



















Preview text:
1/ Theo Charles Hockett, một nhà Ngôn ngữ học nổi tiếng người Mĩ, khả năng dùng
để nói dối và lừa gạt là nét đặc trưng của ngôn ngữ. Anh (chị) bình luận như thế nào về ý kiến đó?
+Một trong những đặc điểm của ngôn ngữ là khả năng diễn tả những thông tin phi thực,
phi hiện tại. Vì lẽ đó, con người có khả năng diễn đạt một sự việc không có thật, từ đó
hình thành hinrj tượng nói dối và lừa gạt. Ngoại trừ các động tác giả có khả năng đánh
lừa, các phương tiện giao tiếp khác không có khả năng thực hiện việc này.
+Việc nói dối và lừa gạt của gnoon ngữ xuất phát bởi mục đích sử dụng ngôn ngữ của
con người trong từng trường hợp cụ thể của lời nói, chứ không phải đặc trưng của ngôn
ngữ thể hiện điều đó.
- Ý của Hockett là khả năng nói dối và lừa gạt là đặc trưng ngôn ngữ chứ không phải là
dùng ngôn ngữ để nói dối và lừa gạt => ý kiến sai.
- Khác với các hệ thống dấu hiệu giao tiếp của loài vật, ngôn ngữ có thể thông báo về
những gì diễn ra không phải ngay tại thời điểm và địa điểm mà ngôn ngữ được sử dụng.
Thậm chí con người có thể dùng ngôn ngữ để nói về một thế giới tưởng tượng nào đó (có
thể là quá khứ, tương lai, về những điều không có thật hoặc khó có thể xảy ra,..). Nếu như
phương tiện giao tiếp của loài ong có thể thông báo về những vùng có hoa cách xa vị trí
của các chủ thể giao tiếp, nhưng khả năng này rất hạn chế. Một con vẹt có thể bắt chước
rất tài tình những âm thanh do con người phát ra như Xin chào khách; Vui quá; Ông ơi,
trời mưa; v.v., nhưng nó tuyệt nhiên không có khả năng tạo ra những chuỗi âm thanh mới
mang nghĩa. => Phương tiện giao tiếp của loài vật vô cùng hạn chế về phạm vi và không
có khả năng tạo nghĩa mới.
-Vì lẽ đó, do đặc trưng ấy mà con người có khả năng diễn đạt một sự việc không có thật,
từ đó hình thành hiện tượng nói dối và lừa gạt (chứ không phải bản than ngôn ngữ có đặc
trưng nói dối và lừa gạt).
2/ Theo anh chị, có nên dùng một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh thay cho tiếng mẹ
đẻ để giảng dạy trong nhà trường hay không?
Nếu sử dụng tiếng Anh để giảng dạy từ rất sớm sẽ làm tiếng mẹ đẻ của học sinh bị chậm
phát triển và nghèo nàn đi, bởi vì không được sử dụng và mở rộng vốn từ thường xuyên.
Vấn đề truyền đạt kiến thức cũng sẽ gặp khó khan bởi vì học sinh có thể không kịp thích
nghi với môi trường ngôn ngữ mới khác với tiếng bản địa.
-Theo quan điểm của tôi, việc sử dụng một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh thay cho
tiếng mẹ đẻ trong nhà trường là không phù hợp. Và tôi không đồng ý với ý kiến này bởi
một số lí do sau đây:
+Ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa. Mỗi hệ thống ngôn ngữ
đều mang đậm dấu ấn văn hóa của cộng đồng người bản ngữ. Tiếng mẹ đẻ là tiếng mà trẻ
được tiếp xúc và nói được lần đầu tiên và hiểu rõ nhất. Nó là nền tảng cho sự phát triển
cho sự phát triển nhận thức của trẻ, là công cụ để nhận thức về thế giới xung quanh, thể
hiện cảm xúc và xây dựng mối quan hệ xã hội.
+Thêm vào đó, ngôn ngữ do người bản địa quy ước, tiếng mẹ đẻ do người Việt Nam
thống nhất để giao tiếp, nếu thay thế một ngôn ngữ khác dùng để giảng dạy sẽ không đạt
hiệu quả cao trong cả người phát ngôn lẫn tiếp nhận, sẽ có rào cản khá lớn về vấn đề bốc
đồng ngôn ngữ lẫn văn hóa sử dụng ngôn ngữ. Đồng thời nó cũng dẫn đến việc mất dần
đi bản sắc văn hóa riêng biệt của quốc gia đó.
+ Sử dụng Tiếng Anh trong nhà trường sẽ dẫn đến chỗ làm mất địa vị của tiếng Việt, từ
đó làm nghèo ngôn ngữ của dân tộc mình trên chính đất nước mình. Bản thân Tiếng Việt
là ngôn ngữ đầy đủ khả năng thể hiện mọi tư tưởng, tình cảm và mọi sắc thái tâm hồn
của con người, không thua kém bất cứ một ngôn ngữ nào trên thế giới. Việc hội nhập là
cần thiết, tuy nhiên phải biết cách thức và vận dụng cho phù hợp vào từng trường hợp,
tình huống cụ thể. Chứ không nên mãi miết chạy theo để hòa nhập mà lại để hòa tan đi
những nét văn hóa riêng biệt của mình.
3/ Chủ thể giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể tiếp nhận ngôn ngữ mà không cần thấy mặt
người đang giao tiếp với mình. Có phải tất cả các hình thức giao tiếp ngôn ngữ nào
cũng đều như vậy không? Ngoài ngôn ngữ, có phương tiện giao tiếp nào cũng có tính
chất như vậy không?
+Tất cả các hình thức giao tiếp ngôn ngữ nào có dấu hiệu ghi lại cái biểu đạt của dấu
hiệu ngôn ngữ đều có khả năng này. Ngoài ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp nào có khả
năng biểu đạt không cần đến mặt, (sự gặp gỡ vật lý) đều có khả năng này, ví dụ như giao tiếp bằng song âm.
+ Ngôn ngữ vốn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Giao tiếp là
hoạt động truyền đạt, trao đổi thông tin. Phương tiện giao tiếp có rất nhiều loại, riêng
con người dùng nhiều loại phương tiện giao tiếp khác nhau. Trong đó, ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp phổ biến nhất, cần thiết với tất cả mọi người, vì có thể sử dụng bất
kì lúc nào, bất cứ đâu và phạm vi sử dụng ngôn ngữ là không hạn chế như: giao tiếp
bằng văn bản, giao tiếp bằng âm thanh, giao tiếp bằng cử chỉ,,.. Vậy nên chủ thể giao
tiếp bằng ngôn ngữ có thể tiếp nhận ngôn ngữ mà không cần thấy mặt người đang giao tiếp với mình.
