Các Lẽ Ủng Hộ Thuế Quan (Tariffs)
Mặc nhiều lẽ phản đối việc áp đặt hạn chế thương mại, chúng vẫn tiếp tục
được áp dụng. Do đó, cần một số do hợp cho sự tồn tại của chúng. Ba lẽ
phổ biến nhất cho việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại đáng được xem
xét một cách nghiêm túc.
1. Hạn chế thương mại tạm thời giúp các ngành công nghiệp non trẻ phát
triển (Temporary Trade Restrictions Help Infant Industries Grow)
ngành công nghiệp mới nhanh chóng đạt đến quy sản xuất tối ưu, nơi thể tận
dụng lợi thế kinh tế theo quy (economies of scale) hiệu quả sản xuất cao
hơn.
Nói cách khác, việc bảo vệ tạm thời ngành công nghiệp non trẻ khỏi cạnh tranh
quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển. Khi sự bảo hộ ban đầu, các doanh
nghiệp trong ngành này cuối cùng sẽ thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường
toàn cầu.
Người ta cho rằng nếu không sự bảo hộ này, ngành công nghiệp đó sẽ không
bao giờ thể tự đứng vững. Nghe qua thì lẽ này vẻ hợp lý, nhưng thực tế
tồn tại nhiều vấn đề. Làm thế nào để xác định chính xác "ngành công nghiệp non
trẻ" nào thật sự tiềm năng tăng trưởng sẽ trở nên hiệu quả khi được bảo hộ?
Chúng ta không đủ thông tin về chi phí sản xuất dài hạn của các ngành, điều
này khiến việc ra quyết định khó khăn.
Hơn nữa, nếu cả chính phủ doanh nghiệp đều tin tưởng vào lợi ích của việc mở
rộng quy sản xuất, thì thay áp thuế, tại sao không cung cấp các khoản vay
lớn hoặc hỗ trợ đầu để giúp ngành đó phát triển nhanh chóng không làm tăng
giá cho người tiêu dùng?
Nói cách khác, mục tiêu tăng quy hiệu quả thể đạt được không cần thuế
bảo hộ. Cuối cùng, lịch sử cho thấy nhiều loại thuế bảo hộ ngành non trẻ thường
kéo dài ngay cả khi ngành đó đã trưởng thành không còn cần bảo vệ nữa.
2. Thuế quan thể làm giảm thất nghiệp trong nước (Tariffs Can Reduce
Domestic Unemployment)
Biểu đồ 1 cho thấy rằng thuế quan thể làm tăng sản lượng của các nhà sản xuất
trong nước, qua đó tăng việc làm giảm thất nghiệp trong các ngành được áp
dụng thuế. Tuy nhiên, tác động việc làm tổng thể của thuế quan thường không tích
cực, nên lẽ này sai lầm.
Tại sao?
Trước hết, khi Mỹ áp thuế lên hàng nhập khẩu dụ như thép từ nước ngoài
thì các quốc gia bị ảnh hưởng sẽ phản ứng lại bằng cách áp thuế trả đũa (retaliatory
tariffs).
dụ, nếu Mỹ áp thuế lên thép Nhật, làm giảm xuất khẩu thép của Nhật sang Mỹ,
thì Nhật thể áp thuế lên hàng hóa Mỹ, chẳng hạn máy móc xuất khẩu sang Nhật.
Khi đó, doanh số bán máy móc Mỹ giảm, kéo theo việc làm trong ngành này cũng
giảm. Như vậy, việc làm tăng trong ngành thép sẽ bị trừ bởi việc làm giảm các
ngành khác.
Ngay cả khi các quốc gia khác không trả đũa, việc làm của Mỹ các ngành khác
vẫn bị ảnh hưởng.
Bởi các quốc gia khác muốn mua hàng Mỹ cần phải đô la Mỹ, họ kiếm
được bằng cách bán hàng sang Mỹ (tức xuất khẩu sang Mỹ).
Nếu Mỹ hạn chế nhập khẩu, dòng tiền đô la ra nước ngoài giảm, đồng nghĩa người
nước ngoài ít tiền hơn để mua hàng xuất khẩu của Mỹ.
Kết quả là, xuất khẩu của Mỹ sẽ giảm, kéo theo tăng thất nghiệp trong các ngành
xuất khẩu.
3. Thuế quan cần thiết do an ninh quốc gia (Tariffs Are Necessary for
Reasons of National Security)
Đôi khi người ta lập luận rằng thuế quan cách để ngăn một quốc gia phụ thuộc
quá nhiều vào nguồn cung nước ngoài đối với các mặt hàng thiết yếu cho an ninh
quốc gia.
Nói cách khác, bằng việc làm hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, quốc gia
thể bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
dụ, nếu dầu mỏ nguồn năng lượng cần thiết để vận hành máy bay xe tăng,
thì việc nguồn cung dầu từ nước ngoài bị cắt đứt trong thời chiến thể làm liệt
khả năng phòng thủ của quốc gia.
Tuy nhiên, lẽ an ninh quốc gia này thường không đúng.
Nếu nguồn tài nguyên trong nước giới hạn, thì việc ép buộc sản xuất trong
nước thông qua thuế nhập khẩu sẽ làm cạn kiệt nguồn dự trữ nhanh hơn, khiến
quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều hơn trong tương lai.
dụ, nếu chính phủ đánh thuế cao vào dầu nhập khẩu để bảo vệ ngành dầu nội
địa, thì trong ngắn hạn, sản lượng dầu trong nước thể tăng lên, nhưng về lâu dài,
nguồn dự trữ sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt.
vậy, lẽ “bảo vệ quốc phòng” này không vững chắc.
Từ góc độ phòng thủ, cách hợp hơn sử dụng dầu nhập khẩu trong thời bình,
dự trữ (stockpile) nguồn dầu nội địa làm “nguồn bảo hiểm” cho thời chiến.
4. Thuế quan cần thiết để chống bán p giá không? (Are Tariffs Necessary
to Protect Against Dumping?)
Bán phá giá (Dumping) xảy ra khi một quốc gia bán sản phẩm ra nước ngoài với
giá thấp hơn chi phí sản xuất hoặc thấp hơn giá bán trong nước.
dụ, chính phủ Nhật Bản trong nhiều năm đã bị cáo buộc trợ cấp cho các công ty
thép Nhật, để họ thể bán thép rẻ ra thị trường thế giới, chiếm thị phần lớn hơn
đạt được quyền lực thị trường (market power).
