










Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021 2022 –
(Phần dành cho sinh viên/ học viên) Bài thi h c ph ọ
ần: Quản trị tài chính 1 Số báo danh: 81 Mã số thi: đề 23
Lớp: 2216FMGM0231
Ngày thi: 26/05/2022 T ng s ổ trang ố
: 11 Họ và tên: Lê Thu Trang
Điểm kết luận: GV ch m thi 1: ấ
……………………………. GV ch m thi 2: ấ
……………………………. ĐỀ BÀI: Câu 1 (5 điểm):
Theo anh (chị), việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có thể dẫn
đến những vấn đề gì trong quản trị tài chính doanh nghiệp? Có quan điểm cho rằng: “Doanh
nghiệp sử dụng nợ vay vì tình hình tài chính không tốt”, anh (chị) hãy sử dụng kiến thức
đã học bình luận về quan điểm này. Câu 2 (5 điểm):
Công ty An Phước dự định thay thế một thiết bị cũ. Thiết bị cũ này có nguyên giá là
2.750 triệu đồng, tổng thời gian sử dụng dự kiến là 5 năm, đã sử dụng 2 năm, có giá thị
trường ở thời điểm hiện tại là 1.300 triệu đồng và đem lại lợi nhuận kinh doanh trước thuế
dự kiến mỗi năm là 500 triệu đồng trong thời gian 3 năm còn lại. Giá trị thanh lý của thiết
bị cũ sau 3 năm dự kiến là 150 triệu đồng.
Hiện tại thiết bị mới có giá trị thị trường là 3.000 triệu đồng (gồm cả chi phí vận
chuyển, lắp đặt) và dự kiến mỗi năm có thể đem lại cho công ty khoản lợi nhuận kinh doanh
trước thuế là 720 triệu đồng trong thời gian 5 năm. Giá trị thanh lý của thiết bị mới sau 5
năm dự kiến là 400 triệu đồng, tính khấu hao tài sản theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
Cho biết thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%. Chính phủ không đánh thuế
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 1/11
đối với giá trị thanh lý TSCĐ. Ngoài ra, trong những năm gần đây, công ty đã thiết lập cơ
cấu vốn bao gồm 40% nợ và 60% vốn chủ sở hữu. Chi phí nợ trước thuế là 14%, chi phí sử
dụng vốn chủ sở hữu của công ty là 18%. Yêu cầu:
1. Xác định dòng tiền thuần của dự án.
2. Xác định chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư.
3. Tính NPV của dự án và tư vấn cho công ty có nên thực hiện dự án này hay không?
4. Dự tính nếu tình hình dịch bệnh Covid 19 kéo dài thì lợi nhuận trước thuế do thiết
bị cũ và thiết bị mới đem lại có thể không đạt như dự kiến mà sụt giảm 25%. Trong tình
huống này, tư vấn cho công ty có nên lựa chọn phương án đầu tư hay không? BÀI LÀM: Câu 1:
1. Ảnh hưởng của việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp đến
quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1. Quản trị tài chính doanh nghiệp a. Khái niệm:
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản trị trong
quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện
các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định. b. Mục tiêu:
* Mục tiêu dài hạn: Hoạch định các giải pháp tối ưu trong từng giai đoạn để thực hiện
mục tiêu của doanh nghiệp, cụ thể là:
- Đưa ra các quyết định đầu tư đúng, hiệu quả cao.
- Đưa ra các quyết định tài trợ hợp lý với chi phí sử dụng vốn thấp.
* Mục tiêu ngắn hạn: Đảm bảo năng lực thanh toán của doanh nghiệp với nguồn tài
chính tối ưu - thỏa mãn điều kiện đủ về số lượng, đúng về thời gian.
1.2. Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp
Để hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường, liên tục doanh nghiệp cần phải
có tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động (TSLĐ) với một cơ cấu hợp lý phù hợp với
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 2/11
tính chất, đặc điểm và quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các tài sản này
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó vốn chủ sở hữu và nợ là hai nguồn chính. TSLĐ và đầu Nợ ngắn tư ngắn hạn Tổng tài sản hạn Nợ dài hạn TSCĐ và đầu Nguồn vốn tư dài hạn chủ sở hữu
1.3. Nợ vay trong cơ cấu tài sản doanh nghiệp
Nợ là các khoản vốn được hình thành từ vốn vay của các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, vốn vay từ người lao động
trong doanh nghiệp, các khoản nợ phát sinh từ hoạt động mua bán chịu hàng hóa (còn gọi
là tín dụng thương mại) và đi thuê tài sản dưới các hình thức thuê hoạt động và thuê tài chính.
