lOMoARcPSD| 61548706
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
# thêm khái niệm chủ nghĩa xã hội
1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Vào những năm 40 của thế kỉ 19, các cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở ớc Anh
và bắt đầu chuyển sang Đức và Pháp. Từ đây làm xuất hiện 1 lực lượng sản xuất mới đó nền
đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp phát triển làm cho phương thức sản xuất bản chủ nghĩa
có bước tiến bộ ợt bậc.
Từ đó cũng làm cho mâu thuẫn của lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội lực lượng sản
xuất mang tính chất chiếm hữu tư nhân liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Nền đại công nghiệp
phát triển cũng làm xuất hiện 2 giai cấp có lợi ích đối lập nhau là giai cấp công nhân và giai cấp
tư sản. Từ đây các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của giai
cấp tư sản ngày càng mạnh mẽ. 3
Các cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ và từng bước hthống, trên quy mô rộng khắp. Sự phát
triển của các cuộc đấu tranh có tính chính trị của giai cấp công nhân là minh chứng, lần đầu tiên
giai cấp công nhân xuất hiện như 1 lực lượng chính tryêu sách kinh tế, chính trị riêng
ớng mũi nhọn các cuộc đấu tranh vào kẻ thù của mình là gia cấp tư sản.
Sự phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân đòi hỏi cần phải có 1 hệ thống lý luận soi đường
1 cương lĩnh chính trlàm kim chỉ nam mọi nh động. Điều kiện kinh tế - hội không chỉ
đặt ra yêu cầu cho các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho
rời đời 1 lý luận mới tốt đẹp hơn.
2. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận
Vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19, nhân loại đạt rất nhiều thành tựu to lớn về khoa học t nhiên và
khoa họchội, đặt nền móng cho mọi sự sáng tạo lý luận. Nhân loại đạt rất nhiều những thành
tựu khoa học tự nhiên vượt thời đại về vật học sinh học trong đó có: học thuyết tiến hóa;
học thuyết tế bào; định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Những phát minh này vai
trò làm tiền đề về khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử là cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên
cứu lý luận chính trị - xã hội đương thời.
Bên cạnh những thành tựu của khoa học tự nhiên; khoa học xã hội cũng đạt nhiều thành tựu to
lớn ; trong đó có: triết học cổ điển đức; kinh tế chính trị cổ điển Anh; chủ nghĩa hội không
ởng phê phán. Những ởng của hội chủ nghĩa không tưởng – phê phán Pháp đã đem
đến nhiều giá trị: 1. Trên ởng phê phán lên án chế độ quân chủ chuyên chế bản
chủ nghĩa đầy bất công, bóc lột và đầy xung đột. 2. Nêu ra nhiều lý luận cho xã hội trong tương
lai như: phân công lao động, phân phối hàng hóa trong xã hội, tầm quan trọng của khoa học kĩ
thuật; giải phóng phụ nữ,....3. trên tư tưởng phê phán, lên án kết hợp với sự dấn thân của các
nhà tư tưởng vào thực tiễn, có chừng mực đã làm thc tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trong cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột, áp bức của chế độ quân chủ chuyên chế
bản chủ nghĩa. Tuy vậy xã hội chủ nghĩa không tưởng – phê phán còn gặp nhiều hạn chế hoc
do điều kiện lịch sử hoặc là do sự hạn chế về tầm nhìn thế giới quan của các nhàtưởng.
Chính nhng hạn chế này khiến chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán chỉ dừng lại là 1 học
thuyết. Song vượt lên tất cả những thành tựu về khoa học cống hiến của các nhà tưởng
đã tạo nên 1 tiền đề lý luận để C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những “hạt nhân hợp lý”; loại bỏ
những quan điểm bt hợp lý để xây dng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.
lOMoARcPSD| 61548706
Câu 2: Vai trò của C.Mác Ph.Ăngghen trong sra đời của nghĩa xã hội khoa học
Để đi phân tích vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen trong sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa
học, ta đi phân tích qua schuyển biến lập trường triết học lập trường chính trị, 3 phát
kiến vĩ đại và tuyên ngôn của đảng cộng sản- mốc đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
khoa học.
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
Ban đầu lập trường tiết học của C.Mác và Ph.Ăngghen là lập trường triết học duy tâm do 2 ông
chịu ảnh hưởng của việc tham gia vào câu lạc bộ sinh hoạt triết học hêghen trẻ. Bằng nhãn quan
sự hiểu biết của mình rất nhanh 2 ông đã thấy được nhưng mặt hạn chế bất hợp lý của
triết học hêghen, 2 ông đã chuyển từ lập trường triết học duy tâm sang lập trường triết học duy
vật.
Bên cạnh sự chuyển biến lập trường triết học, C.Mác và Ph.Ăngghen có sự chuyển biến về lập
trường chính trị. Do chịu ảnh hưởng của việc tham gia các phong trào cũng giai cấp công nhân,
2 ông đã thấy sự thng khổ trong họ và quan trọng hơn 2 ông đã thấy được tinh thần cách mạng
trong những người công nhân đó. vậy 2 ông đã chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng
sang lập trường chủ nghĩa xã hội.
Trong 1 khoảng thời gian, gắn liền với nghiên cứu luận hoạt động thực tiễn, C.Mác
Ph.Ăngghen đã khẳng định 1 cách kiên định về lý luận này. Nếu không có sự chuyển biến này
thì sẽ không có chủ nghĩa Mác sau này.
2. Ba phát kiến vĩ đại
Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng, xóa bỏ những quan điểm duy
tâm thần của triết học hêghen, kế thừa những giá trị duy vật và loại bỏ những quan điểm siêu
hình của triết học phoiơbắc, kết hợp nghiên cứu khoa học tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Dựa trên phép duy vật biện chng, 2 ông đi sâu vào
nghiên cứu chủ nghĩa tư bản
và cho ra đời chủ nghĩa duy vật lịch sử- phát kiến vĩ đại thứ nht của C.Mác và Ph.Ăngghen, lời
khẳng định sự diệt vong chủ chủ nghĩa tư bản về phương diện triết học là không thể tránh khỏi.
Trên cơ sở phát kiến vĩ đại thứ nhất: chủ nghĩa duy vật lch sử, 2 ông đi sâu vào nghiên cứu nền
sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và cho ra đời bộ “tư bản”. Và giá trị to lớn
nhất trong đó chính là học thuyết giá trị thặng dư- phát kiến đại thứ 2 của C.Mác
Ph.Ăngghen sự khẳng định sự diệt vong của chủ nghĩa bản về mặt kinh tế không thể
tránh khỏi
Trên cơ sở 2 phát kiến vĩ đại trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho ra phát kiến vĩ đại th3 đó là
học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân giai
cấp sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản chủ
nghĩa hội. Với phát kiến đại thứ 3 này thì những mặt hạn chế tính lịch sử của chủ nghĩa
hội không tưởng phê phán đã được khắc phục 1 cách triệt để đây cũng lời khẳng
định sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản về phương diện chính trị - hội không thể tránh
khỏi.
3. Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản
ới sự ủy nhiệm của người cộng sản công nhân quốc tế, ngày 24/2/1848 Tuyên ngôn của
Đảng Cộng Sản được biên soạn bởi C.Mác Ph.ăngghen được công bố trên toàn thế giới.
lOMoARcPSD| 61548706
Tác phẩm đại này cũng đánh dấu sự hình thành cơ bản về lý luận của triết học Mác: triết học,
kinh tế chính trị khoa học, chủ nghĩa hội khoa học. Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản đã nêu
và phân tích 1 cách có hệ thống lịch sử và
logic chặt chẽ về những vấn đề cơ bản nhất, súc tích nhất, đầy đủ nhất và gần như thâu tóm
được toàn bộ luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tuyên ngôn của đảng cộng sản là kim
chỉ nam cho mọi hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là ngọn cờ dẫn dắt
giai cấp công nhân và nhân dân lao động thc hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Với mục tiêu giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi sự bóc lột, áp bức và bảo đảm sự hòa bình tự do hạnh
phúc.
