FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC PHẦN
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN HỌC
(Dành cho sv năm thứ 3 khoa gdth)
1. Các cách tiếp cận trong xây dựng chương trinh giáo dục: Khái niệm, đặc
điểm; ưu điểm, hạn chế; Ví dụ minh họa.
2. Phát triển chương trình giáo dục: Khái niệm, nguyên tắc, quy trình thực hiện;
3. Phát triển chương trình nhà trường: Khái niệm, nguyên tắc, quy trình thực
hiện;
4. Phân tích để làm rõ mục tiêu phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản
thân.
5. Phân tích để làm rõ nội dung phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản
thân.
6. Phân tích để làm vai trò của giáo viên trong phát triển chương trình nhà
trường. Liên hệ bản thân.
7. Phân tích để làm rõ nội dung cấu trúc, điều chỉnh chương trình môn học, hoạt
động giáo dục trong phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản thân.
8. So sánh những đặc trưng bản cho phép phân biệt giữa phát triển chương
trình giáo dục quốc gia và phát triển chương trình giáo dục nhà trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Trọng Chiến (2020), Phát triển chương trình giáo dục nhà trường
tiểu học, Bài giảng (Lưu hành nội bộ), ĐHSP Huế.
2. Trần Thanh Bình, Phan Tấn Chí (2014), Năng lực quản phát triển
chương trình ở Trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam.
3. Nguyễn Đức Chính (2011), Phát triển chương trình đào tạo, tập bài giảng,
Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội
4. Nguyễn Văn Khôi (2011), Phát triển chương trình giáo dục, NXB Đại học
Sư phạm Hà Nội.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
………………………@…………………………..
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
CÂU 1. CÁC CÁCH TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC: KHÁI NIỆM, ĐẶC
ĐIỂM; ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ; VÍ DỤ MINH HỌA. ( TRANG 7)
a. Cách tiếp cận nội dung:
* Khái niệm: Coi giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức,cách tiếp cận nội
dung đưa ra định nghĩa: “Chương trình giáo dục bản phác thảo về nội dung giáo
dục, qua đó người dạy biết mình phải dạy những gì và người học biết mình cần phải
học những gì”.Theo cách tiếp cận này thì giáo dục quá trình truyền thụ nội dung -
kiến thức; và mục tiêu của giáo dục chính là truyền thụ kiến thức cho người học.
dụ: - Học cái ( kiến thức); Làm được ( năng); Thái độ => Được xd theo
cách tiếp cận nội dung
- Đặc điểm:
+ Giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức và mục tiêu của giáo dục chính
truyền thụ kiến thức cho người học, người học sẽ phải nắm toàn bộ những tri thức
ấy.
( R)
+ Chương trình giáo dục quan tâm trước hết chủ yếu đến khối lượng tính hệ thống,
độ sâu, mức độ khái quát hóa của kiến thức cần truyền thụ. ( R)
+ Chương trình giáo dục thường mang tính hàn lâm” tính hệ thống, nặng về
thuyết, nhẹ về ứng dụng thực hành. ( R)
< Hệ thống: Từ trực quan… tư duy trừu tượng -> kế thừa ưu điểm…>
< Hàn lâm: Chi tiết,đầy đủ từ hình thành đến phát triển>
+ NDGD: Nội dung kiến thức được trình bày một cách hệ thống, logic và kiến thức được
trình bày liền mạch và gắn với từng lớp, từng độ tuổi.
+ Cách thức thực hiện: PP được sử dụng ở đây chủ yếu là những PP thiên về truyền đạt
tri thức như: PP giảng giải, thuyết minh,…
+ Hình thức thực hiện: chủ yếu là dạy trong lớp, dạy theo hình thức đồng loạt
+ PTDH: chủ yếu phương tiện truyền đạt tri thức nhưu phấn trắng, bảng đen, trình
chiếu kiến thức đơn thuần, tranh ảnh sử dụng để minh họa.
+ Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu chỉ giới hạn ở việc kiểm tra mức độ nhận biết,
khả năng tái hiện tri thức.
- Ưu điểm:
+ Nội dung được lựa chọn dựa vào các khoa học chuyên môn, được quy định chi tiết
trong chương trình. Nội dung kiến thức đảm bảo tính khoa học, chính xác.
+ Chương trình bảo đảm tính logic, hệ thống. Tạo điều kiện hình thành ở người học hệ
thống các tri thức khoa học đầy đủ.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Xác định nội dung dạy học, người dạy biết họ phải làm gì, người học biết mình
cần học cái gì, tiếp cận nội dung gì.
+ Người học nắm bắt được 1 lượng tri thức lớn trong khoảng thời gian ngắn.
+ GV khả năng truyền đạt 1 lượng tri thức lớn đến người học không cần nhiều
công sức và tiết kiệm thời gian.
- Hạn chế:
+ Khó xác định được chuẩn để kiểm tra đánh giá, khó đánh giá mức độ hoàn thành
chương trình dạy của giáo viên.
+ Chương trình giáo dục thường mang tính “hàn lâm” hệ thống, nặng về thuyết,
nhẹ về thực hành, ứng dụng.
+ Ít chú ý đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu hứng thú điều kiện của
người học.
+ Các kiến thức cũng thường được chỉ được truyền thụ một chiều từ thầy đến trò làm
hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, người học bị thụ động phụ
thuộc trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
+ Kiểm tra, đánh giá: Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu chỉ giới hạn việc kiểm
tra mức độ, khả năng tái hiện tri thức.
* Kết luận
Nếu chỉ chú trọng đến nội dung kiến thức bỏ qua hoặc không đề cập đến các yếu
tố khác như mục tiêu, quy trình đào tạo,… thì chương trình đó khó thể phù hợp với
yêu cầu cầu XH và nhu cầu của người học.
VD: Đây là cách tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục đại học, cao đẳng theo niên
chế ở Việt Nam trước đây, hay CTGDPT năm 2001.
Đây cách tiếp cận được vận dụng trong xây dựng chương trình giáo dục tiểu học
năm 2001, chương trình công nghệ giáo dục hay chương trình đào tạo theo tín chỉ ở đại
học, cao đẳng
+ Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn bị sẵn..
+ Chương trình đào tạo theo niên chế khối kiến thức này bố trí theo một tỷ lệ nhất
định.
=> Hiện nay, giáo dục học đại học của chúng ta cũng đang dần có bước đổi mới. Đó là
kết quả của việc nhìn nhận và tiếp cận chương trình theo hướng mới
VÍ dụ 2: Đây cách tiếp cận, xây dựng CT đào tạo đại học, cao đẳng theo niên chế
VN trước đây. Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo
chuẩn bị sẵn… Sinh viên chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của
nhà trường, tích cực học tập rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt. GV biết mình sẽ dạy
những sinh viên biết mình phải học những gì, phương pháp giảng dạy chương
trình theo niên là người dạy cố gắng truyền đạt những kiến thức trong phạm vi môn học
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
được giao, người học thụ động lắng nghe, ghi chép chủ yếu học thuộc lòng, ít tham gia
vào bài giảng.
Chương trình đào tạo theo niên chế khối kiến thức này bố trí theo một tỷ lệ nhất
định. Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc
các bậc học tiếp theo, còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng
một trình độ đào tạo. Vì vậy chương trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng
lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập=> không tận dụng được hiệu quả đào tạo. Trong
đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học rất
khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá
trình công tác sau này, như người học muốn thêm kiến thức về tin học, ngoại ngữ,
về quản lý kinh tế.
=> Hiện nay, giáo dục học đại học của chúng ta cũng đang dần có bước đổi mới. Đó là
kết quả của việc nhìn nhận và tiếp cận chương trình theo hướng mới.
Đây cũng cách tiếp cận trong xây dựng chương trình GDPT (năm 2000)
nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành.
b. CÁCH TIẾP CẬN MỤC TIÊU
- Khái niệm:
Cách tiếp cận mục tiêu xem chương trình giáo dục một bản kế hoạch phản ánh các
mục tiêu nhà trường theo đuổi, kế hoạch này cho biết nội dung cũng như những
phương pháp dạy học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra.
- Đặc điểm:
+ Cách tiếp cận này chú trọng mục tiêu chương trình và sản phẩm đầu ra.
+ Mục tiêu giáo dục được thể hiện dưới dạng mục tiêu đầu ra của quy trình giáo dục,
biểu hiện qua những thay đổi về hành vi người học trong các lĩnh vực nhận thức,
năng và thái độ từ lúc bắt đầu tới lúc kết thúc khoá học.
VD: Tự tin -> khi bản thân rèn được tính tự chủ, tự họcnhững thói quen sinh hoạt
được tốt nhất
+ Mục tiêu giáo dục phải được xây dựng ràng sao cho thể định lượng được
dùng nó làm tiêu chí để đề ra nội dung kiến thức giáo dục, phương pháp giảng dạy cần
thực hiện để đạt được mục tiêu, phương pháp đánh giá thích hợp theo các mục tiêu
đánh giá được hiệu quả của quá trình giáo dục.
+ Nội dung: Kiến thức, năng thái độ đều được thực hiện theo chuẩn mục tiêu đã
định.
+ Cách thức thực hiện: dựa vào mục tiêu giáo dục để lựa chọn cách thức giáo dục để
hướng tới mục tiêu ấy
+ Kiểm tra đánh giá: đối chiếu kết quả của người học với mục tiêu đã đề ra trước đó.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Cách tiếp cận mục tiêu hi vọng thể chuẩn hoá quy trình xây dựng chương trình
giáo dục cũng như quy trình giáo dục theo một công nghệ nhất định. Giống như một
quy trình công nghệ, các bước trong quá trình giáo dục đều được thiết kế chặt chẽ
nhằm tạo ra sản phẩm giáo dục với một chất lượng đồng đều theo các chỉ tiêuthuật.
Do vậy, CTGD được xây dựng theo cách tiếp cận này còn được gọi CTGD kiểu
công nghệ”
Chương trình vận dụng khoa học- công nghệ vào trong giáo dục chương trình được xây
dựng theo hướng mục tiêu -> chương trình theo hướng công nghệ giáo dục.
* Các trường tiểu học cần quan tâm đến cách tiếp cận năng lực vì:
+ Vì đây là tư tưởng chủ đạo trong xây dựng CTPT mới, trong đó có CT GDTH
+ CT theo hướng phát triển năng lực cần sthống nhất từ việc xác định hệ thống
năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt về các
năng lựctiêu chí đánh giá các năng lực không phải chỉ đặt ra1 khâu nào đó của
quá trình giáo dục
- Ưu điểm:
+ Mục tiêu đào tạo cụ thể, ràng chi tiết tạo thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả
và chất lượng CTĐT.
+ Người học người dạy biết cần phải dạy học như thế nào để đạt được mục
tiêu.
+ Cho phép xác định ràng các hình thức đánh giá kết quả học tập của người học
(Theo chuẩn KT, KN).
- Hạn chế:
+ Sản phẩm đào tạo phải đồng nhất đầu ra trong khi nguyên liệu đầu vào những
con người lại rất khác nhau về năng lực hoàn cảnh, nguồn gốc, văn hóa,… do đó
việc áp dụng một quy trình công nghệ đào tạo trên sở mục tiêu xác định cứng nhắc
là khó có thể duy trì lâu.
