Nói đến dân chủ nói đến quyền làm chủ của nhân dân không chỉ trong đời sống chính
trị còn trong cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa hội. Trong điều kiện hiện nay, khi Việt
Nam tiếp tục xây dựng chủ nghĩa hội trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa (XHCN), thì việc hoàn thiện thể chế, đặc biệt là thúc đẩy vai trò của khu
vực kinh tế nhân, trở thành một chìa khóa quan trọng để mở rộng củng cố nền dân
chủ thực chất.
Trước hết, cần hiểu rằng dân chủ hội chủ nghĩa không chỉ dừng lại các quyền chính
trị bầu cử, ứng cử hay biểu đạt còn bao gồm quyền tham gia quản hội, quyền
hội. Trong bối cảnh đó, một nền kinh tế nhân năng động được tạo điều kiện phát
triển nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự tham gia sâu rộng của người dân vào đời sống
kinh tế tiền đề thực chất của dân chủ.
Việc xem kinh tế nhân “một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển
kinh tế đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 112) không hề mâu thuẫn với định
hướng XHCN. Ngược lại, điều này thhiện sự vận dụng sáng tạo nguyên của chủ
nghĩa Mác Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, nơi thời kỳ quá độ đòi hỏi sự
tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của lực lượng
sản xuất trong xây dựng CNXH (Marx & Engels, 1848/2008).
Hơn thế nữa, sự phát triển của kinh tế nhân đồng nghĩa với việc người dân thêm
hội khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, từ đó nâng cao năng lực kinh tế của bản thân
điều kiện không thể thiếu để họ thể tham gia một cách bình đẳng tự tin vào c hoạt
động hội, chính trị. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước giải phóng
dân tộc không con đường nào khác ngoài con đường cách mạng sản” (Hồ Chí
Minh, 1945/2002, tr. 87) trong đó, kinh tế phải nền tảng dân chủ mục tiêu.
Một thể chế kinh tế thị trường hiện đại không chỉ giúp kinh tế nhân phát triển mạnh mẽ
còn loại bỏ dần chế “xin cho”, vốn mảnh đất màu mcho tham nhũng bất
công. Điều này phù hợp với nguyên tắc “mọi quyền lực nhà nước đều thống nhất, sự
phân công, phối hợp kiểm soát giữa các quan lập pháp, hành pháp pháp” theo
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 trụ cột của dân chủ pháp quyền XHCN (Quốc hội,
2013).
Cuối cùng, không thể không nhắc đến vai thội của khu vực kinh tế nhân. Chính
tại đây, các hình tổ chức hội như công đoàn độc lập, hiệp hội doanh nghiệp, tổ
chức nghề nghiệp… được hình thành và phát triển. Chúng không chỉ góp phần bảo vệ
quyền lợi người lao động còn những "trường học dân chủ" quan trọng, giúp hình
thành công dân ý thức, tiếng nói, khả năng phản biện tham gia vào quá trình
xây dựng chính sách điều cốt lõi của một nền dân chủ thực chất (Nguyễn, 2022).
Trong quá trình phát triển kinh tế hội, khu vực kinh tế nhân tại Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng bộc lộ không ít hạn chế thách thức
cần được nhận diện khắc phục để phát triển bền vững.
2.1. Thành tựu nổi bật
tăng đều qua các năm. Đến năm 2022, cả nước 735.455 doanh nghiệp đang hoạt động, trong
đó khu vực ngoài nhà nước chiếm đến 96,63% (tương đương 710.664 doanh nghiệp), tăng 1,2
lần so với năm 2018, với tốc độ tăng bình quân 4,74%/năm (Nguyễn Trường An, 2024).
Đóng góp lớn vào GDP ngân sách nhà nước: Kinh tế nhân hiện đóng góp khoảng
40% GDP, 30% thu ngân sách, đồng thời tạo việc làm cho khoảng 85% lực ợng lao
động cả nước (Tạp chí Tài chính, 2020).