Câu 3: Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân
1. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Thnhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân :
Giai cấp công nhân là con đẻ, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, mang tính xã hội hóa cao,
chủ thể trong việc sản xuất vật chất cho xã hội. Giai cấp công nhân đại điện cho phương thức
sản xuất tiên tiến lực lượng sản xuất hiện đại. Trong hội nay, khi lao trộng trên phương
pháp sản xuất công nghiệp hiện đại thì giai cấp công nhân là người sản xuất ra của cải vật chất
cho xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội. Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế quy
định giai cấp công nhân là lực lượng phá vỡ mối quan hệ trong tư bản chủ nghĩa, giành lại chính
quyền về tay nh, chuyển từ giai cấp “tự nó” thành giai cấp nó”. Giai cấp công nhân trở
thành đại biểu cho sự phát triển tất yếu của lịch sử và là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện để xây
dựng nền móng cho chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định:
Giai cấp công nhân giai cấp sản xuất chủ yếu của cải vật chất cho hội tuy nhiên trong
bản chủ nghĩa giai cấp công nhân không quyền sở hữu liệu lao động học chỉ thể
bán sức lao động của mình chịu sự áp bức bóc lột của giai cấp sản vì vậy lợi ích của họ
đối lập với lợi ích của giai cấp sản thống nhất với hầu hết lợi ích của tầng lớp nhân dân
lao động.
con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân cũng những phẩm chất
của 1 giai cấp cách mạng và giai cấp tiên tiến: có tổ chc và kỉ luật, tự giác và đoàn kết trong
các phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng hội. Các phẩm cht ấy của giai
cấp công nhân được hình thành tnhững điều kiện khách quan, được quy định từ địa vị kinh
tế quy định về địa vị chính trị hội của nó trong nền sản xuất vật chất hiện đại. Giai cấp
công nhân được trang bị lý luận chính trị tiên tiến là chủ nghĩa Mác- Lênin và đội tiền phong
Đảng Cộng Sản dẫn dắt.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thực hiện sở dĩ giai cấp công nhân là 1 giai cấp
cách cách mạng, là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, lực lượng sản xuất
hiện đại để thay thế cho phương thức sản xuất bản chủ nghĩa đầy bất công. Giai cấp công
nhân là giai cấp đại biểu cho tương lai và đảm bảo cho sự phát triển liên tục của xã hội
2. Những điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch s của giai cấp công nhân
lOMoARcPSD| 61548706
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số ợng và chất lượng
Sự phát triển của bản thân của giai cấp công nhân về cả số ợng và chất lượng. Thông qua sự
phát triển đó ta thể thấy được sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng quy sản xuất
vật chất hiện đại trên cơ sở sản xuất công nghiệp, công nghệ, khoa học - kĩ thuật. Sự phát triển
về số ợng của giai cấp công nhân phải đi đôi với sự phát triển về chất lượng để đảm bảo giai
cấp công nhân có thể thc hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chất lượng của giai cấp công nhân
thhiện qua trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của 1 giai cấp cách mạng. Tức là giai cấp
công nhân phải tự giác thấy được vai trò trách nhiệm của giai cấp nh đối với lịch sử. Do
vậy giai cấp công nhân cần phải được giác ngộ luận khoa học cách mạng chủ nghĩa Mác
– Lênin.
giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng của giai cấp công nhân được
thhin ở trình độ, năng lực làm chủ khoa học kỹ thuật và máy móc tiên tiến nhất là trong thời
kỳ ngày nay. Để đảm bảo sự phát triển của giai cấp công nhân về cả số ợng chất lượng,
Mác Lênin đã chỉ ra 2 biện pháp bản: 1. Phát triển công nghiệp , 2. Sự trưởng thành của
Đảng Cộng Sản- hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân. Chỉ với sự phát triển về
số ợng chất lượng nhất về chất lượng mới đảm bảo việc giai cấp công nhân thực hiện
thành công sứ mệnh lịch sử của mình.
ĐCS là nhân tquan trọng nhất để giai cấpng nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của mình
Đảng Cộng Sản nhân tchủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thành
công sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời
đảm nhiệm vai trò lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân: thể hiện sự
phát triển vượt bậc của giai cấp công nhân với cách 1 giai cấp cách mạng. Quy luật chung,
phbiến cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức
chủ nghĩa Mác Lênin phong trào công nhân. Giai cấp công nhân sở của hội,
nguồn bổ sung nhân lực quan trọng nhất của Đảng, làm cho đảng mang bản chất của giai cấp
công nhân, trở thành đội tiên phong bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng đại biểu
trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, dân tộc, xã hội.
Cần có s liên minh giữa giai cấp công nhân với các giai cấp tầng lớp khác.
Ngoài hai nhân tố chủ quan đã được nêu trên,c – Lênin đã khẳng định :” để cuộc cách mạng
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, cần phải có sự liên minh giai
cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác do
giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Đây cũng 1 điều
kiện chủ quan không thể thiếu cho s thắng lợi của giai cấp công nhân
Câu 4: Tính khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định:”Lịch sử xã
hội loài người trải qua 5 hình thái kinh tế - hội đó là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu
lệ, phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản.” Trong các hình thái kinh tế trên thì hình
thái kinh tế chủ nghĩa cộng sản có sự khác biệt về chất, trong đó không có giai cấp đối kháng
con người dần trở lên tdo,... theo các nhà chủ nghĩa hội khoa học cho rằng từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản nhất thiết phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị.
Mong muốn có 1 xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp để thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa
đầy bất công áp bức bóc lột là một mong muốn chính đáng. Song các nhà kinh điển cho
lOMoARcPSD| 61548706
rằng mong muốn ấy không thể cầu được ước thấy bởi lẻ giai cấp công nhân cần phải thời
gian cải tạo xã hội cũ và xây dựng nền móng lâu dài cho chủ nghĩa xã hội.
Thấy được sự cần thiết của thời kỳ quá độ, các nhà sáng lập chủ nghĩa hội khoa học đã phân
quá đra làm 2 loại đó là: quá độ trc tiếp và quá độ gián tiếp. 1. Quá độ trực tiếp là thời kỳ quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản dành cho những ớc đã từng trải qua chủ nghĩa
tư bản phát triển. Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có quốc gia nào từng trải qua thời kỳ quá độ
trực tiếp từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa cộng sản. 2. Qđộ gián tiếp: thời kỳ quá độ dành
cho những nước chưa từng trải qua thời kì chủ nghĩa tư bản phát triển.
Phát triển từ 1 ý kiến cho rằng :” chủ nghĩa cộng sản không phải là 1 trạng thái cần sáng tạo ra
cũng không phải 1 tưởng cần phải tuân theo kết quả của các phong trào hiện
thực”. Các nhà xã hội khoa học cho rằng : các nước lạc hậu dưới sự giúp đỡ của giai cấp công
nhân đã giành được thắng lợi có thể rút ngắn được thời gian phát triển.
Vận dụng và phát triển từ những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, sau
cách mạng tháng 10 Nga V.I.Lênin đã khẳng định:” Dưới sự giúp đỡ của giai cấp công nhân
của các nước tiên tiến, các nước lạc hậu thể tiến tới chế độ viết, thông qua 1 số giai đoạn
phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà không cần trải qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa”.
