện, tiền đề vật chất cho sự ra đời của CNXH. Do vậy, cần phải có thời
gian để xây dựng, phát triển các quan hệ đó.
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là mới mẻ trên tất cả lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, xã hôi, văn hóa tư tưởng.Vì trước đay chỉ là tổ chức
đấu tranh để giành lấy chính quyền. Đây là công việc hết sức khó khăn và
phức tạp. Giai cấp công nhân và nhân dân lao đông càng cần có thời gian để làm
quen và thích nghi. o Liên hệ với Việt Nam:
- Căn cứ vào lý luận: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hôi của
Mác, Mác khẳng định rằng các hình thái kinh tế xã hôi là môt quá trình tất yếu của lịch sử tự nhiên.
Sự vận đông của các mâu thuẫn trong lòng hình thái kinh tế xã hôi tư bản chủ nghĩa
dẫn tới sự ra đời của hình thái kinh tế xã hôi công sản chủ nghĩa là tất yếu khách
quan. Hình thái KTXH sau tiến bô hơn hình thái KTXH trước - Căn cứ vào xu thế thời
đại: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra môt thời đại mới, thời đại quá
đô từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
- Căn cứ vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam:
+) Các phong trào, cuôc khởi nghĩa và các con đường cứu nước nổ ra và trên quy mô
rông khắp nhưng đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là chưa giải quyết mẫu thuẫn
cơ bản trong lòng xã hôi Việt Nam đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tôc Việt Nam
với đế quốc xâm lược và xã hôi phong kiến tay sai. Làm cho cách mạng Việt Nam
rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng lOMoAR cPSD| 61548544
5. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Khái niệm dân tộc: theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tôc là
quá trình phát triển lâu dài của xã hôi loài người, trải qua các hình thưc
cộng đồng từ thấp lên cao, bao gồm: thị tôc, bô lạc, bô tôc, dân tôc. Sự
biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự
biến đổi của công đồng dân tôc. Cho đến nay, dân tôc được hiểu theo 2 nghĩa:
- Theo nghĩa rộng, dân tôc là khái niệm dùng để chỉ môt cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân môt nước, có lãnh thổ riêng, nền
kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống
văn hóa và truyền thống đâu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu
dài dựng nước và giữu nước. Với nghĩa này, khái niệm dân tôc dùng để chỉ
môt quốc gia, nghĩa là toàn bô nhân dân của môt nước.
Theo nghĩa rộng dân tộc có những đặc trưng cơ bản sau: ✓ Thứ nhất, có
chung môt vùng lãnh thổ ổn định
Thứ hai, có chung môt phương thưc sinh hoạt kinh tế
Thứ ba, có chung môt ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Thứ tư, có chung
môt nền văn hóa và tâm lý
Thứ năm, có chung một nhà nước (nhà nước dân tôc)
- Theo nghĩa hẹp, dân tôc là môt khái niệm để chỉ môt cộng đồng dân tộc
được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có
chung ý thưc tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Công đồng này xuất
hiện sau bô lạc, bô tôc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tôc
người của các công đồng đó. Với nghĩa này, dân tôc là một bộ phận hay
thành phần của quốc gia.
Dân tôc – tôc người có môt số đặc trưng cơ bản sau: ✓ Cộng đồng về ngôn
ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói).
Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt
các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tôc coi trọng giữ gìn. ✓
Cộng đồng về văn hóa: văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật
thể ở mỗi tôc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập
quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tôc người đó lOMoAR cPSD| 61548544 ✓
Ý thưc tự giác tộc người: đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân
định môt tôc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tôc người
 Thực chất hai cách hiểu trên về dân tôc , tuy không đồng nhất nhưng
lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tôc quốc gia
bao hàm dân tôc tôc người. Dân tôc tôc người là bô phận hình thành
dân tôc quốc gia. Dân tôc tôc người ra đời trong những quốc gia nhất
định và thông thường là những nhân tố hình thành dân tôc tôc người
không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin:
- Căn cưu đề ra cương lĩnh dân tộc:
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mỗi quan hệ giữa dân tôc với
giai cấp; kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tôc đó là:
+) Xu hướng thứ nhất, công đồng dân cư muốn tách ra để hình thành
công đồng dân tôc đôc lập.
+) Xu hướng thứ hai, các dân tôc trong từng quốc gia, thậm chí các dân
tôc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau dựa vào kinh nghiệm của
phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn
cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tôc những năm đầu thế
kỷ XX, V.I.Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tôc như sau: “Các dân tôc
hoàn toàn bình đẳng, các dân tôc được quyền tự quyết, liên hiệp công
nhân tất cả các dân tôc lại”
- Thứ nhất là các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: ✓ Đây là quyền thiêng
liêng của các dân tộc
, không phân biệt dân tôc lớn
hay nhỏ, ở trình đô phát triển cao hay thấp. Các dân tôc đều có quyền lợi
và nghĩa vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hôi,
không dân tôc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa. ✓
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không môt dân
tôc nào có quyền đi áp bức, bóc lôt dân tôc khác. Trong môt quốc gia có
nhiều dân tôc, quyền bình đẳng dân tôc phải được thể hiện trên cơ sở pháp
, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế. lOMoAR cPSD| 61548544 ✓
Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tôc, trước hết phảithủ tiêu
tình trạng áp bưc giai cấp, trên cơ sở đó xóa bo tình trạng áp bưc dân tộc;
phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực
đoan
. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện
quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa
các dân tộc.
Ý nghĩa: Bình đẳng dân tôc là quyền thiêng liêng của dân tộc mục tiêu
phấn đấu của các dân tôc trong sự nghiệp giải phóng. Nó là cơ sở
để thực hiện quyền dân tôc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị
hợp tác giữa các dân tôc
- Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết
Đó là quyền các dân tôc tự quyết lấy vận mệnh của dân tộc mình,
quyền tự lựa chọn chế độ chính trị con đường phát triển của dân tôc mình. ✓
Quyền tự quyết dân tôc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc
gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với các dân
tôc khác trên cơ sở bình đẳng. ✓
Quyền tự quyết dân tôc không đồng nhất với “quyền” của các tôc
người thiểu số trong môt quốc gia đa tôc người, nhất là việc phân lập thành
quốc gia độc lập.
Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của
thế lực phản đông, thù địch lợi dụng chiêu bài “dân tôc tự
quyết” để can thiệp vào công việc nôi bô của các nước, hoặc kích đông đòi lỳ khai các dân tôc.
Ý nghĩa: Quyền dân tôc tự quyết là môt quyền cơ bản của dân tộc. Nó
là cơ sở để xóa bỏ sự hiệm khích, thù hằn giữa các dân tôc, phát huy
tiềm năng của các dân tôc vào sự phát triển chung của nhân loại
- Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: ✓ Liên hiệp công nhân các
dân tôc phản ánh sự thống nhất giữa giải
phóng dân tôc và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ
giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
✓ Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tôc là cơ sở vững chắc để đoàn
kết các tầng lớp nhân dân lao đông thuôc các dân tôc trong cuôc đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì đôc lập dân tôc và tiến bô xã hôi. Vì lOMoAR cPSD| 61548544
vậy, nôi dung này vừa là nôi dung chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để
liên kết các nôi dung của Cương lĩnh dân tôc thành môt chính thể.
Ý nghĩa: Liên hiệp công dân tất cả các dân tôc là nôi dung cơ bản nhất
trong cương lĩnh dân tôc của chủ nghãi Mác-Lênin.
6. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất, nguồn gốc và nguyên
tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên CNXH?
✓ Tôn giáo là môt hình thái ý thức xã hôi phản ánh hư ảo hiện thực khách quan.
Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên và xã hôi trở thành siêu nhiên, thần bí.
Ph.Ăngghen cho rằng: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chi là sự phản ánh hư
ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ; chi là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế ”.

