










Preview text:
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC”
CÓ ĐÁNG THƯƠNG KHÔNG?
I. GIỚI THIỆU VỀ NGUYỄN DỮ, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
1. Vài nét về Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ (? - ?) là một danh sĩ thời Lê sơ, thời nhà Mạc. Ông người xã Đỗ Tùng,
huyện Gia Phúc, Hải Dương, là con trai cả Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu. Chưa rõ
Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn
Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ 16.
Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương
nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), ông làm quan với nhà Mạc, rồi về
với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phú); nhưng mới được
một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ nuôi mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa. Từ đó
trải mấy năm dư, chân không bước đến thị thành. rồi mất tại Thanh Hóa.
2. Vài nét về “Truyền kì mạn lục”
Truyền kỳ mạn lục (Ghi chép tản mạn những truyện kì lạ được lưu truyền) là sáng tác
duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn,
xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện đều có lời bình của tác giả hoặc của một
người có cùng quan điểm của tác giả. Tác phẩm được Hà Thiện Hán, người cùng thời,
viết lời Tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính, Nguyễn Thế Nghi, dịch ra chữ Nôm; và đã
được Tiến sĩ Vũ Khâm Lân (1702-?), đánh giá là một "Thiên cổ kỳ bút".
Truyền kỳ mạn lục là một sáng tác văn học với sự gia công hư cấu, sáng tạo, trau chuốt,
gọt giũa của Nguyễn Dữ chứ không phải một công trình ghi chép đơn thuần. Qua tác
phẩm, người độc thất được số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội,
những bi kịch tình yêu mà thiệt thòi thường rơi vào người phụ nữ. Tác phẩm cũng thể
hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hóa nước Việt, đề cao đạo đức
nhân hậu, thủy chung, đồng thời khẳng định quan điểm sống “lánh đục về trong” của lớp
trí thực ẩn dật đương thời.
Như vậy, để phục vụ cho việc chứng minh và làm rõ chủ đề là hình tượng người phụ nữ,
bài thuyết trình xin phép lựa chọn bốn truyện sau: Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại
Tây, Nghiệp oan Đào thị, Chuyện yêu quái ở Xương Giang.
II. PHÂN TÍCH CHỨNG MINH QUAN ĐIỂM: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG “TKML” LÀ ĐÁNG THƯƠNG
1. MỘC MIÊN THỤ TRUYỆN (CHUYỆN CÂY GẠO) 1.1. Vị trí
Là truyện thuộc chương III trong tập “Truyền kì mạn lục” 1.2. Tóm tắt
Truyện kể về mối tình giữa Trình Trung Ngộ và hồn ma nàng Nhị Khanh. Trong một lần
đỗ thuyền, chàng bắt gặp một cô gái đẹp tên Nhị Khanh.
Sau vài lần bắt chuyện qua lại, hai người đưa nhau xuống thuyền, bèn cùng nhau ân ái hết sức thỏa mãn.
Nghe lời bạn bè hỏi cho ra lẽ thân thế Nhị Khanh, chàng hỏi thì nàng dẫn chàng về nhà.
Vào trong nhà chàng phát hiện ra “linh cửu của Nhị Khanh”, chàng sợ hãi bỏ chạy nhưng
nàng đã cản lại, nắm lấy áo chàng nhưng chàng đã chạy thoát được.
Vì thương nhớ Nhị Khanh, Trình Trung Ngộ nằm ôm quan tài Nhị Khanh mà chết.
Hai người thường xuyên quậy phá làng xóm nên dân làng bèn đào mỏ phá quan tài chàng
và vứt hài cốt của nàng xuống sông.
Hai người bèn tựa linh hồn vào cái cây bên bờ sông ấy, không cho ai chặt quá hay đốn bỏ.
Có vị đạo nhân ghé vào nghỉ ngơi bên chùa ấy và biết được sự việc, ông đã nhổ bỏ cây
gạo đó, giúp dân làng dẹp yên sự quấy phá của Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ.