Quán triệt, vận dụng,phát triển sáng tạo những quan điểm của Mác Lênin trong thời đại ngày
này, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản diễn ra trong phạm vi toàn
cầu, ta có thể khẳng định: trong thời kỳ toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các
ớc lạc hậu sau khi giành lại được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản có thể
tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà không cần trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Câu 5: Dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa mác-lênin
Khái niệm
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin : Dân tộc quá trình phát triển lâu dài của hội loài
người , trải qua các hình thái cộng đồng từ thấp tới cao : thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, dân tộc. Sự
chuyển biến phương thức sản xuất nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân
tộc.
Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc.
+ Xu hướng thứ nhất: cộng đồng dân muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân
tộc độc lập
+ Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều
quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
Nội dung cương lĩnh dân tộc:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin :”Các dân tộc hoàn toàn nh đẳng, các dân tộc
được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân giữa các dân tộc.
1. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: đây quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc, không phân
biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, mọi dân tộc đều có quyền và nghĩa
vụ như nhau trong các lĩnh vực của đời sống. Không 1 dân tộc nào được giữ đặc quyền về
lOMoARcPSD| 61548706
kinh tế, chính trị, xã hội. Trong mọi mối quan hệ xã hội cũng như mối quan hệ quốc tế, không
1 dân tộc nào có quyền đi áp bức bóc lột dân tộc khác. Trong 1 quốc gia đa dân tộc, để thc
hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc đầu tiên phải thể hiện qua sở pháp quan trọng
phải được thể hiện qua thực tế. Để thực hiện quyền bình đẳng, trước hết cần phải xóa bỏ
được sự áp bức bóc lột, từ đó xóa bỏ sự áp bức giai cấp, đứng lên đấu tranh chống lại chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc và dân tộc cực đoan. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở
để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc.
2. Các dân tộc được quyền tự quyết: các dân tộc được quyền tự quyết vận mệnh của dân tộc
mình. Các dân tộc quyền tự lựa chọn chế độ chính trị, con đường phát triển của dân tộc.
Quyền tự quyết bao gồm :phân lập thành 1 quốc gia dân tộc độc lập và kết hợp với các dân
tộc khác trên sở bình đẳng, tuy nhiên việc thực hiện quyền dân tộc cần phải gắn liền với
thực tiễn cụ thphải đứng vững trên lợi ích của giai cấp công nhân sao cho phải cân
bằng giữa lợi ích của giai cấp công nhân lợi ích của dân tộc. Quyền tự quyết dân tộc không
đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số trong 1 quốc gia đa tộc người nhất là phân
lập thành 1 quốc gia độc lập. Kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại các thành phần cực
đoan lợi dụng chiêu trò dân tộc tự quyết để xen vào vấn đề nội bộ của quốc gia và kích động
đòi ly khai dân tộc.
3. Liên hiệp công nhân các dân tc
Việc liên hiệp công nhân các dân tộc thể hiện sự thống nhất của giải phóng giai cấp
giải phóng dân tộc, phản ánh ràng chặt chẽ tinh thần chủ nghĩa yêu nước chủ nghĩa
quốc tế chân chính. Việc đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở để đoàn kết
các tầng lớp nhân nhân lao động trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì tự do
dân tộc hội tiến bộ. vậy nội dung này không chỉ nội dung bản còn
giải pháp quan trọng gắn liền các thành phần thành 1 cương lĩnh dân tc hoàn chỉnh.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-lênin là cơ sở lý luận quan trọng giúp Đảng Cộng Sản
thực hiện các chính sách về dân tộc trong thời giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Vận dụng vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân
tộc.
Về kinh tế, nội dung, nhiệm v kinh tế trong chính sách dân tộc là các chủ trương, chính sách
phát triển kinh tế - hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm
năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân
tộc.
Về văn hóa:y dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người, phát triển ngôn ngữ, xây dựng đời sống văn
hóa ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân các dân tộc.
Về xã hội: thc hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Từng bước thực hiện bình đẳng hội, công bằng thông qua việc thực hiện chính
sách phát triển kinh tế - hội, xóa đói giảm nghèo, dân số, y tế, giáo dục trên sở chú ý
đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tc.
Về an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên sở đảm bảo ổn định
chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng
trên từng địa bàn.
lOMoARcPSD| 61548706
Câu 6: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về khái niệm đặc điểm
của tôn giáo?
1. Bản chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin : Tôn giáo 1 hình thái ý thức
hội phản ánh sự hư ảo của hiện thực khách quan. Từ sự phản ánh đó những lực lượng
tự nhiên xã hội trở thành siêu nhiên thần bí. Để làm rõ hơn về vấn đề của tôn giáo, Mác – Lênin
đã chỉ rõ: tôn giáo 1 hiện tượng văn hóa giáo dục do con người sáng tạo lên. Con người
sáng tạo ra văn hóa nhằm đáp ứng những mục đích và lợi ích của họ. Tuy nhiên khi sáng tạo ra
tôn giáo con người lại phụ thuộc vào tôn giáo phục tùng tôn giáo 1 cách điều kiện. Về
phương diện thế giới quan, tôn giáo mang bản chất của thế giới quan duy tâm trái ngược lại với
thế giới quan duy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tôn giáo tín ngưỡng không đồng nhất nhưng có sự giao thoa nhất định. Tín ngưỡng những
niềm tin, sự ngưỡng mộ, cách thể hiện niềm tin của con người vào những thế lực thần bí, siêu
nhiên để cầu mong được giúp đỡ và che chở. Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông vào những
hiện tượng siêu nhiênkhông dựa trên bất ccơ sở khoa học nào. Mê tín dị đoan là niềm tin
của con người vào những thế lực thần bí, siêu nhiên 1 cách cuồng tín những hành động
cực đoan, sai lệch quá mức vchuẩn mực đạo đức con người, quy định, pháp luật của nhà
ớc gây tông hại đến cá nhân, xã hội và cộng đồng.
2. Nguồn gốc
Nguồn gốc kinh tế - hội: Trong hội cộng sản nguyên thủy, do lực lượng sản xuất chưa
phát triển, dưới sự chi phối và tác động của thiên nhiên hùng vĩ thì con người cảm thấy yếu t
và nhỏcùng. Vì vậy con người đã gắn cho tự nhiên sức mạnh và quyền lực thần bí. Trong
xã hội tồn tại giai cấp đối khángcó sự áp bức bóc lột, do không giải thích được nguyên nhân
dẫn đến sự phân hóa giai cấp và sự bóc lột, áp bức,..... cộng với việc lo sợ sự thng trị của lực
ợng xã hội,con người trông chờ vào sự giải phóng của thế lực siêu nhiên thần bí tồn tại ngoài
trần thế.
Nguồn gốc nhận thức: Trong giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự
nhiên, xã hội chính bản thân mình còn gặp nhiều hạn chế. Khoảng cách giữa “biết” và “không
biết” vẫn tồn tại, những hiện ợng nào mà khoa học chưa giải thích được thì thường được giải
thích dưới lăng kính của tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng
do trình độ dân trí thấp và sự chưa nhận thc được đầy đủ cũng là mảnh đất cho sự ra đời, tồn
tại phát triển của tôn giáo. Nguồn gốc của tôn giáo sự tuyệt đối hóa nhận thức của con
người biến những hiện thực khách quan thành thần bí, siêu nhiên.
Nguồn gốc về tâm lý: Sự sợ hãi trước tự nhiên, khi con người ốm đau bệnh tật, khi thử may rủi
hoặc tâm lý muốn được sau khi vừa thực hiện 1 việc lớn, con người cũng dễ tìm đến tôn giáo (
cúng thổ địa, ma chay,.....) . Ngay cả khi những niềm tin tích cực như tình yêu, sự biết ơn với
những anh hùng có công với đất nước,... con người vẫn dễ tìm đến tôn giáo ( thờ các anh hùng
liệt sĩ,....).