✓ Ở môt cách tiếp cận khác, tôn giáo là môt thực thể xã hôi
– các tôn giáo cụ thể (ví dụ: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…), với các tiêu chí cơ bản sau:
+ Có niềm tin sâu sắc vào đấng siêu nhiên, đấng tối cao, thần linh để tôn thờ (niềm tin tôn giáo);
+ Có hệ thống giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, lễ nghi) phản ánh thế giới quan, nhân
sinh quan, đạo đức, lễ nghi của tôn giáo;
+ Có hệ thống cơ sở thờ tự;
+ Có tổ chức nhân sự, quản lý điều hành việc đạo (người hoạt đông tôn
giáo chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp);
+ Có hệ thống tín đồ đông đảo, những người tự nguyện tin theo môt tôn
giáo nào đó, và được tôn giáo đó thừa nhận. lOMoAR cPSD| 61548544
Bản chất của tôn giáo:
✓ Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Tôn giáo là môt hiện tượng xã hôi - văn
hoá do con người sáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi
ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ. Nhưng,
sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuôc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá và
phục tùng tôn giáo vô điều kiện. Theo C. Mác: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm
giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa.”
✓ Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng cho rằng, sản xuất vật chất và các quan hệ kinh
tế, xét đến cùng là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các hình thái
ý thức xã hôi, trong đó có tôn giáo. Do đó, mọi quan niệm về tôn giáo, các tổ
chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt đông sản xuất, từ
những điều kiện nhất định trong xã hôi và thay đổi theo những thay
đổi của cơ sở kinh tế.
+ Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm,
có sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
✓ Mặc dù có sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người công sản với lập
trường mácxít không bao giờ có thái đô xem thường hoặc trấn áp những nhu
cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân. Trong
những điều kiện cụ thể của xã hôi, những người công sản và những người có tín ngưỡng
tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng môt xã hôi tốt đẹp hơn ở thế giới hiện
thực. Xã hôi ấy chính là xã hôi mà quần chúng tín đồ cũng từng mơ ước
và phản ánh nó qua môt số tôn giáo.
Về nguồn gốc của tôn giáo:
▪ Ba nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên, kinh tế -xã hôi; nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.
- Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trong xã hôi công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển,
trước thiên nhiên hùng vĩ tác đông và chi phối khiến cho con người cảm thấy lOMoAR cPSD| 61548544
yếu đuối và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự
nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí. ✓
Khi xã hôi xuất hiện các giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do không giải
thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lôt bất công, tôi
ác..., công với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hôi, con người
trông chờ vào sự giải phóng của môt lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
- Nguồn gốc nhận thức
Ở môt giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã
hôi và chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và
“chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được,
thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo. ✓
Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình đô dân
trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất
cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. ✓
Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nôi dung
khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.
- Nguồn gốc tâm lý
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hôi, hay trong những lúc ốm
đau, bệnh tật; ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được
bình yên khi làm môt việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu
sự nghiệp kinh doanh…), con người cũng dễ tìm đến với tôn giáo. ✓
Thậm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính
trọng đối với những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người
đến với tôn giáo (ví dụ: thờ các anh hùng dân tôc, thờ các thành hoàng làng…). lOMoAR cPSD| 61548544
7. Phân tích các chức năng cơ bản của gia đình?
Chức năng tái sản xuất ra con người: -
Đây là chức năng đặc thù của gia đình, không môt công đồng nào có thể thay thế.
Chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm, sinh lý tự nhiên của con người, đáp
ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ mà còn đáp ứng nhu
cầu về sức lao đông và duy trì sự trường tồn của xã hôi. -
Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người khôngchỉ là việc riêng của gia
đình mà là vấn đề xã hôi. Bởi vì, thực hiện chức năng này quyết định đến mật đô
dân cư và nguồn lực lao đông của môt quốc gia và quốc tế, môt yếu tố cấu thành
của tồn tại xã hôi. -
Thực hiện chức năng này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển mọi mặt của đời
sống xã hôi. Vì vậy, phụ thuôc vào nhu cầu của xã hôi, chức năng này được
thực hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích. Trình đô phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hôi ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao đông mà gia đình cung cấp.

