











Preview text:
Biến đổi khí hậu
1. Tổng quan về Biến đổi khí hậu
1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi chủ yếu do con người tác động làm thay đổi các
thành phần của khí quyền trái đất đến hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự
nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định được tính bằng thập kỷ hay hàng
triệu năm. Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân
bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Biến đổi khí hậu (BĐKH) có
thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn cầu. Ví dụ: ấm
lên, lạnh đi.v.v. hay sự biến động của khí hậu dài hạn sẽ dẫn tới Biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu sẽ có tác động hết sức to lớn đến sự sống cũng như hoạt động của
con người nói riêng và của các sinh vật trên trái đất nói chung.
1.2 Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu
Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung;
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của
con người và của các sinh vật trên trái đất;
Mực nước biển dâng cao do băng tan dẫn tới gây ngập úng ở các vùng đất thấp và
các đảo nhỏ trên biển;
Sự di chuyển của các đới khí hậu đã tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác
nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống còn của các loài sinh vật, các hệ
sinh thái và các hoạt động có liên quan đến sự sống của con người;
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác;
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thủy quyển, sinh quyển và của các địa quyển.
2. Thực trạng biến đổi khí hậu
Theo báo cáo về Khí hậu Toàn cầu năm 2023 của WMO, các đợt nắng nóng, lũ lụt,
hạn hán, cháy rừng và các cơn bão nhiệt đới gia tăng nhanh chóng đã gây ra tình
trạng khốn khổ và hỗn loạn, đảo lộn cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người và
gây thiệt hại kinh tế hàng tỷ USD.
Báo cáo của WMO xác nhận rằng năm 2023 là năm ấm nhất được ghi nhận, với
nhiệt độ trung bình toàn cầu gần bề mặt là 1,45°C (với biên độ không chắc chắn là
± 0,12°C) so với mức cơ bản thời tiền công nghiệp. Đó là khoảng thời gian mười
năm ấm nhất được ghi nhận.
“Chưa bao giờ chúng ta tiến gần đến mức này - mặc dù chỉ là tạm thời vào thời
điểm hiện tại với giới hạn dưới 1,5°C của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.”
Tổng thư ký WMO Celeste Saulo cho biết. “Cộng đồng WMO đang đưa ra Cảnh
báo đỏ cho thế giới”. Theo bà “Biến đổi khí hậu không chỉ dừng lại ở nhiệt độ.
Những gì chúng ta chứng kiến vào năm 2023, đặc biệt là với sự ấm lên chưa từng
có của đại dương, sự rút lui của sông băng và sự mất đi băng ở biển Nam Cực, là
nguyên nhân gây ra mối lo ngại đặc biệt”.
Vào một ngày trung bình trong năm 2023, gần một phần ba đại dương toàn cầu bị
sóng nhiệt biển bao trùm, gây tổn hại cho các hệ sinh thái và hệ thống thực phẩm
quan trọng. Vào cuối năm 2023, hơn 90% đại dương đã trải qua tình trạng sóng
nhiệt vào một thời điểm nào đó trong năm.
Theo dữ liệu sơ bộ, tập hợp các sông băng tham chiếu trên toàn cầu đã phải hứng
chịu lượng băng bị mất kỷ lục lớn nhất (kể từ năm 1950), do băng tan cực độ ở cả
phía Tây Bắc Mỹ và Châu Âu. Phạm vi băng biển ở Nam Cực cho đến nay là thấp
kỷ lục, với mức tối đa vào cuối mùa đông là 1 triệu km2 so với kỷ lục trước đó -
tương đương với diện tích của Pháp và Đức cộng lại.
Số người bị mất an ninh lương thực nghiêm trọng trên toàn thế giới đã tăng hơn
gấp đôi, từ 149 triệu người trước đại dịch COVID-19 lên 333 triệu người vào năm
2023 (tại 78 quốc gia được Chương trình Lương thực Thế giới giám sát). Theo báo
cáo, thời tiết và khí hậu cực đoan có thể không phải là nguyên nhân gốc rễ nhưng
chúng là những yếu tố làm trầm trọng thêm tình trạng này.
