


















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61548596
1. CNXKHK là gì? Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học? * Định nghĩa CNXHKH: -
Theo nghĩa rộng CNXHKH: là CN Mác Lênin, luận giải từ các góc
độtriết học, kinh tế học chính trị và chính trị - xã hội về sự chuyển biến
tất yếu của xh loài người từ cntb lên cnxh và cn cộng sản. -
Theo nghĩa hẹp CNXHKH: là một trong ba bộ phận hợp thành chủnghĩa Mác-Lênin
+ Là biểu hiện về mặt lý luận của phong trào công nhân. •
Là biểu hiện về mặt lý luận của phong trào công nhân. •
Là khoa học đấu tranh giai cấp để giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng
+ Là khoa học đấu tranh giai cấp để giải phóng giai cấp công nhân,
giải phóng người lao động và giải phóng xã hội thoát khỏi tình trạng áp bức bóc lột.
* Điều kiện KT-XH cho sự ra đời CNXHKH: -
Về điều kiện kinh tế: cuộc Cách mạng Công nghiệp những năm 40
củatk 19 phát triển nhanh tạo ra sự phát triển của LLSX, dẫn đến mâu
thuẫn giữa LLSX và QHSX hay chính là sự mâu thuẫn giữa công hữu về
TLSX và tư hữu về TLSX. Những cuộc khủng hoảng về KT bắt đầu phát
sinh (khủng hoảng thừa), công nhân thất nghiệp (dần dần bị thay thế bởi máy móc). -
Về điều kiện xã hội: Giai cấp CN công nghiệp tăng nhanh và bị bóc
lộtnặng nề, dẫn đến sự ra đời của 2 giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau:
GCTS>thống trị áp bức của GCTS, VD như Phong trào Hiến chương ở Anh
(1836-1848), Phong trào công nhân dệt ở Đức (1844), Phong trào công nhân dệt ở Pháp (1831).
G/c CN đã bước lên vũ đài chính trị. Tất cả các phong trào thất bại, tại
thời điểm đó một nhu cầu đặt ra là cần 1 lí luận chính trị dẫn đường.
Những điều kiện KT-XH ấy không chỉ đã đặt ra yêu cầu với các nhà tư
tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho những lý
luận mới, tiến bộ - CNXHKH. lOMoAR cPSD| 61548596
* Tiền đề KHTN: Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời
đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng:
- Học thuyết tế bào của nhà thực vật học Schleiden và nhà vật lý học Schwam,
- Học thuyết tiến hóa của Darwin
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lomonosov
Những phát minh này đã khẳng định tính đúng đắn của CNDV biện chứng và
Những phát minh này đã khẳng định tính đúng đắn của CNDV biện
chứng và CNDV lịch sử, đồng thời làm cơ sở lí luận và phương pháp luận cho CNXH khoa học
* Tiền đề tư tưởng lý luận: Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên,
khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có:
- Triết học cổ điển Đức của Hêghen và Phoiơbắc
- KTCT học cổ điển Anh của A.Smith và D.Ricardo
- CNXH không tưởng – phê phán, đại biểu là Xanh Ximông, S.Phuriê vàR.Oen
Cung cấp tiền đề lí luận và tư tưởng trực tiếp đưa đến sự ra đời của
CNXH khoa học, đồng thời là 3 nguồn gốc lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Cung cấp tiền đề lí luận và tư tưởng trực tiếp đưa đến sự ra đời của CNXH
Giá trị của tư tưởng CNXH không tưởng:
- Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và CNTB
- Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai
- Thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấutranh
chống chế độ quân chủ chuyên chế và TBCN
Hạn chế của CNXH không tưởng:
- Không phát hiện ra quy luật vận động phát triển của xã hội lOMoAR cPSD| 61548596
- Không phát hiện ra giai cấp có sứ mệnh lịch sử
Vượt lên tất cả, những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng đã
tạo ra tiền đề tư tưởng – lý luận, để C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa những
hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp lý, xây dựng và phát triển CNXHKH
2. Vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã
hội khoa học.? - Vai trò tổng quát
+ Gắn liền nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn
+ Trả lời được vấn đề mà thời đại đặt ra một cách khoa học, từng
bước hoàn thành học thuyết của mình •
Gắn liền nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn •
Trả lời được vấn đề mà thời đại đặt ra một cách khoa học, từng bước hoàn
* Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị -
Trước 1842: C.Mác và Ăngghen là những thành niên sôi nổi, nhân
đạo,đam mê triết nhưng chưa thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng -
10/1843, Mác sang Pari để viết Niên giám Pháp - Đức đã đánh
dấubước hoàn thành sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa
duy vật. Trong bài “Góp phần phê phán triết học pháp quyền” của Hêghen,
lời nói đầu, được in trong niên giám Pháp – Đức, C.Mác đã chỉ ra “cái
khả năng tích cực” của giai cấp vô sản. Tư tưởng về vai trò lịch sử toàn
thế giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủ nghĩa cộng sản khoa học. -
Ph.Ăngghen cho ra đời tác phẩm Gia đình thần thánh (1844),
Luậncương về Phoiơbắc (1845)… -
1847 đầu 1848: C.Mác và Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn củaĐảng cộng sản”
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (từ 1843 – 1848) vừa hđ thực tiễn, vừa
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (từ 1843 – 1848) vừa hđ thực
tiễn, vừa nghiên cứu khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thể hiện quá lOMoAR cPSD| 61548596
trình chuyển biến lập tường triết học và lập trường chính trị và từng bước
củng cố, dứt khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc lập trường đó, mà
nếu không có sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ ko có CNXHKH
* Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen
- CNDV Lịch sử (Triết học Mác Lênin): Nghiên cứu quy luật chung nhất
của tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Là thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp công nhân – đại biểu
cho toàn thể nhân dân lao động trong thời đại ngày nay •
Là thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp công nhân – đại biểu cho toàn
+ Sự vận động của các hình thái kinh tế, xã hội
+ Là cơ sở lý luận và phương pháp luận chung cho CNXHKH •
Sự vận động của các hình thái kinh tế, xã hội •
Là cơ sở lý luận và phương pháp luận chung cho CNXHKH - Học
thuyết GTTD (KTCT Mác Lênin): nghiên cứu quy luật về mối quan
hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao
đổi nhất định của sự phát triển xã hội loài người. Đặc biệt là những
quy luật trong xã hội TBCN và quá trình chuyển biến tất yếu (về
kinh tế) từ CNTB lên CNXH trong thời đại ngày nay
- Học thuyết về SMLS toàn thế giới của GCCN: khắc phục một cách triệt
để những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê
phán, đồng thời đã luận chứng về phương diện chính trị- xã hội của sự
diệt vong không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
* Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của CNXHKH: Được
sự ủy nhiệm của những người cộng sản và công nhân quốc tế, tháng 2 năm
1848, tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” do C.Mác và Ph.Ăngghen
soạn thảo được công bố trước toàn thế giới. Nội dung: - Cuộc đấu tranh
của giai cấp trong LS loài người đã phát triển đến một giai đoạn mà GCCN
ko thể tự mình giải phóng mình nếu ko đồng thời giải phóng vĩnh viễn xh
ra khỏi tình trạng phân chia gc, áp bức, bóc lột và đấu tranh gc. Song, gc
VS ko thể hoàn thành SMLS nếu ko tổ chức ra chính đảng của gc, Đảng
đc hình thành và phát triển xuất phát từ SMLS của GCCN lOMoAR cPSD| 61548596 -
Logic phát triển tất yếu của xh TS – CNTB là sự sụp đổcủa CNTB và
sự thắng lợi của CNXH là tất yếu như nhau -
GCCN, do có địa vị KT – XH đại diện cho LLSX tiên tiến nên
cóSMLS thủ tiêu CNTB đồng thời là lực lượng tiên phong trong quá trình xây dựng CNXH, CNCS -
Những người CS trong cuộc đấu tranh của mình cần liên minh với
lựclượng dân chủ lật đổ chế độ pk nhưng ko quên đấy tranh cho mục tiêu
của CNCS. Những ng cách mạng phải tiến hành cách mạng ko ngừng
nhưng phải có chiến lược sách lược, khôn khéo và kiên quyết
Đánh dấu sự ra hình thành của chủ nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp
thành: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản còn là Cương lĩnh chính trị, là kim chỉ
nam hành động của toàn bộ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế
3. Khái niệm giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
- GCCN được các nhà kinh điển xác định theo hai phương diện cơ bản:
+ Về phương diện kinh tế - xã hội: họ là những người lao động trực
tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp
ngày càng hiện đại, tính xh hóa cao
+ Về phương diện CT – XH: họ là những người lao động không có
tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản, bị nhà tư
bản bóc lột giá trị thặng dư
Từ phân tích trên, theo chủ nghĩa Mác-Lênin: GCCN là một tập đoàn
xh, hình thành và phát triển cùng vs quá trình phát triển của nền công
nghiệp hiện đại; Họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng
hiện đại và gắn liền với quá trình sx vật chất hiện đại, là đại biểu cho
PTSX mang tính xh hóa ngày càng cao. Họ là người làm thuê do không
có TLSX, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc
lột giá trị thặng dư; vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản
của giai cấp tư sản. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định tư bản chủ nghĩa,
xây dựng thành công cnxh và cncs trên toàn tg lOMoAR cPSD| 61548596
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, sứ mệnh lịch sử tổng quát của GCCN là thông
qua chính đảng tiền phong, GCCN tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động
đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người, xóa bỏ CNTB, giải
phóng GCCN, nhân dân lao động khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc
hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
SMLS của GCCN thể hiện ở 3 nội dung cơ bản: - Về KT:
o GCCN là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa
cao, là đại diện cho QHSX mới (công hữu tư liệu sản xuất). o
GCCN là chủ thể của quá trình sx vật chất, GCCN tạo tiền đề
vật chất-kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới.
o GCCN đại biểu cho lợi ích của toàn XH. Chỉ có GCCN là giai
cấp duy nhất không có lợi ích riêng với chủ nghĩa tư hữu. Nó
phấn đấu cho lợi ích chung của toàn XH
o GCCN phải đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng
LLSX (vốn kìm hãm, lạc hậu, chậm phát triển trong quá khứ),
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển để tạo cơ sở cho quan hệ
sản xuất mới, XHCN ra đời. - Về CT-XH:
o GCCN cùng với nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ĐCS
tiến hành cách mạng chính trị để giành chính quyền, xóa bỏ chế
độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay GCCN và nhân dân
lao động. Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất GCCN.
o GCCN cùng với nhân dân lao động sử dụng chính quyền nhà
nước của mình để cải tạo XH cũ, tổ chức xây dựng XH mới,
phát triển KT và VH, xây dựng nền chính trị dân chủ-pháp
quyền, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng và tiến bộ
XH, theo lý tưởng và mục tiêu CNXH - Về VH-Tư tưởng:
o GCCN phải xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công bằng, dân
chủ, bình đẳng, tự do. lOMoAR cPSD| 61548596
o Thực hiện cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái
cũ lỗi thời, lạc hậu, xây dựng cái mới, tiến bộ trong lĩnh vực ý
thức tư tưởng, trong tâm lý, lối sống và trong đời sống tinh thần
xã hội. Xây dựng củng cố ý thức hệ tiên tiến của GCCN,
đó là CN Mác-Lênin, đấu tranh để khác phục ý thức hệ tư sản
và các tàn dư còn sót lại của hệ tư tưởng cũ.
o Xây dựng con người mới XHCN, đạo đức, lối sống mới. Như
chủ tịch HCM đã từng nói, muốn có cnxh phải có con người
xhcn, con người phải ưu việt hơn só vs xh cũ, phải thấm nhuần
đạo đức mới, lối sống ms, nếp sống ms
Đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
- SMLS của GCCN xuất phát từ những tiền đề KT – XH của sx mang tính xã hội hóa
- Thực hiện SMLS của GCCN là sự nghiệp của bản thân GCCN cùng
với đông đảo quần chúng và mang lại lợi ích cho đa số
- SMLS của GCCN không phải là thay thế chế độ sở hữu tư nhân này
bằng một chế độ sở hữu tư nhân khác mà là xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu về TLSX
- Việc GCCN giành lấy quyền lực thống trị XH là tiền đề để cải cách
toàn diện, sâu sắc và triệt để XH và xây dựng thành công XH ms vs
mục tiêu cao nhất là giải phóng con người
4. Nhưng điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch
sửcủa giai cấp công nhân?