+ Không phát huy hết năng lực, sở trường của mỗi HS.
+ Việc rèn đúc mọi người học theo một khuôn mẫu nhất định làm người học vẫn
trạng thái bị động, giáo điều, máy móc, thiếu tính sáng tạo. Các khả năng tiềm ẩn của
mỗi nhân người học không được quan tâm phát huy năng lực, nhu cầu sở thích
riêng của người học khó được đáp ứng (nó cân bằng, không thấy được sự phân hóa
trong quá trình phát triển, không khuyến khích được học sinh giỏi vươn lên).
+ Chỉ dừng lại một quá trình học tập chưa định hướng ràng phương hướng
phấn đấu trong tương lai của người học.
VD: Cách tiếp xây dựng CT giáo dục tiểu học năm 2000. Cách XD này chỉ rõ mục tiêu
cần đạt sau mỗi cấp học. dụ: Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
hài hòa về thể chất tinh thần, hình thành các năng bản để HS tiếp tục học lên
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
THCS, đưa ra các mục tiêu cụ thể về PP Hình thức tổ chức các hoạt động GD, mục
tiêu của đánh giá keets quả gd cụ thể. Tuy nhiên chương trình này vẫn còn nặng về kiến
thức, nhẹ về kỹ năng, đặc biệt chưa tiếp cận theo hướng phát triển phẩm chất năng
lực cho HS, chưa đạt được mục tiêu phân luồng do nội dung thiếu định hướng nghề
nghiệp.
VD 2: Đây là cách tiếp cận được vận dụng trong xây dựng chương trình giáo dục tiểu
học 2001, chương trình công nghệ giáo dục hay chương trình đào tạo theo tín chỉđại
học, cao đắng.
c. CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN
- Khái niệm:
Cách tiếp cận phát triển xem chương trình giáo dục là một quá trình, còn mục tiêu giáo
dục là sự phát triển.
Giáo dục là một quá trình phát triển, tiếp diễn liên tục suốt đời, góp phần phát triển mọi
năng lực tiềm ẩn của con người.
Hướng tới phát triển những phẩm chất năng lực của người học thông qua các kiến
thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại.
- Đặc điểm:
+ Chú trọng đến sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học, phát triển tư duy
logic, năng lực sáng tạo về mọi mặt cho người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức
đã được xác định từ trước một cách đơn lập để trong một giới hạn nhất định; đáp ứng
tối đa nhu cầu, khả năng của học sinh.
+ Mục tiêu giáo dục: nhằm phát triển tối đa sự hiểu biết, kinh nghiệm, các năng lực
tiềm ẩn, các tố chất sẵn có của học sinh
+ NDGD: gồm các môn học bắt buộc môn học tự chọn phù hợp với đặc điểm của
người học; tri thức khoa học, năng, năng lực trong mỗi môn học phù hợp với nhu
cầu, hiểu biết, năng lực hiện tại của người học.
+ Chương trình giáo dục phải giúp tạo ra những sản phẩm “có thể đương đầu với
những đòi hỏi của nghề nghiệp không ngừng thay đổi, với một thế giới biến động khôn
lường” (J. White, 1995).
+ PPGD: Gắn liền với quan niệm “người học trung tâm” theo đó người thiết kế chú
trọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của chương trình giáo dục, chuyển hoá chương
trình giáo dục thành một quá trình bao gồm các hoạt động cần thiết giúp người học
phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có để đáp ứng những
mục tiêu giáo dục.
+ Kiểm tra đánh giá: Chú trọng vào khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề khả năng
bổ sung, hoàn thiện kiến thức của HS
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Nhu cầu hứng thú của từng thể trong quy trình đào tạo được coi điểm xuất
phát của việc xây dựng chương trình giáo dục, nhà trường chỉ cung cấp kiến thức cần
thiết và giới thiệu các phương thức tổ hợp kiến thức để đi tới một văn bằng xác định.
- Ưu điểm:
+ Chuyển hóa chương trình giáo dục thành một quá trình bao gồm các hoạt động cần
thiết giúp người học phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, nhu cầu, sở
trường, tố chất sẵn có để đáp ứng những mục tiêu giáo dục.
+ Hoạt động của người dạy người học trong quá trình dạy học được quan tâm hàng
đầu. Người dạy phải hướng dẫn người học tìm kiếm thu thập thông tin, gợi mở giải
quyết vấn đề, tạo cho người học điều kiện thực hành, tiếp xúc với thực tiễn, học
cách phát hiện vấn đề giải quyết vấn đề một cách sáng tạo; thông qua những giá trị
người học quý trọng thông qua việc kiên trì theo đuổi những giá trị đó, người
học phát triển được sự hiểu biết, phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân.
+ Giáo dục tập trung vào người học: Giúp người học chủ động, độc lập suy nghĩ, phát
triển tính tự chủ, khả năng sáng tạo trong giải quyết vấn đề.
+ Điều chỉnh quá trình tự đào tạo nhằm phát triển bản thân.
+ Người học có điều kiện thực hành tiếp xúc với thực tiễn.
+ Sản phẩm đào tạo đa dạng, giúp người học thích ứng với cuô |c sống hoạt đô|ng
nghề nghiê |p
+ Mang tính nhân văn vì cách tiếp |n này chú trọng đến lợi ích, nhu cầu của từng
nhân người học, chú trọng đến những giá trị mà mang chương trình mang lại;
+ CTĐT đáp ứng được nhu cầu của người học, quá trình đào tạo giúp người học phát
triển được tính tự chủ, khả năng sáng tạo trong viê |c giải quyết vấn đề. Viê |c xây dựng
CTĐT theo môđun cho phép người học với sự giúp đ} của người dạy thể tự mình
xác định lấy CTĐT cho riêng mình.
- Hạn chế:
+ Quá chú trọng đến nhu cầu và sở thích cá nhân mà không quan tâm nhiều đến lợi ích
cộng đồng.
+ Nhu cầu sở thích của cá nhân thường rất đa dạng và dễ thay đổi bởi điều kiện kinh tế-
xã hội nên chương trình đào tạo rất khó thỏa mãn và không có tính ổn định.
VD: Đây là cách tiếp cận trong xây dựng chương trình theo quan điểm “lấy người học
làm trung tâm” phổ biến ở Mỹ và các nước phương Tây những năm 70 của TK XX.
- Cách tiếp cận trong xây dựng chương trình theo mô hình VNEN, coi HS là trung tâm
trong quá trình GD, tạo động lực, phát huy các giá trị năng lực bản thân cho
HS.Đưa ra một chương trình học phong phú bổ ích, thúc đẩy việc học tập của học
sinh. Giúp học sinh tự tin, biết cách suy nghĩ, biết cộng tác, hợp tác với mọi ngườ, thúc
đẩy Hs tinh thần tự hoc. Hs đc làm chủhọc của mình. HS sẽ tự trả lời câu hỏi,
những học sinh khác sẽ nhận xét, bổ sung. Giáo viên không giảng giải, thuyết trình
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
nhiều chỉ đóng vai trò người tổ chức các hoạt động để học sinh tự tham gia các
hoạt động, tự trải nghiệm, tự chiếm lĩnh các tri thức. Giáo viênvai trò là người chốt
các kiến thức đúng. => mô hình VNEN thể hiện cách tiếp cận phát triển
VD2: Khi trải qua một quá trình giáo dục để đáp ứng cho cuộc cách mạng dành cho các
ngành khoa học kỹ thuật với những công nghệ mới tạo ra nhiều sản phẩm máy móc đa
dạng, hiện đại rất có giá trị sử dụng cao, thậm chí có thể thay thế con người trong nhiều
lĩnh vực hoạt động như: Máy cảm ứng từ, cửa tự đóng, báo động khi nguy hiểm, xe
ô tô tự lái, máy bay không người lái và nhiều loại phương tiện tự lái khác.
VD3: Để làm được một bài Tiểu luận tốt thì người học khi được giảng viên hướng dẫn
phải biết khéo léo trong việc chọn đề tài, vận dụng những hiểu biết trong cuộc sống biết
phát hiện vấn đề cũng như giải quyết các vấn đề mà trong đề tài cần nêu ra.
d. CÁCH TIẾP CẬN NĂNG LỰC
- Khái niệm: cách tiếp cận hướng đến việc hình thành phát triển hệ thống các
năng lực cần ở mỗi người học. Năng lực đây bao hàm kiến thức, kĩ năng, xảo,
động cơ, đạo đức và hành vi xã hội được hình thành, phát triển trong quá trình dạy học
ở nhà trường và tác động của gđ, xh
- Đặc điểm:
+ Cách tiếp cận này tập trung vào hình thành phát triển hệ thống năng lực cần
mỗi người học. Năng lực ở đây bao hàm cả kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, động cơ, đạo đức
hành vi hội được hình thành, phát triển trong quá trình dạy học nhà trường
tác động của gia đình, xã hội. Chương trình giáo dục tiếp cận năng lực, không chỉ cung
cấp kiến thức cho học sinhchú trọng nhiều hơn đến việc hình thành các biện pháp,
cách thức hoạt động linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả,… nhằm khơi dậy khả năng tìm kiếm,
giải quyết vấn đề của người học.
+ Giúp người học biết sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các tình
huống do thực tiễn cuộc sống đặt ra.
+ Nếu chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung yêu cầu học sinh trả lời câu
hỏi: thì chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực luôn đặt ra câubiết cái gì?
hỏi: biết làm gì từ những điều đã biết?
+ Đây cũng một cách tiếp cận “kết quả đầu ra” nhưng “kết quả đầu ra” ở đây không
phải một tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹng, thái độ rời rạc hệ thống
các năng lực tổng hợp.
+ Chương trình theo hướng phát triển năng lực cần có sự nhất quán từ việc xác định hệ
thống năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt
về năng lựctiêu chí đánh giá các năng lực chứ không chỉ đặt ra một khâu nào đó
của quy trình giáo dục
* Hiện nay các trường tiểu học cần đặc biệt quan tâm đến cách tiếp cận năng lực vì:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
- Cần đặc biệt quan tâm đây tưởng chủ đạo trong xây dựng chương trình phổ thông
mới, trong đó có chương trình GDTH.
- Chương trình theo hướng phát triển năng lực cần sự nhất quán từ việc xác định hệ
thống năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt về
năng lực tiêu chí đánh giá các năng lực chứ không chỉ đặt ra một khâu nào đó của
quy trình giáo dục.
- Ưu điểm:
+ Giúp người học biết sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã học gắn liền với cuộc sống để
giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra.
VD: chương trình giáo duc phổ thông mới, môn toán tiểu học thêm hoạt động trải
nghiệm, thông qua hoạt động này HS sẽ hội áp dụng các kiến thức đã được học
thực tế cuộc sống. Như học bài đơn vị đo độ dài Toán 1, các em biết đc đơn vị đo độ dài là
cm, từ đó thể áp dụng vào việc thực hành đo độ dài cái bàn, cái bảng, độ dài gang tay,
…Học bài xem đồng hồ => có thể xem được giờ chính xác, học bài tiền Việt Nam => biết
các mua hàng trong thực tế, biết thối tiền,…
+ Sản phẩm của chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội.