3. Tính chất của tôn giáo
lOMoARcPSD| 61548706
Tính lịch scủa tôn giáo: tôn giáo một hiện tượng hội tính lịch sử, nghĩa
sự hình thành, tồn tại phát triển khả năng biến đổi trong những
giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị- xã hội. Khi các
điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo.
Tính quần chúng của tôn giáo: tôn giáo là hiện tưỡng xã hội phổ biến ở tất cả
các dân tộc, quốc gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện
số lượng tín đồ rất đông đảo (gồm ¾ dân sthế giới); còn thể hiện ở chỗ, các
tôn giáo nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân.
Tính chính trị của tôn giáo: chỉ xuất hiện khi hội đã phân chia giai cấp, có
sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo sản phẩm
của những điều kiện kinh tế- xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp
khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tôn giáo mang tính
chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ
cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo
mang tính tiêu cực, phản tiến bộ.
4. Nguyên tắc giải quyết các vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ
Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không n ngưỡng của nhân dân : Tôn giáo
và tín ngưỡng là niềm tin của quần chúng nhân dân vào đấng tối cao, đấng thiêng liêng mà họ
tôn thờ, đây yếu tý thức tâm lý. vậy việc tự do tín ngưỡng hay tự do không tín ngưỡng
phụ thuộc vào quyền t
do tư tưởng của nhân dân. Những hành vi ngăn cấm, cấm đoán nhân dân theo đạo, bỏ đạo,
chuyển đạo hay ép buộc, đe dọa nhân dân theo đạo đều vi phạm đến quyền tự do tư tưởng của
nhân dân. Việc tôn trọng quyền tự do ởng của nhân dân thể hiện sự tôn trọng với quyền
của con người đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của xã hội chủ nghĩa. Nhà nước chủ nghĩa xã
hội không can thiệp cũng không cho phép 1 ai can thiệp vào quyền tự do tín ngưỡng của nhân
dân.
Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với cải tạohội cụxây
dựng hội mới: Nguyên tắc này thể hiện việc chủ nghĩa Mác Lênin chỉ tập trung vào việc
khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đến với đời sống xã hội chứ không tham gia
vào hoạt động nội bộ của tôn giáo. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định để thay đổi ý thức
hội thì phải thay đổi bản thân tồn tại trong hội, đxóa bỏ những ảo tưởng trong tưởng
nhân dân thì phải đi xóa bỏ nguyên nhân gây ra những ảo tưởng đó. Để thực hiện được điều
này đầu tiên cần phải xóa bỏ sự áp bức bóc lột,... Đây 1 quá trình dài và đòi hỏi cần phải
sự thống nhất giữa cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Phân biệt 2 mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết các vấn đề của tôn giáo : Trong
hội cộng sản nguyên thủy, tôn giáo tín ngưỡng được biểu hiện thuần túy về tưởng.
Nhưng trong xã hội có giai cấp thì dấu ấn giai cấp – chính trị ít nhiều cũng in sâu vào các tôn
giáo. 2 mặt chính trị vàtưởng thường xuyên thể hiệncó mối quan hệ với nhau trong vấn
đề của tôn giáo.
lOMoARcPSD| 61548706
Quan điểm lịch sử cụ thđể giải quyết các vấn đề của dân tộc: Tôn giáo không phải 1 hiện
ợng bất biến, luôn vận động biến đổi không ngừng tùy theo điều kiện kinh tế, văn
hóa, lịch s. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển khác nhau. Ở mỗi
điều kiện lịch sử khác nhau thì tác động vai trò của tôn giáo đối với đời sống hội không
giống nhau. Vì vậy cần có quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết các vấn đề của dân tộc.
# Vận dụng vào Việt Nam nước ta hiện nay
Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bphận nhân dân, đang và sẽ tồn tại
cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ớc ta
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Vấn đề theo đạo
truyền đạo.
Đặc điểm quan hệ dân tộc và tôn giáoViệt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo; quan hệ dân tộc và tôn giáo được thiết
lập và củng cố trên cơ sở cộng đồng quốc gia – dân tộc thống nhất
Quan hệ dân tộc và tôn giáo Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi tín ngưỡng truyền
thng
Các hiện tượng tôn giáo mới có xu hướng phát triển mạnh làm ảnh hưởng đến đời sống
cộng đồng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nhằm thực
hiện “diễn biến hòa bình”, nhất tập trung 4 khu vực trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung
Định hướng giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và đoàn kết tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách
mạng Việt Nam
Giải quyết mối quan hệ dân tộc tôn giáo phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng
quốc gia – dân tộc thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Giải quyết mối quan hệ dân tộc tôn giáo phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân, quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống
lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vào mục đích chính trị.
Câu 7: những chức năng cơ bản của gia đình 1. Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây chức năng bản nhất cũng chức năng đặc thù nhất của gia đình không một tổ
chức cộng đồng nào được. Thực hiện chức năng này đáp ứng thỏa mãn tâm sinh lý, đáp
lOMoARcPSD| 61548706
ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình và dòng họ, đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động xã
hội để duy trì sự trường tồn cho hội. Chức năng này được thực hiện mỗi gia đình nhưng
đây không phải là vấn đề riêng của gia đình mà nó còn là vấn đề của xã hội. Bỏi lẽ việc tái sản
xuất ra con ngưi ảnh hưởng đến mật độ dân số, nguồn lao động xã hội cho quốc gia, quốc tế
- yếu tố cấu thành xã hội. Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia, những quốc
gia họ sẽ khuyến khích có những quốc gia họ sẽ hạn chế chức năng này.
2. Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái
Đây chức năng bản của gia đình. Thực hiện chức năng này cha mẹ thhiện tình yêu thiêng
liêng đối với con cái, trách nhiệm của gia đình đối với xã hội. Việc giáo dục của gia đình đối với
con cái sẽ ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của con sau này.
Khi thực hiện chức năng nuôi dưỡng và giáo dục, mỗi gia đình như 1 môi trường văn hóa giáo
dục, mỗi thành viên trong gia đình như 1 chth sáng tạo văn hóa giáo dục, những người
được thụ ởng những giá trị về văn hóa là chthkhách quan chịu sự giáo dục của các
thành viên khác trong gia đình. Việc giáo dục của gia đình ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống
mỗi con người. Mặc dù trong xã hội có rất nhiều cộng đồng thực hiện chức năng giáo dục như
: trường học,..... nhưng không thể thay thế cho giáo dục gia đình. Thc hiện chc năng này gia
đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ - thế hệ tương lai cho xã hội,
nâng cao chất lượng nguồn lao động cho sự trường tồn của xã hội, mỗi con người đều được
hội hóa. Vì thế giáo dục gia đình phải gắn liền với giáo dục của xã hội. Nếu tách rời giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội thì con người sẽ không bt kịp được xã hội và ngược lại.
3. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Cũng giống như các đơn vị kinh tế khác, gia đình là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất tái sản xuất ra liệu sản xuất liệu tiêu dùng. Nhưng 1 đặc tcủa gia đình
không 1 cộng đồng hội nào được gia đình chủ ththam gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào quá
trình sản xuất và tái sản xuất vật chất sức lao động mà gia đình còn thực hiện chức năng tiêu
dùng cho hội. Gia đình thực hiện chức năng tiêu dùng vào việc duy trì đời sống gia đình về
lao động lẫn trong sinh hoạt. Đó là việc sử dụng các nguồn thu hợp lý vào việc đáp ứng đủ nhu
cầu về vật chất và tinh thần cho sự phát triển của các thành viên trong gia đình. Không chỉ vậy
gia đình còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải, vật chất làm giàu cho xã hội. Nếu
tận dụng được các nguồn vốn, nguồn đầu tư, tận dụng thực hiện triệt để chức này này thì gia
đình không những tạo được cơ sở tốt để phát triển gia đình, nuôi dạy con cái mà còn làm phát
triển cho xã hội.