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm:
- Thứ nhất, do địa vị kinh tế của GCCN
GCCN ra đời từ Cuộc cách mạng công nghiệp, nên họ là sản phẩm
của nền đại công nghiệp. Khi nói về GCCN thực hiện SMLS của mình,
Lênin có phân tích: “GCTS sản sinh ra GCCN, và SMLS của
GCCN là đào mồ chôn CNTB”. Đây là điều tất yếu diễn ra. Sự phát
triển của cuộc cách mạng CN đã làm thay đổi mqh giữa LLSX và
QHSX mà GCCN đại diện cho PTSX tiên tiến, LLSX hiện đại nên tính
chuyên môn hóa ngày càng cao. Và như vậy GCCN đại diện cho 1 lOMoAR cPSD| 61548596
QHSX mới dựa trên yếu tố công hữu về TLSX phủ định đi QHSX cũ
(tư hữu về TLSX) để trở thành đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của LS
- Thứ hai, do địa vị chính trị - xã hội của GCCN quy định
o Trong sản xuất công nghiệp hiện đại, GCCN bị bóc lột nặng nề
nên GCCN phải đấu tranh. Quá trình lao động CN đã tạo ra cho
GCCN những phẩm chất để thực hiện cách mạng: Tính tổ chức,
kỷ luật, tự giác, đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng
mình và giải phóng xã hội. Chính lao động công nghiệp đã tạo
ra cho GCCN những yếu tố, những tiền đề để có thể làm cách mạng tốt hơn
o Là giai cấp đại biểu cho LLSX hiện đại, PTSX tiên tiến thay thế
phương thức sản xuất TBCN, xác lập PTSX cộng sản chủ nghĩa,
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. GCCN là giai cấp
đại biểu cho tương lai, cho xu thế tiên tiến của tiến trình lịch sử
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra những điều kiện thuộc về nhân tố chủ
quan để GCCNhoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Đó là:
- Sự phát triển của bản thân GCCN cả về số lượng và chất lượng o Số
lượng GCCN ngày càng tăng lên. Khi C. Mác viết Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, năm 1848, trên thế giới chỉ có khoảng 10 - 20 triệu
công nhân, đến đầu thế kỷ XX, toàn thế giới có 80 triệu công nhân.
o Thứ hai, nói về sự phát triển của GCCN, phải nói đến sự tăng
lên về mặt chất lượng. Chất lượng thể hiện ở trình độ trưởng
thành về ý thức chính trị, năng lực và trình độ làm chủ KHKT
và công nghệ hiện đại
Để GCCN có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, sự phát triển
về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng. Số lượng tăng
lên để có một lực lượng đông đảo để làm cách mạng. Chất lượng tăng lên
để có thể làm chủ khoa học công nghệ, làm chủ những yếu tố về sự phát
triển chính trị, giữ vững lập trường chính trị của mình
- Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công
nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình: Đảng Cộng sản
là đội tiên phong của GCCN, ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo
cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của GCCN lOMoAR cPSD| 61548596
với tư cách là giai cấp cách mạng. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở: o Đề ra đường lối
o Tuyên truyền, vận động đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống
o Tổ chức thực hiện đường lối o Gương mẫu thực hiện đường lối
- GCCN phải liên minh với các giai cấp và tầng lớp khác o Đó là các
giai cấp: nông dân, tầng lớp trí thức, tiểu thương, tiểu chủ
o Tuy nhiên, trong sự liên minh đó, chỉ duy nhất GCCN có sứ
mệnh lịch sử xóa bỏ TBCN, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới vì chỉ có