Các mối nguy hiểm về thời tiết tiếp tục gây ra tình trạng di dời vào năm 2023, cho
thấy các cú sốc về khí hậu làm suy yếu khả năng phục hồi và tạo ra các rủi ro bảo
vệ mới cho những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất như thế nào.
Những bất thường về nhiệt độ trung bình toàn cầu hàng năm (so với giai đoạn 1850-
1900) từ 1850 đến 2023. Dữ liệu được lấy từ sáu bộ dữ liệu.
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO)
Việc sản xuất năng lượng tái tạo, chủ yếu được thúc đẩy bởi các động lực của bức
xạ mặt trời, gió và chu trình nước, đã trở thành hoạt động đi đầu trong hành động
về khí hậu nhờ tiềm năng đạt được các mục tiêu khử cacbon. Vào năm 2023, việc
bổ sung công suất tái tạo đã tăng gần 50% so với năm 2022, đạt tổng cộng 510
gigawatt (GW) - tỷ lệ cao nhất được quan sát thấy trong hai thập kỷ qua.
3. Một số hậu quả của biến đổi khí hậu
3.1 Mực nước biển đang dâng lên
Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên. Nhiệt
độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm
tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.
Các núi băng và sông băng đang co lại. Những lãnh nguyên bao la từng được bao
phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ. Lấy một ví
dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng - nguồn
nước uống và canh tác của khoảng 500 triệu người - đang co lại khoảng 37m mỗi năm.
Các bờ biển đang dần biến mất. Bãi biển ở Miami nằm trong số rất nhiều những
khu vực khác trên thế giới đang bị đe dọa bởi nước biển dâng ngày càng cao.
Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo bang
Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc
hay các quốc gia nằm ven biển. Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển
sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức này, phần lớn các đảo của
Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất.
3.2 Các hệ sinh thái bị phá hủy
Những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí carbon dioxide tăng nhanh
chóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, nguồn cung cấp nước ngọt,
không khí, nhiên liệu, năng lượng sạch, thực phẩm và sức khỏe.
Dưới tác động của nhiệt độ, không khí và băng tan, số lượng các rạn san hô ngày
càng có xu hướng giảm. Điều đó cho thấy, cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước
đều đang phải hứng chịu những tác động từ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, cũng như
hiện tượng axit hóa đại dương.
3.3 Mất đa dạng sinh học
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ
tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt
chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự
mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do
nước biển ấm lên. Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư
đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp.
Ví dụ như Loài Cáo Đỏ, trước đây chúng sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực.
Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình trạng đất hoang hóa và
mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta. Và khi cây
cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và
thu nhập của chúng ta cũng mất đi.
3.4 Chiến tranh và xung đột
Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất nhưng dân số
cứ tiếp tục tăng, đây là những yếu tố gây xung đột và chiến tranh giữa các nước và vùng lãnh thổ.
Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần làm
cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển hình do biến
đổi khí hậu là ở Darfur. Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo
dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm
không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao.
Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước
và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh.
Xung đột ở Darfur (Sudan) xảy ra một phần là do các căng thẳng của biến đổi khí hậu. 3.5 Dịch bệnh
Nhiệt độ ngày càng tăng kết hợp với lũ lụt và hạn hán đang trở thành mối đe dọa
với sức khỏe dân số toàn cầu. Bởi đây là môi trường sống lý tưởng cho các loài
muỗi, những loài ký sinh, chuột và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh.
Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều
nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây
cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới.
Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi
khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.
Biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện trở lại của
một số bệnh truyền nhiễm ở vùng nhiệt đới (sốt rét, sốt Dengue, dịch hạch, dịch
tả), xuất hiện một số bệnh truyền nhiễm mới (SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1),
thúc đẩy quá trình đột biến của virut gây bệnh cúm A/H1N1, HSN1 nhanh hơn. 3.6 Hạn hán
Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi
khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn hán làm cạn kiệt
nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông
nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe
dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát
Hiện tại, các vùng như Ẩn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt
hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp
tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75
triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn
đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.