1.3. Hình tượng nhân vật Nhị Khanh
Nhị Khanh chết khi tuổi mới đôi mươi, tình yêu và nhục dục chưa thỏa mãn, nàng bị
chồng ruồng bỏ cho nên hồn ma nàng không siêu thoát, vẫn quyến luyến cõi trần, ước ao
được yêu, được hưởng thú hoan lạc đôi lứa: “Nghĩ đời người ta, thật chẳng khác gì giấc
chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm thấy thú vui, kẻo một sớm chết đi sẽ
thành người ở suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân cũng không thể được nữa”,
“Ngày tháng quạnh hiu không người săn sóc. Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào
hang tối, thả khí nóng tới mần khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén hơi xuân
quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa”.
Với Nhị Khanh, một ma nữ chết trẻ, nàng bỏ qua tất cả hàng rào gai của định kiến xã hội
xưa mà tìm đến Trình Trung Ngộ để thỏa mãn ái ân, nàng còn dẫn chàng về nhà chơi theo lời yêu cầu của chàng
Khi chàng toan bỏ chạy, nàng “sấn lại nắm vạt áo chàng”, một sự mạnh mẽ đến táo bạo,
nàng quyết tâm giữ lấy cho mình tình yêu không để vuột mất. Nàng cùng linh hồn Trình
Trung Ngộ nương vào cây gạo trong chùa ven sông để vạn đời vạn kiếp được ở cùng
nhau, cùng nhau thóa mãn tình yêu, dục vọng đời thường.
Tuy nhiên, chính vì những lẽ đó đã phạm vào những điều tối kỵ của lễ giáo phong kiến,
lễ giáo ấy không cho phép những kẻ coi thường luân lí được sống, được hạnh phúc, nhất
là người phụ nữ. Đầu tiên, là bị người đời “đào mả quan tài” rồi xương cốt “vứt bỏ xuống
sông cho trôi theo dòng nước và cuối cùng, là bị vị đạo sĩ lập đàn cúng tế đuổi đi.
Tổng kết: Cuộc đời Nhị Khanh là một chuỗi bi kịch, khi sống không được chồng yêu
thương, đến khi chết rồi vẫn không được hạnh phúc. Những tưởng sẽ được hưởng tình
yêu cho thóa khát khao khi còn ở dương gian nhưng cuối cùng phải chịu cái kết thảm
khốc: “cây gạo đã bị nhổ bật, cành cây gẫy nát và bị tước như tước dây”, “sáu bảy trăm
lính đầu trâu gông trói hai người mà dẫn đi”. Số phận của Nhị Khanh chính là do lễ giáo
phong kiến gây nên, người phụ nữ bắt buộc phải sống trong sự hà khắc cùng cực, bằng
không sẽ phải chịu trừng phạt khi chủ động mưu cầu những thứ mà đáng ra họ phải được
hưởng. Lễ giáo Nho gia coi cá tính, khát vọng của Nhị Khanh là tội không thể tha thứ,
buộc nàng phải bị trừng phạt nơi âm ti địa ngục.
2. TÂY VIÊN KỲ NGỘ KÝ (CHUYỆN KỲ NGỘ Ở TRẠI TÂY) 2.1. Vị trí
Là truyện thuộc chương V trong tập TKML 2.2. Tóm tắt
“Chuyện kì ngộ ở trại Tây” là câu chuyện tình yêu giữa thư sinh Hà Nhân với hai hồn
hoa Đào, Liễu. Hà Nhân lên kinh để học thi, hay đi qua trại Tây và gặp được hồn hoa
Đào, Liễu trong dinh cơ cũ quan Thái sư triều Trần.
Đào, Liễu có tài làm thơ rất hay, thường đối đáp thơ với thư sinh Hà Nhân. Đối với Hà
Nhân, hai nàng Đào, Liễu có thể gọi các nàng là tri kỉ.
Hà Nhân si mê các nàng quên cả chuyện thi cử học hành, từ chối cả hôn lễ cha mẹ sẵn sắp đặt nơi quê nhà.
Khi tiết đông đến, hoa cỏ tàn lụi, hai nàng cũng thác về đất, thương nhớ hai nàng, Hà
Nhân bán ít đồ của mình để làm lễ nhỏ và một bài thơ đưa tiễn hai nàng.