+Tuy nhiên, không phải tất cả các hình thức giao tiếp ngôn ngữ đều có thể tiếp nhận mà
không cần thấy mặt nhau như: giao tiếp bằng phi ngôn ngữ (lúc này người giao tiếp sẽ
thể hiện biểu cảm trên khuôn mặt, ngôn ngữ cơ thể, ngữ điệu, giọng nói); giao tiếp đa
kênh (lúc này người giao tiếp kết hợp ngôn ngữ và ơhi ngôn ngữ để tang hiệu quả giao tiếp.
Ngoài ngôn ngữ, một số phương tiện giao tiếp cũng có thể tiếp nhận mà không cần nhìn
thấy mặt nhau là: Giao tiếp nghệ thuật:
+Âm nhạc: có thể lắng nghe và cảm nhận cảm xúc cũng như thông điệp được truyền tải
qua bản nhạc mà không cần nhìn thấy người hát.
+Hội họa: có thể thấu hiểu nội dung của một bức tranh mà không cần nhìn người vẽ.
-Không, vẫn có hình thức giao tiếp ngôn ngữ cần thấy mặt để tiếp nhận ngôn ngữ (ánh
mắt, cử chỉ, hành động…)
- Tất cả các hình thức giao tiếp ngôn ngữ nào có dấu hiệu ghi lại cái được biểu đạt của
dấu hiệu ngôn ngữ đều có khả năng này. Ngoài ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp nào ghi
lại cái được biểu đạt không cần đến mặt (sự gặp gỡ vật lý), đều có khả năng này, ví dụ
như giao tiếp bằng sóng âm, âm thanh.
4/ Hãy nêu những điểm khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ con người và những phương
tiện giao tiếp loài vật
- Tính võ đoán / Tính đa trị / Tính phân đoạn đôi / Tính năng sản / Khả năng diễn tả
thông tin phi thực, phi hiện tại
=> Các phương tiện giao tiếp của loài vật thiếu đi hầu hết các nét đặc thù của ngôn ngữ.
Trong đó, phải kể đến tính phân đoạn đôi và tính năng sản và khả năng diễn tả thông tin
phi thực tại. Nhờ có nét đặc thù đó mà con người có thể diễn đạt được một số lượng vô
hạn các câu. Trong khi đó, loài vật chỉ có khả năng diễn đạt một số ít các thông tin nhất
định và trong một phạm vị nhất định trong thời điểm giao tiếp.
5/ Tìm thêm những dẫn chứng cho thấy ngoài từ tượng thanh, trong ngôn ngữ có
nhiều trường hợp dấu hiệu ngôn ngữ không hoàn toàn võ đoán.
1. Từ tượng hình (iconic words):
Ngoài từ tượng thanh, có những từ mang tính biểu tượng (iconic), nghĩa là chúng có sự
liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với hình thức của đối tượng hoặc hành động mà chúng
chỉ. Những từ này có thể có sự liên quan rõ ràng đến hình ảnh hoặc hành động mà chúng miêu tả. Ví dụ:
• "Lắc": Trong tiếng Việt, từ này không chỉ biểu thị hành động di chuyển, mà hình
thức âm thanh của từ cũng thể hiện sự rung lắc hoặc dao động.
• "Véo": Cũng giống như từ "lắc", từ này mang tính hình tượng, mô phỏng lại âm
thanh hoặc hành động khi một vật gì đó di chuyển nhanh hoặc bị căng, sau đó thả ra.
Mặc dù đây vẫn là những từ mang tính chất võ đoán trong nhiều ngữ cảnh, nhưng bản
thân hình thức âm thanh của từ lại mang tính biểu tượng và có thể gợi nhớ đến hành động
hoặc trạng thái mà nó miêu tả.
2. Các từ liên quan đến cảm giác:
Một số từ ngữ trong tiếng Việt có sự liên kết giữa âm thanh và cảm giác mà người nghe
có thể cảm nhận được. Ví dụ:
• "Mềm" và "mềm mại": Âm thanh của từ "mềm" tạo ra cảm giác dịu dàng, nhẹ
nhàng, tương tự như cảm giác khi chạm vào một vật mềm.
• "Nặng" và "nhẹ": Những từ này, khi nghe, gợi lên cảm giác về trọng lượng.
"Nặng" có âm thanh trầm hơn, tạo cảm giác nặng nề, trong khi "nhẹ" lại có âm
thanh nhẹ nhàng, nhanh chóng.
Dù không phải tất cả từ ngữ đều có liên quan trực tiếp đến cảm giác, nhưng những từ như
thế này ít nhiều gợi lên sự tương quan giữa âm thanh và nghĩa.
3. Từ chỉ cảm xúc:
Một số từ chỉ cảm xúc có thể có sự liên hệ với âm thanh hoặc cảm giác của người sử
dụng từ, qua đó thể hiện rằng dấu hiệu ngôn ngữ không hoàn toàn võ đoán.
• "Sợ": Từ này, khi phát âm, có âm điệu trầm và kéo dài, khiến người nghe cảm
nhận được sự căng thẳng, lo lắng, hoặc cảm giác khó chịu, giống như những cảm
xúc liên quan đến nỗi sợ hãi. Hình thức âm thanh của từ này có thể gợi lên cảm giác bất an.
• "Vui": Từ "vui" có âm thanh nhanh và nhẹ, thể hiện sự tươi vui, hạnh phúc. Khi
phát âm từ này, người nói cũng thường có giọng điệu tươi sáng, tạo ra một sự
tương tác rõ ràng giữa âm thanh và cảm xúc tích cực mà từ này miêu tả.
• "Giận": Âm thanh của từ "giận" nghe có phần "gắt", âm điệu mạnh, có phần dứt
khoát, thể hiện sự tức giận, bực bội. Mối liên hệ này giúp người nghe dễ dàng
nhận ra cảm xúc của người nói chỉ qua cách phát âm.
4. Từ chỉ màu sắc:
Các từ chỉ màu sắc đôi khi cũng có mối liên hệ đặc biệt với cảm giác hoặc hình ảnh mà
màu sắc ấy mang lại, tạo nên sự liên kết không hoàn toàn võ đoán giữa âm thanh của từ và ý nghĩa màu sắc.
• "Đỏ": Từ "đỏ" có âm thanh mạnh, dễ gợi nhớ đến cảm giác nóng, mạnh mẽ và
mạnh mẽ như màu sắc của máu hoặc lửa. Màu đỏ thường liên quan đến cảm xúc
mãnh liệt như sự giận dữ, yêu thương nồng nhiệt, hay sự nhiệt huyết, điều này thể
hiện sự kết nối giữa hình thức âm thanh và nghĩa cảm xúc của màu sắc.