Châu Phi là khu vực đặc biệt dễ bị ảnh hưởng do biến đổi khí hậu nhưng lại ít
nguồn lực để thích ứng với điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt. Vùng gần
châu Phi và khu vực phía đông châu lục đang hứng chịu hạn hán nghiêm trọng
khiến người dân thiếu lương thực và nước sạch, trong khi khu vực phía nam châu
Phi đối mặt những trận bão nguy hiểm với tần suất ngày càng tăng.Các đợt nắng
nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước
đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp
100 lần so với hiện nay.
Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao
gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
Các vụ cháy rừng đã biến phần lớn bang New South Wales và Victoria của
Australia trở thành vùng đất chết và khiến hàng nghìn người phải di tản. Nhiệt độ
cao kỷ lục cùng với thời tiết khô hạn nghiêm trọng kéo dài do Biến đổi khí hậu đã
gây ra những biển lửa, khiến quang cảnh nhiều nơi ở Australia trông không khác gì "Ngày tận thế". 3.7 Bão lụt
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh
cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi.
Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão. Chính mức nhiệt cao
trên đại dương và trong khí quyển, đẩy tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng.
Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho
các cơn bão. Những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn. Trong vòng chỉ
30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi.
Mưa lớn xảy ra ở khu vực miền tây nước Đức cũng như Bỉ, hà Lan và Luxembourg
trong 2 ngày 14 và 15/7/2021. Các bang North Rhine-Westphalia, Rhineland-
Palatinate và Saarland của Đức ghi nhận lượng mưa lớn chưa từng có trong 1 thế
kỷ qua. Chính lượng mưa lớn gây ra lũ quét và sạt lở đất ở nhiều nơi.
Không chỉ riêng nước Đức, 12 người đã thiệt mạng do mưa lũ ở quốc gia láng
giềng Bỉ. Đi cùng với mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất, khoảng 21.000 người sống ở
Wallonia, khu vực nói tiếng Pháp ở miền nam nước Bỉ, cũng đang phải sống trong
tình trạng mất điện. Có 300 điểm bị ngập ở khu vực này và hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài.
3.8 Thiệt hại đến kinh tế
Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt
độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài
ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng
lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế.
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu
cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang, các chính phủ phải đối mặt với việc
lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực
phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ
để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thắng về đường biên giới.
Phân tích cho thấy, thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu tiếp diễn vào cuối thế kỷ
này có thể cao gấp sáu lần so với ước tính trước đây.
Khi tính đến các tác động của biến đổi khí hậu đối với tăng trưởng kinh tế, GDP
toàn cầu có thể thấp hơn 37% vào năm 2100 so với khi không có tác động của hiện
tượng ấm lên toàn cầu. Nếu không tính đến những thiệt hại lâu dài - điều vốn bị bỏ
qua trong hầu hết các ước tính - thì GDP sẽ chỉ thấp hơn khoảng 6%, điều này có
nghĩa là các tác động lên tăng trưởng có thể làm gia tăng tổn thất kinh tế do biến
đổi khí hậu lên gấp 6 lần. Vẫn còn những điều chưa chắc chắn về việc, thiệt hại khí
hậu tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn như thế nào và xã hội có thể thích
ứng ở mức độ nào để giảm bớt những thiệt hại này - điều đó tùy thuộc vào mức độ
ảnh hưởng tới tăng trưởng, con số tổn thất kinh tế trong thế kỷ này có thể lên tới
51% GDP toàn cầu do trái đất nóng lên.
4. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 4.1 Nguyên nhân tự nhiên
4.1.1 Dịch chuyển lục địa:
Bề mặt Trái đất bao gồm các lục địa và các đại dương. Bề mặt Trái đất có thể bị
biến dạng qua các thời kỳ địa chất do sự trôi dạt lục địa, các quá trình vận động tạo
sơn, sự phun trào núi lửa,…Sự biến dạng này sẽ làm thay đổi phân bố lục địa –
biển, hình thái bề mặt Trái Đất, dẫn đến sự biến đổi trong phân bố khúc xạ mặt trời
nhận được, trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu
chung khí quyển, đại dương.