Chiến lược này khiến họ chịu lỗ trong ngắn hạn, nhưng thể thu lợi lớn trong dài
hạn nhờ loại bỏ đối thủ tăng giá trở lại sau đó.
Một số người cho rằng do này, thuế quan cần thiết để bảo vệ nhà sản xuất
nội địa khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh.
Thuế sẽ làm tăng chi phí của hàng nhập khẩu, khiến các doanh nghiệp nước ngoài
mất lợi thế giá rẻ.
Mỹ luật chống bán phá giá (antidumping laws).
Nếu một quốc gia bị phát hiện bán phá giá, Mỹ thể áp thuế chống bán phá giá
(antidumping tariff) để tăng giá hàng nhập khẩu bị cáo buộc bán phá giá.
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó chứng minh được hành vi bán phá giá.
do là: giá rẻ của hàng ngoại thể không phải do bán dưới giá, chỉ đơn
giản nước đó sản xuất hiệu quả hơn, tức lợi thế so sánh (comparative
advantage).
Do đó, những trông vẻ như bán phá giá thực ra thể chỉ do năng suất cao
chi phí thấp hơn của họ.
Hạn ngạch nhập khẩu (Import Quotas)
Giống như thuế quan (tariffs), hạn ngạch nhập khẩu (import quotas) cũng một
hình thức hạn chế thương mại trực tiếp, làm giảm lượng ng nhập khẩu.
Điều này dẫn đến giảm giao thương quốc tế, khiến các quốc gia không thể tận
dụng đầy đủ lợi thế so sánh (comparative advantage) tức không sản xuất
trao đổi theo thế mạnh kinh tế của mình.
lẽ ủng hộ hạn ngạch thậm chí còn yếu hơn lẽ ủng hộ thuế quan.
Bởi vì, khác với thuế quan, khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, chính phủ không
thu được bất kỳ khoản thuế nào.
Trong khi giá hàng hóa tăng, người tiêu dùng bị mất lợi ích (consumer surplus
giảm), chính phủ không thu được thêm doanh thu, thì hạn ngạch vẫn được sử
dụng.
Nguyên nhân nhiều người cho rằng hạn ngạch “ít mang tính bảo hộ” hơn thuế
quan, vốn hình thức bảo hộ truyền thống bị chỉ trích nhiều nhất.
Ngoài các biện pháp bảo hộ ràng như thuế quan hạn ngạch, các quốc gia còn
sáng tạo ra những cách tinh vi hơn để hạn chế thương mại quốc tế.
dụ: họ thể đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy định về chất lượng sản
phẩm, với do bảo vệ người tiêu dùng khỏi hàng hóa kém chất lượng.
Tuy nhiên, trên thực tế, những tiêu chuẩn này thể chỉ cái cớ để ngăn chặn
hàng hóa nước ngoài, bảo vệ sản phẩm trong nước.
dụ:
Pháp thể cấm một số loại rượu vang nhập khẩu, với do rằng chúng
được làm từ nho “kém chất lượng” hoặc độ cồn không phù hợp.
Mỹ thể cấm nhập khẩu xe hơi nếu chúng không đáp ứng được tiêu chuẩn
về khí thải, an toàn hoặc mức tiêu hao nhiên liệu.
Ngay cả khi các tiêu chuẩn này không cố ý nhằm hạn chế thương mại, thì hiệu ứng
của chúng vẫn làm giảm cạnh tranh thu hẹp lựa chọn của người tiêu dùng.
Tác động kinh tế trong nước của hạn ngạch nhập khẩu
Tác động của hạn ngạch nhập khẩu ô được thể hiện trong Hình 2.
Khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, giá ô trong nước tăng từ mức giá thế giới Pw
lên mức Pwq. Việc áp dụng hạn ngạch khiến giá tăng cao hơn giá thế giới, dẫn đến
lượng cầu trong nước giảm lượng cung trong nước tăng.
Kết quả số lượng ô nhập khẩu giảm mạnh so với khi không hạn ngạch.
So với thương mại tự do, các nhà sản xuất trong nước được lợi, còn người tiêu
dùng trong nước bị thiệt.
Cụ thể, hạn ngạch giúp nhà sản xuất trong nước tăng lợi nhuận (thặng dư) một
phần diện tích c,
nhưng làm người tiêu dùng mất đi lợi ích (thặng dư) diện tích c + d + e + f.
Khác với thuế nhập khẩu nơi chính phủ thu được phần diện tích e dưới dạng
thuế,
với hạn ngạch, chính phủ không thu được khoản nào.
Do đó, tổn thất phúc lợi ròng (deadweight loss) do hạn ngạch gây ra lớn hơn so với
thuế nhập khẩu.
Phần tổn thất này diện tích d + e + f, trong khi với thuế nhập khẩu chỉ d + f.
sao thuế hạn ngạch vẫn tồn tại nếu chúng gây hại cho nền kinh tế?
Bởi các nhà sản xuất trong nước thể thu được lợi nhuận lớn từ các chính sách
bảo hộ như thuế hạn ngạch.
Họ thường vận động hành lang để giữ các chính sách này.
Các nhà kinh tế gọi đây “tìm kiếm địa tô” (rent seeking) nghĩa tìm ch
kiếm lợi nhờ chính phủ bảo hộ thay tạo ra giá trị thực.
Thời gian, tiền bạc công sức dùng để vận động chính sách này thể dùng cho
hoạt động sản xuất,
vậy thiệt hại thực sự cho hội còn lớn hơn con số deadweight loss thể hiện
trong hình kinh tế.
Tác động kinh tế của trợ cấp xuất khẩu
Trái ngược với thuế hạn ngạch, chính phủ đôi khi trợ cấp cho nhà sản xuất để
khuyến khích xuất khẩu.
Tr cấp nghĩa chính phủ trả tiền cho nhà sản xuất cho mỗi đơn vị hàng xuất
khẩu, giúp tăng lượng hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, trợ cấp cũng gây méo thương mại kém hiệu quả.
Nhà sản xuất không xuất khẩu chi phí thấp hơn đối thủ,
chi phí của họ được chính phủ hạ nhân tạo.
Tiền trợ cấp này đến từ người nộp thuế, nghĩa thu nhập của dân bị chuyển sang
cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Tr cấp không làm giảm chi phí thực tế như lao động, nguyên liệu hay vốn
nên hội vẫn phải chịu chi phí như cũ,
nhưng nguồn lực lại bị sử dụng sai hướng, các doanh nghiệp kém hiệu quả vẫn
được khuyến khích sản xuất.