Tăng trưởng về quy vốn: Tổng vốn sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhân
tăng mạnh từ 20.669,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 33.325,1 nghìn tỷ đồng năm 2022,
chiếm khoảng 59,38% tổng vốn của c doanh nghiệp (Nguyễn Tờng An, 2024).
Tạo công ăn việc làm cho phần lớn người lao động: Khu vực nhân nơi hấp thụ lao
động lớn nhất, chiếm tới 85% tổng số lao động trong các doanh nghiệp. Với khả năng
linh hoạt trong tuyển dụng mở rộng sản xuất, khu vực này đóng vai trò ổn định hội,
đặc biệt sau đại dịch COVID-19 (Tổng cục Thống kê, 2022).
Nâng cao sức cạnh tranh quốc gia: Nhiều doanh nghiệp nhân như Vingroup, FPT,
Masan, Hòa Phát, Thaco đã vươn tầm khu vực quốc tế. Các doanh nghiệp vừa nhỏ
cũng ngày càng năng động, đóng góp tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao hình
ảnh thương hiệu quốc gia Việt Nam (CIEM, 2022; Brand Finance, 2023).
Thúc đẩy cải cách thể chế môi trường đầu tư: Sự phát triển nhanh của khu vực
nhân động lực khiến Nhà nước cải cách mạnh mẽ thể chế. Các chương trình cải thiện
PCI, cắt giảm điều kiện kinh doanh, nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng... đều chịu ảnh
hưởng tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp nhân (World Bank, 2020).)
2.2. Hạn chế thách thức
Quy doanh nghiệp còn nhỏ: Phần lớn doanh nghiệp nhân nhỏ siêu nhỏ.
Trung bình mỗi doanh nghiệp chỉ 13 lao động, thấp hơn nhiều so với doanh
nghiệp nhà nước (512,4) FDI (229). Về vốn, quy trung bình chỉ 43,8 tỷ đồng,
trong khi doanh nghiệp nhà nước 5.300 tỷ FDI 420 tỷ đồng
(VietnamFinance, 2024).
Đầu công nghệ còn hạn chế: Tỷ lệ đầu cho đổi mới công nghệ chỉ đạt 0,3%
doanh thu. Thiếu các doanh nghiệp "đầu tàu" khả năng dẫn dắt toàn ngành
(Trần Văn Hùng, 2023).
Khó tiếp cận vốn thị trường: Doanh nghiệp nhỏ vừa gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận tín dụng mở rộng thtrường, làm hạn chế khả năng cạnh tranh
phát triển bền vững (Nguyễn Trường An, 2024).
Vai trò chưa được ghi nhận đầy đủ: nhiều đóng góp, kinh tế nhân vẫn
chưa được công nhận đúng mức về vai trò vị thế, ảnh hưởng đến động lực tâm
phát triển của doanh nghiệp (VietnamFinance, 2024).
Thiếu liên kết, chuỗi giá trị nội địa yếu: Nhiều doanh nghiệp SMEs hoạt động rời
rạc, chưa tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng. Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành chủ
lực như điện tử chỉ đạt 5–10%, phần lớn giá trị gia tăng thuộc về doanh nghiệp
nước ngoài (CIEM, 2022).
Chất lượng quản trị còn yếu: Doanh nghiệp nhân, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ,
thiếu minh bạch tài chính, không chiến lược dài hạn, chưa áp dụng quản trị theo
chuẩn quốc tế, dẫn đến rủi ro cao trong quá trình hội nhập (OECD, 2021).
Để kinh tế nhân thực sự trthành “động lực quan trọng nhất của tăng trưởng” từ đó
góp phần thúc đẩy dân chủ một cách thực chất bền vững, cần những giải pháp đồng
bộ cả về thể chế, chính ch, môi trường pháp lý, năng lực doanh nghiệp vai trò của
Nhà nước. Dưới đây là một số nhóm giải pháp quan trọng:
3.1. Hoàn thiện thể chế khung pháp minh bạch, nhất quán
Một môi trường pháp công bằng nền tảng cho dân chủ hiệu quả. Cần hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua:
- Xóa bỏ chế “xin cho”, đặc quyền trong quản kinh tế.