• "Trắng": Từ "trắng" có âm thanh nhẹ nhàng, đơn giản, giống như hình ảnh của sự
tinh khiết, trong sáng, thanh thoát. Màu trắng thường mang ý nghĩa của sự thuần
khiết, thanh tịnh, và đây là sự kết nối giữa âm thanh của từ và cảm giác mà màu trắng gợi lên.
• "Xanh": Từ "xanh" có âm thanh dài và nhẹ, thể hiện sự mát mẻ, thư thái, như
hình ảnh của bầu trời xanh hay đồng cỏ xanh mướt. Màu xanh thường liên quan
đến cảm giác của sự bình yên, mát mẻ, hoặc sự tươi mới, tạo ra mối liên hệ giữa
hình thức âm thanh của từ và cảm giác về màu sắc.
Một số ví dụ cho thấy trong ngôn ngữ còn nhiều trường hợp mà dấu hiệu ngôn ngữ
không hoàn toàn võ đoán.
+Từ tượng hình: gợi ra hình ảnh của sự vật. VD: khúc khuỷu, thăm thẳm,..
+Từ cảm thán: gợi tình cảm, thái độ của người nói. VD: ối, á,…
7/ Ngôn ngữ và tư duy cái nào có trước? Vì sao?
VD:Khi bạn ăn phải một món gì đó bị mặn, bạn sẽ thốt lên “mặn quá” thì từ “mặn” ở
đây là vật chất, là công cụ để hình thành tư duy để bạn hiểu rằng món ăn bạn đang ăn có
nhiều muối hơn sư với bình thường và khiến món ăn trở nên không còn ngon.->Ngôn
ngữ của con người ngày càng phát triển thì càng thúc đẩy sự phát triển tư duy. Và ngược
lại cũng đem hiệu quả tương tự.
-Tư duy có qaun hệ mật thiết với ngôn ngữ. Tư duy mang tính có vấn đề, tính gián tiếp,
tính trừu tượng vfa khái quát là do nó gắn chặt với ngôn ngữ. Nếu không có ngôn ngữ thì
quá trình tư duy cuat con người không thể diễn ra được, đồng thời, các sản phẩm của tư
duy (khái niệm, phán đoán,..) cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận.
+Ngôn ngữ là cái biểu đạt của tư duy.
+Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy
cho người khác vfa cho bản thân chủ thể tư duy. Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn
ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa.
+Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là công cụ, phương tiện của tư duy. Vì
ngôn ngữ là cái biểu đạt tư duy nên ngôn ngữ là công cụ để con người suy nghĩ, là
phương tiện để con người giao tiếp, truyền dạt tư duy cho nhau.
8/ Trong tiếng Việt có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ như cơm hàng cháo chợ, cơm no
áo ấm, cơm bưng nước rót, cơm lành canh ngọt, cơm áo gạo cơm niêu nước lọ, nên
cơm nên cháo, cơm thừa canh cặn, cơm khê tại lửa, cơm sôi bớt lửa, cơm tẻ mẹ ruột,
cơm gà cá gỏi, v.v… Hãy phân tích dấu ấn của văn hóa Việt Nam thể hiện qua những
thành ngữ, tục ngữ đó. Tìm thêm những cứ liệu ngôn ngữ tương tự Cách hiểu khác:
-Qua những hình ảnh trong những câu thành ngữ, tục ngữ, ta có thể thấy hình ảnh “cơm
áo”, “cơm gao” trong văn hóa người Việt là không hề xa lạ.
-Trừ trường hợp đặc biệt, còn không ngày nào ta cũng ăn cơm. Dăm ba bữa không ăn
cơm là lại thấy thiếu thiếu. Vì tính hiện hữu trong đời sống sinh hoạt rất lớn, nên tiếng
Việt cũng có rất nhiều ca dao, tục ngữ, thành ngữ liên quan đến cơm gạo.
-Nói chung, vì nền văn minh lúa nước lâu đời, từ gữ liên quan lúa, gạo, cơm, cháo các
thứ trong tiếng Việt rất phong phú. Và đại diện tiêu biểu nhất, gắn liền với đời sống con
người nhiều nhất không khác gì ngoài cơm. Cho nên, khi nói về ăn uống thường nhật và
đời sống vật chất, người Việt đều gọi chung là “ăn cơm”.
-Ngữ liệu ngôn ngữ tương tự: “con trâu”. Con trâu là hình ảnh gắn liền với văn hóa Việt
Nam, “con traai là biểu tưởng của nghề nông lúa nước của Việt Nam ta từ thời vua Hùng
cho đến nay và có khi mãi mãi về sau.
-Con trâu là đầu cơ nghiệp-> câu tục ngữ gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Việt
Nam đã có từ xa xưa. Nhưng bây giờ, hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau được
xem là hình ảnh biểu hiện của một nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam.
-“Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi cày”=> Hai câu ca dao
trên ví von sự chăm chỉ của vợ chồng nhà nông, nếu phân tích rõ hành động thì từ chồng
cày thì phải có trâu. Trâu đi bừa thì bao giờ cũng phải có 1 người theo cùng.
- Dấu ấn văn hóa Việt Nam được thể hiện khá rõ qua hệ thống những thành ngữ có từ
“cơm” như: “cơm hàng cháo chợ”, “cơm no áo ấm”, “cơm bưng nước rót”, “cơm lành
canh ngọt”,... Bởi lẽ:
+Cơm là loại lương thực được người Việt Nam ăn mỗi ngày. Nó trở thành một
phần trong nếp sống của người Việt.
+Hình ảnh “cơm” gợi nhắc đến nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn hóa Việt Nam
gắn chặt với các tập quán sản xuất lúa nước. Ngay từ thời nguyên thủy, người Việt nói
riêng và người phương Đông nói chung đã sống tập tr ng tại vùng lân cận các con sông
lớn như Hoàng Hà, Trường Giang, ... Chính vì vị trí địa lý thuận lợi cho việc trồng trọt
lúa nước mà người Việt Nam ta từ thuở xa xưa đã tham gia sản xuất, phát triển nông
nghiệp. Từ đó, nền văn hóa lúa nước dần ra đời trong thế đối sánh với nền văn hóa du
mục phương Tây. Có thể nói, “cơm” là một phần quan trọng trong tập quán sinh sống của người Việt Nam.
Ngoài ra, chính trong cấu trúc thành ngữ cũng thể hiện rõ tư duy quan hệ của
người Việt Nam. Khái quát những thành ngữ trên, ta thấy cấu trúc “cơm + từ A (có thể là
động, tính hoặc danh từ) + sự vật C + từ B (có thể là động, tính hoặc danh từ)” cho thấy
hình ảnh “cơm” luôn được đặt trong mối quan hệ với một sự vật hiện tượng khác để chỉ
tình cảm gia đình, xã hội. Về mặt hàm nghĩa, ta thấy cấu trúc “cơm + từ A (mang hàm
nghĩa tích/tiêu cực) + sự vật C + từ B (mang hàm nghĩa tích/tiêu cực tương ứng với từ
A)” thể hiện rõ cách suy nghĩ nhân quả của người Việt Nam. Thí dụ, “cơm lành canh
ngọt” có nghĩa là gia đình có bữa cơm ngon, hòa thuận thì mọi việc sẽ tốt đẹp.