VD: môn TV tiểu học, khi hoàn thành CTTH đòi hỏi HS phải trang bị đầy đủ các kỹ
năng nghe, nói đọc, viết thành thạo để có thể học lên ở bậc cao hơn.
+ Phát huy tối đa năng lực, sở trường của người học.
VD: Qua quá trình học tập, GV nhận thấy ở HS đónăng lực đặc biệt nào như năng lực
tính toán tốt, giao tiếp tốt, duy tốt, giải quyết vấn đề nhanh chính xác,…Qua đó GV
có các biện pháp bồi dư}ng, phụ đạo kịp thời để phát huy và nâng cao năng lực đó cho HS.
- Hạn chế:
+ Đòi hỏi phải sự thay đổi đồng bộ từ mục tiêu - nội dung - phương pháp - tổ chức -
đánh giá của quá trình giáo dục.
VD: sắp tới CTGDPT mới được áp dụng vào cấp 1 cấp 2 ì vậy cần phải thay đôiỉ ND,
PP PT học để đáp ứng quá trình CNH-HĐH đất nước. CT còn nhiều vấn đề nên việc
thay đổi ND, PP cần có nhiều thời gian để cbi.
+ Đòi hỏi phải sự phối hợp đồng bộ giữa người dạy - người học, giữa nhà trường - gia
đình - xã hội.
VD: Cách tiếp cận trong XD CT GDPT mới đang đc triển khai VN nhiều nước trên
TG đang hướng tới việc phát triển năng lực cho HS. Qua đó ND các môn học ngoài việc
học kiến thức sẽ được đan xen với các HĐ thực tiễn => giúp HS trải nghiệm, sáng tạo qua
đó hướng nghiệp cho các em trong tương lai, mục tiêu giáo dục tiểu học không chỉ chú ý
“chuẩn bị cho học sinh những sở ban đầu của việc hình thành phát triển hài hoà về
thể chất tinh thần, được những kiến thức kỹ năng bản nhất để tiếp tục học
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
THCS”, còn chú ý yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực nhấn mạnh “định hướng
chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập
sinh hoạt”, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của XH, của cuộc cách mạng KH-CN 4.0.
- dụ: Đây cách tiếp cận trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
đang được triển khai ở Việt Nam. Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông
qua tất cả các môn học hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
b) Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học
hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa
học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
CÂU 2: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC: KHÁI NIỆM, NGUYÊN
TẮC, QUY TRÌNH THỰC HIỆN ( TRANG 25)
A. KHÁI NIỆM: Phát triển chương trình giáo dục một phạm trù quan trọng trong quá
trình định hướng, tổ chức các hoạt động giáo dục, làm cho giáo dục nói chung chương
trình giáo dục nói riêng ngày càng trở nên hoàn thiện hiệu quả hơn. . Việt Nam, thời
gian gần đây cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề phát triển
chương trình giáo dục.
Theo GS. Nguyễn Đức Chính (2008), Chương trình giáo dục không dừng lại việc
thiết kế một quá trình liên tục, phát triển nhằm hoàn thiện không ngừng. Do vậy,
chương trình giáo dục một thực thể không phải được thiết kế một lần dùng cho mãi
mãi, được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, của thành tựu khoa học - kĩ thuật và công nghệ, của thị trường sử dụng lao
động.
Nói cách khác, phát triển chương trình giáo dục thực chất chính những đợt cải cách
giáo dục để đổi mới/ điều chỉnh chương trình.
VD1: +CTGDPT đất nước ta đã trải qua nhiều lần cải cách. Trước năm 1975 Đất nước
ta đang bị chia cắt 2 miền, thì nền GD VN phù hợp với hoàn cảnh của đất nước vừa xây
dựng miền bắc vừa giải phóng miền nam. Sau năm 1975 đã trải qua 3 đợt cải cách, đó
đợt cải cách năm 1983, phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong những năm đầu thống nhất 2
miền, phù hợp với thời điểm sở vật chất nc ta đag nghèo thiếu thốn. Đợt cải cách
năm 1993; đợt cải cách năm 2000, hợp với thời kỳ CNH-HĐH. hiện nay, đất nước
ta đang thực hiện đợt đổi mới lần thứ 4 để đào tạo ra những con người phù hợp với thời đại
mới, thời đại 4.0. ( đúng)
+ Có 1 số nội dung không phù hợp với điều kiện cụ thể của học sinh, nhà trường cần
sự thay đổi phù hợp nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu cần đạt trong CTGDPTQG
( đúng)
VD2: VD2 : (Đúng)
-Sự thay đổi chương trình từ CTGDPT 2006 được Bộ giáo dục phát triển hình
thành nên chương trình mới là CTGDPT 2018.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
- Chương trình GDPT 2018 đã được áp dụng vào việc dạy học các cấp, với sự thay
đổi tích cực hiện đại hơn so với chương trình 2006 về các tiêu chí như : quan điểm ,
mục tiêu, nội dung, phương pháp,yêu cầu cần đạt , đánh giá.
- Nhờ sự phát triển chương trình CTGDPT 2018 có nhiều ưu điểm rất nổi trội ,
giúp học sinh phát triển toàn diện hơn về mạch kiến thức,và mạch kiến thức được áp dụng
vào thực tế đời sống, học sinh được lĩnh hội kiến thức một cách chủ động hiệu quả,
không bị gò bó trong một phạm vi sách vở hay kiến thức cụ thể, bên cạnh đó thì CTGDPT
2018 có nhiều bộ sách sgk hơn so với CTGDPT 2006 khi chỉ có một bộ sgk duy nhất .
VD: Từ năm 2001 -2017 thực hiện CTGD TH cũ (CT 2001). Qua thời gian triển khai thực
hiện bộc lộ những hạn chế, không phù hợp với sự phát triển của đất nước. Do đó cần phải
thay đổi chương trình dẫn đến sự ra đời của CTGDPT mới (CT 2018)
TIỀN ĐỀ:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
B. NGUYÊN TẮC: (6 Nguyên tắc):
Đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo.
Đảm bảo phân định đúng trình độ đào tạo, cấu trúc và khối lượng kiến thức
theo bậc học.
Đảm bảo có sự phân định theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực
vận hành.
Đảm bảo chất lượng đào tạo
Đảm bảo hiệu quả và hiệu suất đào tạo
Đảm bảo tính sư phạm của chương trình đào tao'
(1) Đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo.
+ Mục tiêu đào tạo một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình
thành một đối tượng được đào tạo nhất định. Đó một hệ thống cụ thể các yêu cầu
hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng
được đào tạo.
Do đó, mục tiêu đào tạo phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển
hội mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người. Mục tiêu đào tạo được thể hiện
trong các văn bản của nhà nước mà cụ thể là trong Luật giáo dục.
Nguyên tắc đầu tiên và là quan trọng nhất khi phát triển chương trình giáo dục là phải đảm
bảo mục tiêu đào tạo. Bởi vì, mục tiêu đào tạo yếu tố chi phối nội dung chương trình,
định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo cách thức đánh giá chất lượng
đào tạo của toàn bộ chương trình.
Theo Luật giáo dục 2005:
“Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý
thức phục vụ nhân dân, kiến thức năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với
trình độ được đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ các kỹ năng bản, phát triển năng lực nhân, tính năng động
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
“GD tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp
tục học trung học cơ sở”.
Nguyên tắc đầu tiên và là quan trọng nhất khi phát triển chương trình giáo dục là phải đảm
bảo mục tiêu đào tạo. Bởi vì, mục tiêu đào tạo yếu tố chi phối nội dung chương trình,
định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo cách thức đánh giá chất lượng
đào tạo của toàn bộ chương trình.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Cần được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển CTGD đặc biệtđảmnhận thức
bảo nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo của phát triển CTGD; họchành động
tập, nghiên cứu văn bản nội dung chương trình, SGK, mục tiêu đào tạo nhìn nhận
những ưu nhược của CT hiện hành, nghiên cứu đặc điểm tình hình của nhà trường
địa phương, phải đảm bảo nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục chất lượng
giáo dục, đảm bảo nguyên tắc lộ trình, kế hoạch, tính khả thi, tránh việc xây dựng kế
hoạch diễn ra tùy tiện, đảm bảo nguyên tắc đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ, sự
phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các quan quản giáo dục, các trường khoa
phạm với các trường phổ thông.
VD: Trong CTGDPT tổng thể (2018) nêu lên mục tiêu đào tạo của chương trình giáo dục
tiểu học: “Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu
tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất tinh thần, phẩm chất
năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng
đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.”
(2) Đảm bảo phân định đúng trình độ đào tạo, cấu trúc và khối lượng kiến thức theo
bậc học
- Đảm bảo phân định đúng trình độ đào tạo (trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; trung
học phổ thông, trung học cơ sở...)
Giáo dục tiểu học
Được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến hết lớp 5. Học
sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học sẽ học
tiếp lên trung học cơ sở.
Giáo dục THCS
Tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu
học.
Được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp 9. Học
sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục THCS có thể học
tiếp lên THPT hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ
sơ cấp và trung cấp.
Giáo dục THPT
Tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục THCS.
Được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến hết lớp 12. Học
sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc
theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Giáo dục sơ cấp (dạy nghề): giúp người học có kỹ năng thực hiện được các công việc
đơn giản của một nghề nào đó.
Giáo dục trung cấp: thời gian đào tạo tối thiểu 1 năm nếu đã tốt nghiệp THPT hoặc từ 2
đến 3 năm học nếu tốt nghiệp THCS. Người học sau khi tốt nghiệp trình độ trung cấp
thể được học tiếp lên trình độ cao đẳng, đại học, đồng thời đã tốt nghiệp THPT hoặc tương
đương.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Giáo dục cao đẳng:
Chương trình đào tạo cao đẳng khối lượng học tập tương đương 3 năm nếu đã tốt
nghiệp THPT hoặc từ 1 đến 2 năm với người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp. Người tốt
nghiệp trình độ cao đẳng thể học tiếp lên đại học theo hướng chuyên môn phù hợp,
hoặc theo các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện.
Giáo dục đại học
Thời gian đào tạo đại học tương đương 4- 5 năm nếu đã tốt nghiệp THPT hoặc 2-3.5 năm
với người đã tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng muốn liên thông lên Đại học.
- Đảm bảo cấu trúc và khối lượng kiến thức của bậc học theo qui định (Kiến thức giáo dục
đại học đại cương, Kiến thức giáo dục đại học chuyên nghiệp, kiến thức sở, kiến thức
cơ bản, kiến thức chuyên ngành...)
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
VD: Trong CTGDPT 2018 kiến thức được phân thành 2 bậc: giai đoạn kiến thức bản
(từ lớp 1-9): phổ thông; 10-12 chuyên sâu chuẩn bị cho nghề nghiệp
VD: CT đào tạo ĐH ngành GDTH: kiến thức giáo dục đại học đại cương như triết học
Mác nin, CNXHKH, Kinh tế chính trị,…và kiến thức chuyên ngành như ppdh toán
tiểu học ,…
(3) Đảm bảosự phân định nội dung theo KHỐI KIẾN THỨC TRÌNH ĐỘ KIẾN
THỨC.