2.3. Hình tượng nhân vật Đào, Liễu
Số phận hẩm hiu: Đào và Liều xưa đều là những tỳ thiếp của quan Thái sư (nàng hầu và
vợ lẽ của quan lại xưa), không có tiếng nói trong xã hội lúc bấy giờ. Sau khi quan Thái
sư mất lại càng không biết dựa vào ai (hồng nhan bạc phận). Nơi sinh sống là cái sinh
cơ hoang quạnh, mấy gian đều mốc một người quét dọn đến không có.
Chi tiết hồn của hai nàng Đào và Liễu đã lả lơi, quyến rũ nho sinh thế hiện sự khát khao
được hạnh phúc, mong muốn được có cuộc sống như bao người phụ nữ khác: “Hà Nhân
thường thấy hai người con gái đứng ở bên trong bức tường đổ nhí nhoẻn cười đùa, hoặc
hái những quả ngon, bẻ bông hoa đẹp ném cho Hà Nhân nữa” hay lời nói của hai nàng:
“Nay gặp tiết xuân tươi đẹp, chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để
khỏi hoài phí mất xuân quang.”
Đến cuối cùng sau những ngày tháng ân ái mặn nồng bên nhau của mối tình tay ba giữa
chàng Nho sinh Hà Nhân và hai hồn hoa Đào, Liễu thì cũng có ngày hai nàng ta phải
thác hóa trở về nơi suối vàng.
Đào, Liễu chỉ là biểu tượng cho những nhu cầu ái ân của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến khi mà nhan sắc và tuổi xuân của họ đang bị bỏ rơi.
Tổng kết: Hai nhân vật Đào và Liễu đều có cuộc sống tạm coi là bình lặng. Họ không
gặp những tai họa đột ngột, những bi kịch nặng nề. Họ cũng có chút ít may mắn chứ
không thể nói là có sự vui sướng hoặc hạnh phúc trọn vẹn. Đến cuối cùng, hai nàng vẫn
được Hà Nhân “đem bán một cái áo, lấy tiền lảm mâm cổ bày cúng hai nàng, lại làm
một bài văn tế”. Số phận của hai hồn hoa dù có cô đơn lạnh lẽo nhưng chí ít vẫn nhận
lại được tình yêu và sự tôn trọng nơi phàm trần. Đào, Liễu chính là hình ảnh những
người phụ nữ xưa kia bị ruồng bỏ, phí hoài tuối xuân xanh tươi đẹp.
3. ĐÀO THỊ NGHIỆP OAN KÝ (NGHIỆP OAN ĐÀO THỊ) 3.1. Vị trí
Là truyện thuộc chương VII trong tập TKML 3.2. Tóm tắt
+ Truyện kể về ả danh kỹ nổi tiếng họ Đào, có tài năng “thông hiểu âm luật và chữ
nghĩa”, được vua chú ý, tuyển vào làm cung nhân.
+ Vua Dụ Tông mất, nàng phải thải ra ngoài phố.
+ Bị thải liền thường đi lại nhà quan Ngụy Nhược Chân, khiến vợ quan nổi lòng ghen
tuông, kéo nàng đánh một trận tàn nhẫn.
+ Trả thù vợ quan thất bại, nàng chạy trốn đến chùa Phật Tích.
+ Nàng lập ra am Cư Tĩnh, mời họp văn nhân, vô tình đắc tội với một cậu học trò nhỏ, cậu học trò liền vạch
trần quá khứ bi thương của Hàn Than. Hàn Than lại đương đêm chạy trốn.
+ Đến chùa Lệ Kỳ, bị sư già Pháp Vân từ chối, sư bá Vô Kỷ liền thu nhận nàng. Sau đó,
Vô Kỷ và Hàn Than tư thông với nhau.
+ Hàn Than có con, vì khó sinh mà khiến nàng quằn quại chết ở trên giường cữ.
+ Hàn Than tìm về báo mộng cho Vô Kỷ, hai người cùng nhau hóa thành hai con quỷ rắn
đầu thai thành con cùa vợ chồng quan Ngụy Nhược Chân hòng báo thù, liền bị sư Pháp
Vân chỉ dẫn tiêu diệt, nát ra tro cả.