4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý và duy trì hạnh phúc gia đình
Đây chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, văn hóa, tinh
thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. Việc quan tâm chăm
sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình cảm, vừa là trách nhiệm,
đạo lý, lương tâm mỗi con người. thế gia đình không chỉ chỗ dựa vững chắc về mặt vật
chất mà còn là chỗ dựa về mặt tinh
thần. Việc duy trì tình cảm trong gia đình cũng giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển cho xã hội,
khi các mối quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan
vỡ.
Về văn hóa gia đình đóng vai trò là nơi lưu giữ truyền bá văn hóa của mỗi tộc người. Gia đình
không chỉ nơi lưu giữ còn nơi sáng tạo ra văn hóa. Về chính trị, mỗi gia đình 1 t
lOMoARcPSD| 61548706
chức chính trị xã hội thực hiện các quy định, pháp luật của nhà nước, quy định của làng thôn
cũng là chủ th được thụ ởng trực tiếp từ những quy định này.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61548706
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
# thêm khái niệm chủ nghĩa xã hội
1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Vào những năm 40 của thế kỉ 19, các cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở nước Anh
và bắt đầu chuyển sang Đức và Pháp. Từ đây làm xuất hiện 1 lực lượng sản xuất mới đó là nền
đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp phát triển làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
có bước tiến bộ vượt bậc.
Từ đó cũng làm cho mâu thuẫn của lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội và lực lượng sản
xuất mang tính chất chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Nền đại công nghiệp
phát triển cũng làm xuất hiện 2 giai cấp có lợi ích đối lập nhau là giai cấp công nhân và giai cấp
tư sản. Từ đây các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của giai
cấp tư sản ngày càng mạnh mẽ. 3
Các cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ và từng bước có hệ thống, trên quy mô rộng khắp. Sự phát
triển của các cuộc đấu tranh có tính chính trị của giai cấp công nhân là minh chứng, lần đầu tiên
giai cấp công nhân xuất hiện như 1 lực lượng chính trị có yêu sách kinh tế, chính trị riêng và
hướng mũi nhọn các cuộc đấu tranh vào kẻ thù của mình là gia cấp tư sản.
Sự phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân đòi hỏi cần phải có 1 hệ thống lý luận soi đường
và 1 cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam mọi hành động. Điều kiện kinh tế - xã hội không chỉ
đặt ra yêu cầu cho các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho
rời đời 1 lý luận mới tốt đẹp hơn.
2. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận
Vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19, nhân loại đạt rất nhiều thành tựu to lớn về khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội, đặt nền móng cho mọi sự sáng tạo lý luận. Nhân loại đạt rất nhiều những thành
tựu khoa học tự nhiên vượt thời đại về vật lý học và sinh học trong đó có: học thuyết tiến hóa;
học thuyết tế bào; định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Những phát minh này có vai
trò làm tiền đề về khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử và là cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên
cứu lý luận chính trị - xã hội đương thời.
Bên cạnh những thành tựu của khoa học tự nhiên; khoa học xã hội cũng đạt nhiều thành tựu to
lớn ; trong đó có: triết học cổ điển đức; kinh tế chính trị cổ điển Anh; chủ nghĩa xã hội không
tưởng – phê phán. Những tư tưởng của xã hội chủ nghĩa không tưởng – phê phán Pháp đã đem
đến nhiều giá trị: 1. Trên tư tưởng phê phán và lên án chế độ quân chủ chuyên chế và tư bản
chủ nghĩa đầy bất công, bóc lột và đầy xung đột. 2. Nêu ra nhiều lý luận cho xã hội trong tương
lai như: phân công lao động, phân phối hàng hóa trong xã hội, tầm quan trọng của khoa học kĩ
thuật; giải phóng phụ nữ,....3. trên tư tưởng phê phán, lên án kết hợp với sự dấn thân của các
nhà tư tưởng vào thực tiễn, có chừng mực đã làm thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trong cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột, áp bức của chế độ quân chủ chuyên chế và tư
bản chủ nghĩa. Tuy vậy xã hội chủ nghĩa không tưởng – phê phán còn gặp nhiều hạn chế hoặc
là do điều kiện lịch sử hoặc là do sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của các nhà tư tưởng.
Chính những hạn chế này khiến chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán chỉ dừng lại là 1 học
thuyết. Song vượt lên tất cả những thành tựu về khoa học và cống hiến của các nhà tư tưởng
đã tạo nên 1 tiền đề lý luận để C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những “hạt nhân hợp lý”; loại bỏ
những quan điểm bất hợp lý để xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. lOMoAR cPSD| 61548706
Câu 2: Vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen trong sự ra đời của nghĩa xã hội khoa học
Để đi phân tích vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen trong sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa
học, ta đi phân tích qua sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị, 3 phát
kiến vĩ đại và tuyên ngôn của đảng cộng sản- mốc đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
Ban đầu lập trường tiết học của C.Mác và Ph.Ăngghen là lập trường triết học duy tâm do 2 ông
chịu ảnh hưởng của việc tham gia vào câu lạc bộ sinh hoạt triết học hêghen trẻ. Bằng nhãn quan
và sự hiểu biết của mình rất nhanh 2 ông đã thấy được nhưng mặt hạn chế và bất hợp lý của
triết học hêghen, 2 ông đã chuyển từ lập trường triết học duy tâm sang lập trường triết học duy vật.
Bên cạnh sự chuyển biến lập trường triết học, C.Mác và Ph.Ăngghen có sự chuyển biến về lập
trường chính trị. Do chịu ảnh hưởng của việc tham gia các phong trào cũng giai cấp công nhân,
2 ông đã thấy sự thống khổ trong họ và quan trọng hơn 2 ông đã thấy được tinh thần cách mạng
trong những người công nhân đó. Vì vậy 2 ông đã chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng
sang lập trường chủ nghĩa xã hội.
Trong 1 khoảng thời gian, gắn liền với nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định 1 cách kiên định về lý luận này. Nếu không có sự chuyển biến này
thì sẽ không có chủ nghĩa Mác sau này.
2. Ba phát kiến vĩ đại
Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng, xóa bỏ những quan điểm duy
tâm thần bí của triết học hêghen, kế thừa những giá trị duy vật và loại bỏ những quan điểm siêu
hình của triết học phoiơbắc, kết hợp nghiên cứu khoa học tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Dựa trên phép duy vật biện chứng, 2 ông đi sâu vào
nghiên cứu chủ nghĩa tư bản
và cho ra đời chủ nghĩa duy vật lịch sử- phát kiến vĩ đại thứ nhất của C.Mác và Ph.Ăngghen, lời
khẳng định sự diệt vong chủ chủ nghĩa tư bản về phương diện triết học là không thể tránh khỏi.
Trên cơ sở phát kiến vĩ đại thứ nhất: chủ nghĩa duy vật lịch sử, 2 ông đi sâu vào nghiên cứu nền
sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và cho ra đời bộ “tư bản”. Và giá trị to lớn
nhất trong đó chính là học thuyết giá trị thặng dư- phát kiến vĩ đại thứ 2 của C.Mác và
Ph.Ăngghen là sự khẳng định sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản về mặt kinh tế là không thể tránh khỏi
Trên cơ sở 2 phát kiến vĩ đại trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho ra phát kiến vĩ đại thứ 3 đó là
học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai
cấp có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản và xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản và chủ
nghĩa xã hội. Với phát kiến vĩ đại thứ 3 này thì những mặt hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa
xã hội không tưởng – phê phán đã được khắc phục 1 cách triệt để và đây cũng là lời khẳng
định sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản về phương diện chính trị - xã hội là không thể tránh khỏi.
3. Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản
Dưới sự ủy nhiệm của người cộng sản và công nhân quốc tế, ngày 24/2/1848 Tuyên ngôn của
Đảng Cộng Sản được biên soạn bởi C.Mác và Ph.ăngghen được công bố trên toàn thế giới. lOMoAR cPSD| 61548706
Tác phẩm vĩ đại này cũng đánh dấu sự hình thành cơ bản về lý luận của triết học Mác: triết học,
kinh tế chính trị khoa học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản đã nêu
và phân tích 1 cách có hệ thống lịch sử và
logic chặt chẽ về những vấn đề cơ bản nhất, súc tích nhất, đầy đủ nhất và gần như thâu tóm
được toàn bộ luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tuyên ngôn của đảng cộng sản là kim
chỉ nam cho mọi hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là ngọn cờ dẫn dắt
giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Với mục tiêu giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi sự bóc lột, áp bức và bảo đảm sự hòa bình tự do hạnh phúc.
Câu 3: Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân

1. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân :
Giai cấp công nhân là con đẻ, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, mang tính xã hội hóa cao,
là chủ thể trong việc sản xuất vật chất cho xã hội. Giai cấp công nhân đại điện cho phương thức
sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại. Trong xã hội nay, khi lao trộng trên phương
pháp sản xuất công nghiệp hiện đại thì giai cấp công nhân là người sản xuất ra của cải vật chất
cho xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội. Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế quy
định giai cấp công nhân là lực lượng phá vỡ mối quan hệ trong tư bản chủ nghĩa, giành lại chính
quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp “tự nó” thành giai cấp “vì nó”. Giai cấp công nhân trở
thành đại biểu cho sự phát triển tất yếu của lịch sử và là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện để xây
dựng nền móng cho chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định:
Giai cấp công nhân là giai cấp sản xuất chủ yếu của cải vật chất cho xã hội tuy nhiên trong tư
bản chủ nghĩa giai cấp công nhân không có quyền sở hữu tư liệu lao động mà học chỉ có thể
bán sức lao động của mình và chịu sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản vì vậy lợi ích của họ
đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản và thống nhất với hầu hết lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động.
Là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân cũng có những phẩm chất
của 1 giai cấp cách mạng và giai cấp tiên tiến: có tổ chức và kỉ luật, tự giác và đoàn kết trong
các phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Các phẩm chất ấy của giai
cấp công nhân được hình thành từ những điều kiện khách quan, được quy định từ địa vị kinh
tế và quy định về địa vị chính trị xã hội của nó trong nền sản xuất vật chất hiện đại. Giai cấp
công nhân được trang bị lý luận chính trị tiên tiến là chủ nghĩa Mác- Lênin và đội tiền phong là
Đảng Cộng Sản dẫn dắt.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thực hiện sở dĩ giai cấp công nhân là 1 giai cấp
cách cách mạng, là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, lực lượng sản xuất
hiện đại để thay thế cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đầy bất công. Giai cấp công
nhân là giai cấp đại biểu cho tương lai và đảm bảo cho sự phát triển liên tục của xã hội
2. Những điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lOMoAR cPSD| 61548706
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng
Sự phát triển của bản thân của giai cấp công nhân về cả số lượng và chất lượng. Thông qua sự
phát triển đó ta có thể thấy được sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng quy mô sản xuất
vật chất hiện đại trên cơ sở sản xuất công nghiệp, công nghệ, khoa học - kĩ thuật. Sự phát triển
về số lượng của giai cấp công nhân phải đi đôi với sự phát triển về chất lượng để đảm bảo giai
cấp công nhân có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chất lượng của giai cấp công nhân
thể hiện qua trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của 1 giai cấp cách mạng. Tức là giai cấp
công nhân phải tự giác thấy được vai trò và trách nhiệm của giai cấp mình đối với lịch sử. Do
vậy giai cấp công nhân cần phải được giác ngộ lý luận khoa học và cách mạng chủ nghĩa Mác – Lênin.
Là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng của giai cấp công nhân được
thể hiện ở trình độ, năng lực làm chủ khoa học – kỹ thuật và máy móc tiên tiến nhất là trong thời
kỳ ngày nay. Để đảm bảo sự phát triển của giai cấp công nhân về cả số lượng và chất lượng,
Mác – Lênin đã chỉ ra 2 biện pháp cơ bản: 1. Phát triển công nghiệp , 2. Sự trưởng thành của
Đảng Cộng Sản- hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân. Chỉ với sự phát triển về
số lượng và chất lượng nhất là về chất lượng mới đảm bảo việc giai cấp công nhân thực hiện
thành công sứ mệnh lịch sử của mình.
ĐCS là nhân tố quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của mình
Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thành
công sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời
và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân: thể hiện sự
phát triển vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là 1 giai cấp cách mạng. Quy luật chung,
phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là
chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân. Giai cấp công nhân là cơ sở của xã hội, là
nguồn bổ sung nhân lực quan trọng nhất của Đảng, làm cho đảng mang bản chất của giai cấp
công nhân, trở thành đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng là đại biểu
trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, dân tộc, xã hội.
Cần có sự liên minh giữa giai cấp công nhân với các giai cấp tầng lớp khác.
Ngoài hai nhân tố chủ quan đã được nêu trên, Mác – Lênin đã khẳng định :” để cuộc cách mạng
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, cần phải có sự liên minh giai
cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác do
giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Đây cũng là 1 điều
kiện chủ quan không thể thiếu cho sự thắng lợi của giai cấp công nhân
Câu 4: Tính khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định:”Lịch sử xã
hội loài người trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội đó là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô
lệ, phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản.” Trong các hình thái kinh tế trên thì hình
thái kinh tế chủ nghĩa cộng sản có sự khác biệt về chất, trong đó không có giai cấp đối kháng
và con người dần trở lên tự do,... theo các nhà chủ nghĩa xã hội khoa học cho rằng từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản nhất thiết phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị.
Mong muốn có 1 xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp để thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa
đầy bất công và áp bức bóc lột là một mong muốn chính đáng. Song các nhà kinh điển cho lOMoAR cPSD| 61548706
rằng mong muốn ấy không thể cầu được ước thấy bởi lẻ giai cấp công nhân cần phải có thời
gian cải tạo xã hội cũ và xây dựng nền móng lâu dài cho chủ nghĩa xã hội.
Thấy được sự cần thiết của thời kỳ quá độ, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã phân
quá độ ra làm 2 loại đó là: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. 1. Quá độ trực tiếp là thời kỳ quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản dành cho những nước đã từng trải qua chủ nghĩa
tư bản phát triển. Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có quốc gia nào từng trải qua thời kỳ quá độ
trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. 2. Quá độ gián tiếp: là thời kỳ quá độ dành
cho những nước chưa từng trải qua thời kì chủ nghĩa tư bản phát triển.
Phát triển từ 1 ý kiến cho rằng :” chủ nghĩa cộng sản không phải là 1 trạng thái cần sáng tạo ra
cũng không phải là 1 lý tưởng cần phải tuân theo mà nó là kết quả của các phong trào hiện
thực”. Các nhà xã hội khoa học cho rằng : các nước lạc hậu dưới sự giúp đỡ của giai cấp công
nhân đã giành được thắng lợi có thể rút ngắn được thời gian phát triển.
Vận dụng và phát triển từ những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, sau
cách mạng tháng 10 Nga V.I.Lênin đã khẳng định:” Dưới sự giúp đỡ của giai cấp công nhân
của các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, thông qua 1 số giai đoạn
phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà không cần trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Quán triệt, vận dụng,phát triển sáng tạo những quan điểm của Mác – Lênin trong thời đại ngày
này, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản diễn ra trong phạm vi toàn
cầu, ta có thể khẳng định: trong thời kỳ toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các
nước lạc hậu sau khi giành lại được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản có thể
tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà không cần trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Câu 5: Dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa mác-lênin Khái niệm
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin : Dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người , trải qua các hình thái cộng đồng từ thấp tới cao : thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, dân tộc. Sự
chuyển biến phương thức sản xuất là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc. •
Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc.