GCCN là có hệ tư tưởng
5. Những đặc trưng cơ bản của CNXH theo quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin?
Căn cứ vào những dự báo của C.Mác và Ph.Ăngghen và những quan
điểm của Lêninvề CNXH ở nước Nga xô – viết, có thể khái quát những
đặc trưng cơ bản củaCNXH như sau:
- CNXH giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xh, giải
phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện
Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa so với các hình thái kinh tế - xã hội ra đời trước, thể hiện ở bản chất
nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội,
giải phóng con người. Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị -
xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời từ thực tiễn của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao
nhất, cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên
tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Lênin cũng khẳng định mục
đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã hội
thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hội thành người lao động,
tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng người bóc lột người. Lênin còn chỉ rõ
trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp công nhân,
chính Đảng Cộng sản phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn
khác nhau, trong đó có mục đích, nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng lOMoAR cPSD| 61548596
chủ nghĩa xã hội - tạo ra các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật và đời
sống tinh thần để thiết lập xã hội cộng sản
- CNXH có nền KT phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và chế độ
công hữu về TLSX chủ yếu
Đây là đặc trưng về phương diện kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu
cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người trên cơ sở điều kiện
kinh tế - xã hội phát triển, mà sẽ đến cùng là trình độ phát triển cao của
lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội là xã hội có nền kinh tế phát triển
cao, với lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất, được tổ chức quản lý có hiệu quả, năng suất
lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động. Cùng với việc từng
bước xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, để nâng cao năng suất
lao động cần phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn, tổ chức
chặt chẽ và kỷ luật lao động nghiêm, nghĩa là phải tạo ra quan hệ sản xuất
tiến bộ, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- CNXH là xh do nd lđ làm chủ
Đây là đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội, xã
hội vì con người và do con người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao
động là chủ thể của xã hội thực hiện quyền làm chủ ngày càng rộng rãi và
đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa
xã hội là một chế độ chính trị dân chủ, nhà nước xã hội chủ nghĩa với hệ
thống pháp luật và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn thiện sẽ quản lý xã
hội ngày càng hiệu quả. Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: “...bước thứ nhất trong
cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị là giành lấy dân chủ”
- Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công
nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã khẳng định trong chủ
nghĩa xã hội phải thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu
mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực
và ý chí của nhân dân lao động.
Theo Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính
quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai
cấp tư sản. Chính quyền đó chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ lOMoAR cPSD| 61548596
cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp
bức nhân dân, thực chất của sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước vô sản, theo
Lênin phải là một công cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện
tập trung trình độ dân chủ của nhân dân lao động, phản ánh trình độ nhân
dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước, quần chúng nhân dân thực
sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý
- Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, sao kế thừa và phát
huy những giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại.
Tính ưu việt, sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa không
chỉ thể hiện ở lĩnh vực kinh tế, chính trị và còn ở lĩnh vực văn hóa - tinh
thần của xã hội. Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, mục tiêu, động lực của phát triển xã hội, trọng tâm là phát triển
kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh con người,
biến con người thành con người chân, thiện, mỹ
Do vậy, quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phải thiết kế
thừa những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại, đồng thời,
cần chống tư tưởng, văn hóa phi vô sản, trái với những giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc và của loài người, trái với phương thức đi lên chủ nghĩa xã hội
- Chủ nghĩa xã hội đảm bảo bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và
có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Vấn đề giai cấp và dân tộc, xây dựng một cộng đồng dân tộc, giai cấp
bình đẳng, đoàn kết, hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới
luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạch định và thực thi chiến lược
phát triển của mỗi dân tộc và mỗi quốc gia.Theo quan điểm của các nhà
sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề giai cấp và dân tộc có quan
hệ biện chứng, bởi vậy, giải quyết vấn đề dân tộc, giai cấp trong chủ nghĩa
xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng và phải tuân thủ theo nguyên tắc: “xóa
bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc
khác cũng bị xóa bỏ”. lOMoAR cPSD| 61548596
Đây là sự khác biệt căn bản về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, hẹp hòi hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Chủ nghĩa xã hội, với bản chất tốt đẹp cho con người, vì con người luôn
là bảo đảm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và hợp tác hữu nghị; đồng
thời có quan hệ với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hợp tác,
hữu nghị của nhân dân tất cả các nước trên thế giới, với chủ nghĩa xã hội
mở rộng được ảnh hưởng và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung
của nhân dân thế giới vì hòa bình, bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
6. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin?