Nợ là một nguồn tài trợ mà doanh nghiệp phải trả chi phí dù kinh doanh có hiệu quả
hay không có hiệu quả, nên nhìn chung doanh nghiệp không thể phân chia rủi ro cho các
chủ nợ. Tùy theo hình thức vay, thời gian vay và chủ thể tài trợ khác nhau… mà chi phí sử
dụng vốn cũng khác nhau. Tuy nhiên, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh càng cao, nếu
doanh nghiệp tăng tỷ lệ nợ sẽ càng làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Vì vậy,
với những dự án đầu tư, kế hoạch kinh doanh có khả năng mang lại thu nhập cao và ổn định
thì nên tăng cường sử dụng nguồn tài trợ này. Ngược lại, với những dự án đầu tư mạo hiểm,
thu nhập bấp bênh thì nên tăng cường vốn chủ sở hữu.
1.4. Ảnh hưởng của việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp
đến quản trị tài chính doanh nghiệp
Việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có thể dẫn đến nhiều vấn
đề tác động và gây ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản làm tăng rủi ro tài chính
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp sử dụng nợ vay một phần nhằm bù đắp sự
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 3/11
thiếu hụt vốn, mặt khác nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận chủ sở hữu (hoặc thu nhập
trên một cổ phần) nhưng đồng thời cũng làm tăng thêm rủi ro cho doanh nghiệp, đó là rủi ro tài chính.
Rủi ro tài chính là sự dao động hay sự biến thiên của tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
(hoặc thu nhập trên một cổ phần) và làm tăng thêm xác suất mất khả năng thanh toán khi
doanh nghiệp sử dụng vốn vay và các nguồn tài trợ khác có chi phí cố định tài chính.
Việc gia tăng nợ vay tạo ra khả năng cho doanh nghiệp tăng được tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu nhưng cũng làm cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu có thể có mức độ dao động lớn hơn.
Khi tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản mà doanh nghiệp tạo ra lớn hơn chi phí sử dụng
nợ vay sẽ làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, nhưng nếu tỷ suất sinh lời của tài
sản thấp hơn chi phí sử dụng nợ vay thì càng làm giảm sút nhanh hơn tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu.
Mặt khác, doanh nghiệp gia tăng nợ vay làm nảy sinh nghĩa vụ tài chính phải thanh
toán lãi vay cho các chủ nợ bất kể doanh nghiệp đạt được mức độ lợi nhuận trước lãi vay
và thuế là bao nhiêu, đồng thời doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc cho các chủ nợ đúng hạn.
Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay thì nguy cơ mất khả năng thanh toán càng
lớn. Như vậy, việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản đã ẩn chứa rủi ro tài chính mà doanh
nghiệp có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh.
* Doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản gây khó khăn trong việc huy
động thêm vốn mới; giảm cơ hội hợp tác với các nhà đầu tư; mất khả năng thanh toán…
Những vấn đề này xảy ra khi năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm, khả năng tự
chủ tài chính ngày một thấp đi nhưng vẫn gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản.
Thứ nhất, doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản gây khó khăn trong việc
huy động thêm vốn mới.
Nợ vay tăng thì tỷ số nợ vay cũng tăng. Tỷ số nợ nay sẽ góp một phần quyết định đến
uy tín của doanh nghiệp. Khi nhìn vào tỷ số nợ vay, các chủ nợ sẽ đánh giá mức độ tin
tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ và xem xét có nên cho doanh nghiệp này
vay lãi hay không. Nếu hệ số nợ cao, tức chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 4/11
nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro xảy ra trong sản xuất - kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ
gánh chịu, và khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp là thấp, dẫn đến khó khăn nhiều
hơn trong việc huy động thêm nợ mới.
Thứ hai, doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản sẽ làm giảm cơ hội hợp
tác kinh doanh với các nhà đầu tư.
Một trong những yếu tố nhà đầu tư nhìn vào một doanh nghiệp để hớp tác cùng nhau
làm ăn chính là các khoản nợ vay của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp mà có nợ vay càng
lớn thì nhà đầu tư sẽ nghi ngờ về khả năng tạo ra hiệu quả của doanh nghiệp này. Nợ vay
có rủi ro lớn (đã phân tích ở trên) nên sẽ làm giảm cơ hội hợp tác với nhà đâu tư bởi nhà
đầu tư sẽ không muốn hợp tác với những doanh nghiệp có khoản nợ vay cao.