4.1.2 Hoạt động của núi lửa:
Khi núi lửa phun trào sẽ phun ra một số khí ảnh hưởng tiêu cực như các khí sulfur
dioxide (SO.), bụi tro, hơi nước, các sol khí, các chất phóng xạ, chất ô nhiễm... bị
bức xạ lại vào trong không khí hoặc thậm chí là bức xạ với mặt trời, làm nhiệt độ
trên trái đất vị giảm đi. Có những bằng chứng cho thấy nhiều đợt phun trào núi lửa
trong quá khứ có quy mô lớn hơn so với những đợt phun trào chúng ta đã từng
chứng kiến, gây biến đổi mạnh mẽ về cân bằng bức xạ trong khí quyển.
4.1.3 Mô hình dòng hải lưu:
Dòng hải lưu là chuyển động trực tiếp, liên tục và tương đối ổn định của nước biển
và lưu thông ở một trong các đại dương của trái đất.
4.1.4 Bức xạ mặt trời:
Sự biển đổi trong tính chất phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của Trái đất.
Mặt trời là nguồn cung câp năng lượng duy nhất cho Trái đất. Nguồn năng lượng
này cũng biến thiên theo thời gian. Từ khi Trái đất hình thành cho đến nay (khoảng
5 tỷ năm) độ chói của mặt trời tăng khoảng 30%. Sự phát xạ của mặt trời đã có
những thời kỳ yếu đi gây ra băng hà và có những thời kỳ hoạt động mãnh liệt gây
ra khí hậu khô, nóng trên bề mặt Trái đất. Thành phần khí quyền Trái đất cũng đã
thay đổi rất nhiều qua các thời kỳ địa chất. Biển đối tự nhiên của khí hậu có thể
được nhận thấy qua các thời kỳ băng hà, gian băng tương ứng với những thời kỳ
khí hậu lạnh giá và khí hậu ấm áp của Trái đất.
4.1.5 Hiện tượng El Nino và La Nina
Là những biến đổi tự nhiên trong khí hậu Thái Bình Dương có thể có tác động toàn
cầu. El Nino làm ấm nước biển ở Thái Bình Dương nhiệt đới, trong khi La Nina
làm lạnh chúng. Cả hai hiện tượng đều có thể gây ra thay đổi lớn trong mô hình
mưa và nhiệt độ trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Georgia của Mỹ, vừa phát hiện
rằng dường như không có mối liên hệ giữa El Nino và biến đổi khí hậu.
Trong nghiên cứu, công bố trên tạp chí Khoa học (Science) số ra ngày 3/1/2013,
các nhà khí tượng học đến từ Khoa nghiên cứu Trái Đất và Khí quyển thuộc viện
trên đã tiến hành đo mức tăng trưởng theo từng tháng của các hóa thạch san hô cổ
được tìm thấy ở hai hòn đảo Thái Bình Dương để xác định yếu tố khiến khí hậu ấm lên.
Cùng với việc tái hiện nhiệt độ và lượng mưa trên Trái Đất trong hàng nghìn năm
qua, các nhà khoa học đã so sánh hiện tượng của El Nino qua các thời kỳ.
Theo giáo sư Kim Cobb, nhà khí tượng học thuộc viện trên, mặc dù El Nino diễn
ra mạnh mẽ và thường xuyên hơn trong thế kỷ 20, song các kết quả phân tích các
hóa thạch san hô cho thấy một dạng El Nino mới có tên là El Nino Hướng Nam
(ENSO) diễn biến phức tạp và khó lường hơn.
Như vậy, chưa thể kết luận chắc chắn rằng những biến đổi khí hậu trong thời gian
gần đây có liên quan tới tình trạng biến đổi khí hậu do lượng khí thải cácbon điôxít
gây nên. El Nino là hiện tượng thay đổi đáng kể nhiệt độ trên mặt biển ở vành đai
nhiệt đới của Thái Bình Dương, xảy ra mỗi 2-7 năm/lần, khi các cơn gió mậu dịch
(gió mạnh thổi liên tục từ Đông Nam hoặc Đông Bắc về hướng xích đạo) bắt đầu suy yếu.