3.3. Hình tượng nhân vật Hàn Than
- Vua Dụ Tông vừa qua đời, liền từ một cung nhân, nàng bị đuổi ra khỏi cung vì vị vua
mới không dùng lại cung nhân của vị vua cũ. (Nàng được tuyển sung vào làm cung nhân,
hằng ngày chầu vua ở tiệc rượu hay chiếu bạc … Vua Dụ Tôn mất, nàng phải thải ra ngoài phố).
Phản ánh số phận lênh đênh. Nàng Hàn Than có được tài năng xuất chúng nhưng
lại chỉ được sử dụng như một nô lệ mua vui cho nam giới. Kết cục vẫn bị đuổi ra
khỏi cửa cung không nơi nương tựa.
- (Sau khi bị đuổi ra ngoài phố, thường đi lại nhà quan Hành khiển là Ngụy Nhược Chân.
Bà vợ quan không có con, tính lại hay ghen, ngờ Hàn Than tư thông với chồng, bắt nàng,
đánh một trận rất tàn nhẫn) Bởi vì chữ ngờ, chưa có bằng chứng xác thực, mà bà vợ quan
đã ra tay đánh một trận nhừ tử. Mà ở thời đại lúc bấy giờ, con người luôn đề cao các
phẩm chất, đức hạnh của người phụ nữ, việc một người con gái chưa xuất giá đã tư thông
với người khác là một điều vô cùng nhục nhã. Việc bị bắt đánh, Ngụy Nhược Chân là
người biết rõ chân tướng sự việc cũng không đứng ra nói đỡ giúp nàng một câu, mặc kệ
nàng bị vợ đánh một trận tàn nhẫn. Có thể nói, nếu Hàn Than là một cô gái xấu thì chắc
vợ quan đã không lo lắng đến vậy, nhưng trớ trêu thay Hàn Than lại là một cô gái xinh
đẹp, tài hoa “thông hiểu âm luật và chữ nghĩa”, nên sự ghen tuông ấy xuất phát từ việc
Hàn Than tài giỏi và suất xắc hơn bà.
Những tài nữ xinh đẹp như Hàn Than thường dễ bị người đời ganh ghét, ghen tỵ.
Nàng còn bị chà đạp cả về mặt nhân phẩm, danh dự khi chỉ vì một chữ “ngờ”. Nỗi
bi kịch ấy lại do chính giới nữ gây ra, tổn thương lẫn nhau.
- Sau khi trả thù thất bại, Hàn Than sợ, liền trốn đến tu ở chùa Phật Tích. (Nàng có dựng
ra am gọi là am Cư Tĩnh, mời họp các văn nhân để xin một bài giảng văn. Bấy giờ trong
làng có một cậu học trò tuổi độ 14, 15 cũng đến hội họp). Có thể thấy Hàn Than chỉ
muốn được bình yên, thanh tịnh chuyên tâm tu hành với Phât giáo, mời họp các văn nhân
xin bài giảng văn có chăng chỉ là thỏa cái đam mê văn chương. Nhưng vì đắc tội với cậu
học trò mà bị trả thù bằng cách viết ra một bài thơ về thân thế của Hàn Than (viết lớn rồi
dán vào cửa chùa, xa gần đua nhau chép). Phơi bày quá khứ đau thương, dùng lời văn chế
nhạo xuất thân của nàng, rồi dán công khai khắp nơi để người người đều biết. Việc làm
này chẳng khác nào đã đẩy Hàn Than vào bước đường cùng.
Hàn Than chế nhạo cậu học trò là thật, nhưng tội cô không đến mức phải bị trừng
phạt như vậy. Cậu đã thoải mái chế giễu, công khai quá khứ đau thương của cô.
Và cách mọi người phản ứng đối với việc này là đua nhau chép lại và truyền tai
nhau, không một ai đứng lên bênh vực Đào Hàn Than, mà chỉ xem sự kiện ấy như
một cuộc mua vui. Cả cuộc đời của Hàn Than có thể gói gọn trong hai chữ “chạy
trốn”, chạy trốn một cách nhục nhã, lần sau lại quyết liệt hơn lần trước.
- Đến chùa Lệ Kỳ, khi sư già Pháp Vân thấy được cái nhan sắc hồng nhan họa thủy của
nàng liền ngay lập tức từ chối. (trụ trì có sư già Pháp Vân và sư bác Vô Kỷ, bèn đến chùa
xin bái yết. Pháp Vân không nhận…Vô Kỷ không nghe, lại cứ nhận cho Hàn Than ở.