Khái niệm dân tộc: Cho đến nay, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa
- Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một cộng
đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt
chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn
hóa. cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển
cao hơn những nhân tố tộc người của các động cộng đồng đó. Với
nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hai thành phần của quốc gia. Chẳng
hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc tức 54 cộng đồng tộc người.
Dân tộc - tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau:
o Cộng đồng về ngôn ngữ: Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các
tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn
o Cộng đồng người về văn hóa: lịch sử phát triển của các tộc
người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ. Ngày nay, cùng
với xu thế giao lưu văn hóa văn song song tồn tại xu thế bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người
o Ý thức tự giác tộc người: đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân
định một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và
phát triển của mỗi tộc người lOMoAR cPSD| 61548596
3 tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình
phát triển. Đồng thời căn cứ vào 3 tiêu chí này để xem xét và phân định
các tộc người ở Việt Nam hiện nay
- Theo nghĩa rộng, dân tộc (nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng
đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng,
nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống
nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền
thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình
lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, khái niệm dân
tộc dùng để chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một
nước. Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam.
Theo nghĩa rộng, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau:
o Về lãnh thổ: có chung một vùng lãnh thổ ổn định, có thể cư trú
tập trung trên một vùng lãnh thổ của quốc gia hoặc cư trú đan
xen với nhiều dân tộc anh em
o Về kinh tế: có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế o Về
ngôn ngữ: có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp o Về
văn hóa: có chung một nền văn hóa và tâm lý o Về chính trị:
có chung 1 nhà nước (nhà nước dân tộc)
Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh
thể, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Các đặc trưng ấy có
quan hệ nhân quả, tác động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ
và độc đáo trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, tạo nên tính
ổn định, bền vững của cộng đồng dân tộc.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Lenin khái quát nội dung cương lĩnh dân tộc như sau: “Các dân tộc
hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân
tất cả các dân tộc lại”.
- Một là: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn
hay nhỏ, ở trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ
và quyền lợi ngang nhau trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế.
Không có đặc quyền, đặc lợi của dân tộc này đối với dân tộc khác. Ví dụ
như quan điểm về lãnh hải, mặc định lãnh hải của các dân tộc đều là 12 lOMoAR cPSD| 61548596
hải lý từ thềm lục địa, ko có dân tộc nào có lợi hơn dân tộc nào. Trong
một quốc gia nhiều dân tộc sự bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội ... giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và phải
được thể hiện sinh động trong thực tế. Trên phạm vi quốc tế, bình đẳng
dân tộc trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi trước hết phải thủ tiêu tình trạng
giai cấp này áp bức giai cấp khác để trên cơ sở đó xóa bỏ tình trạng dân
tộc này nô dịch dân tộc khác, tạo điều kiện để các dân tộc giúp đỡ nhau
phát triển theo con đường tiến bộ.
Chống những biểu hiện sai trái với quyền bình đẳng dân tộc, chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới
Phấn đấu xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống áp bức bóc
lột nặng nề của các nước tư bản phát triển với các nước kém phát triển.
Ý nghĩa: bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc và
là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng. Nó là cơ
sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị,
hợp tác giữa các dân tộc.
- Hai là: Các dân tộc được quyền tự quyết
Đó là quyền làm chủ của một dân tộc, tự mình quyết định vận mệnh
của dân tộc mình; là giải phóng các dân tộc bị áp bức (thuộc địa và phụ
thuộc) khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và
đưa đất nước tiến lên theo con đường tiến bộ xã hội. Quyền dân tộc tự
quyết trước hết là tự quyết về chính trị: quyền thành lập một quốc gia độc
lập, ví dụ như khi cách mạng tháng 8 thành công, dân tộc ta có quyền
thành lập một quốc gia độc lập, ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình
lịch sử, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VN dân
chủ cộng hòa; quyền các dân tộc tự nguyện liên hợp thành một liên bang
trên cơ sở bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ (quyền liên hiệp), ví
dụ như khi nước ta trở thành một quốc gia độc lập thì chúng ta có quyền
tham gia vào các tổ chức quốc tế như ASESAN, WTO,… để có sức mạnh
lớn hơn và có nhiều sự ủng hộ hơn.
Xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết phải đứng vững trên lập
trường quan điểm của giai cấp công nhân: Triệt để ủng hộ các phong trào
tiến bộ, phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân lOMoAR cPSD| 61548596
dân lao động, đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức
Kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế
quốc lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào nội bộ của
các nước cũng như giúp đỡ các thế lực phản động, thế lực dân tộc chủ
nghĩa đàn áp các lực lượng tiến bộ, đòi ly khai và đi vào quỹ đạo của chủ
nghĩa thực dân mới, của chủ nghĩa tư bản
Ý nghĩa: quyền dân tộc tự quyết là quyền cơ bản của dân tộc. Nó là
cơ sở để xóa bỏ sự hiềm khích, thù hằn giữa các dân tộc; phát huy tiềm
năng của các dân tộc vào sự phát triển chung của nhân loại.
- Ba là: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng
dân tộc và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần
của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Giai cấp công
nhân thuộc các dân tộc khác nhau đều thống nhất, đoàn kết, hợp tác giúp
đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung vì sự nghiệp giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc
Ý nghĩa: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội dung cơ bản
nhất trong cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin: phản ánh bản
chất quốc tế của phong trào công nhân; phản ánh sự thống nhất giữa sự
nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; đảm bảo cho phong trào
giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh để thắng lợi; là điều kiện thực hiện
thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, do đó, là cơ sở để giải
quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc bị áp bức; liên kết cả
3 nội dung thành một chỉnh thể
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-lênin là cơ sở lý luận quan trọng
để các Đảng cộng sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá
trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
7. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo?
Bản chất của tôn giáo:
- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường, hư
ảo hiện thực khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo, mọi sức
mạnh của tự nhiên và xã hội trở thành thần bí. Ăngghen cho rằng: lOMoAR cPSD| 61548596
“Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của
thế giới không có trái tim, tinh thần của trạng thái không có tinh thần,
tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
- Chỉ rõ bản chất của tôn giáo, Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định:
“Tôn giáo là một hiện tượng xã hội – văn hóa do con người sáng tạo
ra.” Con người sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi ích của họ, phản
ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ. Nhưng, con người
lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hóa và phục tùng tôn giáo vô
điều kiện. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng cho rằng, sản xuất vật chất và
các quan hệ kinh tế là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
các hình thái ý thức xã hội, trong đó có tôn giáo. Do đó, mọi quan
niệm về tôn giáo, các tổ chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ
những hoạt động sản xuất, từ những điều kiện sống nhất định trong
xã hội và thay đổi theo những thay đổi của cơ sở kinh tế
- Về phương điện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy
tâm, khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của
chủ nghĩa Mác – Lênin Như vậy:
o Xét về bản chất thì tôn giáo là một hiện tượng xã hội tiêu cực o
Trong chừng mực nhất định thì tôn giáo cũng có những mặt tích cực
- Phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan: Về điểm giống nhau,
tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan là đều có niềm tin vào một lực
lượng siêu nhiên nào đó. Về điểm khác nhau o Tín ngưỡng: là lòng
tin tưởng, ngưỡng mộ vào một đấng siêu nhiên thần bí. Tín ngưỡng
bao gồm tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng cổ truyền. Tín ngưỡng
là yếu tố cơ bản, đầu tiên làm hình thành tôn giáo và mê tín dị đoan
o Tôn giáo: là niềm tin có tính hệ thống. Có hệ thống lý luận: giáo
lý, giáo luật, giáo lễ và một đấng tối cao. Có hệ thống tổ chức:
nhà thờ, thánh thất, miếu… các cán bộ tôn giáo (chức sắc). Có
hệ thống tín đồ: số lượng người theo
o Mê tín dị đoan: là khái niệm chỉ chung những hiện tượng con
người quá tin vào những lực lượng siêu nhiên, thần bí dẫn đến
mê muội, mất lý trí, để rồi hủy hoại tiền của và sức khỏe vào
những chuyện không đâu. Mê tín dị đoan thường có ở những lOMoAR cPSD| 61548596
người có vướng mắc trong cuộc sống riêng tư (tình duyên, công
danh…). Mê tín dị đoan thường xuất hiện ở những vùng
xa xôi hẻo lánh, trình độ dân trí thấp, thiếu thông tin Nguồn gốc tôn giáo:
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội
Trong xã hội công xã nguyên thủy, do lực lượng sản xuất chưa phát