- Đảm bảo có sự phân định nội dung theo các KHỐI KIẾN THỨC
Việc phân định nội dung kiến thức, tuỳ thuộc vào mục tiêu thiết kế một chương trình đào
tạo, một chương trình môn học những cách phân định khác nhau, phổ biến nhất
các cách phân định sau đây:
+ Kiến thức bản: những kiến thức nền tảng để tiếp thu phát triển kiến thức của
một ngành khoa học. Thí dụ, các kiến thức Toán học, Vật Hoá học các kiến thức
bản cho các ngành khoa học tự nhiên. Các kiến thức Triết học, Kinh tế học Ngôn
ngữ học những kiến thức bản cho các ngành khoa học hội/Nhân văn. Những
người nắm vững khối kiến thức bản những người trình độ đại học đại cương
(tương đương trình độ cao đẳng).
+ Kiến thức sở: những kiến thức nền tảng của một ngành khoa học. Những người
nắm vững khối kiến thức bản sở của một ngành khoa học, đó những người
trình độ Cử nhân đại học (Bachelor) ngành đó.
+ Kiến thức chuyên ngành: những kiến thức về một phân ngành của một ngành khoa
học. Những người nắm vững kiến thức một chuyên ngành khoa học những người
trình độ Thạc sỹ (Master) chuyên ngành đó.
+ Kiến thức chuyên sâu: những kiến thức đầy đủ, chi tiết cập nhật của một nhánh
trong một chuyên ngành khoa học. Những người nắm vững kiến thức chuyên sâu đến mức
thể sáng tạo thêm kiến thức cho chuyên ngành đó những người trình độ Tiến sỹ
(Doctor)
Cùng với sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khoa học, khối kiến thức bản cũng tăng
lên. Ví dụ như Tin học, ngày nay đã trở thành kiến thức bản của tất cả các ngành khoa
học; Toán học cũng đã trở thành kiến thức bản của các ngành khoa học hội-Nhân
văn. Việc phân chia các kiến thức cơ bản haysở chỉ là tương đối. dụ kiến thức “Cơ
học lượng tử” là kiến thức cơ bản của ngành Hoá học, nhưng là kiến thức cơ sở của ngành
Vật lý.
Trong thực tế, khi thiết kế chương trình đào tạo, người ta còn phân định nội dung qua các
khối kiến thức đại cương (tổng quát), kiến thức chuyên môn và kiến thức nghiệp vụ:
+ Kiến thúc đại cương/tổng quát/nền tảng: bao gồm các kiến thức cơ bản và một phần kiến
thức cơ sở ngành. Với mục tiêu đào tạo “thầy”, ngườitiềm năng tiếp tục phát triển theif
tỷ lệ kiến thức bản với kiến thức sở chuyên ngành chiếm khoảng ¾; với mục tiêu
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
đào tạo “thợ”, người làm được việc ngay, những kém năng lực phát triển, tỷ lệ này chiếm
khoảng ½.
+ Kiến thức chuyên môn: bao gồm kiến thức sở ngành kiến thức chuyên ngành của
một ngành khoa học. Ở bậc đại học tỷ lệ của khối này thường là ¾, ở bậc cao học tỷ lệ này
thường là 1/3
+ Kiến thức nghiệp vụ: khối kiến thức mang tính vận hành, năng lỹ xảo, triển khai
thực hiện các hoạt động thuộc ngành khoa học. Khối kiến thức này đôi khi được tích hợp
trong từng môn học, trong từng bài gairng của chương tình đào tạo từng ngành.
VD: CT đào tạo ĐH ngành GDTH: kiến thức giáo dục đại học đại cương như triết học
Mác nin, CNXHKH, Kinh tế chính trị,…và kiến thức chuyên ngành như ppdh toán
tiểu học ,…
- Đảm bảo có sự phân định nội dung theoTRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC.
Trong phát triển chương trình phần lớn người ta phân định nội dung theo trình độ từ 100-
700 cho các học phần, cụ thể:
+ Trình độ 100: để tiếp thu tình độ 1000 chỉ đòi hỏi các kiến thức đã học ở phổ thông trung
học.
+ Trình độ 200: để tiếp thu trình độ 200 đòi hỏi phải có kiến thức đã học ở phổ thông trung
học và những kiến thức liên quan đã học trình độ 100. Kiến thức 100 200 chủ yếu
các kiến thức nền tảng (kiến thức cơ bản) của lĩnh vực.
+ Trình độ 300: để tiếp thu trình độ 300 đòi hỏi phải các kiến thức liên quan đã học
các trình độ 100 và 200. Kiến thức 300 chủ yếu dành cho các kiến thức cơ sở của ngành.
+ Trình độ 400: để tiếp thu tình độ 400 đòi hỏi phải các kiến thức liên quan đã học
các trình độ 100, 200 300. Kiến thức 400 chủ yếu các kiến thức nhập môn chuyên
ngành.
+ Trình độ 500: hiệu cho các kiến thức thuộc trình độ đại học (100, 200 300) được
nâng cao. Đây là kiến thức dành cho bậc cao học.
+ Trình độ 600: hiệu cho các kiến thức chuyên ngành (400) nâng cao. Đây là kiến thức
dành cho bậc cao học.
+ Trình độ 700: hiệu cho các kiến thức chuyên sâu. Đâykiến thức dành cho bậc tiến
sĩ.
Căn cứ vào sự phân định này, các cơ sở đào tạo thiết kế chương tình và xây dựng kế hoạch
đào tạo. Trong kế hoạch đào tạo theo niên chế, phần lớn các học phần được xếp theo tình
độ tương ứng với năm học. Trong kế hoạch đào tạo theo tín chỉ, người học phải xây dựng
kế hoạch đào tạo của mình theo logic trình độ môn học đa xcoong bố và phải bao gồm đầy
đủ các loại trình độ theo tỷ lệ thích hợp mưới được xét tốt nghiệp.
VD:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
(4) Đảm bảo sự phân định theo năng lực nhận thức, năng lực duy năng lực
vận hành.
Trong khoa học tâm lý giáo dục, ở một góc độ nào đó, người ta cũng có thể phân định nội
dung kiến thức theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành (kỹ năng kỹ
xảo). Cụ thể:
- Phân định theo năng lực nhận thức: được phân chia thành 6 cấp độ như sau:
+ Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ các nguyên dưới hình thức sinh viên đã
được học.
+ Hiểu: hiểu các liệu đã được học, sinh viên phải khả năng diễn giải, tả tóm tắt
thông tin thu nhận được.
+ Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã
học.
+ Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận biết sự liên hệ giữa các thành phần
đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng.
+ Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu.
+ Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí
xác định.
- Phân định theo năng lực tư duy: có thể phân chia thành 4 cấp độ:
+ Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hoá, tống quát hoá ngoài khuôn khổ
sẵn.
+ Tư duy hệ thống: suy luận theo một cách toàn diện, hệ thống trước một sự kiện, một hiện
tượng.
+Tư duy phê phán: suy luận một cách có căn cứ, có nhận xét, có phê phán.
+ duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng ngoài các khuôn kh định
sẵn, tạo ra những cái mới.
- Phân định nội dung kiến thức về năng lực vận hành (kỹ năng kỹ xảo): được phân
chia thành 5 cấp độ từ thấp đến cao:
+ Bắt chước: quan sát và cố gắng lặp lại một kỹ năng nào đó.
+ Thao tác: hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn không còn là bắt chước máy móc.
+ Chuẩn hoá: lặp lại kỹ ng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng đắn, thường
thực hiện một cách độc lập, không phải hướng dẫn.
+ Phối hợp: kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách nhịp nhàng ốn
định.
+ Tự động hóa: hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Việc phân định nội dung kiến thức theo năng lực nhận thức lực duy hay theo năng
lực vận hành sở khoa học để xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung dạy học, yêu
cầu kiểm tra đánh giá của các môn học với chất lượng mong muốn cho từng chương trình
đào tạo cụ thể.
VD: Trong môn Toán ở tiểu học: Biết (tính nhẩm); Hiểu (đặt tính rồi tính); Áp dụng (tính
số lượng đồ vật trong gia đình)
(5) Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Nghĩa là việc phát triển chương trình giáo dục phải đảm bảo mức độ đáp ứng được các tiêu
chuẩn và mục tiêu giáo dục đề ra.
Để đảm bảo chất lượng đào tạo, chương trình cần được xây dựng theo các yêu cầu sau đây:
- Đảm bảo đào tạo được những bậc cao các năng lực nhận thức, năng lực thực hành,
năng lực tư duy và phẩm chất cần thiết cho người học
Muốn đào tạo bậc cử nhân chất lượng cao, thì ngay từ khi xây dựng chương trình đào
tạo đã phải chọn lọc các kiến thức để thể dạy học các kiến thức đó các bậc năng
lực cao cho mỗi khối kiến thức, cho mỗi môn học trong một thời lượng giới hạn cho trước.
Việc chọn lọc các kiến thức để đưa vào chương trình do cách tiếp cận khác nhau trong quá
trình xây dựng. Trước đây, một thời người ta tiếp cận theo nội dung, nghĩa là có bao nhiêu
nội dung của khối kiến thức, của môn học đó đều đưa vào chương trình. Sau rồi kiến thức
tích lũy ngày càng nhiều, thời lượng hạn, người ta phải tiếp cận theo mục tiêu, tức
chọn lọc các kiến thức cốt lõi để đưa vào chương trình theo mục tiêu đào tạo đã định.
Nhưng ngày nay, ngay cả chọn lọc các kiến thức cốt lõi cũng không suôn sẻ nữa kiến
thức phát triển đã đến giai đoạn theo cấp số nhân, vậy phải chuyển sang cách tiếp cận
năng lực, đó cách tiếp cận coi giáo dục trong nhà trường, đặc biệt nhà trường phổ
thông là giáo dục ban đầu nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cần
thiết để học sinh còn phải học thường xuyên và học suốt đời.
vậy theo cách tiếp cận này, trường đại học nơi dạy phương pháp tiếp thu kiến thức,
tức là đào tạo năng lực nhận thức, kĩ năng thực hành cơ bản, năng lực tư duy và phẩm chất
nhân văntrình độ đại học dành cho sinh viên, khi đó thời lượng chương trình dành một
phần cho kiến thức cốt lõi kiến thức rộng, còn phần lớn dành cho phương pháp nhận
thức. Phương pháp nhận thức thể được đưa vào chương trình của từng môn học hay
được tách ra thành các môn học riêng tùy theo từng ngành khoa học mục tiêu đào tạo
của chương trình.
+ Đảm bảo tính khoa học, tính cập nhật và tính khả thi của chương trình đào tạo.
Một chương trình đào tạo đảm bảo tính khoa học khi kết quả của một công trình
nghiên cứu khoa học, được cộng đồng các nhà khoa học công nhận; đồng thời nó đã được
kiểm nghiệm qua thực tiễn.