Kết quả quốc gia xuất khẩu những sản phẩm mình không lợi thế so sánh,
dẫn đến lãng phí tài nguyên giảm hiệu quả kinh tế tổng thể.
World Market
S world
P world
D world
Domestic Market
a
Pw+q b S
world+quota
c e
Pw d f S world
s
D domestic
0 Qs Q’s Q’d Qd
Khu vực Trước hạn ngạch Sau hạn ngạch Thay đổi
Thặng tiêu dùng (CS) a + b + c + d + e + f a + b (c+d + e + f)
Thặng sản xuất (PS) g c + g + c
Tổng phúc lợi (CS + PS) từ hạn ngạch a + b + c + d + e + f + g a + b + c + g (d + e + f)
Với , giá tăng từ lên hạn ngạch nhập khẩu PW PW Q .
So với thương mại tự do, mất đi khu vực , trong khi người tiêu dùng c + d + e + f nhà sản xuất
thu được khu vực .b
Tổn thất ích (deadweight loss) khu vực d + e + f do hạn ngạch gây ra .
Dưới chính sách , người tiêu dùng bị thiệt nhà sản xuất được lợi.hạn ngạch
Sự khác biệt về tổn thất ích giữa hạn ngạch thuế quan chính chính khu vực d,
phủ không thu được trong trường hợp hạn ngạch nhập khẩu.
Giá đường trên thị trường thế giới thấp hơn nhiều so với giá đường Hoa Kỳ.
dụ, trong những năm gần đây, giá đường Mỹ lúc lên đến 25 xu một pao, trong
khi giá đường thế giới chưa đến 5 xu một pao. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân
do hạn ngạch nhập khẩu đường được áp dụng để bảo vệ ngành công nghiệp đường
trong nước, bằng cách kiểm soát lượng đường nước ngoài thể nhập vào Hoa Kỳ.
Chính sách này làm tăng giá đường trong nước, mang lại lợi ích cho các nhà sản
xuất đường trong nước cũng như một số nhà sản xuất nước ngoài đã vận động hành
lang thành công để được phần hạn ngạch.
Năm 2006, năm quốc gia vùng Caribe sản xuất đường lớn nhất đã được tăng hạn
ngạch do thiệt hại nặng nề đối với các đồn điền mía bang Louisiana bởi cơn bão
Katrina.
Hạn ngạch nhập khẩu đường ảnh hưởng đến giá của mọi thứ, từ đồ uống đến bánh
sinh nhật. Như thể hiện trong hình minh họa 3, chính sách này thể lợi cho các
nhà sản xuất đường trong nước, nhưng ràng gây bất lợi cho người tiêu dùng (và
các nhà sản xuất sử dụng đường làm nguyên liệu đầu vào, chẳng hạn như các nhà
sản xuất kẹo, trong đó một số đã chuyển hoạt động ra khỏi Hoa Kỳ).
Mặc các con số được sử dụng giả định để dễ dàng tính toán, chúng vẫn gần
với thực tế đủ để bạn thể thấy được tác động tài chính của hạn ngạch.
Hãy chú ý rằng chi phí người tiêu dùng phải chịu do chính sách này diện tích
a + b + c + d, tương đương 2,1 tỷ đô la mỗi năm. Tuy nhiên, một phần khoản mất
mát của người tiêu dùng lại trở thành lợi ích của các nhà sản xuất.
Các nhà sản xuất trong nước thu được diện tích a, tương đương 850 triệu đô
la.
Các nhà sản xuất nước ngoài hạn ngạch vào thị trường Hoa Kỳ thu được
600 triệu đô la (hãy nhớ rằng họ lẽ ra chỉ thể bán đường của mình với giá
0,10 đô la, thay 0,20 đô la, trên thị trường thế giới).
Hai diện tích b d biểu thị tổn thất ích (deadweight loss) từ chính sách
này 650 triệu đô la.
Supply domestic
E2
0,20
US Price
a
c
b
d
E1
0.10 WP
0.08
Demand Domestic
0 3 14 20
22
Lợi ích tổn thất liên quan đến hạn ngạch đường
Mất thặng tiêu dùng: Khu vực a + b + c + d = 2,1 tỷ USD
Lợi ích của các nhà sản xuất đường Hoa Kỳ: Khu vực a = 850 triệu USD
Lợi ích của các nhà sản xuất đường nước ngoài quyền hạn ngạch: Khu
vực c = 600 triệu USD
Tổn thất ích (deadweight loss): Khu vực b + d = 650 triệu USD
Chi tiết tính toán:
Khu vực a = 850 triệu USD = (0,10 × 11 tỷ × 0,5) + (0,10 × 3 tỷ)
Khu vực c = 600 triệu USD = (0,10 × 6 tỷ)
Khu vực b = 550 triệu USD = (0,10 × 11 tỷ × 0,5)
Khu vực d = 100 triệu USD = (0,10 × 2 tỷ × 0,5)
ĐÚNG HAY SAI
VIỆC THUÊ BÊN THỨ 3 MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG
Nếu bạn chỉ đọc các tiêu đề, tương lai của toàn cầu hóa thể thật đáng sợ.
Việc làm của người Mỹ đã chuyển ra nước ngoài. Khi viễn thông máy tính
mạnh hơn cho phép các công ty chuyển thêm nhiều việc, khu vực dịch vụ
chiếm khoảng 85% lực lượng lao động Mỹ sẽ ngày càng dễ bị cạnh tranh bởi
lao động giá rẻ các nước đang phát triển.
Vậy câu hỏi đặt ra: Mỹ sắp mất hàng loạt việc làm văn phòng không?
lẽ không. Mối đe dọa từ thuê ngoài toàn cầu thường bị phóng đại.
Cuộc tranh luận về cạnh tranh việc làm toàn cầu tràn ngập dự báo u ám. dụ, các
trợ pháp New York Washington thể bị thay thế bởi sinh viên tốt
nghiệp Hyderabad. Các công việc hỗ trợ văn phòng như nhập dữ liệu, lưu trữ
hồ bộ phận tính lương cũng thể thực hiện từ xa.
“Chúng ta thực sự mới giai đoạn đầu điều này đang tăng tốc nhanh,” Ron
Hira, trợ giáo chính sách công tại Viện Công nghệ Rochester, nói.
Trong một nghiên cứu công bố năm nay, hai nhà kinh tế tại Tổ chức Hợp tác
Phát triển Kinh tế Brussels ước tính rằng 20% việc m các nước phát triển
thể “bị ảnh hưởng tiềm tàng” bởi thuê ngoài toàn cầu. Nghiên cứu cho biết điều đó
thể bao gồm tất cả các thủ thư, nhà thống kê, kỹ hóa học kiểm soát viên
không lưu của Mỹ.