- Ban hành khung pháp ràng, dthực thi cho doanh nghiệp nhân.
- Rút ngắn thủ tục hành chính, minh bạch hóa thông tin, đảm bảo cạnh tranh bình
đẳng.
- Theo World Bank (2020), cải cách thchế yếu tố then chốt nâng cao năng lực
cạnh tranh môi trường đầu .
3.2. Phát triển doanh nghiệp nhân chuyên nghiệp, hiện đại
Chất lượng doanh nghiệp quyết định vai thội của khu vực nhân. Cần:
- Khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số công nghệ xanh.
- Nâng cao kỹ năng quản trị, minh bạch tài chính, tăng khả năng tiếp cận vốn.
- Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trung bình lớn khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị.
- Sự trưởng thành của doanh nghiệp kéo theo sự trưởng thành của người lao động
các tổ chức hội nền tảng của dân chủ sở (CIEM, 2022).
3.3. Xây dựng văn hóa kinh doanh tinh thần công dân doanh nghiệp
Dân chủ bền vững cần được nâng đbởi văn hóa doanh nghiệp:
- Thúc đẩy chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh.
- Khuyến khích doanh nhân tham gia hoạt động hội, môi trường, giáo dục.
- Tạo điều kiện để hiệp hội doanh nghiệp phản biện chính sách, nâng cao tiếng nói
trong đời sống chính trị hội.
3.4. Tăng cường giám sát, phản biện tham gia chính ch
Doanh nghiệp cần được tham gia tích cực vào quá trình hoạch định giám sát chính
sách:
- Thiết lập hành lang pháp cho hiệp hội ngành nghề tham vấn chính sách.
- Thúc đẩy chế đối thoại định kỳ giữa doanh nghiệp chính quyền.
- Phát huy vai trò báo chí, công đoàn, tổ chức hội trong giám sát bảo vngười
lao động.
Tóm lại, phát triển kinh tế nhân không chỉ một chiến lược kinh tế, còn bước
tiến chính trị hội. Chính ch cần hướng tới “nuôi dưỡng doanh nghiệpthay chỉ
“quản doanh nghiệp”. Khi người dân làm chủ về kinh tế, họ mới thể làm chủ thực
chất về chính trị hội.
Tài liệu tham khảo (APA 7):
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII (Tập I). Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2002). (Tập 4). Nội: NXB Chính trQuốc gia. (Tác Toàn tập
phẩm gốc xuất bản năm 1945)
Marx, K., & Engels, F. (2008). (Bản dịch tiếng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Việt). Nội: NXB Sự Thật. (Tác phẩm gốc xuất bản năm 1848)
Nguyễn, V. T. (2022). Kinh tế nhân dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay. Tạp chí luận Chính trị, số 4.
Tổng cục Thống kê. (2022). . Nội: NXB Niên giám thống quốc gia 2022
Thống kê.
Brand Finance. (2023). Vietnam 100 2023: Top 100 most valuable Vietnamese
brands. Truy cập từ https://brandfinance.com
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản Kinh tế Trung ương.
World Bank. (2020). Doing Business 2020: Comparing Business Regulation in
190 Economies. Washington, DC: World Bank Group.
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản Kinh tế Trung ương.
OECD. (2021). . Organisation for SME and Entrepreneurship Policy in Viet Nam
Economic Co-operation and Development. Truy cập từ https://www.oecd.org
Nguyễn Trường An. (2024). Thực trạng phát triển kinh tế nhân Việt Nam.
Tạp chí Kinh tế Dự báo.
Trần Văn Hùng. (2023). Phát triển kinh tế nhân Việt Nam: Thực trạng giải
pháp. Viện Kinh tế Việt Nam.
VietnamFinance. (2024). Kinh tế nhân Việt Nam: Thách thức triển vọng
trong bối cảnh mới.
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản Kinh tế Trung ương.