Pháp Vân lập tức dời lên ở tận trên đỉnh núi Phượng Hoàng). Liệu sư già Pháp Vân có
thực sự nhìn thấy sự đau khổ mà nàng phải chịu hay chỉ đơn giản thứ mà ngài nhìn là
nhan sắc có thể mê hoặc lòng người kia. (Cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm, liền cùng
Vô Kỷ tư thông). Mặc dù tư thông với Vô Kỷ là việc làm sai trái, nhưng cả cuộc đời nàng
chỉ có Vô Kỷ là thật tâm đưa tay ra cứu vớt nàng, chấp nhận nàng, yêu nàng sâu sắc.
Trải qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm như vậy, dù biết tư thông với Vô Kỷ là sai,
nhưng có lẽ nàng chỉ muốn tìm cho mình một bến đỗ, một người quan tâm chăm sóc cho mình.
- Hàn Than có con, vì khó sinh mà khiến nàng quằn quại chết ở trên giường cữ. (..nàng
quả có thai rồi ốm, lay lứt từ mùa xuân đến mùa hạ,… khiến nàng sau phải nằm quằn
quại chết ở trên giường cữ). Sau khi cảm nhận được một chút hạnh phút ít ỏi, nàng lại
lâm vào một nỗi bất hạnh khác. Cả cuộc đời của nàng chưa một lần cảm nhận được hạnh
phúc một cách trọn vẹn, để rồi khi mà đã nhận lấy được hạnh phúc rồi thì nó cũng chỉ là
một khoảng thời gian ngắn ngủi.
Hàn Than có được hạnh phúc nhưng hạnh phúc ấy thật mong manh, ngắn ngủi. Để
được hạnh phúc ấy thì thứ mà nàng phải trả giá chính là sinh mạng mình, đó là
một cái chết đau đớn, quằn quại. Vậy liệu đó thật sự là hạnh phúc hay chỉ là một nỗi bất hạnh khác.
- Hàn Than tìm về báo mộng cho Vô Kỷ, hai người cùng nhau hóa thành hai con quỷ rắn
đầu thai thành con cùa vợ chồng quan Ngụy Nhược Chân hòng báo thù, liền bị sư Pháp
Vân chỉ dẫn tiêu diệt, nát ra tro cả. ( Khi mở thấy hai cái thây đã hóa thành hai con rắn
vàng, lấy hòn đá ném thì chúng liền nát ra tro cả). Cả hai lần nàng muốn trả thù đều thất
bại, nàng muốn tìm lại công bằng, tự minh oan cho chính bản thân, nhưng lần nào cũng
thất bại. Nàng chết đến tận hai lần và cả hai lần đều vô cùng đau đớn và thảm khốc.
Khát vọng trả thù biểu hiện cho việc nàng muốn tự giải lấy nỗi oan của chính
mình, muốn tìm lấy sự công bằng cho bản thân. Sống trong nhà kẻ thù 8 năm hòng
trả thù, nhưng cuối cùng thù chưa trả đã bị trừng trị hóa thành một nắm tro tàn, không thể siêu sinh.
Tổng kết: Nỗi oan ức của Hàn Than xuất phát từ việc cô bị thất sủng đuổi ra khỏi cung.
Đây rõ là nỗi uất ức, oan uổng không phải do chính cô tạo nên mà bắt nguồn từ việc
cường quyền áp bức, không thể chống lại được sức mạnh của quyền lực, bị bắt vào cung,
bị vợ quan đánh đập tàn nhẫn. Là hệ quả của việc bất bình đẳng giới, khi nàng rõ là
người có tài hoa và nhan sắc nhưng lại không thể tự định đoạt cho số phận của chính
mình mà trở thành đối tượng mua vua cho nam giới đó là vua và Ngụy Nhược Chân, để
rồi không cần nữa liền vứt bỏ đi, trở thành trò vui cho thiên hạ chỉ vì quá khứ oan uổng
bị vạch trần. Cả cuộc đời của Đào Hàn Than chỉ là một cuộc đời chạy trốn nhục nhã,
chính vì cái thói đời bất công ấy mà cô không có được một cuộc sống hạnh phúc. Cái tai
họa và đau khổ mà Hàn Than mang là nỗi bất hạnh về tư sắc và tài năng.