“Bị ảnh hưởng tiềm tàng” nghĩa gì?
Ngay cả khi việc thuê ngoài không lấy đi tất cả những công việc này, cạnh tranh
toàn cầu về việc làm bao gồm người lao động các nước đang phát triển thu
nhập rất thấp so với Mỹ thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sinh kế của người
lao động Mỹ.
“Điều đó sẽ không gây tổn hại về số lượng việc làm,” William J. Baumol, giáo
kinh tế tại Đại học New York, người đã nghiên cứu chi phí của toàn cầu hóa, nói.
“Nó sẽ gây tổn hại về mức lương.”
Nhưng ngay cả khi hàng triệu công việc thể được thực hiện bởi lao động rẻ hơn
bên kia địa cầu, các doanh nghiệp sẽ không vội vàng chuyển mọi công việc
thể đến nơi chi phí thấp nhất. Thị trường lao động chưa toàn cầu đến mức đó,
khó thể như vậy trong thời gian tới.
Trong một loạt báo cáo mới, Viện Toàn cầu McKinsey, một nhóm nghiên cứu được
biết đến với quan điểm ủng hộ toàn cầu hóa, cho rằng 160 triệu công việc dịch vụ
khoảng 10% tổng số việc làm trên toàn thế giới thể được chuyển đến các
địa điểm từ xa các công việc này không đòi hỏi tiếp xúc với khách hàng, kiến
thức địa phương hay tương tác phức tạp với phần còn lại của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sau khi khảo sát hàng chục công ty trong tám lĩnh vực, từ các công ty
dược phẩm đến các công ty bảo hiểm, họ kết luận rằng chỉ một phần nhỏ trong số
các công việc này thực sự sẽ được chuyển đi.
Báo cáo ước tính rằng đến năm 2008, các công ty đa quốc gia toàn bộ thế giới
phát triển sẽ chỉ đặt 4,1 triệu công việc dịch vụ các nước mức lương thấp, tăng
từ khoảng 1,5 triệu vào năm 2003. Con số này chỉ tương đương 1% tổng số công
việc dịch vụ các nước phát triển.
Một số lĩnh vực, như bán lẻ chăm sóc sức khỏe, khả năng sẽ chuyển rất ít
công việc đến các nước nghèo. McKinsey ước tính rằng ít hơn 0,07% công việc
chăm sóc sức khỏe vào năm 2008 sẽ được thuê ngoài đến các nước mức lương
thấp.
Nhưng ngay cả các nhà thiết kế phần mềm đóng gói, những người công việc dễ
dàng được thực hiện nước ngoài, cũng sẽ chỉ thuê ngoài 18% công việc của họ,
báo cáo cho biết.
Việc chuyển các nhiệm vụ đến những nơi xa xôi không hề đơn giản. Theo nghiên
cứu của McKinsey, nhiều quy trình kinh doanh khó tách thành các phần riêng biệt
thể gửi đi. Nhiều công ty bảo hiểm sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin
được lắp ghép qua thời gian sẽ khó quản từ xa. Các nhà quản thể không
sẵn sàng hoặc không chuẩn bị để làm việc nước ngoài. đôi khi những nhiệm
vụ thể gửi đi lại quá nhỏ để việc chuyển giao trở nên đáng giá.
Hơn nữa, không quá nhiều lao động rẻ phù hợp sẵn có. Các giám đốc nhân sự
được phỏng vấn trong nghiên cứu của McKinsey cho biết những do như kỹ
năng ngôn ngữ kém hoặc hệ thống giáo dục kém chất lượng, chỉ khoảng 13% sinh
viên trẻ trình độ đại học các nước đang phát triển lớn đủ điều kiện làm việc
cho các tập đoàn đa quốc gia. Và sự cạnh tranh từ các công ty trong nước làm giảm
thêm nguồn lao động này.
nhiên, Ấn Độ hàng tỷ người, nhưng chỉ một tỷ lệ rất nhỏ lực lượng lao động
Ấn Độ trình độ phù hợp. “Chỉ một phần nhỏ được học bằng tiếng Anh chỉ ,
một phần trong số đó nói tiếng Anh bạn hoặc tôi thể hiểu được,” Jagdish N.
Bhagwati, giáo kinh tế tại Đại học Columbia, nói.
Tất nhiên, nhiều trở ngại này thể được khắc phục theo thời gian. Nguồn lao
động đủ năng lực các nước nghèo sẽ tăng lên, các công ty cuối cùng sẽ giải
quyết được nhiều vấn đề hậu cần. Nhưng điều đó thể sẽ mất một thời gian.
Category 1 Category 2
0
1
2
3
4
5
6
7
outsourcing to India Can Net Large
Savings
wave network overhead tax profit
A Variety of Jobs
Being outsourced
ofÏce computer business legal art design Architecture
Mua hàng Mỹ. Công việc bạn cứu thể của chính bạn.
Một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng người Mỹ nên tiêu tiền trong nước thì tốt
hơn tiêu nước ngoài.
Cách tốt nhất để vạch ra sự ngụy biện trong lập luận này đưa đến giới hạn
logic của nó.
Nếu tiêu tiền trong nước tốt hơn nước ngoài, thì sẽ còn tốt hơn nữa nếu tôi
mua Texas thay New York, tốt hơn nữa nếu mua Dallas thay
Houston… trong chính khu phố của tôi… trong chính gia đình tôi… cuối cùng
chỉ tiêu dùng những tôi tự sản xuất được.
độc nghèo khó.
Không lợi thế so sánh.
Lợi ích từ thương mại xét theo sản lượng toàn cầu bị loại bỏ hoặc giảm bớt do
những khoản trợ cấp như vậy.
Do đó, các khoản trợ cấp thường được biện minh nhằm tăng xuất khẩu cải
thiện vị thế tài chính quốc tế của một quốc gia thường giá trị đáng ngờ đối
với nền kinh tế thế giới thậm chí cả đối với chính nền kinh tế đang thực hiện trợ
cấp.
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thương mại
toàn cầu đã được hưởng lợi to lớn từ mức độ mở cửa thương mại cao n kể từ
năm 1950.
Thuế quan đối với hàng hóa đã giảm từ mức trung bình toàn cầu 26% xuống còn
dưới 9% hiện nay.