Tính cập nhật của chương trình thể hiện ở sự phản ánh những thành tựu của đất nước. khu
vực thế giới về khoa học xây dựng chương trình. Yêu cầu này được thể hiện trong
xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới của nước ta: Xây dựng chương trình theo

Preview text:

FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC PHẦN
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN HỌC
(Dành cho sv năm thứ 3 khoa gdth)
1. Các cách tiếp cận trong xây dựng chương trinh giáo dục: Khái niệm, đặc
điểm; ưu điểm, hạn chế; Ví dụ minh họa.
2. Phát triển chương trình giáo dục: Khái niệm, nguyên tắc, quy trình thực hiện;
3. Phát triển chương trình nhà trường: Khái niệm, nguyên tắc, quy trình thực hiện;
4. Phân tích để làm rõ mục tiêu phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản thân.
5. Phân tích để làm rõ nội dung phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản thân.
6. Phân tích để làm rõ vai trò của giáo viên trong phát triển chương trình nhà
trường. Liên hệ bản thân.
7. Phân tích để làm rõ nội dung cấu trúc, điều chỉnh chương trình môn học, hoạt
động giáo dục trong phát triển chương trình nhà trường. Liên hệ bản thân.
8. So sánh những đặc trưng cơ bản cho phép phân biệt giữa phát triển chương
trình giáo dục quốc gia và phát triển chương trình giáo dục nhà trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Trọng Chiến (2020), Phát triển chương trình giáo dục nhà trường
tiểu học, Bài giảng (Lưu hành nội bộ), ĐHSP Huế.
2. Trần Thanh Bình, Phan Tấn Chí (2014), Năng lực quản lí và phát triển
chương trình ở Trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam.
3. Nguyễn Đức Chính (2011), Phát triển chương trình đào tạo, tập bài giảng,
Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội
4. Nguyễn Văn Khôi (2011), Phát triển chương trình giáo dục, NXB Đại học
Sư phạm Hà Nội.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
………………………@…………………………..
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
CÂU 1. CÁC CÁCH TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC: KHÁI NIỆM, ĐẶC
ĐIỂM; ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ; VÍ DỤ MINH HỌA. ( TRANG 7)

a. Cách tiếp cận nội dung:
* Khái niệm:
Coi giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức,cách tiếp cận nội
dung đưa ra định nghĩa: “Chương trình giáo dục là bản phác thảo về nội dung giáo
dục, qua đó người dạy biết mình phải dạy những gì và người học biết mình cần phải
học những gì”
.Theo cách tiếp cận này thì giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung -
kiến thức; và mục tiêu của giáo dục chính là truyền thụ kiến thức cho người học.
Ví dụ: - Học cái gì ( kiến thức); Làm được gì ( kĩ năng); Thái độ => Được xd theo
cách tiếp cận nội dung
- Đặc điểm:
+ Giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức và mục tiêu của giáo dục chính
là truyền thụ kiến thức cho người học, người học sẽ phải nắm toàn bộ những tri thức ấy. ( R)
+ Chương trình giáo dục quan tâm trước hết và chủ yếu đến khối lượng tính hệ thống,
độ sâu, mức độ khái quát hóa của kiến thức cần truyền thụ. ( R)
+ Chương trình giáo dục thường mang tính “hàn lâm” và tính hệ thống, nặng về lí
thuyết, nhẹ về ứng dụng thực hành. ( R)
< Hệ thống: Từ trực quan… tư duy trừu tượng -> kế thừa ưu điểm…>
< Hàn lâm: Chi tiết,đầy đủ từ hình thành đến phát triển>
+ NDGD: Nội dung kiến thức được trình bày một cách hệ thống, logic và kiến thức được
trình bày liền mạch và gắn với từng lớp, từng độ tuổi.
+ Cách thức thực hiện: PP được sử dụng ở đây chủ yếu là những PP thiên về truyền đạt
tri thức như: PP giảng giải, thuyết minh,…
+ Hình thức thực hiện: chủ yếu là dạy trong lớp, dạy theo hình thức đồng loạt
+ PTDH: chủ yếu là phương tiện truyền đạt tri thức nhưu phấn trắng, bảng đen, trình
chiếu kiến thức đơn thuần, tranh ảnh sử dụng để minh họa.
+ Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu chỉ giới hạn ở việc kiểm tra mức độ nhận biết,
khả năng tái hiện tri thức. - Ưu điểm:
+ Nội dung được lựa chọn dựa vào các khoa học chuyên môn, được quy định chi tiết
trong chương trình. Nội dung kiến thức đảm bảo tính khoa học, chính xác.
+ Chương trình bảo đảm tính logic, hệ thống. Tạo điều kiện hình thành ở người học hệ
thống các tri thức khoa học đầy đủ.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Xác định rõ nội dung dạy học, người dạy biết họ phải làm gì, người học biết mình
cần học cái gì, tiếp cận nội dung gì.
+ Người học nắm bắt được 1 lượng tri thức lớn trong khoảng thời gian ngắn.
+ GV có khả năng truyền đạt 1 lượng tri thức lớn đến người học mà không cần nhiều
công sức và tiết kiệm thời gian. - Hạn chế:
+ Khó xác định được chuẩn để kiểm tra đánh giá, khó đánh giá mức độ hoàn thành
chương trình dạy của giáo viên.
+ Chương trình giáo dục thường mang tính “hàn lâm” và hệ thống, nặng về lí thuyết,
nhẹ về thực hành, ứng dụng.
+ Ít chú ý đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu hứng thú và điều kiện của người học.
+ Các kiến thức cũng thường được chỉ được truyền thụ một chiều từ thầy đến trò làm
hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, người học bị thụ động phụ
thuộc trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
+ Kiểm tra, đánh giá: Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu chỉ giới hạn ở việc kiểm
tra mức độ, khả năng tái hiện tri thức. * Kết luận
Nếu chỉ chú trọng đến nội dung kiến thức mà bỏ qua hoặc không đề cập đến các yếu
tố khác như mục tiêu, quy trình đào tạo,… thì chương trình đó khó có thể phù hợp với
yêu cầu cầu XH và nhu cầu của người học.
VD: Đây là cách tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục đại học, cao đẳng theo niên
chế ở Việt Nam trước đây, hay CTGDPT năm 2001.
Đây là cách tiếp cận được vận dụng trong xây dựng chương trình giáo dục tiểu học
năm 2001, chương trình công nghệ giáo dục hay chương trình đào tạo theo tín chỉ ở đại học, cao đẳng
+ Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn bị sẵn..
+ Chương trình đào tạo theo niên chế có khối kiến thức này bố trí theo một tỷ lệ nhất định.
=> Hiện nay, giáo dục học đại học của chúng ta cũng đang dần có bước đổi mới. Đó là
kết quả của việc nhìn nhận và tiếp cận chương trình theo hướng mới
VÍ dụ 2: Đây là cách tiếp cận, xây dựng CT đào tạo đại học, cao đẳng theo niên chế ở
VN trước đây. Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo
chuẩn bị sẵn… Sinh viên chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của
nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt. GV biết mình sẽ dạy
những gì và sinh viên biết mình phải học những gì, phương pháp giảng dạy chương
trình theo niên là người dạy cố gắng truyền đạt những kiến thức trong phạm vi môn học
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
được giao, người học thụ động lắng nghe, ghi chép chủ yếu học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng.
Chương trình đào tạo theo niên chế có khối kiến thức này bố trí theo một tỷ lệ nhất
định. Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc
và các bậc học tiếp theo, còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng
một trình độ đào tạo. Vì vậy chương trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng
lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập=> không tận dụng được hiệu quả đào tạo. Trong
đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất
khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá
trình công tác sau này, như người học muốn có thêm kiến thức về tin học, ngoại ngữ, về quản lý kinh tế.
=> Hiện nay, giáo dục học đại học của chúng ta cũng đang dần có bước đổi mới. Đó là
kết quả của việc nhìn nhận và tiếp cận chương trình theo hướng mới.
Đây cũng là cách tiếp cận trong xây dựng chương trình GDPT cũ (năm 2000)
nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành.

b. CÁCH TIẾP CẬN MỤC TIÊU - Khái niệm:
Cách tiếp cận mục tiêu xem chương trình giáo dục là một bản kế hoạch phản ánh các
mục tiêu mà nhà trường theo đuổi, kế hoạch này cho biết nội dung cũng như những
phương pháp dạy học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra. - Đặc điểm:
+ Cách tiếp cận này chú trọng mục tiêu chương trình và sản phẩm đầu ra.
+ Mục tiêu giáo dục được thể hiện dưới dạng mục tiêu đầu ra của quy trình giáo dục,
biểu hiện qua những thay đổi về hành vi người học trong các lĩnh vực nhận thức, kĩ
năng và thái độ từ lúc bắt đầu tới lúc kết thúc khoá học.
VD: Tự tin -> khi bản thân rèn được tính tự chủ, tự học và những thói quen sinh hoạt được tốt nhất
+ Mục tiêu giáo dục phải được xây dựng rõ ràng sao cho có thể định lượng được và
dùng nó làm tiêu chí để đề ra nội dung kiến thức giáo dục, phương pháp giảng dạy cần
thực hiện để đạt được mục tiêu, phương pháp đánh giá thích hợp theo các mục tiêu và
đánh giá được hiệu quả của quá trình giáo dục.
+ Nội dung: Kiến thức, kĩ năng và thái độ đều được thực hiện theo chuẩn mục tiêu đã định.
+ Cách thức thực hiện: dựa vào mục tiêu giáo dục để lựa chọn cách thức giáo dục để
hướng tới mục tiêu ấy
+ Kiểm tra đánh giá: đối chiếu kết quả của người học với mục tiêu đã đề ra trước đó.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Cách tiếp cận mục tiêu hi vọng có thể chuẩn hoá quy trình xây dựng chương trình
giáo dục cũng như quy trình giáo dục theo một công nghệ nhất định. Giống như một
quy trình công nghệ, các bước trong quá trình giáo dục đều được thiết kế chặt chẽ
nhằm tạo ra sản phẩm giáo dục với một chất lượng đồng đều theo các chỉ tiêu kĩ thuật. Do vậy, CTGD được
xây dựng theo cách tiếp cận này còn được gọi là “CTGD kiểu công nghệ”
Chương trình vận dụng khoa học- công nghệ vào trong giáo dục chương trình được xây
dựng theo hướng mục tiêu -> chương trình theo hướng công nghệ giáo dục.
* Các trường tiểu học cần quan tâm đến cách tiếp cận năng lực vì:
+ Vì đây là tư tưởng chủ đạo trong xây dựng CTPT mới, trong đó có CT GDTH
+ CT theo hướng phát triển năng lực cần có sự thống nhất từ việc xác định hệ thống
năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt về các
năng lực và tiêu chí đánh giá các năng lực không phải chỉ đặt ra ở 1 khâu nào đó của quá trình giáo dục
- Ưu điểm:
+ Mục tiêu đào tạo cụ thể, rõ ràng và chi tiết tạo thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và chất lượng CTĐT.
+ Người học và người dạy biết rõ cần phải dạy và học như thế nào để đạt được mục tiêu.