Một số câu thành ngữ, tục ngữ tương tự: Ăn cơm trước kẻng.
Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng.
Cơm sống tại nồi, cơm sôi tại lửa. Cơm bạc đũa ngà. Cơm nặng áo dày.
Các câu ca dao đều thể hiện dấu ấn văn hóa Việt Nam. Thí dụ:
“Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
cũng gợi nhắc đến quá trình lao động, sản xuất lúa nước.
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng xem chơi.”
có nhắc đến biểu tượng “sông” và “dải yếm”. Trong đó:
Sông đại biểu cho một không gian vật lý gắn liền với văn hóa nông nghiệp.
Dải yếm là một loại áo lót của phụ nữ. Nó đại diện cho tín ngưỡng phồn thực.
“Cây đa cũ, bến đò xưa/ Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ.”
Cây đa, bến cũ đều là hai sự vật hiện tượng gắn liền với văn hóa Việt Nam. Trong
đó, cây đa gợi nhắc đến văn hóa làng xã còn bến đò xưa là không gian tình ái. Ngoài ra,
hai biểu tượng “cây đa, bến cũng đại diện cho sự thủy chung.
9/ Những đặc trưng nào giúp ta phân biệt đơn vị ngôn ngữ và đơn vị lời nói? Cho ví dụ và phân tích. Hoặc:
“Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
Những từ ngữ quy tắc ngữ pháp được sử dụng trong hai câu thơ trên mang tính chung của
cộng đồng. Tuy nhiên, cách thức sắp xếp để tạo nên câu thơ thể hiện phong cách viết
riêng của từng cá nhân.
Ví dụ khác: Trong tiếng Anh, các yếu tố ngôn ngữ sau đây “ reads, she, usually, book, a,
morning, every” có thể được sắp xếp thành những lời nói khác nhau, phù hợp với từng
mục đích và tình huống giao tiếp “she usually reads a book every morning” hoặc “every
morning, she usually reads a book”.
Đơn vị ngôn ngữ: là những yếu tố trừu tượng, chung nhất, ổn định, lặp lại nhiều lần trong hệ thống ngôn ngữ.
Đơn vị lời nói: là những yếu tố cụ thể, sinh động. mang tính cá nhân, được tạo ra trong quá trình giao tiếp. Đặc trưng phân biệt: Đặc trưng Đơn vị ngôn ngữ Đơn vị lời nói Tính chất
Trừu tượng, chung nhất, ổn Cụ thể, sinh động, mang định tính cá nhân Tính lặp lại Lặp lại nhiều lần
Không lặp lại hoặc lặp lại với sự biến đổi Tính hoàn chỉnh
Hoàn chỉnh về mặt cấu trúc Có thể không hoàn chỉnh và ngữ nghĩa Vai trò
Tạo nền tảng cho lời nói
Thể hiện ý nghĩa cụ thể trong giao tiếp Ví dụ
Âm vị, hình vị, từ, cụm từ,
Tiếng, câu cụ thể, đoạn văn câu
-Âm vị: là đơn bị ngôn ngữ nhỏ nhất, không thể chia nhỏ hơn nữa VD: /a/; /o/ /u/,..
-Tiếng là đơn vị lời nói nhỏ nhất, có thể mang nghĩa
VD: “mẹ”, “bố”, “con”,…
-Đơn vị ngôn ngữ: là đơn vị cấu tạo bởi từ ngữ, có đủ hai yếu tố chủ ngữ và vị ngữ thể
hiện một ý nghĩ hoàn chỉnh
VD: “con mèo đang ngủ”
Đơn vị lời nói: là câu cụ thể được sử dụng trong giao tiếp
VD: ‘Con mèo nhà tôi đang ngủ trên ghế sofa” - Ngôn ngữ:
+ Hệ thống trừu tượng
VD: Các từ ngữ trong từ điển như "bàn", "ghế", "cửa", "đi bộ" đều là những yếu tố ngôn
ngữ trừu tượng, mang nghĩa chung, có thể được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. + Xã hội cộng đồng.
VD: Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt, hệ thống ngôn ngữ này phản ánh đặc trưng
Văn hóa xã hội, và lịch sử cộng đồng của người Việt. + Cái chung
VD: Quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, như câu khẳng định thường có cấu trúc "chủ ngữ + vị
ngữ" ("Tôi học bài"), là cái chung được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ Việt sử dụng.
+ kết quả vận dụng hệ thống trừu tượng qua những câu, văn bản cụ thể
VD: Câu "Hôm nay trời đẹp quá, tôi muốn đi dạo" là một lời nói cụ thể của cá nhân. Mặc
dù câu này sử dụng các yếu tố ngôn ngữ chung, nhưng đó là sự kết hợp cụ thể của các từ + Cá nhân
VD: Cùng một câu hỏi "Bạn có thể giúp tôi không?" nhưng cách nói của mỗi người có
thể khác nhau, ví dụ: một người có thể nói nhẹ nhàng, lịch sự, trong khi người khác lại
nói một cách thẳng thắn, gấp gáp. Sự khác biệt này thể hiện cái riêng của từng cá nhân trong
VD: Trong một cuộc họp, người phát biểu có thể sử dụng một câu như "Chúng ta cần cải
tiến quy trình làm việc để đạt hiệu quả cao hơn". Trong khi đó, trong một cuộc trò chuyện
thân mật với bạn bè, cùng câu nói đó có thể được diễn đạt nhẹ nhàng hơn, ví dụ: "Chúng
ta cần làm việc hiệu quả hơn để không mất quá nhiều thời gian".
10/ Hãy giải thích và chứng minh nhận định cho rằng ngôn ngữ chỉ có cái khái quát.
Bản chất trừu tượng của ngôn ngữ: ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu mang tính khái quát,
được con người sử dụng để biểu thị tư tưởng, tình cảm. Nó không thể mô phỏng trực tiếp
các đối tuownjm sự vật cụ thể trồng thực tế. VD, từ “chó” chỉ khái quát về một loài động
vật, không thể mô tả được hình dáng, màu sắc, kích thước hay tính cách của từng con chó cụ thể.
- Sự hạn chế của từ ngữ: Mỗi từ ngữ chỉ có thể bao hàm một số đặc điểm nhất định của
sự vật, hiện tượng. Nó không thể diễn tả đầy đủ mọi khía cạnh, sắc thái của đối tượng
được mô tả. Ví dụ, từ “đẹp” chỉ mang tính khái quát về một đặc điểm tích cực, không thể
diễn tả được những cảm xúc cụ thể mà ta cảm nhận khi nhìn thấy một vật đẹp.