Hiện tượng thời tiết bất thường này khiến nhiệt độ tăng lên, gây ra mưa bão, lụt lội
và hanh khô. .. Nghiên cứu do Hiệp hội Khoa học quốc gia Mỹ phối hợp thực hiện
với các chuyên gia thuộc Viện Hải dương học và trường Đại học Minnesota.
4.2 Nguyên nhân nhân tạo: 4.2.1 Dân số:
Thống kê của Liên hợp quốc cho thấy các thảm họa thiên nhiên do hậu quả của
biến đổi khí hậu đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua. Đồng thời việc dân số tăng liên
tục cũng là một nhân tô gây biên đôi khí hậu thê giới, vì càng nhiêu người sinh
sông trên Trái Đât sẽ càng thải ra nhiêu lượng khí carbon dioxide (CO.) gây hiệu ứng nhà kính.
Tình trạng tăng dân số diễn ra đặc biệt nhanh ở các nước nghèo kém phát triển.
Với 41% dân số châu Phi là dưới 15 tuổi, trong khi ở châu Âu chỉ là 15%. Châu
Phi không chỉ là lục địa có dân số trẻ nhất trên thế giới, mà cũng là châu lục nghèo
nhất thế giới. Người dân phải chịu hậu quả nặng nề nhất của quá trình biến đổi khí
hậu. Hạn hán, sa mạc hóa, đất đai khô cẵn đã đẩy 25 triệu người phải rời bỏ quê
hương; ước tính tới năm 2050 sẽ có 200 triệu người phải tị nạn do biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, 1/10 dân số thế giới đang sông ở các khu vực ven biên. Biên đôi khí hậu
dân đên mực nước biên dâng cao có thể khiến 650 triệu người buộc phải rời bỏ quê
hương đi tìm nơi cư trú mới.
4.2.2 Các hoạt động của con người. - Sản xuất năng lượng
Quá trình sản xuất điện và nhiệt từ việc đốt cháy các nguồn nhiên liệu hóa thạch
tạo ra một lượng lớn khí thải trên toàn cầu. Phần lớn điện được tạo ra thông qua
việc đốt than, dầu hoặc khí đốt, gây ra cacbon dioxit và nitơ oxit – những loại khí
nhà kính đang lan rộng trên Trái Đất và giữ lại nhiệt từ mặt trời. - Sản xuất hàng hoá
Các ngành sản xuất và công nghiệp tạo ra lượng khí thải đáng kể, đặc biệt là từ quá
trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng cho việc sản xuất xi
măng, sắt, thép, điện, nhựa, quần áo,... Ngoài ra, các ngành khai khoáng, xây dựng
và các quy trình công nghiệp khác cũng góp phần vào phát thải khí.
Máy móc sử dụng nhiên liệu như than, dầu hoặc khí đốt trong quá trình sản xuất,
một số vật liệu như nhựa được sản xuất từ các hóa chất có nguồn gốc từ nhiên liệu
hóa thạch. Do đó, ngành công nghiệp sản xuất là một trong những nhân tố lớn làm
phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. - Chặt phá rừng
Việc phá rừng để lập nông trại hoặc mở rộng đồng cỏ, hay hoạt động phá rừng vì
các mục đích khác, đều tạo ra lượng khí thải do cây xanh bị chặt bỏ thải ra lượng
carbon trong đó. Mỗi năm, khoảng 12 triệu hecta rừng bị hủy diệt, làm giảm khả
năng của tự nhiên trong việc hấp thụ carbon dioxide và giảm khí thải trong bầu khí
quyển. Phá rừng, cùng với các hoạt động nông nghiệp và sử dụng đất khác, là
nguyên nhân lớn khiến phát thải khí nhà kính toàn cầu.