Trung bình, tốc độ tăng trưởng thương mại nhanh hơn hơn gấp đôi tốc độ tăng
trưởng sản lượng toàn cầu.
SECTION CHECK
1. Thuế quan một loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
2. Thuế quan làm tăng giá doanh thu cho các nhà sản xuất trong nước, đồng
thời làm giảm doanh thu lượng bán của các nhà sản xuất nước ngoài.
Thuế quan dẫn đến giá cả cao hơn làm giảm thặng tiêu dùng của
người tiêu dùng trong nước. Thuế quan gây ra tổn thất phúc lợi ròng mức
giảm thặng tiêu dùng lớn hơn mức tăng của nhà sản xuất chính phủ.
3. Các lẽ ủng hộ việc áp dụng thuế quan bao gồm: thuế quan giúp các ngành
công nghiệp non trẻ phát triển; thuế quan thể giảm thất nghiệp trong
nước; thuế quan mới thể giúp tài trợ cho thương mại quốc tế; thuế
quan cần thiết do an ninh quốc gia.
4. Giống như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu hạn chế nhập khẩu, làm giảm
thặng tiêu dùng ngăn các quốc gia tận dụng đầy đủ lợi thế so sánh của
mình. Tổn thất phúc lợi ròng do hạn ngạch gây ra tỷ lệ lớn hơn so với thuế
quan không mang lại nguồn thu cho chính phủ.
5. Đôi khi, chính phủ cố gắng khuyến khích sản xuất một loại hàng hóa nhất
định bằng cách trợ cấp sản xuất từ tiền thuế của người dân. trợ cấp kích
thích xuất khẩu, nên chúng không phải rào cản thương mại như thuế quan
hay hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, chúng làm méo hình thương
mại gây ra sự kém hiệu quả tổng thể.
Câu hỏi:
1. Tại sao thuế quan làm tăng thặng của nhà sản xuất trong nước nhưng làm
giảm thặng của người tiêu dùng trong nước?
2. Thuế nhập khẩu làm tăng việc làm trong các ngành được “bảo vệ” như thế
nào, nhưng lại khả năng làm giảm việc làm chung?
3. Tại sao lập luận về an ninh quốc gia để biện minh cho thuế quan đáng
nghi vấn?
4. Tại sao lập luận trong nước ủng hộ hạn ngạch nhập khẩu lại yếu hơn so với
lập luận ủng hộ thuế quan?
5. Tại sao các nhà sản xuất nước ngoài lại thích hạn ngạch nhập khẩu hơn thuế
quan, ngay cả khi cả hai đều dẫn đến mức giảm nhập khẩu như nhau?
6. Tại sao việc trợ cấp xuất khẩu cho các ngành không lợi thế so sánh lại
xu hướng gây hại cho nền kinh tế trong nước nói chung?
TÓM TẮT CHƯƠNG
1.Trong một năm điển hình, khoảng ___________ phần trăm sản lượng của thế
giới được giao dịch trên các thị trường quốc tế.
2.Trong nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của một quốc gia ___________ của một
quốc gia khác.
3.___________ thương mại ngụ ý rằng cả hai bên tham gia trao đổi hàng hóa
dịch vụ đều mong đợi cải thiện phúc lợi kinh tế của họ.
4.Lý thuyết giải thích cách thương mại thể mang lại lợi ích cho cả hai bên
tập trung vào khái niệm ___________.
5.Một nhân, khu vực hoặc quốc gia lợi thế so sánh hơn nhân, khu vực
hoặc quốc gia khác trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định nếu
họ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ đó với ___________ thấp hơn.
6.Điều quan trọng đối với chuyên môn hóa thương mại cùng lợi lợi thế
___________, chứ không phải lợi thế ___________.
7.Thương mại đã phát triển phần lớn các khu vực địa khác nhau
___________ tài nguyên do đó ___________ khả năng sản xuất.
8.Nếu Techland thể sản xuất nhiều hơn cả ngũ cốc máy tính so với
Grainsville, Techland ___________ lợi thế trong cả hai sản phẩm.
9.Sự chênh lệch giữa mức giá tối đa người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một
lượng hàng hóa mức giá thực tế người tiêu dùng phải trả được gọi thặng
___________.
10.Chúng ta thể phân tích tốt hơn tác động của thương mại bằng các công cụ
của thặng ___________ ___________.
11.Khi sản lượng cân bằng đạt được tại mức giá cân bằng, tổng của thặng
___________ ___________ được tối đa hóa.
12.Khi nền kinh tế trong nước lợi thế so sánh trong một hàng hóa thể sản
xuất với giá tương đối thấp hơn phần còn lại của thế giới, thương mại quốc tế sẽ
___________ giá thị trường trong nước đến mức giá thế giới, mang lại lợi ích cho
___________ trong nước nhưng gây thiệt hại cho ___________ trong nước.
13.Khi nền kinh tế trong nước lợi thế so sánh trong một hàng hóa, việc cho phép
thương mại quốc tế sẽ phân phối lại thu nhập từ ___________ trong nước sang
___________ trong nước, nhưng thặng ___________ tăng nhiều hơn mức giảm
của thặng ___________.
14.Khi một quốc gia không sản xuất một hàng hóa tương đối tốt bằng các quốc gia
khác, thương mại quốc tế sẽ ___________ giá trong nước xuống mức giá thế giới,
với phần chênh lệch giữa lượng cung lượng cầu trong nước được đắp bằng
___________.
15.Khi một quốc gia không sản xuất một hàng hóa tương đối tốt bằng các quốc gia
khác, thương mại quốc tế sẽ phân phối lại thu nhập từ ___________ trong nước
sang ___________ trong nước gây ra ___________ tài sản trong nước.
16.___________ một loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
17.Thuế quan mang lại giá ___________ doanh thu cho các nhà sản xuất trong
nước, doanh thu lượng bán ___________ cho các nhà sản xuất nước ngoài,
giá ___________ cho người tiêu dùng trong nước.
18.Với thuế nhập khẩu, giá hàng hóa trong nước ___________ so với giá thế giới.
19.Nếu thuế nhập khẩu được áp dụng, tại mức giá mới, lượng cầu trong nước
___________, lượng cung trong nước ___________, ___________ lượng hàng
hóa nhập khẩu.
20.Thuế nhập khẩu mang lại lợi ích cho ___________ ___________ trong nước
nhưng gây thiệt hại cho ___________ trong nước.
21.Một lập luận ủng hộ thuế quan sự bảo hộ thuế quan cần thiết ___________
để cho phép một ngành công nghiệp mới nhanh chóng đạt đến quy hoạt động
tại đó hiệu quả kinh tế theo quy thể đạt được.