-Tính đa nghĩa của từ ngữ: một từ ngữ có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào
ngữ cảnh sử dụng. Điều này dẫn đến khả năng diễn đạt mơ hồ, không chính xác. VD từ
“bông” có thể mang nghĩa là hoa hoặc là phần mềm, xốp.
-Sự khác biệt giữa nhận thức và ngôn ngữ: con người nhận thức thế giới thông qua các
giác quan. Ghi nhận những chi tiết cụ thể, sinh động. Tuy nhiên, ngôn ngữ lại hạn chế
trong việc thể hiện những trải nghiệm cam giác này, Thí dụ, ta có thể cảm nhận được mùi
thơm ngào ngạt của hoa hồng, nhưng ngôn ngữ lại khó có thể diễn tả được trọn vẹn cảm giác đó.
-Ý nghĩa của nhận định: Nhận định “trong ngôn ngữ chỉ có cái khái quát” có ý nghĩa
quan trọng trong việc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và chức năng của ngôn ngữ.
Nó cho thấy rắng ngôn ngữ là công cụ hữu ích để truyền tải thông tin, tư tưởng và kết nối
con người, nhưng nó không thể mô phỏng hoàn toàn mọi khía cạnh của thực tế.
- Cái khái quát là cái chung, trừu tượng (hình dung trong suy nghĩ, trí óc) >< cái cụ thể
(cảm nhận được bẳng giác quan ) 1. Ngôn ngữ lời nói => Ví dụ
2. Ngôn ngữ là hệ thống trừu tượng, khái quát
Ngôn ngữ không phải là một sự tái hiện trực tiếp của thế giới vật chất mà là một hệ thống
trừu tượng, phản ánh những khái niệm, mối quan hệ, sự kiện dưới dạng chung chung,
khái quát. Các từ ngữ, cấu trúc câu không phải là hình ảnh cụ thể của sự vật hay hiện
tượng, mà chỉ là những biểu tượng để chỉ định chúng.
Ví dụ từ "bàn": "Bàn" là một khái niệm chung để chỉ một vật dụng có mặt phẳng, chân
để đặt đồ vật. Nhưng từ này không chỉ định một chiếc bàn nào đó mà chỉ nói về loại đối tượng "bàn" nói chung.
3. Ngôn ngữ có tính quy ước và không cố định
Các đơn vị ngôn ngữ không mang tính cụ thể mà được xác định qua quy ước giữa người
nói và người nghe trong một cộng đồng ngôn ngữ nhất định. Chúng không phản ánh
những đặc điểm duy nhất của một sự vật, mà chỉ là những dấu hiệu biểu đạt ý tưởng hoặc khái niệm. Ví dụ:
Cái khái quát trong ngữ pháp: Khi ta nói "Tôi đi học", cấu trúc ngữ pháp
của câu này có tính khái quát và có thể áp dụng cho rất nhiều trường hợp khác nhau,
không chỉ là trường hợp của một người cụ thể, một lần đi học cụ thể. Cấu trúc "S + V +
O" là quy ước của ngữ pháp, giúp người nghe hiểu được ý nghĩa mà không cần phải biết
tình huống cụ thể nào.
4. Ngôn ngữ không thể phản ánh sự cụ thể tuyệt đối
Ngôn ngữ luôn bị giới hạn bởi khả năng khái quát hóa của mình. Dù chúng ta có thể sử
dụng các từ ngữ để chỉ định những sự vật cụ thể, nhưng mỗi từ ngữ chỉ phản ánh một
phần nào đó của thực tế và không thể bao quát tất cả các đặc điểm, chi tiết của một đối tượng.
Ví dụ: Sự hạn chế của từ "người": Từ "người" có thể chỉ bất kỳ ai, nhưng nó không
thể mô tả chi tiết về ngoại hình, tính cách, tâm trạng của mỗi cá nhân. Từ này chỉ mang
ý nghĩa khái quát của một giống loài, chứ không thể hiện những đặc điểm riêng biệt của
từng cá nhân trong xã hội.
Chứng minh nhận định qua ngôn ngữ học: Saussure và lý thuyết dấu hiệu:
Theo Ferdinand de Saussure, ngôn ngữ là một hệ thống các dấu hiệu, mỗi dấu hiệu (hay
"sign") bao gồm một phần biểu đạt (theo nghĩa vật lý, là từ ngữ) và một phần được biểu
đạt (theo nghĩa trừu tượng, là khái niệm mà từ ngữ chỉ đến). Chính vì vậy, từ "con mèo"
chỉ là một dấu hiệu đại diện cho khái niệm loài mèo nói chung, không phải cho một con mèo cụ thể.
Ngôn ngữ học cấu trúc: Các nhà ngôn ngữ học cấu trúc như Roman Jakobson hay
Noam Chomsky cũng khẳng định rằng ngôn ngữ chỉ có thể phản ánh các cấu trúc, quy
tắc chung của những sự vật, sự kiện, nhưng không thể phản ánh đầy đủ sự phong phú,
đa dạng của thế giới bên ngoài.
11/ Hãy phân tích những ưu thế của ngôn ngữ nói so với ngôn ngữ viết và ngược lại. Ngôn ngữ nói Ngôn ngữ viết
+Người nghe có thể phản hồi ngay lập tức Ngôn ngữ viết thường được trau chuốt,
để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Hoặc hai lựa chọn kĩ càng và chính xác.
bên có thể trực tiếp giải quyết những thắc Người đọc có điều kiện đọc đi đọc lại,
mắc để đi đến những thống nhất chung.
phân tích và nghiền ngẫm nội dung
+Tuy nhiên, giao tiếp bằng ngôn ngữ là Tuy nhiên để giao tiếp được bằng ngôn
diễn ra tức thời, mau lẹ, nên các phương ngữ viết thì cả người viết và người đọc
tiện ngôn ngữ không được gọt dũa kĩ đều phải biết những kí hiệu chữ viết, các càng.
quy tắc chính tả, quy tắc tổ chức văn bản.
+Ngoài ra người nghe cũng phải tiếp Song hình thức nảy sinh ra những thắc
nhận, lĩnh hội nhanh nên ít có điều kiện để mắc và những điều đó không thể giải suy ngẫm và phân tích quyết ngay lập tức.
1. Ưu thế của ngôn ngữ nói 1.1.
Tính tức thời và linh hoạt trong giao tiếp 1.2.
Ngôn ngữ nói cho phép giao tiếp ngay lập tức và trực tiếp. Khi chúng ta nói,
người nghe có thể ngay lập tức hiểu ý và phản hồi. Điều này tạo ra sự tương tác nhanh
chóng và trực tiếp, đặc biệt hữu ích trong các tình huống cần trao đổi thông tin ngay lập tức.