Chức năng nuôi dưỡng, giáo duc: -
Chức năng này thể hiện tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm của cha mẹ
với con cái, đồng thời thể hiện trách nhiệm của gia đình với xã hôi. Thực hiện
tốt chức năng nuôi

dưỡng, giáo dục, đòi hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ phải có kiến thức cơ bản,
tương đối toàn diện về mọi mặt, văn hóa, học vấn, đặc biệt là phương pháp giáo dục. -
Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hình thành
nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người. Bởi vì, ngay khi sinh ra, mỗi người
đều chịu sự giáo dục trực tiếp của cha mẹ và người thân trong gia đình. Những hiểu biết
đầu tiên mà gia đình đem lại thường để lại dấu ấn sâu đậm và bền vững trong cuôc
đời mỗi người. Vì vậy, gia đình là môt môi trường văn hóa, giáo dục, mỗi thành viên lOMoAR cPSD| 61548544
trong GĐ đều là chủ thể sáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thể giáo dục đồng thời
cũng là những người thụ hưởng giá trị văn hóa và là khách thể chịu sự giáo dục
của các thành viên khác trong gia đình.
- Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đến cuôc đời
của mỗi thành viên, đây là chức năng hết sức quan trọng mặc dù trong xã hôi có
nhiều công đồng khác (nhà trường, các đoàn thể, chính quyền v.v..) cũng thực hiện
chức năng này, nhưng không thể thay thế chức năng giáo dục của gia đình. Với chức
năng này, gia đình góp phần to lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai
của xã hôi, cung cấp và nâng cao chất lượng nguồn lao đông để duy trì sự trường
tồn của xã hôi, đồng thời mỗi cá nhân từng bước được xã hôi hóa. Vì vậy, giáo dục của gia

đình gắn liền với giáo dục của xã hôi. Nếu giáo dục của gia đình không gắn với
giáo dục của xã hôi, mỗi cá nhân sẽ khó khăn khi hòa nhập với xã hôi và ngược
lại, giáo dục của xã hôi sẽ không đạt được hiệu quả cao khi không kết hợp với giáo dục của

gia đình, không lấy giáo dục của gia đình làm nền tảng. Do vậy, cần tránh khuynh
hướng coi trọng giáo dục gia đình mà hạ thấp giáo dục của xã hôi hoặc ngược lại.
Chức năng kinh tế và tô chức tiêu dùng: -
Gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản sản xuất ra tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà các đơn vị kinh tế khác
không có được đó là gia đình là đơn vị duy nhất tham gia vào quá trình sản
xuất và tái sản xuất ra sức lao đông cho xã hôi. -
Gia đình còn là môt đơn vị tiêu dùng trong xã hôi. Gia đình thực hiện chức năng tổ
chức tiêu dùng hàng hóa để duy trì đời sống của gia đình về lao đông sản xuất cũng
như các sinh hoạt trong gia đình. Đó là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của