22.Thuế quan dẫn đến sản lượng việc làm ___________ giảm thất nghiệp
trong các ngành công nghiệp trong nước nơi thuế quan được áp dụng.
23.Nếu thuế quan mới dẫn đến hạn chế nhập khẩu, sẽ ít ___________ đô la
chảy ra nước ngoài để thanh toán cho hàng nhập khẩu hơn, điều này nghĩa
người nước ngoài sẽ ___________ đô la để mua hàng xuất khẩu của Mỹ.
24.Nếu tài nguyên của một quốc gia thể cạn kiệt, việc dựa vào nguồn cung trong
nước do thuế quan áp đặt sẽ ___________ sự cạn kiệt dự trữ trong nước.
25.Một ___________ nhập khẩu cung cấp cho các nhà sản xuất từ quốc gia khác số
lượng tối đa đơn vị hàng hóa thể được nhập khẩu trong một khoảng thời gian
nhất định.
26.Lập luận ủng hộ hạn ngạch nhập khẩu ___________ hơn so với lập luận ủng hộ
thuế quan.

Preview text:

Các Lẽ Ủng Hộ Thuế Quan (Tariffs)
Mặc dù có nhiều lý lẽ phản đối việc áp đặt hạn chế thương mại, chúng vẫn tiếp tục
được áp dụng. Do đó, cần có một số lý do hợp lý cho sự tồn tại của chúng. Ba lý lẽ
phổ biến nhất cho việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại đáng được xem xét một cách nghiêm túc.
1. Hạn chế thương mại tạm thời giúp các ngành công nghiệp non trẻ phát
triển (Temporary Trade Restrictions Help Infant Industries Grow)
Một quốc gia có thể lập luận rằng việc áp dụng thuế quan bảo hộ sẽ giúp một
ngành công nghiệp mới nhanh chóng đạt đến quy mô sản xuất tối ưu, nơi có thể tận
dụng lợi thế kinh tế theo quy mô (economies of scale) và hiệu quả sản xuất cao hơn.
Nói cách khác, việc bảo vệ tạm thời ngành công nghiệp non trẻ khỏi cạnh tranh
quốc tế sẽ tạo điều kiện để nó phát triển. Khi có sự bảo hộ ban đầu, các doanh
nghiệp trong ngành này cuối cùng sẽ có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường toàn cầu.
Người ta cho rằng nếu không có sự bảo hộ này, ngành công nghiệp đó sẽ không
bao giờ có thể tự đứng vững. Nghe qua thì lý lẽ này có vẻ hợp lý, nhưng thực tế
tồn tại nhiều vấn đề. Làm thế nào để xác định chính xác "ngành công nghiệp non
trẻ" nào thật sự có tiềm năng tăng trưởng và sẽ trở nên hiệu quả khi được bảo hộ?
Chúng ta không có đủ thông tin về chi phí sản xuất dài hạn của các ngành, điều
này khiến việc ra quyết định khó khăn.
Hơn nữa, nếu cả chính phủ và doanh nghiệp đều tin tưởng vào lợi ích của việc mở
rộng quy mô sản xuất, thì thay vì áp thuế, tại sao không cung cấp các khoản vay
lớn hoặc hỗ trợ đầu tư để giúp ngành đó phát triển nhanh chóng mà không làm tăng giá cho người tiêu dùng?
Nói cách khác, mục tiêu tăng quy mô hiệu quả có thể đạt được mà không cần thuế
bảo hộ. Cuối cùng, lịch sử cho thấy nhiều loại thuế bảo hộ ngành non trẻ thường
kéo dài ngay cả khi ngành đó đã trưởng thành và không còn cần bảo vệ nữa.
2. Thuế quan thể làm giảm thất nghiệp trong nước (Tariffs Can Reduce
Domestic Unemployment)
Biểu đồ 1 cho thấy rằng thuế quan có thể làm tăng sản lượng của các nhà sản xuất
trong nước, qua đó tăng việc làm và giảm thất nghiệp trong các ngành được áp
dụng thuế. Tuy nhiên, tác động việc làm tổng thể của thuế quan thường không tích
cực, nên lý lẽ này là sai lầm. Tại sao?
Trước hết, khi Mỹ áp thuế lên hàng nhập khẩu — ví dụ như thép từ nước ngoài —
thì các quốc gia bị ảnh hưởng sẽ phản ứng lại bằng cách áp thuế trả đũa (retaliatory tariffs).
Ví dụ, nếu Mỹ áp thuế lên thép Nhật, làm giảm xuất khẩu thép của Nhật sang Mỹ,
thì Nhật có thể áp thuế lên hàng hóa Mỹ, chẳng hạn máy móc xuất khẩu sang Nhật.
Khi đó, doanh số bán máy móc Mỹ giảm, kéo theo việc làm trong ngành này cũng
giảm. Như vậy, việc làm tăng trong ngành thép sẽ bị bù trừ bởi việc làm giảm ở các ngành khác.
Ngay cả khi các quốc gia khác không trả đũa, việc làm của Mỹ ở các ngành khác vẫn bị ảnh hưởng.
Bởi vì các quốc gia khác muốn mua hàng Mỹ cần phải có đô la Mỹ, mà họ kiếm
được bằng cách bán hàng sang Mỹ (tức là xuất khẩu sang Mỹ).
Nếu Mỹ hạn chế nhập khẩu, dòng tiền đô la ra nước ngoài giảm, đồng nghĩa người
nước ngoài có ít tiền hơn để mua hàng xuất khẩu của Mỹ.
Kết quả là, xuất khẩu của Mỹ sẽ giảm, kéo theo tăng thất nghiệp trong các ngành xuất khẩu.
3. Thuế quan cần thiết do an ninh quốc gia (Tariffs Are Necessary for
Reasons of National Security)
Đôi khi người ta lập luận rằng thuế quan là cách để ngăn một quốc gia phụ thuộc
quá nhiều vào nguồn cung nước ngoài đối với các mặt hàng thiết yếu cho an ninh quốc gia.
Nói cách khác, bằng việc làm hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, quốc gia có
thể bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
Ví dụ, nếu dầu mỏ là nguồn năng lượng cần thiết để vận hành máy bay và xe tăng,
thì việc nguồn cung dầu từ nước ngoài bị cắt đứt trong thời chiến có thể làm tê liệt
khả năng phòng thủ của quốc gia.
Tuy nhiên, lý lẽ an ninh quốc gia này thường không đúng.