Biểu cảm và ngữ điệu
Ngôn ngữ nói dễ dàng truyền đạt cảm xúc, sắc thái và ý định qua ngữ điệu, giọng điệu,
âm lượng và cường độ. Người nói có thể điều chỉnh ngữ điệu để nhấn mạnh, tạo sự hài
hước, nghiêm túc, tức giận hay cảm thông trong khi giao tiếp. 1.3.
Tính tự nhiên và dễ tiếp cận 1.4.
Ngôn ngữ nói được sử dụng hàng ngày và gần gũi với mọi người, dễ tiếp
cận với tất cả mọi người, bất kể trình độ học vấn hay kỹ năng ngôn ngữ. Trong khi đó,
ngôn ngữ viết đòi hỏi người sử dụng có kỹ năng viết và hiểu biết về quy tắc ngữ pháp. 1.5.
Giao tiếp phi ngôn từ (ngôn ngữ cơ thể)
Khi giao tiếp bằng lời nói, chúng ta có thể kết hợp với ngôn ngữ cơ thể, ánh mắt, nét mặt,
cử chỉ để làm rõ và bổ sung cho thông điệp của mình. Những yếu tố này giúp người nghe
hiểu rõ hơn về cảm xúc và ý định của người nói. 1.6.
Tính linh hoạt trong việc điều chỉnh thông tin 1.7.
Trong giao tiếp nói, người nói có thể dễ dàng điều chỉnh hoặc giải thích thêm ý
nghĩa của câu nói nếu người nghe chưa hiểu rõ, hoặc nếu có sự hiểu lầm.
2. Ưu thế của ngôn ngữ viết 2.1.
Tín chính xác và cẩn trọng 2.2.
Ngôn ngữ viết cho phép người viết có thời gian suy nghĩ, cân nhắc và chỉnh
sửa trước khi trình bày ý tưởng. Điều này giúp tạo ra các văn bản rõ ràng, mạch lạc và
chính xác hơn, đặc biệt trong những tình huống cần truyền đạt thông tin một cách cẩn trọng. 2.3.
Tính bền vững và lưu trữ lâu dài 2.4.
Ngôn ngữ viết có thể lưu trữ lâu dài và có thể được tham khảo lại nhiều lần.
Điều này tạo ra một kênh giao tiếp bền vững, giúp duy trì thông tin trong thời gian dài,
có thể được truy cứu khi cần thiết. 2.5.
Cung cấp thời gian cho suy nghĩ và phản biện 2.6.
Khi viết, người viết có thể dành thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng về những gì
muốn truyền đạt. Điều này rất hữu ích trong các cuộc tranh luận, thảo luận, hoặc khi cần
trình bày lý lẽ một cách logic, mạch lạc. 2.7.
Tính chính thức và trang trọng 2.8.
Ngôn ngữ viết thường mang tính chính thức và trang trọng hơn ngôn ngữ
nói. Nó phù hợp với các tình huống cần sự nghiêm túc, chính thức như trong công việc,
học thuật, hay các cuộc họp chính thức. 2.9.
Tính Khả dụng cho đại chúng 2.10.
Ngôn ngữ viết có thể tiếp cận được nhiều người hơn trong những tình
huống cần sự truyền tải thông tin rộng rãi. Một bài viết có thể được đọc bởi bất kỳ ai
vào bất kỳ thời điểm nào, trong khi ngôn ngữ nói thường bị giới hạn trong thời gian và không gian cụ thể.
12/ Một số sinh viên cho rằng tiếng Việt có từ thế kỉ thứ 17, do một số giáo sĩ phương
Tây tạo ra. Theo anh chị, ý kiến đó đúng hay sai? Vì sao?
1/ Nguồn gốc lâu đời của Tiếng Việt:
Các bằng chứng khảo cổ học, lịch sử và ngôn ngữ học đã khẳng định rằng tiếng Việt có
nguồn gốc từ hang nghìn năm trước, trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ tiếng Việt cổ,
tiếng Việt trung đại đến tiếng Việt hiện đại.
Di vật khảo cổ như trống đồng Đông Sơn, văn tự, bia đá cổ,…chứa đựng những dấu ấn
ngôn ngữ của người Việt cổ.
Tài liệu lịch sử của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng ghi chép bằng Tiếng Việt cổ.
Về mặt ngôn ngữ học, tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á, có mối quan hệ họ hang
với các ngôn ngữ như tiếng Khmer, tiếng Môn,…điều này cho thấy nguồn gốc lâu đời của tiếng Việt.
2/ Vai trò của các giáo sĩ phương Tây:
Sự xuất hiện của các giáo sĩ phương Tây và thế kỷ XVII đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng trong việc ghi chép vfa nghiên cứu tiếng Việt.
Họ đã góp phần vào sự phát triển của chữ Quốc ngữ (chữ Laitnh) để ghi chép tiếng Việt
một cách khoa học và chính xác hơn. Tuy nhiên, họ không phải là người tạo ra tiếng Việt.
Ngôn ngữ là sản phẩm của sự sang tạo và phát triển lâu dài của một cộng đồng người.
Quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao
gồm lịch sử, văn hóa, xã hội… Tiếng Việt cũng không ngoại lệ,…Sự ra đời của Tiếng Việt
là kết quả của quá trình giao thoa văn hóa, tiếp thu tinh hoa của các dân tộc khác nhau qua nhiều thế hệ.
=>Việc gán cho giáo sĩ phương Tây với vai trò tạo ra tiếng Việt là hoàn toàn sai lầm. =>Kết luận:
Tiếng Việt là một ngôn ngữ bản địa, có nguồn gốc lâu đời và được hình thành, phát triển
bởi người Việt Nam, qua nhiều giai đoạn lịch sử. Sự đóng góp của các giáo sĩ phườn tây
trong việc ghi chép và nghiên cứu tiếng Việt là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, họ không
phải là người tạo ra tiếng Việt.
1. Lịch sử hình thành tiếng Việt
• Tiếng Việt cổ đã xuất hiện từ hàng ngàn năm trước, với những di sản từ thời kỳ
Hùng Vương (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Các di sản văn hóa này
được thể hiện qua các bản khắc đá, văn tự, và các văn bản cổ khác.
• Tiếng Việt trung đại phát triển qua thời kỳ Đại Việt, chịu ảnh hưởng lớn từ tiếng
Trung Quốc. Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn giữ được những đặc điểm riêng biệt của ngôn ngữ dân tộc.
2. Sự ảnh hưởng của các giáo sĩ phương Tây (thế kỷ 17)
• Vào thế kỷ 17, các giáo sĩ phương Tây, đặc biệt là các thừa sai Dòng Tên
(Jesuits) như Alexandre de Rhodes (1591–1660), đã có những đóng góp quan
trọng trong việc phát triển chữ quốc ngữ, tức là hệ thống chữ viết dùng chữ cái
Latinh để ghi âm tiếng Việt.