4. XƯƠNG GIANG YÊU QUÁI LỤC (CHUYỆN YÊU QUÁI Ở XƯƠNG GIANG) 4.1. Vị trí
Là truyện thuộc chương XI trong tập TKML 4.2. Tóm tắt
Ở Phong Châu có đôi vợ chồng họ Hồ, người chồng đi buôn bán, ngụ ở thành Xương
Giang, rồi ốm chết ở thành ấy.
Người vợ vì không có tiền để đưa ma chồng về quê, phải đem bán Thị Nghi cho một nhà phú thương họ Phạm.
Họ Phạm yêu mến rồi cùng nàng tư thông. Vợ Phạm biết việc, đánh Thị Nghi một trận
đau quá đến chết, đem chôm ở bên cạnh làng.
Hồn Thị Nghi tác oai tác quái, người làng đó tán xương nàng vứt xuống sông, từ đấy việc
quấy nhiễu cũng hơi bơn bớt.
Viên quan họ Hoàng đi xuống Trường An (kinh đô) lĩnh chức, thì gặp được hồn Thị Nghi
trong hình dáng của một thiếu nữ độ 17, 18. Hoàng liền đem lòng yêu mến và cả hai Thàng vợ chồng.
Làm quan được một tháng. Hoàng bỗng bị bệnh điên cuồng hoảng hốt, may mắn được vị
cao nhân chữa khỏi cho Hoàng. Người ấy lấy một đạo bùa ném ra, Thị Nghi liền theo bùa
mà ngã bổ nhào xuống đất, thành ra một đống xương trắng.
Nghi đã tìm đến Diêm Vương để đòi lại công bằng. Khi Diêm tra hỏi Hoàng thì chàng
liền đổ lỗi cho Thị Nghi. Kết cục Thị Nghi bị đày xuống vào ngục cửu u, trừng phạt bằng núi dao.
4.3. Hình tượng nhân vật Thị Nghi
Số phận đầy cay đắng: Là con nhà nghèo, không may bố chết, người mẹ nghèo kiết đã
phải bán nàng cho nhà phú thương họ Phạm để lấy tiền đưa ma chồng về quê quán.
Nguyên nhân dẫn tới bi kịch của người phụ nữ đó là nhan sắc. Thị Nghi vì khá có tư sắc
nên họ Phạm yêu mến rồi tư thông với nàng. Vợ Phạm biết được bèn mượn có khác mà
đánh nàng đến chết. Quãng đời ngắn ngủi của Thị Nghi chứa đầy tủi nhục.
Với người phụ nữ, nhan sắc luôn là tai hoạ. Bị bán vào nhà phủ thương khi còn rất bé, cái
sinh mệnh nhỏ nhoi ấy chỉ như là một thứ đồ vật. Lòng yêu mến của họ Phạm đâu phải là
lòng yêu mến của con người. Nó chứa đựng ở đó những toan tính, những ham muốn nhục
thể - nguyên nhân dẫn tới bất hạnh, tới cái chết bị thương của Thị Nghi.
Gã phủ thương họ Phạm không che chở được nàng. Vợ họ Phạm ghen tuông tàn nhẫn đến
mức đánh chết nàng. Tủi hờn chồng chất khiến cho khi chết Thị Nghi biến thành yêu quái
quấy nhiễu một vùng. Hành động phản ứng với đời ấy của nàng chỉ làm gia tăng thêm bị
kịch. Người ta đào mả Thị Nghi và quãng hài cốt nàng xuống sông.
Nàng tiếp tục sống một kiếp khác với nỗ lực tranh lấy hạnh phúc. Nàng gặp viên quan họ
Hoàng, cuộc đời Thị Nghỉ tưởng đã được tạm yên sau bao nhiêu đáng cay tủi hận: “Đã
thành vợ chồng, tình ái rất thắm thiết. Nàng lại cử động rất hợp lẽ, nói năng biết lựa lời,
họ hàng bạn bè ai cũng ngợi khen”. Song cuộc đời không cho nàng hưởng cái hạnh phúc
mong manh và muộn mằn ấy. Một vị cao tăng xuất hiện để diệt trừ nàng. Phần mộ của
nàng bị quật lên nhưng hài cốt không còn, “chỉ thấy có mấy hòn máu tươi". Những hòn
máu ấy có lẽ là sự kết tụ lại của những oán khổ, những khối căm hờn, khối tình mang
xuống tuyền đài chưa tan” mà Thị Nghĩ từng gánh nặng.