- Sử dụng phương tiện giao thông
Hầu hết các phương tiện như ô tô, xe tải, tàu thuyền và máy bay hiện nay vẫn sử
dụng nhiên liệu hóa thạch để hoạt động. Điều này là nguyên nhân làm cho ngành
giao thông vận tải trở thành một trong những nguồn gây ra lượng khí thải nhà kính
lớn nhất, đặc biệt là carbon dioxide. Phương tiện đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong số đó, do phải đốt cháy các sản phẩm dầu mỏ như xăng trong động cơ của
mình. Đồng thời, lượng khí thải từ tàu thuyền và máy bay cũng đang tăng lên.
Ngành giao thông vận tải đóng góp gần một phần tư lượng khí thải carbon dioxide
toàn cầu liên quan đến nguồn năng lượng. Xu hướng này chỉ ra rằng việc sử dụng
năng lượng trong giao thông vận tải dự kiến sẽ gia tăng đáng kể trong những năm sắp tới. - Sản xuất lương thực
Quá trình sản xuất lương thực tạo ra khí thải bao gồm carbon dioxide, metan và các
loại khí nhà kính khác theo nhiều phương thức khác nhau. Ví dụ, việc phá rừng và
mở rộng đất canh tác và chăn nuôi, sản xuất thức ăn cho gia súc, sử dụng phân bón
trong nông nghiệp, cũng như tiêu thụ năng lượng từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch
để vận hành các thiết bị trong nông trại, tàu cá. Tất cả những hoạt động này đều
làm cho ngành sản xuất lương thực trở thành một nguồn phát thải đáng kể gây ra biến đổi khí hậu.
- Cấp điện cho các tòa nhà
Tòa nhà dân cư và trung tâm thương mại tiêu thụ hơn một nửa tổng tiêu thụ điện
trên toàn cầu. Việc sử dụng liên tục than, dầu và khí tự nhiên để sưởi ấm và làm
mát đã gây ra một lượng khí thải nhà kính đáng kể từ những tòa nhà này. Nhu cầu
sưởi ấm và làm mát gia tăng, số người cần máy điều hòa không khí tăng lên, đồng
thời tiêu thụ điện cho chiếu sáng và sử dụng thiết bị gia dụng/thiết bị kết nối cũng
tăng lên. Tất cả những yếu tố này góp phần lớn vào việc tăng lượng khí thải carbon
dioxide liên quan đến năng lượng từ các tòa nhà. - Tiêu thụ quá mức
Ngôi nhà mà chúng ta sinh sống, cách chúng ta tiêu thụ năng lượng điện, cách di
chuyển hàng ngày, thậm chí cả những món ăn mà chúng ta lựa chọn và cách xử lý
chúng sau khi sử dụng đều góp phần vào việc phát thải khí nhà kính. Tương tự như
vậy, việc tiêu thụ hàng hóa như quần áo, thiết bị điện tử và các sản phẩm nhựa. Sự
gia tăng của khí thải nhà kính trên toàn cầu chịu ảnh hưởng từ lối sống của các hộ
gia đình. Đáng chú ý, nhóm người giàu có nhất chịu trách nhiệm lớn nhất về vấn
đề này: chỉ 1% dân số giàu có nhất trên thế giới phát thải khí nhà kính nhiều hơn
gấp nhiều lần so với mức đó của 50% dân số nghèo nhất.
5. Giải pháp của biến đổi khí hậu
5.1. Giảm mức độ tiêu thụ
Việc giảm tiêu thụ không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi tiêu mà còn góp phần
khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu hiệu quả. Cụ thể: Hãy hạn chế sử dụng
loại bao bì nilong, nhựa...sẽ gây nên hiệu ứng ô nhiễm trắng.
5.2. Hạn chế sử sụng nhiên liệu hóa thạch (than đá, xăng...)
Hiện nay dâu là nguyên liệu phô biên và dâu cũng chính là yêu tô quan trọng đê
con người có thể chế tạo, sản xuất và vận hành rất nhiều các trang thiết bị khác
nhau trên thế giới. Các nhà khoa học cho biết, ngày nay chưa có một giải pháp nào
có thế thay thế nhiên liệu hóa thạch, mặc dù đây là nguồn gây ra hiệu ứng nhà kính
ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề biến đổi khí hậu 5.3 Tuyên truyền
Tuyên truyền nâng cao nhận thức về xu thế biến đổi khí hậu, diễn biến tình hình
thiên tai trên thế giới.