World Bank. (2020). Doing Business 2020: Comparing Business Regulation in
190 Economies. Washington, DC: World Bank Group.
UNDP & CIEM. (2021). Kinh tế nhân Việt Nam: Thách thức định hướng
phát triển đến 2030. Nội: NXB Chính trị Quốc gia.

Preview text:

Nói đến dân chủ là nói đến quyền làm chủ của nhân dân – không chỉ trong đời sống chính
trị mà còn trong cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong điều kiện hiện nay, khi Việt
Nam tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN), thì việc hoàn thiện thể chế, đặc biệt là thúc đẩy vai trò của khu
vực kinh tế tư nhân, trở thành một chìa khóa quan trọng để mở rộng và củng cố nền dân chủ thực chất.
Trước hết, cần hiểu rằng dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ dừng lại ở các quyền chính
trị – bầu cử, ứng cử hay biểu đạt – mà còn bao gồm quyền tham gia quản lý xã hội, quyền
tiếp cận nguồn lực, hưởng thụ thành quả phát triển, và được bảo đảm bình đẳng về cơ
hội. Trong bối cảnh đó, một nền kinh tế tư nhân năng động và được tạo điều kiện phát
triển là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự tham gia sâu rộng của người dân vào đời sống
kinh tế – tiền đề thực chất của dân chủ.
Việc xem kinh tế tư nhân là “một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển
kinh tế đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 112) không hề mâu thuẫn với định
hướng XHCN. Ngược lại, điều này thể hiện sự vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ
nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, nơi mà thời kỳ quá độ đòi hỏi sự
tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của lực lượng
sản xuất trong xây dựng CNXH (Marx & Engels, 1848/2008).
Hơn thế nữa, sự phát triển của kinh tế tư nhân đồng nghĩa với việc người dân có thêm cơ
hội khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, và từ đó nâng cao năng lực kinh tế của bản thân –
điều kiện không thể thiếu để họ có thể tham gia một cách bình đẳng và tự tin vào các hoạt
động xã hội, chính trị. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí
Minh, 1945/2002, tr. 87) – trong đó, kinh tế phải là nền tảng và dân chủ là mục tiêu.
Một thể chế kinh tế thị trường hiện đại không chỉ giúp kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ
mà còn loại bỏ dần cơ chế “xin – cho”, vốn là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng và bất
công. Điều này phù hợp với nguyên tắc “mọi quyền lực nhà nước đều thống nhất, có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp” theo
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 – trụ cột của dân chủ pháp quyền XHCN (Quốc hội, 2013).
Cuối cùng, không thể không nhắc đến vai trò xã hội của khu vực kinh tế tư nhân. Chính
tại đây, các mô hình tổ chức xã hội như công đoàn độc lập, hiệp hội doanh nghiệp, tổ
chức nghề nghiệp… được hình thành và phát triển. Chúng không chỉ góp phần bảo vệ
quyền lợi người lao động mà còn là những "trường học dân chủ" quan trọng, giúp hình
thành công dân có ý thức, có tiếng nói, có khả năng phản biện và tham gia vào quá trình
xây dựng chính sách – điều cốt lõi của một nền dân chủ thực chất (Nguyễn, 2022).
Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng bộc lộ không ít hạn chế và thách thức
cần được nhận diện và khắc phục để phát triển bền vững. 2.1. Thành tựu nổi bật
Tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp: Từ năm 2018 đến 2022, số doanh nghiệp tư nhân
tăng đều qua các năm. Đến năm 2022, cả nước có 735.455 doanh nghiệp đang hoạt động, trong
đó khu vực ngoài nhà nước chiếm đến 96,63% (tương đương 710.664 doanh nghiệp), tăng 1,2
lần so với năm 2018, với tốc độ tăng bình quân 4,74%/năm (Nguyễn Trường An, 2024).
Đóng góp lớn vào GDP và ngân sách nhà nước: Kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng
40% GDP, 30% thu ngân sách, đồng thời tạo việc làm cho khoảng 85% lực lượng lao
động cả nước (Tạp chí Tài chính, 2020).