Hy vọng vào sự công bằng ở chốn minh ty. Thị Nghi đã đi kiện. Bao nhiêu cố gắng vươn
lên với hi vọng tìm thấy hạnh phúc của nàng tới đây chấm dứt. Lời cung khai phản nàng
của họ Hoàng và lời phán quyết của Diêm Vương giam vào ngục cửu u, trừng phạt bằng
núi dao, cây kiếm là một kết cục thảm khốc đối với nàng.
Tổng kết: Như vậy, đến cuối cùng, Thị Nghi vẫn không thể có được thứ hạnh phúc, ham
muốn nhục thể mình khao khát. Nàng chết vì nhan sắc, nàng tiếp tục sống dưới kiếp ma
kiếp quỷ để kiếm tìm tình yêu, nhưng rồi cái hạnh phúc nhỏ nhoi ấy cũng tan thành mây
khói, nàng bị diệt trừ, phần mộ bị quật lên. Xã hội nam quyền luôn dành sự ưu ái cho
nam nhân, xã hội ấy không cho phép nàng thanh minh, dù nàng có tìm cách bảo vệ bản
thân nhưng rồi vẫn bị Diêm Vương giam vào ngục cửu u. Cuộc đời Thị Nghi quả thật là một tấn bi kịch.
III. KẾT LUẬN VỀ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TKML THÔNG QUA BỐN TÁC PHẨM
1. Trong các câu chuyện liên quan đến vấn đề tình cảm nam nữ, nam giới nhận được sự
ưu tiên, dẫu có phạm lỗi cũng chỉ bị trách phạt ở mức độ nhất định. Ngược lại, nữ giới thì
hoàn toàn khác, nếu như những nữ nhân này đi ra ngoài vòng cương tỏa của xã hội phong
kiến để sống đúng với cá tính của mình, với khát khao chính đáng của mình thì họ sẽ bị
lên án kịch liệt, sẽ bị coi như loài yêu ma cần phải tránh xa (Nho giáo coi những người
phụ nữ vừa có nhan sắc, vừa thông minh là yêu ma, cần phải tránh xa và loại trừ). Nói
cách khác, xã hội phong kiến không có chỗ cho bình đẳng giới và cũng không có chỗ cho
sự giải phóng cá tính, khát vọng của con người.
2. Các câu chuyện tình yêu tự do nam nữ đi ngược lại lễ giáo phong kiến đều phải nhận
lấy cái kết đắng. Dẫu có được thỏa nguyện ái ân trong một khoảng thời gian nhất định,
dẫu có tình chàng ý thiếp hòa hợp lãng mạn nên thơ và dẫu có quyết liệt quay lưng với cả
thế giới để bất chấp yêu nhau thì cuối cùng họ đều phải chết, thậm chí là chết trong đau đớn.
3. Nguyễn Dữ là một người có tấm lòng nhân đạo sâu sắc và mang tư tưởng phóng
khoáng, tự do - điều ấy không thể phủ nhận được khi đọc bốn tác phẩm đã phân tích ở
trên. Nếu như xã hội phong kiến coi những người phụ nữ vượt ra ngoài lễ giáo phong
kiến là đứa con lăng loàn đáng bị coi khinh và xa lánh, là loài ma quỷ hại người thì
Nguyễn Dữ lại đối với họ bằng cả tấm lòng bao dung, đồng cảm và xót thương. Như vậy,
thông qua những nhân vật Nhị Khanh, Đào, Liễu, Đào thị, Thị Nghi, Nguyễn Dữ muốn
nhắn gửi rằng, con người (nhất là người phụ nữ) phải được sống trọn vẹn với khao khát
trần thế nhất, phải được yêu thương, được trân trọng vì họ xứng đáng như vậy.