+ Xu hướng thứ nhất: cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập
+ Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều
quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. •
Nội dung cương lĩnh dân tộc:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin :”Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc
được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân giữa các dân tộc”.
1. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: đây là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc, không phân
biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, mọi dân tộc đều có quyền và nghĩa
vụ như nhau trong các lĩnh vực của đời sống. Không 1 dân tộc nào được giữ đặc quyền về lOMoAR cPSD| 61548706
kinh tế, chính trị, xã hội. Trong mọi mối quan hệ xã hội cũng như mối quan hệ quốc tế, không
1 dân tộc nào có quyền đi áp bức bóc lột dân tộc khác. Trong 1 quốc gia đa dân tộc, để thực
hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc đầu tiên phải thể hiện qua cơ sở pháp lý và quan trọng
phải được thể hiện qua thực tế. Để thực hiện quyền bình đẳng, trước hết cần phải xóa bỏ
được sự áp bức bóc lột, từ đó xóa bỏ sự áp bức giai cấp, đứng lên đấu tranh chống lại chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc và dân tộc cực đoan. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở
để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc.
2. Các dân tộc được quyền tự quyết: các dân tộc được quyền tự quyết vận mệnh của dân tộc
mình. Các dân tộc có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị, con đường phát triển của dân tộc.
Quyền tự quyết bao gồm :phân lập thành 1 quốc gia dân tộc độc lập và kết hợp với các dân
tộc khác trên cơ sở bình đẳng, tuy nhiên việc thực hiện quyền dân tộc cần phải gắn liền với
thực tiễn – cụ thể và phải đứng vững trên lợi ích của giai cấp công nhân sao cho phải cân
bằng giữa lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của dân tộc. Quyền tự quyết dân tộc không
đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số trong 1 quốc gia đa tộc người nhất là phân
lập thành 1 quốc gia độc lập. Kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại các thành phần cực
đoan lợi dụng chiêu trò dân tộc tự quyết để xen vào vấn đề nội bộ của quốc gia và kích động đòi ly khai dân tộc.
3. Liên hiệp công nhân các dân tộc
Việc liên hiệp công nhân các dân tộc thể hiện sự thống nhất của giải phóng giai cấp và
giải phóng dân tộc, phản ánh rõ ràng chặt chẽ tinh thần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
quốc tế chân chính. Việc đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở để đoàn kết
các tầng lớp nhân nhân lao động trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì tự do
dân tộc và xã hội tiến bộ. Vì vậy nội dung này không chỉ là nội dung cơ bản mà còn là
giải pháp quan trọng gắn liền các thành phần thành 1 cương lĩnh dân tộc hoàn chỉnh.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-lênin là cơ sở lý luận quan trọng giúp Đảng Cộng Sản
thực hiện các chính sách về dân tộc trong thời kì giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vận dụng vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc.
Về kinh tế, nội dung, nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc là các chủ trương, chính sách
phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm
năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc.
Về văn hóa: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người, phát triển ngôn ngữ, xây dựng đời sống văn
hóa ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân các dân tộc.
Về xã hội: thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Từng bước thực hiện bình đẳng xã hội, công bằng thông qua việc thực hiện chính
sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân số, y tế, giáo dục trên cơ sở chú ý
đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tộc.
Về an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở đảm bảo ổn định
chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trên từng địa bàn. lOMoAR cPSD| 61548706
Câu 6: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về khái niệm và đặc điểm của tôn giáo? 1. Bản chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin : Tôn giáo là 1 hình thái ý thức – xã
hội phản ánh sự hư ảo của hiện thực khách quan. Từ sự phản ánh đó những lực lượng
tự nhiên xã hội trở thành siêu nhiên thần bí. Để làm rõ hơn về vấn đề của tôn giáo, Mác – Lênin
đã chỉ rõ: tôn giáo là 1 hiện tượng văn hóa – giáo dục do con người sáng tạo lên. Con người
sáng tạo ra văn hóa nhằm đáp ứng những mục đích và lợi ích của họ. Tuy nhiên khi sáng tạo ra
tôn giáo con người lại phụ thuộc vào tôn giáo và phục tùng tôn giáo 1 cách vô điều kiện. Về
phương diện thế giới quan, tôn giáo mang bản chất của thế giới quan duy tâm trái ngược lại với
thế giới quan duy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất nhưng có sự giao thoa nhất định. Tín ngưỡng là những
niềm tin, sự ngưỡng mộ, cách thể hiện niềm tin của con người vào những thế lực thần bí, siêu
nhiên để cầu mong được giúp đỡ và che chở. Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông vào những
hiện tượng siêu nhiên mà không dựa trên bất cứ cơ sở khoa học nào. Mê tín dị đoan là niềm tin
của con người vào những thế lực thần bí, siêu nhiên 1 cách cuồng tín và có những hành động
cực đoan, sai lệch quá mức về chuẩn mực đạo đức con người, quy định, pháp luật của nhà
nước gây tông hại đến cá nhân, xã hội và cộng đồng. 2. Nguồn gốc
Nguồn gốc kinh tế - xã hội: Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do lực lượng sản xuất chưa
phát triển, dưới sự chi phối và tác động của thiên nhiên hùng vĩ thì con người cảm thấy yếu ớt
và nhỏ bé vô cùng. Vì vậy con người đã gắn cho tự nhiên sức mạnh và quyền lực thần bí. Trong
xã hội tồn tại giai cấp đối kháng và có sự áp bức bóc lột, do không giải thích được nguyên nhân
dẫn đến sự phân hóa giai cấp và sự bóc lột, áp bức,..... cộng với việc lo sợ sự thống trị của lực
lượng xã hội,con người trông chờ vào sự giải phóng của thế lực siêu nhiên thần bí tồn tại ngoài trần thế.
Nguồn gốc nhận thức: Trong giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự
nhiên, xã hội và chính bản thân mình còn gặp nhiều hạn chế. Khoảng cách giữa “biết” và “không
biết” vẫn tồn tại, những hiện tượng nào mà khoa học chưa giải thích được thì thường được giải
thích dưới lăng kính của tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng
do trình độ dân trí thấp và sự chưa nhận thức được đầy đủ cũng là mảnh đất cho sự ra đời, tồn
tại và phát triển của tôn giáo. Nguồn gốc của tôn giáo là sự tuyệt đối hóa nhận thức của con
người biến những hiện thực khách quan thành thần bí, siêu nhiên.
Nguồn gốc về tâm lý: Sự sợ hãi trước tự nhiên, khi con người ốm đau bệnh tật, khi thử may rủi
hoặc tâm lý muốn được sau khi vừa thực hiện 1 việc lớn, con người cũng dễ tìm đến tôn giáo (
cúng thổ địa, ma chay,.....) . Ngay cả khi những niềm tin tích cực như tình yêu, sự biết ơn với
những anh hùng có công với đất nước,... con người vẫn dễ tìm đến tôn giáo ( thờ các anh hùng liệt sĩ,....).
3. Tính chất của tôn giáo lOMoAR cPSD| 61548706
Tính lịch sử của tôn giáo: tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nghĩa
là nó có sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những
giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị- xã hội. Khi các
điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo.
Tính quần chúng của tôn giáo: tôn giáo là hiện tưỡng xã hội phổ biến ở tất cả
các dân tộc, quốc gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện
ở số lượng tín đồ rất đông đảo (gồm ¾ dân số thế giới); mà còn thể hiện ở chỗ, các
tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân.