Thứ ba, doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản dễ dẫn tới việc mất khả năng thanh toán.
Doanh nghiệp gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản của mình thì trả nợ cũng sẽ phải
gia tăng. Khi một phần lớn tiền cảu doanh nghiệp đang được sử dụng để trả nợ thì việc tận
dụng các cơ hội mới để tăng trưởng và phát triển sẽ gặp nhiều hạn chế và khó khăn hơn.
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thuận lợi thì sẽ ảnh hưởng đến doanh thu –
doanh thu giảm. Khi đó việc thanh toán nợ cũng sẽ bị kéo theo, có thể trở thành một quá
trình khó khăn và dẫn tới việc mất khả năng thanh toán. Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều
nợ vay thì nguy cơ mất khả năng thanh toán càng lớn.
Như vậy, việc gia tăng nợ vay trong cơ cấu tài sản đã ẩn chứa nhiều vấn đề mà doanh
nghiệp có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh. Trường hợp xấu nhất mà doanh nghiệp
phải đối mặt đó chính là nguy cơ bị phá sản khi doanh nghiệp không còn có thể tạo ra lợi
nhuận để trả nợ và lãi suất vay. Để khắc phục được tình trạng này đòi hỏi nhà quản trị của
doanh nghiệp phải có tư duy linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo, đột phá, thường xuyên cập nhật
và quan tâm đến rủi ro tài chính để có thể đưa ra giải pháp an toàn nhất và hợp lý nhất.
2. Bình luận về quan điểm: “Doanh nghiệp sử dụng nợ vay vì tình hình tài chính không tốt”
Nợ trong suy nghĩ của đại đa số mọi người là một vấn đề tiêu cực liên quan đến tài
chính cũng như quản trị tài chính. Nhưng trong thực tế, không phải cứ có nợ là không tốt
mà nợ còn có vai trò như một đòn bẩy trong tài chính. Do đó, quan điểm “Doanh nghiệp sử
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 5/11
dụng nợ vay vì tình hình tài chính không tốt” là chưa chính xác.
Khẳng định quan điểm trên chưa chính xác là bởi doanh nghiệp sử dụng nợ vay không
chỉ vì tình hình tài chính không tốt mà còn vì các yếu tố tích cực khác, cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp sử dụng nợ vay với nhiều mục đích khác nhau như đầu tư
mua máy móc thiết bị mới, tuyển dụng nhân sự, mở chi nhánh, thúc đẩy tiếp thị… để đạt
các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. Đây là những mục đích tạo tiền đề cho việc duy trì sự ổn
định, sau đó là tăng doanh thu và phát triển cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó,
việc sử dụng nợ vay vào các mục đích như vậy có thể sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng và
phát triển, mở rộng quy mô sản xuất để kinh doanh và thu về lượng lớn lợi nhuận.
Thứ hai, việc sử dụng nợ vay có xu hướng gia tăng thu nhập trên cổ phiếu, dẫn tới
tăng giá cổ phiếu. Các chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua việc sử dụng nợ vay sẽ làm tăng
vốn nhưng vẫn giữ nguyên được quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp mà không
phải tự mình góp thêm vốn vào doanh nghiệp. Các chủ sở hữu doanh nghiệp này sẽ nhận
được một lượng gia tăng đáng kể từ lợi nhuận khi mà doanh nghiệp thu được lợi ích từ việc
sử dụng ngồn nợ vay. Do đó nợ vay có thể sẽ làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Thứ ba, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng rủi ro cho các cổ đông, dẫn đến giảm giá cổ
phiếu. Khi vay nợ, doanh nghiệp sẽ cam kết thanh toán các khoản gốc và lãi vay cho các
chủ nợ, tạo ra một áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Trong tình huống xấu khi doanh
nghiệp kinh doanh yếu kém hoặc trong nền trả chi phí vay vốn dấn đế rủi ro mất khả năng
thanh toán và rủi ro phá sản.
Bên cạnh đó, vay nợ là một trong các đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, làm tăng
tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu và giúp doanh nghiệp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp có hệ số nợ nhỏ (có ít nợ vay mà chủ yếu là vốn chủ sở hữu)
và tỷ suất sinh lợi nhuận cao hơn chi phí sử dụng vốn hiện tại.