+ Cho phép xác định rõ ràng các hình thức đánh giá kết quả học tập của người học (Theo chuẩn KT, KN). - Hạn chế:
+ Sản phẩm đào tạo phải đồng nhất ở đầu ra trong khi nguyên liệu đầu vào là những
con người lại rất khác nhau về năng lực và hoàn cảnh, nguồn gốc, văn hóa,… do đó
việc áp dụng một quy trình công nghệ đào tạo trên cơ sở mục tiêu xác định cứng nhắc
là khó có thể duy trì lâu.
+ Không phát huy hết năng lực, sở trường của mỗi HS.
+ Việc rèn đúc mọi người học theo một khuôn mẫu nhất định làm người học vẫn ở
trạng thái bị động, giáo điều, máy móc, thiếu tính sáng tạo. Các khả năng tiềm ẩn của
mỗi cá nhân người học không được quan tâm phát huy năng lực, nhu cầu và sở thích
riêng của người học khó được đáp ứng (nó cân bằng, không thấy được sự phân hóa
trong quá trình phát triển, không khuyến khích được học sinh giỏi vươn lên).
+ Chỉ dừng lại ở một quá trình học tập mà chưa định hướng rõ ràng phương hướng
phấn đấu trong tương lai của người học.
VD: Cách tiếp xây dựng CT giáo dục tiểu học năm 2000. Cách XD này chỉ rõ mục tiêu
cần đạt sau mỗi cấp học. Ví dụ: Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
hài hòa về thể chất và tinh thần, hình thành các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học lên
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
THCS, đưa ra các mục tiêu cụ thể về PP và Hình thức tổ chức các hoạt động GD, mục
tiêu của đánh giá keets quả gd cụ thể. Tuy nhiên chương trình này vẫn còn nặng về kiến
thức, nhẹ về kỹ năng, đặc biệt là chưa tiếp cận theo hướng phát triển phẩm chất năng
lực cho HS, chưa đạt được mục tiêu phân luồng do nội dung thiếu định hướng nghề nghiệp.
VD 2: Đây là cách tiếp cận được vận dụng trong xây dựng chương trình giáo dục tiểu
học 2001, chương trình công nghệ giáo dục hay chương trình đào tạo theo tín chỉ ở đại học, cao đắng.
c. CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN - Khái niệm:
Cách tiếp cận phát triển xem
chương trình giáo dục là một quá trình, còn mục tiêu giáo dục là sự phát triển.
Giáo dục là một quá trình phát triển, tiếp diễn liên tục suốt đời, góp phần phát triển mọi
năng lực tiềm ẩn của con người.
Hướng tới phát triển những phẩm chất và năng lực của người học thông qua các kiến
thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại. - Đặc điểm:
+ Chú trọng đến sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học, phát triển tư duy
logic, năng lực sáng tạo về mọi mặt cho người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức
đã được xác định từ trước một cách đơn lập để trong một giới hạn nhất định; đáp ứng
tối đa nhu cầu, khả năng của học sinh.
+ Mục tiêu giáo dục: nhằm phát triển tối đa sự hiểu biết, kinh nghiệm, các năng lực
tiềm ẩn, các tố chất sẵn có của học sinh
+ NDGD: gồm các môn học bắt buộc và môn học tự chọn phù hợp với đặc điểm của
người học; tri thức khoa học, kĩ năng, năng lực trong mỗi môn học phù hợp với nhu
cầu, hiểu biết, năng lực hiện tại của người học.
+ Chương trình giáo dục phải giúp tạo ra những sản phẩm “có thể đương đầu với
những đòi hỏi của nghề nghiệp không ngừng thay đổi, với một thế giới biến động khôn lường” (J. White, 1995).
+ PPGD: Gắn liền với quan niệm “người học là trung tâm” theo đó người thiết kế chú
trọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của chương trình giáo dục, chuyển hoá chương
trình giáo dục thành một quá trình bao gồm các hoạt động cần thiết giúp người học
phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có để đáp ứng những mục tiêu giáo dục.
+ Kiểm tra đánh giá: Chú trọng vào khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề và khả năng
bổ sung, hoàn thiện kiến thức của HS
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Nhu cầu và hứng thú của từng cá thể trong quy trình đào tạo được coi là điểm xuất
phát của việc xây dựng chương trình giáo dục, nhà trường chỉ cung cấp kiến thức cần
thiết và giới thiệu các phương thức tổ hợp kiến thức để đi tới một văn bằng xác định. - Ưu điểm:
+ Chuyển hóa chương trình giáo dục thành một quá trình bao gồm các hoạt động cần
thiết giúp người học phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, nhu cầu, sở
trường, tố chất sẵn có để đáp ứng những mục tiêu giáo dục.
+ Hoạt động của người dạy và người học trong quá trình dạy học được quan tâm hàng
đầu. Người dạy phải hướng dẫn người học tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải
quyết vấn đề, tạo cho người học có điều kiện thực hành, tiếp xúc với thực tiễn, học
cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo; thông qua những giá trị
mà người học quý trọng và thông qua việc kiên trì theo đuổi những giá trị đó, người
học phát triển được sự hiểu biết, phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân.
+ Giáo dục tập trung vào người học: Giúp người học chủ động, độc lập suy nghĩ, phát
triển tính tự chủ, khả năng sáng tạo trong giải quyết vấn đề.
+ Điều chỉnh quá trình tự đào tạo nhằm phát triển bản thân.
+ Người học có điều kiện thực hành tiếp xúc với thực tiễn.
+ Sản phẩm đào tạo đa dạng, giúp người học thích ứng với cuô |c sống và hoạt đô |ng nghề nghiê |p
+ Mang tính nhân văn vì cách tiếp câ |n này chú trọng đến lợi ích, nhu cầu của từng cá
nhân người học, chú trọng đến những giá trị mà mang chương trình mang lại;
+ CTĐT đáp ứng được nhu cầu của người học, quá trình đào tạo giúp người học phát
triển được tính tự chủ, khả năng sáng tạo trong viê |c giải quyết vấn đề. Viê |c xây dựng
CTĐT theo môđun cho phép người học với sự giúp đ} của người dạy có thể tự mình
xác định lấy CTĐT cho riêng mình. - Hạn chế:
+ Quá chú trọng đến nhu cầu và sở thích cá nhân mà không quan tâm nhiều đến lợi ích cộng đồng.
+ Nhu cầu sở thích của cá nhân thường rất đa dạng và dễ thay đổi bởi điều kiện kinh tế-
xã hội nên chương trình đào tạo rất khó thỏa mãn và không có tính ổn định.
VD: Đây là cách tiếp cận trong xây dựng chương trình theo quan điểm “lấy người học
làm trung tâm” phổ biến ở Mỹ và các nước phương Tây những năm 70 của TK XX.
- Cách tiếp cận trong xây dựng chương trình theo mô hình VNEN, coi HS là trung tâm
trong quá trình GD, tạo động lực, phát huy các giá trị năng lực bản thân cho
HS
.Đưa ra một chương trình học phong phú và bổ ích, thúc đẩy việc học tập của học
sinh. Giúp học sinh tự tin, biết cách suy nghĩ, biết cộng tác, hợp tác với mọi ngườ, thúc
đẩy Hs có tinh thần tự hoc. Hs đc làm chủ HĐ học của mình. HS sẽ tự trả lời câu hỏi,
những học sinh khác sẽ nhận xét, và bổ sung. Giáo viên không giảng giải, thuyết trình
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
nhiều mà chỉ đóng vai trò là người tổ chức các hoạt động để học sinh tự tham gia các
hoạt động, tự trải nghiệm, tự chiếm lĩnh các tri thức. Giáo viên có vai trò là người chốt
các kiến thức đúng. => mô hình VNEN thể hiện cách tiếp cận phát triển
VD2: Khi trải qua một quá trình giáo dục để đáp ứng cho cuộc cách mạng dành cho các
ngành khoa học kỹ thuật với những công nghệ mới tạo ra nhiều sản phẩm máy móc đa
dạng, hiện đại rất có giá trị sử dụng cao, thậm chí có thể thay thế con người trong nhiều
lĩnh vực hoạt động như: Máy cảm ứng từ, cửa tự đóng, báo động khi có nguy hiểm, xe
ô tô tự lái, máy bay không người lái và nhiều loại phương tiện tự lái khác.
VD3: Để làm được một bài Tiểu luận tốt thì người học khi được giảng viên hướng dẫn
phải biết khéo léo trong việc chọn đề tài, vận dụng những hiểu biết trong cuộc sống biết
phát hiện vấn đề cũng như giải quyết các vấn đề mà trong đề tài cần nêu ra.
d. CÁCH TIẾP CẬN NĂNG LỰC
- Khái niệm: là cách tiếp cận hướng đến việc hình thành và phát triển hệ thống các
năng lực cần có ở mỗi người học. Năng lực ở đây bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,
động cơ, đạo đức và hành vi xã hội được hình thành, phát triển trong quá trình dạy học
ở nhà trường và tác động của gđ, xh - Đặc điểm:
+ Cách tiếp cận này tập trung vào hình thành và phát triển hệ thống năng lực cần có ở
mỗi người học. Năng lực ở đây bao hàm cả kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, động cơ, đạo đức
và hành vi xã hội được hình thành, phát triển trong quá trình dạy học ở nhà trường và
tác động của gia đình, xã hội. Chương trình giáo dục tiếp cận năng lực, không chỉ cung
cấp kiến thức cho học sinh mà chú trọng nhiều hơn đến việc hình thành các biện pháp,
cách thức hoạt động linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả,… nhằm khơi dậy khả năng tìm kiếm,
giải quyết vấn đề của người học.
+ Giúp người học biết sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các tình
huống do thực tiễn cuộc sống đặt ra.
+ Nếu chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung yêu cầu học sinh trả lời câu
hỏi: biết cái gì? thì chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực luôn đặt ra câu
hỏi: biết làm gì từ những điều đã biết?
+ Đây cũng là một cách tiếp cận “kết quả đầu ra” nhưng “kết quả đầu ra” ở đây không
phải là một tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ rời rạc mà là hệ thống các năng lực tổng hợp.
+ Chương trình theo hướng phát triển năng lực cần có sự nhất quán từ việc xác định hệ
thống năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt
về năng lực và tiêu chí đánh giá các năng lực chứ không chỉ đặt ra ở một khâu nào đó của quy trình giáo dục
* Hiện nay các trường tiểu học cần đặc biệt quan tâm đến cách tiếp cận năng lực vì:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
- Cần đặc biệt quan tâm vì đây tư tưởng chủ đạo trong xây dựng chương trình phổ thông
mới, trong đó có chương trình GDTH.
- Chương trình theo hướng phát triển năng lực cần có sự nhất quán từ việc xác định hệ
thống năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt về
năng lực và tiêu chí đánh giá các năng lực chứ không chỉ đặt ra ở một khâu nào đó của quy trình giáo dục. - Ưu điểm:
+ Giúp người học biết sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã học gắn liền với cuộc sống để
giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra.