Tăng trưởng về quy mô vốn: Tổng vốn sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
tăng mạnh từ 20.669,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 33.325,1 nghìn tỷ đồng năm 2022,
chiếm khoảng 59,38% tổng vốn của các doanh nghiệp (Nguyễn Trường An, 2024).
Tạo công ăn việc làm cho phần lớn người lao động: Khu vực tư nhân là nơi hấp thụ lao
động lớn nhất, chiếm tới 85% tổng số lao động trong các doanh nghiệp. Với khả năng
linh hoạt trong tuyển dụng và mở rộng sản xuất, khu vực này đóng vai trò ổn định xã hội,
đặc biệt sau đại dịch COVID-19 (Tổng cục Thống kê, 2022).
Nâng cao sức cạnh tranh quốc gia: Nhiều doanh nghiệp tư nhân như Vingroup, FPT,
Masan, Hòa Phát, Thaco đã vươn tầm khu vực và quốc tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng ngày càng năng động, đóng góp tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao hình
ảnh thương hiệu quốc gia Việt Nam (CIEM, 2022; Brand Finance, 2023).
Thúc đẩy cải cách thể chế và môi trường đầu tư: Sự phát triển nhanh của khu vực tư
nhân là động lực khiến Nhà nước cải cách mạnh mẽ thể chế. Các chương trình cải thiện
PCI, cắt giảm điều kiện kinh doanh, nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng... đều chịu ảnh
hưởng tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp tư nhân (World Bank, 2020).)
2.2. Hạn chế và thách thức
Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ: Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là nhỏ và siêu nhỏ.
Trung bình mỗi doanh nghiệp chỉ có 13 lao động, thấp hơn nhiều so với doanh
nghiệp nhà nước (512,4) và FDI (229). Về vốn, quy mô trung bình chỉ 43,8 tỷ đồng,
trong khi doanh nghiệp nhà nước là 5.300 tỷ và FDI là 420 tỷ đồng (VietnamFinance, 2024).
Đầu tư công nghệ còn hạn chế: Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ chỉ đạt 0,3%
doanh thu. Thiếu các doanh nghiệp "đầu tàu" có khả năng dẫn dắt toàn ngành (Trần Văn Hùng, 2023).
Khó tiếp cận vốn và thị trường: Doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận tín dụng và mở rộng thị trường, làm hạn chế khả năng cạnh tranh và
phát triển bền vững (Nguyễn Trường An, 2024).
Vai trò chưa được ghi nhận đầy đủ: Dù có nhiều đóng góp, kinh tế tư nhân vẫn
chưa được công nhận đúng mức về vai trò và vị thế, ảnh hưởng đến động lực và tâm
lý phát triển của doanh nghiệp (VietnamFinance, 2024).
Thiếu liên kết, chuỗi giá trị nội địa yếu: Nhiều doanh nghiệp SMEs hoạt động rời
rạc, chưa tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng. Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành chủ
lực như điện tử chỉ đạt 5–10%, phần lớn giá trị gia tăng thuộc về doanh nghiệp nước ngoài (CIEM, 2022).
Chất lượng quản trị còn yếu: Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ,
thiếu minh bạch tài chính, không có chiến lược dài hạn, chưa áp dụng quản trị theo
chuẩn quốc tế, dẫn đến rủi ro cao trong quá trình hội nhập (OECD, 2021).
Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành “động lực quan trọng nhất của tăng trưởng” và từ đó
góp phần thúc đẩy dân chủ một cách thực chất và bền vững, cần có những giải pháp đồng
bộ cả về thể chế, chính sách, môi trường pháp lý, năng lực doanh nghiệp và vai trò của
Nhà nước. Dưới đây là một số nhóm giải pháp quan trọng:
3.1. Hoàn thiện thể chế và khung pháp lý minh bạch, nhất quán
Một môi trường pháp lý công bằng là nền tảng cho dân chủ hiệu quả. Cần hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua:
- Xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, đặc quyền trong quản lý kinh tế.