Trong thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp có tình hình tài chính ổn định, tăng trưởng
đều vẫn sử dụng nợ vay, điển hình như Vinamilk được mệnh danh là “nhà giàu nhưng vẫn
thích vay nợ”. Hay như SMTOWN – công ty giải trí hàng đầu Hàn Quốc đều sử dụng nợ
vay để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh doanh. Mỗi lần chuẩn bị cho một album
sắp ra mắt của nghệ sĩ, hay chuẩn bị concert, hay mở thêm chi nhánh… SMTOWN đều sử
dụng nợ vay. Sau một thời gian, việc sử dụng nợ vay ấy đã đạt hiệu quả khi các nhóm nhạc
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 6/11
nghệ sĩ của SMTOWN đều bán được hàng nghìn, hàng triệu bản album, thu về lợi nhuận
cho công ty và làm tăng giá trị thương hiệu cho SMTOWN.
Như vậy, doanh nghiệp có thể tận dụng nợ vay như một đòn bẩy tài chính để sản xuất
kinh doanh hoặc nhằm mục đích tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu chứ không phải là
chỉ khi tình hình tài chính không tốt mới sử dụng đến nợ vay. Việc sử dụng nợp vay hợp
lý, thông minh sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng tốt và ngược lại. Vì vậy mà doanh nghiệp
cần phải quản lý tốt tài chính, biết cách sử dụng các khoản nợ vay một cách khéo léo, khôn
ngoan để giảm thiểu rủi ro xảy ra.
* Liên hệ bản thân:
Bản thân đang là sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh và đã được tiếp thu kiến
thức học phần Quản trị tài chính 1, để sử dụng nợ vay một cách hợp lý trước cần phải hiểu
và năm rõ các kiến thức về quản trị tài chính doanh nghiệp, cơ cấu tài sản của doanh nghiệp
và nợ vay trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Sau đó sẽ vận dụng các kiến thức này vào
thực tế khi đi làm thêm và thực tập để tích lũy kinh nghiệm và rút ra bài học. Từ đó mới có
thể ứng dụng vào công việc sau khi ra trường và ứng dụng vào việc quản trị tài chính cá
nhân của bản thân mình. Câu 2:
1. Dòng tiền thuần của dự án
Công ty An Phước khấu hao tài sản mới theo phương pháp số dư giảm dần có điều
chỉnh, thiết bị cũ khấu hao trong 3 năm còn lại.
Theo đề bài, có bảng tóm tắt sau:
Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu
Thiết bị cũ
Thiết bị mới Nguyên giá 2750 3000
Giá thị trường hiện tại 1300 --
Lợi nhuận trước thuế mỗi năm 500 720 Giá trị thanh lý 150 400
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 7/11 Ta có:
Tỷ lệ khấu hao điều chỉnh: 𝑇𝑑𝑐 = 1𝑁 × 𝐻 = 15 × 2 = 40% N=5 => H=2
𝐺𝑖 = 𝐺𝑖−1 - 𝑀𝑖−1
𝑀𝑖 = 𝑇𝑑𝑐 × 𝐺𝑖
Khấu hao chênh lệch = Khấu hao thiết bị mới – Khấu hao thiết bị cũ
Bảng tính khấu hao thiết bị cũ: Năm Gi Tdc Mi
Giá trị còn lại cuối năm i 1 2750 40% 1100 2750 – 1100 = 1650 2 1650 40% 660 1650 – 660 = 990 3 990 40% 396 990 – 396 = 594 4 594 -- 297 297 5 297 -- 297 297
Khi đó ta có bảng tính khấu hao trong 3 năm còn lại như sau:
Đơn vị: triệu đồng
Khấu hao thiết bị mới Khấu hao
Khấu hao chênh Năm
thiết bị cũ lệch Tdc Gi Mi 1 40% 3000 1200 396 804 2 40% 1800 720 297 423 3 40% 1080 432 297 135 4 -- 648 324 324 5 -- 324 324 324
Đối với khấu hao thiết bị mới, từ năm thứ 4 trở đi: Mức khấu hao hàng năm = Giá trị
còn lại của TSCĐ (đầu năm thứ 4) ÷ Số năm sử dụng còn lại của TSCĐ
Mức khấu hao hàng năm = 648 : 2 = 324 (triệu đồng).
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 8/11 Tại năm thứ 4:
Mức khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh = 648 × 40% = 259
(triệu đồng) thấp hơn mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ.
Tương tự với khấu hao thiết bị cũ.