triển, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người
cảm thấy yếu đuối và bất lực nên con người đã gán cho tự nhiên những
sức mạnh, quyền lực thần bí. Khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng,
có áp bức bất công, do không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa
giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác,..cộng với sự lo sợ trước sự
thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự giải phóng
của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế - Nguồn gốc nhận thức:
Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự
nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Khi những điều khoa
học chưa giải thích đượcthì điều đó thường được giải thích thông qua lăng
kính các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã đc khoa học chứng minh,
nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là
điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Thực chất
nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu
mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành
cái siêu nhiên, thần thánh - Nguồn gốc tâm lý:
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc
ốm đau, bệnh tật, khi máy rủi bất ngờ xảy ra...con người dễ tìm đến tôn
giáo (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi nghiệp,..). Thậm chí cả
những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối
với những người có công với nước,..cũng có thể dẫn con người đến với
tôn giáo (vd: thờ các anh hùng dân tộc, thờ thần làng,...) Trong
đó nguồn gốc kinh tế - xã hội là nguồn gốc cơ bản nhất Tính chất tôn giáo:
- Tính lịch sử của tôn giáo
Về mặt nhận thức, tôn giáo ra đời khi con người đạt đến trình độ nhận
thức tư duy trừu tượng. Về kinh tế, phải phát triển đến trình độ cao, có lOMoAR cPSD| 61548596
một bộ phận người dân đã thoát ly được lao động tự nhiên mà vẫn có thể
duy trì cuộc sống của mình thì khi đó mới có sự ra đời của tôn giáo
Tôn giáo có sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi
trong những giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ
chính trị - xã hội. Khi các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử thay đổi, tôn
giáo cũng có sự thay đổi theo. Trong quá trình vận động của các tôn giáo,
chính các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo
bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau. Do đó, tôn
giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử.
Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch
sử. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đến một giai đoạn lịch
sử nào đó, khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân
dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo
sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức,
niềm tin của mỗi người
- Tính quần chúng của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân tộc, quốc
gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng
tín đồ rất đông đảo (3/4 dân số thế giới); mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn
giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân
dân. Dù tôn giáo hướng con người vào niềm tin hạnh phúc hư ảo của thế
giới bên kia, xong nó luôn luôn phản ánh khát vọng của những người lao
động về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Mặt khác, nhiều tôn giáo có
tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều người ở các
tầng lớp khác nhau trong xã hội đặc biệt là quần chúng lao động tin theo
- Tính chính trị của tôn giáo
Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức hồn nhiên,
ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung quanh mình, tôn giáo
chưa mang tính chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi
xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai
cấp. Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã
hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc
đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị.
Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ lOMoAR cPSD| 61548596
cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã
hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ. Những cuộc chiến
tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các cuộc xung đột tôn giáo ở
bán đảo Ban Căng, ở Pakixtan, ấn Độ, Angiêri, ... đều xuất phát từ những
ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội, lợi dụng tôn giáo để thực
hiện mục tiêu chính trị của mình.
Vì vậy, cần nhận rõ rằng, đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm
thỏa mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các
thế lực chính trị - xã hội lợi dụng thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
Ngoài ra, tôn giáo còn có tính phản khoa học, mang yếu tố trái ngược,
ngược lại với khoa học. Bởi vì thế giới quan của tôn giáo là duy tâm, sự
lý giải của tôn giáo mang màu sắc duy tâm tôn giáo, thông qua lăng kính
tôn giáo mà phản ảnh những hư ảo nên tôn giáo có tính chất phản khoa học