VD: Ở chương trình giáo duc phổ thông mới, môn toán tiểu học có thêm hoạt động trải
nghiệm, thông qua hoạt động này HS sẽ có cơ hội áp dụng các kiến thức đã được học và
thực tế cuộc sống. Như học bài đơn vị đo độ dài Toán 1, các em biết đc đơn vị đo độ dài là
cm, từ đó có thể áp dụng vào việc thực hành đo độ dài cái bàn, cái bảng, độ dài gang tay,
…Học bài xem đồng hồ => có thể xem được giờ chính xác, học bài tiền Việt Nam => biết
các mua hàng trong thực tế, biết thối tiền,…
+ Sản phẩm của chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội.
VD: ở môn TV tiểu học, khi hoàn thành CTTH đòi hỏi HS phải trang bị đầy đủ các kỹ
năng nghe, nói đọc, viết thành thạo để có thể học lên ở bậc cao hơn.
+ Phát huy tối đa năng lực, sở trường của người học.
VD: Qua quá trình học tập, GV nhận thấy ở HS đó có năng lực đặc biệt nào như năng lực
tính toán tốt, giao tiếp tốt, tư duy tốt, giải quyết vấn đề nhanh và chính xác,…Qua đó GV
có các biện pháp bồi dư}ng, phụ đạo kịp thời để phát huy và nâng cao năng lực đó cho HS. - Hạn chế:
+ Đòi hỏi phải có sự thay đổi đồng bộ từ mục tiêu - nội dung - phương pháp - tổ chức -
đánh giá của quá trình giáo dục.
VD: sắp tới CTGDPT mới được áp dụng vào cấp 1 và cấp 2 ì vậy cần phải thay đôiỉ ND,
PP PT học để đáp ứng quá trình CNH-HĐH đất nước. Vì CT còn nhiều vấn đề nên việc
thay đổi ND, PP cần có nhiều thời gian để cbi.
+ Đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa người dạy - người học, giữa nhà trường - gia đình - xã hội.
VD: Cách tiếp cận trong XD CT GDPT mới đang đc triển khai ở VN và nhiều nước trên
TG đang hướng tới việc phát triển năng lực cho HS. Qua đó ND các môn học ngoài việc
học kiến thức sẽ được đan xen với các HĐ thực tiễn => giúp HS trải nghiệm, sáng tạo qua
đó hướng nghiệp cho các em trong tương lai, mục tiêu giáo dục tiểu học không chỉ chú ý
“chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu của việc hình thành và phát triển hài hoà về
thể chất và tinh thần, có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để tiếp tục học
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
THCS”, mà còn chú ý yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực và nhấn mạnh “định hướng
chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và
sinh hoạt”, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của XH, của cuộc cách mạng KH-CN 4.0.
- Ví dụ: Đây là cách tiếp cận trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
đang được triển khai ở Việt Nam. Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông
qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
b) Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học
và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa
học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
CÂU 2: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC: KHÁI NIỆM, NGUYÊN
TẮC, QUY TRÌNH THỰC HIỆN ( TRANG 25)

A. KHÁI NIỆM: Phát triển chương trình giáo dục là một phạm trù quan trọng trong quá
trình định hướng, tổ chức các hoạt động giáo dục, làm cho giáo dục nói chung và chương
trình giáo dục nói riêng ngày càng trở nên hoàn thiện và hiệu quả hơn. . Ở Việt Nam, thời
gian gần đây cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề phát triển chương trình giáo dục.
Theo GS. Nguyễn Đức Chính (2008), Chương trình giáo dục không dừng lại ở việc
thiết kế mà là một quá trình liên tục, phát triển nhằm hoàn thiện không ngừng. Do vậy,
chương trình giáo dục là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi
mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, của thành tựu khoa học - kĩ thuật và công nghệ, của thị trường sử dụng lao động.
Nói cách khác, phát triển chương trình giáo dục thực chất chính là những đợt cải cách
giáo dục để đổi mới/ điều chỉnh chương trình.
VD1: +CTGDPT ở đất nước ta đã trải qua nhiều lần cải cách. Trước năm 1975 Đất nước
ta đang bị chia cắt 2 miền, thì nền GD VN phù hợp với hoàn cảnh của đất nước vừa xây
dựng miền bắc vừa giải phóng miền nam. Sau năm 1975 đã trải qua 3 đợt cải cách, đó là
đợt cải cách năm 1983, phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong những năm đầu thống nhất 2
miền, phù hợp với thời điểm cơ sở vật chất nc ta đag nghèo và thiếu thốn. Đợt cải cách
năm 1993; đợt cải cách năm 2000, pù hợp với thời kỳ CNH-HĐH. Và hiện nay, đất nước
ta đang thực hiện đợt đổi mới lần thứ 4 để đào tạo ra những con người phù hợp với thời đại
mới, thời đại 4.0. ( đúng)
+ Có 1 số nội dung không phù hợp với điều kiện cụ thể của học sinh, nhà trường cần
có sự thay đổi phù hợp nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu cần đạt trong CTGDPTQG ( đúng) VD2: VD2 : (Đúng)
-Sự thay đổi chương trình từ CTGDPT 2006 được Bộ giáo dục phát triển và hình
thành nên chương trình mới là CTGDPT 2018.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG -
Chương trình GDPT 2018 đã được áp dụng vào việc dạy học các cấp, với sự thay
đổi tích cực và hiện đại hơn so với chương trình 2006 về các tiêu chí như : quan điểm ,
mục tiêu, nội dung, phương pháp,yêu cầu cần đạt , đánh giá. -
Nhờ sự phát triển chương trình mà CTGDPT 2018 có nhiều ưu điểm rất nổi trội ,
giúp học sinh phát triển toàn diện hơn về mạch kiến thức,và mạch kiến thức được áp dụng
vào thực tế đời sống, học sinh được lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và hiệu quả,
không bị gò bó trong một phạm vi sách vở hay kiến thức cụ thể, bên cạnh đó thì CTGDPT
2018 có nhiều bộ sách sgk hơn so với CTGDPT 2006 khi chỉ có một bộ sgk duy nhất .
VD: Từ năm 2001 -2017 thực hiện CTGD TH cũ (CT 2001). Qua thời gian triển khai thực
hiện bộc lộ những hạn chế, không phù hợp với sự phát triển của đất nước. Do đó cần phải
thay đổi chương trình dẫn đến sự ra đời của CTGDPT mới (CT 2018) TIỀN ĐỀ:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
B. NGUYÊN TẮC:
(6 Nguyên tắc):
Đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo.
Đảm bảo phân định đúng trình độ đào tạo, cấu trúc và khối lượng kiến thức theo bậc học.
Đảm bảo có sự phân định theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành.
Đảm bảo chất lượng đào tạo
Đảm bảo hiệu quả và hiệu suất đào tạo
Đảm bảo tính sư phạm của chương trình đào tao'
(1) Đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo.
+ Mục tiêu đào tạo là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình
thành ở một đối tượng được đào tạo nhất định. Đó là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã
hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng được đào tạo.
Do đó, mục tiêu đào tạo phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển xã
hội và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người. Mục tiêu đào tạo được thể hiện
trong các văn bản của nhà nước mà cụ thể là trong Luật giáo dục.
Nguyên tắc đầu tiên và là quan trọng nhất khi phát triển chương trình giáo dục là phải đảm
bảo mục tiêu đào tạo. Bởi vì, mục tiêu đào tạo là yếu tố chi phối nội dung chương trình,
định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo và cách thức đánh giá chất lượng
đào tạo của toàn bộ chương trình. Theo Luật giáo dục 2005:
“Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý
thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với
trình độ được đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
“GD tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp
tục học trung học cơ sở”.
Nguyên tắc đầu tiên và là quan trọng nhất khi phát triển chương trình giáo dục là phải đảm
bảo mục tiêu đào tạo. Bởi vì, mục tiêu đào tạo là yếu tố chi phối nội dung chương trình,
định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo và cách thức đánh giá chất lượng
đào tạo của toàn bộ chương trình.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
+ Cần nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển CTGD đặc biệt là đảm
bảo nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo của phát triển CTGD; hành động học
tập, nghiên cứu kĩ văn bản nội dung chương trình, SGK, mục tiêu đào tạo nhìn nhận rõ
những ưu và nhược của CT hiện hành, nghiên cứu kĩ đặc điểm tình hình của nhà trường
địa phương, phải đảm bảo nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục và chất lượng
giáo dục, đảm bảo nguyên tắc có lộ trình, kế hoạch, tính khả thi, tránh việc xây dựng kế
hoạch diễn ra tùy tiện, đảm bảo nguyên tắc đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ, sự
phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan quản lý giáo dục, các trường khoa sư
phạm với các trường phổ thông.
VD: Trong CTGDPT tổng thể (2018) nêu lên mục tiêu đào tạo của chương trình giáo dục
tiểu học: “Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu
tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và
năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng
đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.” (2) Đảm
bảo phân định đúng trình độ đào tạo, cấu trúc và khối lượng kiến thức theo bậc học
- Đảm bảo phân định đúng trình độ đào tạo (trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; trung
học phổ thông, trung học cơ sở...)

Được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến hết lớp 5. Học Giáo dục tiểu học
sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học sẽ học
tiếp lên trung học cơ sở.
Tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học.
Được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp 9. Học Giáo dục THCS
sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục THCS có thể học
tiếp lên THPT hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp.
Tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục THCS. Giáo dục THPT
Được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến hết lớp 12. Học
sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc
theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Giáo dục sơ cấp (dạy nghề): giúp người học có kỹ năng thực hiện được các công việc
đơn giản của một nghề nào đó.
Giáo dục trung cấp: thời gian đào tạo tối thiểu 1 năm nếu đã tốt nghiệp THPT hoặc từ 2
đến 3 năm học nếu tốt nghiệp THCS. Người học sau khi tốt nghiệp trình độ trung cấp có
thể được học tiếp lên trình độ cao đẳng, đại học, đồng thời đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương.
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Giáo dục cao đẳng:
Chương trình đào tạo cao đẳng có khối lượng học tập tương đương 3 năm nếu đã tốt
nghiệp THPT hoặc từ 1 đến 2 năm với người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp. Người tốt
nghiệp trình độ cao đẳng có thể học tiếp lên đại học theo hướng chuyên môn phù hợp,
hoặc theo các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện.
Giáo dục đại học
Thời gian đào tạo đại học tương đương 4- 5 năm nếu đã tốt nghiệp THPT hoặc 2-3.5 năm
với người đã tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng muốn liên thông lên Đại học.
- Đảm bảo cấu trúc và khối lượng kiến thức của bậc học theo qui định (Kiến thức giáo dục
đại học đại cương, Kiến thức giáo dục đại học chuyên nghiệp, kiến thức cơ sở, kiến thức
cơ bản, kiến thức chuyên ngành...)

FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
VD: Trong CTGDPT 2018 kiến thức được phân thành 2 bậc: giai đoạn kiến thức cơ bản
(từ lớp 1-9): phổ thông; 10-12 chuyên sâu chuẩn bị cho nghề nghiệp
VD: CT đào tạo ĐH ngành GDTH: kiến thức giáo dục đại học đại cương như triết học
Mác Lê nin, CNXHKH, Kinh tế chính trị,…và kiến thức chuyên ngành như ppdh toán ở tiểu học ,…
(3) Đảm bảo có sự phân định nội dung theo KHỐI KIẾN THỨC và TRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC.