• Chữ quốc ngữ (chữ viết tiếng Việt) thực tế được hình thành dựa trên hệ thống chữ
cái Latinh, được các giáo sĩ phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, phát
triển và hệ thống hóa trong thế kỷ 17, nhằm giúp người dân Việt Nam học và
truyền bá đạo Thiên Chúa. Trước đó, tiếng Việt không có hệ thống chữ viết
riêng mà được ghi lại chủ yếu bằng chữ Hán (chữ Nôm), hoặc đôi khi là chữ cái
của các hệ thống chữ viết khác.
Tuy nhiên, chữ quốc ngữ là công cụ viết của tiếng Việt, chứ không phải là sự ra đời
của tiếng Việt. Tiếng Việt đã tồn tại từ lâu trước khi có chữ quốc ngữ. Giáo sĩ
Alexandre de Rhodes và các đồng nghiệp chỉ một phần hệ thống hóa cách ghi âm
tiếng Việt vào thế kỷ 17, nhưng ngôn ngữ tiếng Việt đã có từ trước đó rất lâu, thậm
chí từ các thời kỳ cổ xưa.
3. Lý giải về quan điểm sai lầm
• Nhầm lẫn giữa ngôn ngữ và chữ viết
• Vai trò của các giáo sĩ: Các giáo sĩ phương Tây đóng vai trò quan trọng trong
việc hệ thống hóa và phổ biến chữ quốc ngữ, nhưng họ không phải là những
người tạo ra tiếng Việt.
13/ Có thể nói Hôm nay tôi vừa học được một câu mới được không? Vì sao?
Câu “Hôm nay tôi vừa học được một câu mới” hoàn toàn chính xác về mặt ngữ pháp vfa
tự nhiên trong tiếng Việ. Câu nói thể hiện sự phát triển của ngôn ngữ, sự ham học hỏi
của nguồ nói và sự phong phú của tiếng Việt.
Câu nói thể hiện sự phát triển của ngôn ngữ: ngôn ngữ luôn luôn phát triển và thay đổi.
Việc học được một câu mới là minh chứng cho sự phát triển cá nhân và ngôn ngữ nói chung.
Câu nói thể hiện sự ham học hỏi của người nói: Người ham học hỏi luôn tìm kiếm những
điều mới mẻ để học hỏi. Việc học được một câu mới cho thấy người đó có tinh thần ham học hỏi.
Câu nói thể hiện sự phong phú của ngôn ngữ: ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú và đa
dạng. Việc học được một cây mới giúp người nói mở rộng vốn từ vựng và hiểu biết về ngôn ngữ.
Phân tích câu "Hôm nay tôi vừa học được một câu mới":
• Từ "vừa": Trong tiếng Việt, "vừa" thường được dùng để chỉ hành động đã xảy ra
và hoàn tất trong một khoảng thời gian rất gần với hiện tại, hoặc hành động xảy ra
ngay trước thời điểm nói. Từ "vừa" mang nghĩa "mới đây", "ngay trước đây",
hoặc "mới làm xong". Vì vậy, khi bạn nói "vừa học được", có nghĩa là hành động
học vừa mới xảy ra trong thời gian rất gần với lúc bạn nói câu này.
• Từ "câu": Từ "câu" trong câu này có thể mang hai nghĩa: "câu nói" (một câu văn,
câu nói trong giao tiếp) hoặc "câu học" (một kiến thức hoặc câu học thuộc lòng).
Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, người nghe có thể hiểu là "câu" là một câu nói,
một mẩu thông tin hoặc kiến thức mới mà bạn đã học được.
Tại sao câu này có thể được sử dụng:
• Tình huống giao tiếp thông thường: Trong ngữ cảnh nói chuyện, nếu bạn vừa
học được một câu nói mới (ví dụ: một câu thành ngữ, một câu hay một kiến thức
ngắn gọn) và muốn chia sẻ điều này với người khác, bạn có thể nói "Hôm nay tôi
vừa học được một câu mới". Điều này hoàn toàn hợp lý, vì "vừa học" mang tính
tức thời và truyền đạt ý nghĩa bạn vừa hoàn thành việc học câu đó.
• Cấu trúc ngữ pháp: Về mặt ngữ pháp, câu này không có lỗi gì. "Vừa" đi cùng với
động từ "học" ở thì quá khứ, nhưng ý nghĩa là việc học đó chỉ mới xảy ra gần đây.
Câu "Hôm nay tôi vừa học được một câu mới" có cấu trúc chuẩn và hoàn toàn dễ hiểu.
Vấn đề cần lưu ý:
Tuy nhiên, trong một số bối cảnh, cách diễn đạt này có thể cần điều chỉnh chút ít, phụ
thuộc vào mối quan hệ giữa việc học và loại "câu" mà bạn muốn đề cập:
1. Câu "mới": Từ "mới" ở đây có thể hơi mơ hồ. Nếu bạn đang nói về một câu nói
trong giao tiếp (ví dụ: một câu châm ngôn hay thành ngữ), câu "Hôm nay tôi vừa
học được một câu mới" rất hợp lý. Tuy nhiên, nếu bạn định nói về một khái niệm
học thuật mới (ví dụ: một bài học, một khái niệm), câu này có thể gây nhầm lẫn nếu không rõ ràng.
2. Ngữ cảnh sử dụng: Nếu bạn muốn nói về một câu mới theo nghĩa bạn vừa học
một câu văn, câu thoại, hay câu giao tiếp từ ai đó, thì câu này ổn. Nhưng nếu
bạn đang nói về một kiến thức hoặc một khái niệm mới thì việc nói "câu" có thể
không hoàn toàn chính xác. Trong trường hợp này, bạn có thể nói: "Hôm nay tôi
vừa học được một khái niệm mới" hoặc "Hôm nay tôi vừa học một bài học mới." Kết luận:
• Câu "Hôm nay tôi vừa học được một câu mới" hoàn toàn có thể sử dụng và có
nghĩa hợp lý trong một số bối cảnh, đặc biệt khi bạn muốn chia sẻ về một câu nói
hoặc một câu thông tin bạn vừa học.
• Tuy nhiên, nếu bạn muốn nói về một kiến thức học thuật mới, có thể cần dùng từ
khác như "khái niệm", "bài học", hoặc "thông tin mới" thay vì "câu".
14/ Anh chị hãy bình luận nhận định “Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu đẹp vì có 6 thanh điệu”
- 6 thanh điệu chỉ nói về mặt từ ngữ (các ngôn ngữ khác còn nhiều thanh điệu hơn tiếng
Việt) => việc đánh giá ngôn ngữ “giàu đẹp” không chỉ dựa trên yếu tố thanh điệu mà còn
phụ thuộc vào sự đa dạng trong từ vựng, cấu trúc câu, và các yếu tố khác của ngôn ngữ.