Nếu nguồn tài nguyên trong nước có giới hạn, thì việc ép buộc sản xuất trong
nước thông qua thuế nhập khẩu sẽ làm cạn kiệt nguồn dự trữ nhanh hơn, khiến
quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều hơn trong tương lai.
Ví dụ, nếu chính phủ đánh thuế cao vào dầu nhập khẩu để bảo vệ ngành dầu nội
địa, thì trong ngắn hạn, sản lượng dầu trong nước có thể tăng lên, nhưng về lâu dài,
nguồn dự trữ sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt.
Vì vậy, lý lẽ “bảo vệ quốc phòng” này không vững chắc.
Từ góc độ phòng thủ, cách hợp lý hơn là sử dụng dầu nhập khẩu trong thời bình,
và dự trữ (stockpile) nguồn dầu nội địa làm “nguồn bảo hiểm” cho thời chiến.
4. Thuế quan cần thiết để chống bán phá giá không? (Are Tariffs Necessary
to Protect Against Dumping?)
Bán phá giá (Dumping) xảy ra khi một quốc gia bán sản phẩm ra nước ngoài với
giá thấp hơn chi phí sản xuất hoặc thấp hơn giá bán trong nước.
Ví dụ, chính phủ Nhật Bản trong nhiều năm đã bị cáo buộc trợ cấp cho các công ty
thép Nhật, để họ có thể bán thép rẻ ra thị trường thế giới, chiếm thị phần lớn hơn
và đạt được quyền lực thị trường (market power).
Chiến lược này khiến họ chịu lỗ trong ngắn hạn, nhưng có thể thu lợi lớn trong dài
hạn nhờ loại bỏ đối thủ và tăng giá trở lại sau đó.
Một số người cho rằng vì lý do này, thuế quan là cần thiết để bảo vệ nhà sản xuất
nội địa khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh.
Thuế sẽ làm tăng chi phí của hàng nhập khẩu, khiến các doanh nghiệp nước ngoài mất lợi thế giá rẻ.
Mỹ có luật chống bán phá giá (antidumping laws).
Nếu một quốc gia bị phát hiện bán phá giá, Mỹ có thể áp thuế chống bán phá giá
(antidumping tariff) để tăng giá hàng nhập khẩu bị cáo buộc bán phá giá.
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó chứng minh được hành vi bán phá giá.
Lý do là: giá rẻ của hàng ngoại có thể không phải do bán dưới giá, mà chỉ đơn
giản vì nước đó sản xuất hiệu quả hơn, tức là có lợi thế so sánh (comparative advantage).
Do đó, những gì trông có vẻ như bán phá giá thực ra có thể chỉ là do năng suất cao
và chi phí thấp hơn của họ.
Hạn ngạch nhập khẩu (Import Quotas)
Giống như thuế quan (tariffs), hạn ngạch nhập khẩu (import quotas) cũng là một
hình thức hạn chế thương mại trực tiếp, làm giảm lượng hàng nhập khẩu.
Điều này dẫn đến giảm giao thương quốc tế, và khiến các quốc gia không thể tận
dụng đầy đủ lợi thế so sánh (comparative advantage) — tức là không sản xuất và
trao đổi theo thế mạnh kinh tế của mình.
Lý lẽ ủng hộ hạn ngạch thậm chí còn yếu hơn lý lẽ ủng hộ thuế quan.
Bởi vì, khác với thuế quan, khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, chính phủ không
thu được bất kỳ khoản thuế nào.
Trong khi giá hàng hóa tăng, người tiêu dùng bị mất lợi ích (consumer surplus
giảm), và chính phủ không thu được thêm doanh thu, thì hạn ngạch vẫn được sử dụng.
Nguyên nhân là vì nhiều người cho rằng hạn ngạch “ít mang tính bảo hộ” hơn thuế
quan, vốn là hình thức bảo hộ truyền thống và bị chỉ trích nhiều nhất.
Ngoài các biện pháp bảo hộ rõ ràng như thuế quan và hạn ngạch, các quốc gia còn
sáng tạo ra những cách tinh vi hơn để hạn chế thương mại quốc tế.
Ví dụ: họ có thể đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy định về chất lượng sản
phẩm, với lý do là bảo vệ người tiêu dùng khỏi hàng hóa kém chất lượng.
Tuy nhiên, trên thực tế, những tiêu chuẩn này có thể chỉ là cái cớ để ngăn chặn
hàng hóa nước ngoài, bảo vệ sản phẩm trong nước. Ví dụ:
Pháp có thể cấm một số loại rượu vang nhập khẩu, với lý do rằng chúng
được làm từ nho “kém chất lượng” hoặc có độ cồn không phù hợp.
Mỹ có thể cấm nhập khẩu xe hơi nếu chúng không đáp ứng được tiêu chuẩn
về khí thải, an toàn hoặc mức tiêu hao nhiên liệu.
Ngay cả khi các tiêu chuẩn này không cố ý nhằm hạn chế thương mại, thì hiệu ứng
của chúng vẫn là làm giảm cạnh tranh và thu hẹp lựa chọn của người tiêu dùng.
Tác động kinh tế trong nước của hạn ngạch nhập khẩu
Tác động của hạn ngạch nhập khẩu ô tô được thể hiện trong Hình 2.
Khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, giá ô tô trong nước tăng từ mức giá thế giới Pw
lên mức Pwq. Việc áp dụng hạn ngạch khiến giá tăng cao hơn giá thế giới, dẫn đến
lượng cầu trong nước giảm và lượng cung trong nước tăng.
Kết quả là số lượng ô tô nhập khẩu giảm mạnh so với khi không có hạn ngạch.
So với thương mại tự do, các nhà sản xuất trong nước được lợi, còn người tiêu
dùng trong nước bị thiệt.
Cụ thể, hạn ngạch giúp nhà sản xuất trong nước tăng lợi nhuận (thặng dư) một phần diện tích c,
nhưng làm người tiêu dùng mất đi lợi ích (thặng dư) diện tích c + d + e + f.
Khác với thuế nhập khẩu – nơi chính phủ thu được phần diện tích e dưới dạng thuế,
với hạn ngạch, chính phủ không thu được khoản nào.
Do đó, tổn thất phúc lợi ròng (deadweight loss) do hạn ngạch gây ra lớn hơn so với thuế nhập khẩu.
Phần tổn thất này là diện tích d + e + f, trong khi với thuế nhập khẩu chỉ là d + f.
sao thuế hạn ngạch vẫn tồn tại nếu chúng gây hại cho nền kinh tế?