- Ban hành khung pháp lý rõ ràng, dễ thực thi cho doanh nghiệp tư nhân.
- Rút ngắn thủ tục hành chính, minh bạch hóa thông tin, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.
- Theo World Bank (2020), cải cách thể chế là yếu tố then chốt nâng cao năng lực
cạnh tranh và môi trường đầu tư.
3.2. Phát triển doanh nghiệp tư nhân chuyên nghiệp, hiện đại
Chất lượng doanh nghiệp quyết định vai trò xã hội của khu vực tư nhân. Cần:
- Khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ xanh.
- Nâng cao kỹ năng quản trị, minh bạch tài chính, tăng khả năng tiếp cận vốn.
- Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trung bình và lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị.
- Sự trưởng thành của doanh nghiệp kéo theo sự trưởng thành của người lao động và
các tổ chức xã hội – nền tảng của dân chủ cơ sở (CIEM, 2022).
3.3. Xây dựng văn hóa kinh doanh và tinh thần công dân doanh nghiệp
Dân chủ bền vững cần được nâng đỡ bởi văn hóa doanh nghiệp:
- Thúc đẩy chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh.
- Khuyến khích doanh nhân tham gia hoạt động xã hội, môi trường, giáo dục.
- Tạo điều kiện để hiệp hội doanh nghiệp phản biện chính sách, nâng cao tiếng nói
trong đời sống chính trị – xã hội.
3.4. Tăng cường giám sát, phản biện và tham gia chính sách
Doanh nghiệp cần được tham gia tích cực vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách:
- Thiết lập hành lang pháp lý cho hiệp hội ngành nghề tham vấn chính sách.
- Thúc đẩy cơ chế đối thoại định kỳ giữa doanh nghiệp và chính quyền.
- Phát huy vai trò báo chí, công đoàn, tổ chức xã hội trong giám sát và bảo vệ người lao động.
Tóm lại, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là một chiến lược kinh tế, mà còn là bước
tiến chính trị – xã hội. Chính sách cần hướng tới “nuôi dưỡng doanh nghiệp” thay vì chỉ
“quản lý doanh nghiệp”. Khi người dân làm chủ về kinh tế, họ mới có thể làm chủ thực
chất về chính trị và xã hội.
Tài liệu tham khảo (APA 7):
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII (Tập I). Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2002). Toàn tập (Tập 4). Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. (Tác
phẩm gốc xuất bản năm 1945)
Marx, K., & Engels, F. (2008). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Bản dịch tiếng
Việt). Hà Nội: NXB Sự Thật. (Tác phẩm gốc xuất bản năm 1848)
Nguyễn, V. T. (2022). Kinh tế tư nhân và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay. Tạp chí Lý luận Chính trị, số 4.
Tổng cục Thống kê. (2022). Niên giám thống kê quốc gia 2022. Hà Nội: NXB Thống kê.
Brand Finance. (2023). Vietnam 100 2023: Top 100 most valuable Vietnamese
brands. Truy cập từ https://brandfinance.com
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
World Bank. (2020). Doing Business 2020: Comparing Business Regulation in
190 Economies. Washington, DC: World Bank Group.
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
OECD. (2021). SME and Entrepreneurship Policy in Viet Nam. Organisation for
Economic Co-operation and Development. Truy cập từ https://www.oecd.org
Nguyễn Trường An. (2024). Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
Tạp chí Kinh tế và Dự báo.
Trần Văn Hùng. (2023). Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Thực trạng và giải
pháp. Viện Kinh tế Việt Nam.
VietnamFinance. (2024). Kinh tế tư nhân Việt Nam: Thách thức và triển vọng trong bối cảnh mới.
CIEM. (2022). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam: Góc
nhìn chính sách. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
World Bank. (2020). Doing Business 2020: Comparing Business Regulation in
190 Economies. Washington, DC: World Bank Group.
UNDP & CIEM. (2021). Kinh tế tư nhân Việt Nam: Thách thức và định hướng
phát triển đến 2030. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.