Ta có bảng xác định dòng tiền thuần của dự án như sau:
Đơn vị: triệu đồng Năm 0 1 2 3 4 5 Vốn đầu tư tăng thêm - 1700 - Giá mua thiết bị mới - 3000 - Giá bán thiết bị cũ 1300
Chênh lệch lợi nhuận trước thuế 220 220 220 720 720
- Lợi nhuận trước thuế của thiết bị mới 720 720 720 720 720
- Lợi nhuận trước thuế của thiết bị cũ 500 500 500
Chênh lệch lợi nhuận sau thuế 176 176 176 576 576 Khấu hao chênh lệch 804 423 135 324 324 Giá thanh lý - 150 400 Dòng tiền thuần dự án - 1700 1024 599 161 900 1300 Trong đó:
Vốn đầu tư tăng thêm là chênh lệch giữa giá mua thiết bị mới và giá bán thiết bị cũ
Chênh lệch lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận trước thuế của thiết bị mới – Lợi nhuận
trước thuế của thiết bị cũ
Thuế thu nhập doanh nghiệp = 20%
Chênh lệch lợi nhuận sau thuế = Chênh lệch lợi nhuận trước thuế × 80%
Dòng tiền thuần dự án = Vốn đầu tư tăng thêm + Chênh lệch lợi nhuận sau thuế +
Chênh lệch khấu hao + Giá trị thanh lý tài sản.
Vậy dòng tiền thuần của dự án là:
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 9/11
Đơn vị: triệu đồng Năm 1 2 3 4 5 Dòng tiền 1024 599 161 900 1300 thuần
2. Chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư Ta có:
- Cơ cấu cấp vốn bao gồm: Nợ: 40% và Vốn chủ sở hữu: 60%
- Chi phí nợ trước thuế: 14%
- Chi phí sử dụng vốn chủ sỡ hữu: 18%
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: 20%
Chi phí nợ sau thuế = Chi phí nợ trước thuế × (1 – Thuế thu nhập doanh nghiệp) = 14% × (1 – 20%) = 11,2%
Chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư được xác định bởi công thức: 𝑛
𝑊𝐴𝐶𝐶 = ∑𝑓𝑖. 𝑘𝑖 𝑖=1
Do đó, chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư là:
WACC = 40% × 11,2% + 60% × 18% = 15,28%
Vậy chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư là 15,28%. 3. NPV của dự án
Ta có chi phí sử dụng vốn của dự án là r = 15,28% (theo phần 2)
NPV được tính theo công thức: 𝑁𝑃𝑉 = ∑ 𝑛 𝐶𝐹𝑖 𝑖=1 (1 – 𝐼+ 𝐶 𝑟 𝑂 ) 𝑖 NPV của dự án là: NPV = 1024 (1+15,28%) + (1+ 5 1 95,928%)2 + (1+ 1 1 6 5,128%)3 + 900 (1+15,28%)4 + 1300 (1+15,28%)5 - 1700 ≈ 892,21
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 10/11
Vì NPV > 0 (892,21 > 0), mang dấu dương nên công ty nên thực hiện dự án này.
Vậy công ty An Phước nên thực hiện dự án này.
4. Lựa chọn phương án đầu tư dự tính trong Covid
Lợi nhuận trước thuế thiết bị cũ và thiết bị mới có thể sụt giảm 25% nên lợi nhuận
trước thuế tăng thêm cũng sẽ giảm 25%.
Chênh lệch lợi nhuận trước thuế = Chênh lệch lợi nhuận trước thuế × 75%.
Ta có bảng dòng tiền thuần dự án mới như sau:
Đơn vị: triệu đồng Năm 0 1 2 3 4 5 Vốn đầu tư tăng thêm - 1700 - Giá mua thiết bị mới - 3000 - Giá bán thiết bị cũ 1300
Chênh lệch lợi nhuận trước thuế 165 165 165 540 540
Chênh lệch lợi nhuận sau thuế 132 132 132 432 432 Chênh lệch khấu hao 840 423 135 324 324
Giá trị thanh lý tài sản - 150 400 Dòng tiền thuần dự án - 1700 936 555 117 756 1156
NPV được tính theo công thức: 𝑁𝑃𝑉 = ∑ 𝑛 𝐶𝐹𝑖 𝑖=1 (1 – 𝐼+ 𝐶 𝑟 𝑂 ) 𝑖
Khi đó NPV mới sẽ có kết quả là: NPV = 936 (1+15,28%) + (1+ 5 1 5 5,528%)2 + (1+ 1 1 1 5, 7 28%)3 + 756 (1+15,28%)4 + 1(156 +15,28%)5 – 1700 ≈ 601,78
Vì NPV > 0 (601,78 > 0), mang dấu dương nên công ty vẫn nên đầu tư vào dự án.
Vậy trong tình huống trên, công ty An Phước vẫn nên đầu tư vào dự án. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Lê Thu Trang - Mã LHP: 2216FMGM0231 Trang 11/11