Tính chính trị của tôn giáo: chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có
sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm
của những điều kiện kinh tế- xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp
khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tôn giáo mang tính
chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ
cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo
mang tính tiêu cực, phản tiến bộ.
4. Nguyên tắc giải quyết các vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ
Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân : Tôn giáo
và tín ngưỡng là niềm tin của quần chúng nhân dân vào đấng tối cao, đấng thiêng liêng mà họ
tôn thờ, đây là yếu tố ý thức tâm lý. Vì vậy việc tự do tín ngưỡng hay tự do không tín ngưỡng
phụ thuộc vào quyền tự
do tư tưởng của nhân dân. Những hành vi ngăn cấm, cấm đoán nhân dân theo đạo, bỏ đạo,
chuyển đạo hay ép buộc, đe dọa nhân dân theo đạo đều vi phạm đến quyền tự do tư tưởng của
nhân dân. Việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng của nhân dân thể hiện sự tôn trọng với quyền
của con người đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của xã hội chủ nghĩa. Nhà nước chủ nghĩa xã
hội không can thiệp cũng không cho phép 1 ai can thiệp vào quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.
Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với cải tạo xã hội cụ và xây
dựng xã hội mới: Nguyên tắc này thể hiện việc chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ tập trung vào việc
khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đến với đời sống xã hội chứ không tham gia
vào hoạt động nội bộ của tôn giáo. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định để thay đổi ý thức xã
hội thì phải thay đổi bản thân tồn tại trong xã hội, để xóa bỏ những ảo tưởng trong tư tưởng
nhân dân thì phải đi xóa bỏ nguyên nhân gây ra những ảo tưởng đó. Để thực hiện được điều
này đầu tiên cần phải xóa bỏ sự áp bức bóc lột,... Đây là 1 quá trình dài và đòi hỏi cần phải có
sự thống nhất giữa cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Phân biệt 2 mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết các vấn đề của tôn giáo : Trong xã
hội cộng sản nguyên thủy, tôn giáo và tín ngưỡng được biểu hiện thuần túy về tư tưởng.
Nhưng trong xã hội có giai cấp thì dấu ấn giai cấp – chính trị ít nhiều cũng in sâu vào các tôn
giáo. 2 mặt chính trị và tư tưởng thường xuyên thể hiện và có mối quan hệ với nhau trong vấn đề của tôn giáo. lOMoAR cPSD| 61548706
Quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết các vấn đề của dân tộc: Tôn giáo không phải là 1 hiện
tượng bất biến, mà nó luôn vận động và biến đổi không ngừng tùy theo điều kiện kinh tế, văn
hóa, lịch sử. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển khác nhau. Ở mỗi
điều kiện lịch sử khác nhau thì tác động và vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội không
giống nhau. Vì vậy cần có quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết các vấn đề của dân tộc.
# Vận dụng vào Việt Nam nước ta hiện nay
Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại
cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta •
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc •
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng •
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị  Vấn đề theo đạo và truyền đạo. •
Đặc điểm quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo; quan hệ dân tộc và tôn giáo được thiết
lập và củng cố trên cơ sở cộng đồng quốc gia – dân tộc thống nhất •
Quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi tín ngưỡng truyền thống •
Các hiện tượng tôn giáo mới có xu hướng phát triển mạnh làm ảnh hưởng đến đời sống
cộng đồng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc •
Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nhằm thực
hiện “diễn biến hòa bình”, nhất là tập trung ở 4 khu vực trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung •
Định hướng giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và đoàn kết tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam •
Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng
quốc gia – dân tộc thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa •
Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân, quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống
lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vào mục đích chính trị.
Câu 7: những chức năng cơ bản của gia đình 1. Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng cơ bản nhất cũng là chức năng đặc thù nhất của gia đình mà không một tổ
chức cộng đồng nào có được. Thực hiện chức năng này đáp ứng thỏa mãn tâm sinh lý, đáp lOMoAR cPSD| 61548706
ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình và dòng họ, đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động xã
hội để duy trì sự trường tồn cho xã hội. Chức năng này được thực hiện ở mỗi gia đình nhưng
đây không phải là vấn đề riêng của gia đình mà nó còn là vấn đề của xã hội. Bỏi lẽ việc tái sản
xuất ra con người ảnh hưởng đến mật độ dân số, nguồn lao động xã hội cho quốc gia, quốc tế
- yếu tố cấu thành xã hội. Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia, có những quốc
gia họ sẽ khuyến khích có những quốc gia họ sẽ hạn chế chức năng này.
2. Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái
Đây là chức năng cơ bản của gia đình. Thực hiện chức năng này cha mẹ thể hiện tình yêu thiêng
liêng đối với con cái, trách nhiệm của gia đình đối với xã hội. Việc giáo dục của gia đình đối với
con cái sẽ ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của con sau này.
Khi thực hiện chức năng nuôi dưỡng và giáo dục, mỗi gia đình như 1 môi trường văn hóa – giáo
dục, mỗi thành viên trong gia đình như 1 chủ thể sáng tạo văn hóa giáo dục, là những người
được thụ hưởng những giá trị về văn hóa và là chủ thể khách quan chịu sự giáo dục của các
thành viên khác trong gia đình. Việc giáo dục của gia đình ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống
mỗi con người. Mặc dù trong xã hội có rất nhiều cộng đồng thực hiện chức năng giáo dục như
: trường học,..... nhưng không thể thay thế cho giáo dục gia đình. Thực hiện chức năng này gia
đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ - thế hệ tương lai cho xã hội,
nâng cao chất lượng nguồn lao động cho sự trường tồn của xã hội, mỗi con người đều được xã
hội hóa. Vì thế giáo dục gia đình phải gắn liền với giáo dục của xã hội. Nếu tách rời giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội thì con người sẽ không bắt kịp được xã hội và ngược lại.
3. Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Cũng giống như các đơn vị kinh tế khác, gia đình là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Nhưng 1 đặc thù của gia đình mà
không 1 cộng đồng xã hội nào có được là gia đình là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào quá
trình sản xuất và tái sản xuất vật chất và sức lao động mà gia đình còn thực hiện chức năng tiêu
dùng cho xã hội. Gia đình thực hiện chức năng tiêu dùng vào việc duy trì đời sống gia đình về
lao động lẫn trong sinh hoạt. Đó là việc sử dụng các nguồn thu hợp lý vào việc đáp ứng đủ nhu
cầu về vật chất và tinh thần cho sự phát triển của các thành viên trong gia đình. Không chỉ vậy
gia đình còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải, vật chất làm giàu cho xã hội. Nếu
tận dụng được các nguồn vốn, nguồn đầu tư, tận dụng thực hiện triệt để chức này này thì gia
đình không những tạo được cơ sở tốt để phát triển gia đình, nuôi dạy con cái mà còn làm phát triển cho xã hội.
4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý và duy trì hạnh phúc gia đình
Đây là chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, văn hóa, tinh
thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. Việc quan tâm chăm
sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình cảm, vừa là trách nhiệm,
đạo lý, lương tâm mỗi con người. Vì thế gia đình không chỉ là chỗ dựa vững chắc về mặt vật
chất mà còn là chỗ dựa về mặt tinh
thần. Việc duy trì tình cảm trong gia đình cũng giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển cho xã hội,
khi các mối quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan vỡ.
Về văn hóa gia đình đóng vai trò là nơi lưu giữ và truyền bá văn hóa của mỗi tộc người. Gia đình
không chỉ là nơi lưu giữ mà còn là nơi sáng tạo ra văn hóa. Về chính trị, mỗi gia đình là 1 tổ lOMoAR cPSD| 61548706
chức chính trị xã hội thực hiện các quy định, pháp luật của nhà nước, quy định của làng thôn và
cũng là chủ thể được thụ hưởng trực tiếp từ những quy định này.