- Đảm bảo có sự phân định nội dung theo các KHỐI KIẾN THỨC
Việc phân định nội dung kiến thức, tuỳ thuộc vào mục tiêu thiết kế một chương trình đào
tạo, một chương trình môn học mà có những cách phân định khác nhau, phổ biến nhất là
các cách phân định sau đây:
+ Kiến thức cơ bản: là những kiến thức nền tảng để tiếp thu và phát triển kiến thức của
một ngành khoa học. Thí dụ, các kiến thức Toán học, Vật lý và Hoá học là các kiến thức
cơ bản cho các ngành khoa học tự nhiên. Các kiến thức Triết học, Kinh tế học và Ngôn
ngữ học là những kiến thức cơ bản cho các ngành khoa học Xã hội/Nhân văn. Những
người nắm vững khối kiến thức cơ bản là những người có trình độ đại học đại cương
(tương đương trình độ cao đẳng).
+ Kiến thức cơ sở: là những kiến thức nền tảng của một ngành khoa học. Những người
nắm vững khối kiến thức cơ bản và cơ sở của một ngành khoa học, đó là những người có
trình độ Cử nhân đại học (Bachelor) ngành đó.
+ Kiến thức chuyên ngành: là những kiến thức về một phân ngành của một ngành khoa
học. Những người nắm vững kiến thức một chuyên ngành khoa học là những người có
trình độ Thạc sỹ (Master) chuyên ngành đó.
+ Kiến thức chuyên sâu: là những kiến thức đầy đủ, chi tiết và cập nhật của một nhánh
trong một chuyên ngành khoa học. Những người nắm vững kiến thức chuyên sâu đến mức
có thể sáng tạo thêm kiến thức cho chuyên ngành đó là những người có trình độ Tiến sỹ (Doctor)
Cùng với sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khoa học, khối kiến thức cơ bản cũng tăng
lên. Ví dụ như Tin học, ngày nay đã trở thành kiến thức cơ bản của tất cả các ngành khoa
học; Toán học cũng đã trở thành kiến thức cơ bản của các ngành khoa học Xã hội-Nhân
văn. Việc phân chia các kiến thức cơ bản hay cơ sở chỉ là tương đối. Ví dụ kiến thức “Cơ
học lượng tử” là kiến thức cơ bản của ngành Hoá học, nhưng là kiến thức cơ sở của ngành Vật lý.
Trong thực tế, khi thiết kế chương trình đào tạo, người ta còn phân định nội dung qua các
khối kiến thức đại cương (tổng quát), kiến thức chuyên môn và kiến thức nghiệp vụ:
+ Kiến thúc đại cương/tổng quát/nền tảng: bao gồm các kiến thức cơ bản và một phần kiến
thức cơ sở ngành. Với mục tiêu đào tạo “thầy”, người có tiềm năng tiếp tục phát triển theif
tỷ lệ kiến thức cơ bản với kiến thức cơ sở chuyên ngành chiếm khoảng ¾; với mục tiêu
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
đào tạo “thợ”, người làm được việc ngay, những kém năng lực phát triển, tỷ lệ này chiếm khoảng ½.
+ Kiến thức chuyên môn: bao gồm kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên ngành của
một ngành khoa học. Ở bậc đại học tỷ lệ của khối này thường là ¾, ở bậc cao học tỷ lệ này thường là 1/3
+ Kiến thức nghiệp vụ: là khối kiến thức mang tính vận hành, kĩ năng – lỹ xảo, triển khai
thực hiện các hoạt động thuộc ngành khoa học. Khối kiến thức này đôi khi được tích hợp
trong từng môn học, trong từng bài gairng của chương tình đào tạo từng ngành.
VD: CT đào tạo ĐH ngành GDTH: kiến thức giáo dục đại học đại cương như triết học
Mác Lê nin, CNXHKH, Kinh tế chính trị,…và kiến thức chuyên ngành như ppdh toán ở tiểu học ,…
- Đảm bảo có sự phân định nội dung theoTRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC.
Trong phát triển chương trình phần lớn người ta phân định nội dung theo trình độ từ 100-
700 cho các học phần, cụ thể:
+ Trình độ 100: để tiếp thu tình độ 1000 chỉ đòi hỏi các kiến thức đã học ở phổ thông trung học.
+ Trình độ 200: để tiếp thu trình độ 200 đòi hỏi phải có kiến thức đã học ở phổ thông trung
học và những kiến thức liên quan đã học ở trình độ 100. Kiến thức 100 và 200 chủ yếu là
các kiến thức nền tảng (kiến thức cơ bản) của lĩnh vực.
+ Trình độ 300: để tiếp thu trình độ 300 đòi hỏi phải có các kiến thức liên quan đã học ở
các trình độ 100 và 200. Kiến thức 300 chủ yếu dành cho các kiến thức cơ sở của ngành.
+ Trình độ 400: để tiếp thu tình độ 400 đòi hỏi phải có các kiến thức liên quan đã học ở
các trình độ 100, 200 và 300. Kiến thức 400 chủ yếu là các kiến thức nhập môn chuyên ngành.
+ Trình độ 500: kí hiệu cho các kiến thức thuộc trình độ đại học (100, 200 và 300) được
nâng cao. Đây là kiến thức dành cho bậc cao học.
+ Trình độ 600: kí hiệu cho các kiến thức chuyên ngành (400) nâng cao. Đây là kiến thức dành cho bậc cao học.
+ Trình độ 700: kí hiệu cho các kiến thức chuyên sâu. Đây là kiến thức dành cho bậc tiến sĩ.
Căn cứ vào sự phân định này, các cơ sở đào tạo thiết kế chương tình và xây dựng kế hoạch
đào tạo. Trong kế hoạch đào tạo theo niên chế, phần lớn các học phần được xếp theo tình
độ tương ứng với năm học. Trong kế hoạch đào tạo theo tín chỉ, người học phải xây dựng
kế hoạch đào tạo của mình theo logic trình độ môn học đa xcoong bố và phải bao gồm đầy
đủ các loại trình độ theo tỷ lệ thích hợp mưới được xét tốt nghiệp. VD:
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
(4) Đảm bảo có sự phân định theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành.
Trong khoa học tâm lý giáo dục, ở một góc độ nào đó, người ta cũng có thể phân định nội
dung kiến thức theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành (kỹ năng kỹ xảo). Cụ thể:
- Phân định theo năng lực nhận thức: được phân chia thành 6 cấp độ như sau:
+ Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà sinh viên đã được học.
+ Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, sinh viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt
thông tin thu nhận được.
+ Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã học.
+ Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần
đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng.
+ Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu.
+ Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí xác định.
- Phân định theo năng lực tư duy: có thể phân chia thành 4 cấp độ:
+ Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hoá, tống quát hoá ngoài khuôn khổ có sẵn.
+ Tư duy hệ thống: suy luận theo một cách toàn diện, hệ thống trước một sự kiện, một hiện tượng.
+Tư duy phê phán: suy luận một cách có căn cứ, có nhận xét, có phê phán.
+ Tư duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn kh ổ định
sẵn, tạo ra những cái mới.
- Phân định nội dung kiến thức về năng lực vận hành (kỹ năng kỹ xảo): được phân
chia thành 5 cấp độ từ thấp đến cao:

+ Bắt chước: quan sát và cố gắng lặp lại một kỹ năng nào đó.
+ Thao tác: hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn không còn là bắt chước máy móc.
+ Chuẩn hoá: lặp lại kỹ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng đắn, thường
thực hiện một cách độc lập, không phải hướng dẫn.
+ Phối hợp: kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách nhịp nhàng và ốn định.
+ Tự động hóa: hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng
FILE CỦA HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Việc phân định nội dung kiến thức theo năng lực nhận thức và lực tư duy hay theo năng
lực vận hành là cơ sở khoa học để xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung dạy và học, yêu
cầu kiểm tra đánh giá của các môn học với chất lượng mong muốn cho từng chương trình đào tạo cụ thể.
VD: Trong môn Toán ở tiểu học: Biết (tính nhẩm); Hiểu (đặt tính rồi tính); Áp dụng (tính
số lượng đồ vật trong gia đình)
(5) Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Nghĩa là việc phát triển chương trình giáo dục phải đảm bảo mức độ đáp ứng được các tiêu
chuẩn và mục tiêu giáo dục đề ra.
Để đảm bảo chất lượng đào tạo, chương trình cần được xây dựng theo các yêu cầu sau đây:
- Đảm bảo đào tạo được ở những bậc cao các năng lực nhận thức, năng lực thực hành,
năng lực tư duy và phẩm chất cần thiết cho người học

Muốn đào tạo bậc cử nhân có chất lượng cao, thì ngay từ khi xây dựng chương trình đào
tạo đã phải chọn lọc các kiến thức để có thể dạy và học các kiến thức đó ở các bậc năng
lực cao cho mỗi khối kiến thức, cho mỗi môn học trong một thời lượng giới hạn cho trước.
Việc chọn lọc các kiến thức để đưa vào chương trình do cách tiếp cận khác nhau trong quá
trình xây dựng. Trước đây, một thời người ta tiếp cận theo nội dung, nghĩa là có bao nhiêu
nội dung của khối kiến thức, của môn học đó đều đưa vào chương trình. Sau rồi kiến thức
tích lũy ngày càng nhiều, thời lượng có hạn, người ta phải tiếp cận theo mục tiêu, tức là
chọn lọc các kiến thức cốt lõi để đưa vào chương trình theo mục tiêu đào tạo đã định.
Nhưng ngày nay, ngay cả chọn lọc các kiến thức cốt lõi cũng không suôn sẻ nữa vì kiến
thức phát triển đã đến giai đoạn theo cấp số nhân, vì vậy phải chuyển sang cách tiếp cận
năng lực, đó là cách tiếp cận coi giáo dục trong nhà trường, đặc biệt là nhà trường phổ
thông là giáo dục ban đầu nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cần
thiết để học sinh còn phải học thường xuyên và học suốt đời.
Vì vậy theo cách tiếp cận này, trường đại học là nơi dạy phương pháp tiếp thu kiến thức,
tức là đào tạo năng lực nhận thức, kĩ năng thực hành cơ bản, năng lực tư duy và phẩm chất
nhân văn ở trình độ đại học dành cho sinh viên, khi đó thời lượng chương trình dành một
phần cho kiến thức cốt lõi và kiến thức rộng, còn phần lớn dành cho phương pháp nhận
thức. Phương pháp nhận thức có thể được đưa vào chương trình của từng môn học hay
được tách ra thành các môn học riêng tùy theo từng ngành khoa học và mục tiêu đào tạo của chương trình.
+ Đảm bảo tính khoa học, tính cập nhật và tính khả thi của chương trình đào tạo.
Một chương trình đào tạo đảm bảo tính khoa học khi nó là kết quả của một công trình
nghiên cứu khoa học, được cộng đồng các nhà khoa học công nhận; đồng thời nó đã được
kiểm nghiệm qua thực tiễn.
Tính cập nhật của chương trình thể hiện ở sự phản ánh những thành tựu của đất nước. khu
vực và thế giới về khoa học xây dựng chương trình. Yêu cầu này được thể hiện rõ trong
xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới của nước ta: Xây dựng chương trình theo