Một ngôn ngữ có thể “giàu đẹp” vì có sự linh hoạt trong cách sử dụng từ, khả năng diễn
đạt ý tưởng một cách tinh tế, cũng như sự phong phú về ngữ nghĩa. Bên cạnh yếu tố âm
nhạc và ngữ nghĩa, tiếng Việt còn thể hiện sự giàu đẹp qua các phương diện khác như văn
hóa, lịch sử, và sự phong phú của các phương ngữ. Mỗi vùng miền của Việt Nam có thể
có các biến thể về thanh điệu, cách sử dụng từ, và các cấu trúc câu, tạo ra sự đa dạng trong giao tiếp.
=> Để đánh giá một ngôn ngữ có “giàu đẹp” hay không, cần phải xem xét nhiều yếu tố
hơn là chỉ số lượng thanh điệu. Ngôn ngữ còn thể hiện sự giàu đẹp qua rất nhiều cách
thức đa dạng và phong phú khác nhằm diễn đạt ý tưởng, cấu trúc ngữ pháp, và sự đa dạng trong văn hóa xã hội.
Về cơ bản, ta có thể hiểu nhận định này theo một hướng khác.
+ Với 6 thanh điệu đã tạo nên sự đa dạng và phong phú tỏng ccahs phát âm, giúp phân
biệt ý nghĩa của các từ ngữ, tạo nên sự tinh tế trong biểu đạt cảm xúc và ngữ điệu.
+ 6 thanh điệu giúp tiếng Việt có khả năng biểu cảm cao, thể hiện được nhiều cung bậc
cảm xúc khác nhau từ vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên,…
+Tính nhạc điệu: nhờ thanh điệu, tiếng Việt có âm điêuk uyển chuyển, du dương, tạo cảm
giác êm tai, dễ nghe, dễ đi vào long người.
+Hệ thống thanh điệu không phải ngẫu nhiên mà có, nó thể hiện được sự logic và khoa
học trong cấu trúc ngôn ngữ.
+ Từ 6 thanh điệu tạo điều kiện cho sự sang tạo trong ngôn ngữm giúp phát triển các thể
loại văn học phong phú như thơ ca, ca dao…
VD: từ “ma” với 6 thanh điệu thì sẽ mang 6 sắc thái nghĩa khác nhau: ma (thanh ngang),
má (thanh sắc), mả (thanh hỏi), mã (thanh ngã), má (thanh sắc), mạ (thanh nặng).
⇨ 6 thanh điệu nhưng diễn tả được một cách đầy đủ những nhu cầu bày tỏ ý kiến,
suy nghĩ của người Việt,…
15/ Theo anh chị, nhà nước ta cần có chính sách như thế nào đối với ngôn ngữ của
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
+Theo Hiến pháo Việt Nam năm 2013 điều 5 chương 1 có ghi rõ: “Các dân tộc có quyền
dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền
thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Ngoài ra, dưới Hiến pháp còn có rất nhiều văn bản
khác như Luật, Nghị quyết,… hướng dẫn về những quy định bảo tồn ngôn ngữ các dân
tộc thiểu số. Đồng thời, đã có rất nhiều cơ quan, tổ chức đã được thành lập để nghiên
cứu, bảo tồn và phát huy ngôn ngữ ấy. Ta có thể thấy nhà nước ta đã có những chính
sách rất rõ rang đối với ngôn ngữ của các dân tộc nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng ở Việt Nam.
+Tuy nhiên, Đảng ta phải luôn luôn thay đổi và bổ sung các chính sách mới để phù hợp
hơn với xã hội hiện nay khi xu thế hội nhập được chú trọng.
+Đảng và nhà nước cần phải tôn trọng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ngôn
ngữ truyền thống các dân tộc thiểu số. Đồng thời, khuyến khích sử dụng dân tộc thiểu số
trong các hoạt động văn hóa, văn nghê, các hội thi, cuộc thi mang quy mô trong nước và
quốc tế. Hỗ trợ phát triển các phương tiện truyền thông sử dụng tiếng dân tộc thiểu số
nhằm cung cấp thông tin cho người dân tỏng và ngoài nước những kiến thức, hiểu biết về
tiếng anh em đồng bảo,..
+Sau cùng, đẩy mạnh việc nghiên cứu tiếng dân tộc thiểu số nhằm làm đẹp them cho vốn
ngôn ngữ của dân ta. Việc nghiên cứu ngôn ngữ cần được thực hiện một cách khoa học,
có đạo đức và tôn trọng bản sắc văn hóa ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, chính quyền địa phương và các cộng đồng
dân tộc thiểu số trong quá trình nghiên cứu.
1. Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
• Hỗ trợ giảng dạy ngôn ngữ dân tộc thiểu số: Nhà nước cần khuyến khích và hỗ
trợ việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc mở lớp học, xây dựng
giáo trình, tài liệu dạy học bằng ngôn ngữ dân tộc và khuyến khích các giáo viên
có khả năng giảng dạy bằng ngôn ngữ mẹ đẻ.
• Khuyến khích sáng tạo và sản xuất văn hóa bằng ngôn ngữ dân tộc: Chính
phủ có thể tài trợ cho các hoạt động văn hóa như sản xuất sách báo, phim ảnh, và
các phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Điều này sẽ
giúp ngôn ngữ dân tộc sống động hơn trong đời sống xã hội.
2. Đảm bảo quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong giao tiếp hành chính
• Cung cấp tài liệu hành chính bằng tiếng dân tộc: Nhà nước cần đảm bảo rằng
các văn bản pháp lý, tài liệu hành chính quan trọng như giấy tờ tùy thân, các thông
báo công cộng, thông tin về dịch vụ y tế và giáo dục đều có phiên bản bằng ngôn
ngữ của các dân tộc thiểu số để người dân dễ tiếp cận và hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
• Đào tạo cán bộ hành chính có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc: Chính phủ
cần hỗ trợ đào tạo các cán bộ, công chức có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc để
phục vụ công tác hành chính ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này sẽ
giúp tạo sự gần gũi và tin tưởng hơn giữa chính quyền và người dân.
3. Khuyến khích việc học tiếng Việt mà không làm mất đi ngôn ngữ dân tộc
• Hỗ trợ học tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số: Nhà nước cần có các chính
sách hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho trẻ em các dân tộc thiểu số ngay từ
những năm đầu tiểu học, đảm bảo rằng các em có đủ khả năng sử dụng tiếng Việt
để học tập và giao tiếp với cộng đồng xã hội rộng lớn hơn.
• Phát triển các phương pháp dạy học song ngữ: Việc sử dụng phương pháp dạy
học song ngữ, trong đó học sinh được dạy cả ngôn ngữ mẹ đẻ và tiếng Việt, sẽ