Khuyến khích sử dụng, ứng dụng các công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng
trong quá trình hoạt động, thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải,
sử dụng các vật liệu và sản phẩm thân thiện với môi trường, không sử dụng túi
nilon và sản phẩm nhựa dùng một lần.
Tuyên truyền tầm quan trọng của việc trồng cây xanh và hậu quả của biến đổi khí
hậu đến với cuộc sống
5.4. Chặn đứng nạn phá rừng
Theo thống kê mỗi năm có khoảng 33 triệu ha rừng nhiệt đới bị chặt phá, riêng nạn
khai thác gỗ đã tạo ra hơn 1,5 tỷ tấn CO2 thải ra môi trường, chiếm 20% lượng khí
thải nhân tạo gây hiệu ứng nhà kính. Vì thế việc ngăn chăn được nạn phá rừng có
tác động lớn về việc giảm nguy cơ biến đổi khí hậu 5.5. Tiết kiệm điện
Một trong những giải pháp kinh tế khả thi nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường là tiết kiệm điện, đặc biệt là sử dụng các thiết bị dân dụng tiết kiệm điện
như bóng đèn compact, các loại pin nạp.
5.6. Tìm những nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo
Việc tìm kiếm và áp dụng những nguồn năng lượng mới, tái tạo để thay thế nhiên
liệu hóa thạch là thách thức của loài người trong thế kỷ 21. Một số nguồn năng
lượng sáng giá là ethanol từ cây trồng, hyđro từ quá trình thủy phân nước, năng
lượng địa nhiệt, năng lượng sóng, năng lượng Mặt trời, năng lượng gió và nhiên liệu sinh học.
5.7. Ứng dụng công nghệ mới
Các nhà khoa học hiện đang tiến hành các thử nghiệm mới như quá trình can thiệp
kỹ thuật phong tỏa mặt trời... nhằm giảm hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, các nhà
khoa học còn tính đến kỹ thuật phát tán các hạt sunfat vào không khí để nó thực
hiện quá trình làm lạnh bầu không khí do quá trình phun nham thạch của núi lửa,
hoặc lắp đặt hàng triệu tấm gương nhỏ để làm chệch ánh sáng mặt trời cho tới việc
bao phủ vỏ Trái đất bằng các màng phản chiếu để khúc xạ trở lại ánh sáng Mặt trời,
tạo ra các đại dương có chứa sắt và các giải pháp tăng cường dưỡng chất giúp cây
trồng hấp thụ nhiều CO hơn... Tài liệu tham khảo
Lê Chung, 11/12/2020, Covid-19 khiến năm 2020 giảm kỷ lục lượng khí CO2,
https://tuoitre.vn/covid-19-khien-nam-2020-giam-ky-luc-luong-khi-carbonic-
20201211115709559.htm#:~:text=TTO%20%2D%20Trong%20b%C3%A1o%20c
%C3%A1o%20m%E1%BB%9Bi,m%E1%BB%A9c%20gi%E1%BA%A3m%20k
%E1%BB%B7%20l%E1%BB%A5c%207%25, ngày truy cập 4/7/2024
Nguyễn Xuân Cự - Nguyễn Thị Phương Loan, 2010, Môi trường và con người,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), 19/3/2024, Báo cáo sơ bộ về Tình trạng Khí
hậu Toàn cầu năm 2023, https://wmo.int/media/news/climate-change-indicators-
reached-record-levels-2023-wmo, ngày truy cập 4/7/2024
6/1/2013, Hoài nghi về liên hệ giữa El Nino và biến đổi khí hậu,
https://vnexpress.net/hoa-i-nghi-ve-lien-he-giua-el-nino-va-bien-doi-khi-hau-
2409886.html, ngày truy cập 5/7/2024
Liên Hợp Quốc (UN), 18/3/2022, Nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
https://vietnam.un.org/vi/175280-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-v%C3%A0-