Bởi vì các nhà sản xuất trong nước có thể thu được lợi nhuận lớn từ các chính sách
bảo hộ như thuế và hạn ngạch.
Họ thường vận động hành lang để giữ các chính sách này.
Các nhà kinh tế gọi đây là “tìm kiếm địa tô” (rent seeking) — nghĩa là tìm cách
kiếm lợi nhờ chính phủ bảo hộ thay vì tạo ra giá trị thực.
Thời gian, tiền bạc và công sức dùng để vận động chính sách này có thể dùng cho hoạt động sản xuất,
vì vậy thiệt hại thực sự cho xã hội còn lớn hơn con số deadweight loss thể hiện trong mô hình kinh tế.
Tác động kinh tế của trợ cấp xuất khẩu
Trái ngược với thuế và hạn ngạch, chính phủ đôi khi trợ cấp cho nhà sản xuất để khuyến khích xuất khẩu.
Trợ cấp nghĩa là chính phủ trả tiền cho nhà sản xuất cho mỗi đơn vị hàng xuất
khẩu, giúp tăng lượng hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, trợ cấp cũng gây méo mó thương mại và kém hiệu quả.
Nhà sản xuất không xuất khẩu vì có chi phí thấp hơn đối thủ,
mà vì chi phí của họ được chính phủ hạ nhân tạo.
Tiền trợ cấp này đến từ người nộp thuế, nghĩa là thu nhập của dân bị chuyển sang
cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Trợ cấp không làm giảm chi phí thực tế như lao động, nguyên liệu hay vốn –
nên xã hội vẫn phải chịu chi phí như cũ,
nhưng nguồn lực lại bị sử dụng sai hướng, vì các doanh nghiệp kém hiệu quả vẫn
được khuyến khích sản xuất.
Kết quả là quốc gia xuất khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh,
dẫn đến lãng phí tài nguyên và giảm hiệu quả kinh tế tổng thể. World Market S world P world D world Domestic Market a Pw+q b S world+quota c e Pw d f S world s D domestic 0 Qs Q’s Q’d Qd Khu vực
Trước hạn ngạch
Sau hạn ngạch Thay đổi
Thặng tiêu dùng (CS) a + b + c + d + e + f a + b − (c+d + e + f)
Thặng sản xuất (PS) g c + g + c
Tổng phúc lợi (CS + PS) từ hạn ngạch a + b + c + d + e + f + g a + b + c + g − (d + e + f)
Với hạn ngạch nhập khẩu, giá tăng từ PW lên PW₍ Q₎.
So với thương mại tự do, người tiêu dùng mất đi khu vực c + d + e + f, trong khi nhà sản xuất thu được khu vực b.
Tổn thất ích (deadweight loss) do hạn ngạch gây ra là khu vực d + e + f.
Dưới chính sách hạn ngạch, người tiêu dùng bị thiệt và nhà sản xuất được lợi.
Sự khác biệt về tổn thất ích giữa hạn ngạch thuế quan chính là khu vực d, mà chính
phủ không thu được trong trường hợp hạn ngạch nhập khẩu.
Giá đường trên thị trường thế giới thấp hơn nhiều so với giá đường ở Hoa Kỳ. Ví
dụ, trong những năm gần đây, giá đường ở Mỹ có lúc lên đến 25 xu một pao, trong
khi giá đường thế giới chưa đến 5 xu một pao. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân là
do hạn ngạch nhập khẩu đường được áp dụng để bảo vệ ngành công nghiệp đường
trong nước, bằng cách kiểm soát lượng đường nước ngoài có thể nhập vào Hoa Kỳ.
Chính sách này làm tăng giá đường trong nước, và mang lại lợi ích cho các nhà sản
xuất đường trong nước cũng như một số nhà sản xuất nước ngoài đã vận động hành
lang thành công để có được phần hạn ngạch.
Năm 2006, năm quốc gia vùng Caribe sản xuất đường lớn nhất đã được tăng hạn
ngạch do thiệt hại nặng nề đối với các đồn điền mía ở bang Louisiana bởi cơn bão Katrina.
Hạn ngạch nhập khẩu đường ảnh hưởng đến giá của mọi thứ, từ đồ uống đến bánh
sinh nhật. Như thể hiện trong hình minh họa 3, chính sách này có thể có lợi cho các
nhà sản xuất đường trong nước, nhưng rõ ràng gây bất lợi cho người tiêu dùng (và
các nhà sản xuất sử dụng đường làm nguyên liệu đầu vào, chẳng hạn như các nhà
sản xuất kẹo, trong đó một số đã chuyển hoạt động ra khỏi Hoa Kỳ).
Mặc dù các con số được sử dụng là giả định để dễ dàng tính toán, chúng vẫn gần
với thực tế đủ để bạn có thể thấy được tác động tài chính của hạn ngạch.
Hãy chú ý rằng chi phí mà người tiêu dùng phải chịu do chính sách này là diện tích
a + b + c + d, tương đương 2,1 tỷ đô la mỗi năm. Tuy nhiên, một phần khoản mất
mát của người tiêu dùng lại trở thành lợi ích của các nhà sản xuất.
Các nhà sản xuất trong nước thu được diện tích a, tương đương 850 triệu đô la.
Các nhà sản xuất nước ngoài có hạn ngạch vào thị trường Hoa Kỳ thu được
600 triệu đô la (hãy nhớ rằng họ lẽ ra chỉ có thể bán đường của mình với giá
0,10 đô la, thay vì 0,20 đô la, trên thị trường thế giới).
Hai diện tích b và d biểu thị tổn thất vô ích (deadweight loss) từ chính sách này — 650 triệu đô la. Supply domestic E2 0,20 US Price a c b d E1 0.10 WP 0.08 Demand Domestic 0 3 14 20 22
Lợi ích và tổn thất liên quan đến hạn ngạch đường
Mất thặng dư tiêu dùng: Khu vực a + b + c + d = 2,1 tỷ USD
Lợi ích của các nhà sản xuất đường Hoa Kỳ: Khu vực a = 850 triệu USD
Lợi ích của các nhà sản xuất đường nước ngoài có quyền hạn ngạch: Khu vực c = 600 triệu USD
Tổn thất vô ích (deadweight loss): Khu vực b + d = 650 triệu USD Chi tiết tính toán:
Khu vực a = 850 triệu USD = (0,10 × 11 tỷ × 0,5) + (0,10 × 3 tỷ)
Khu vực c = 600 triệu USD = (0,10 × 6 tỷ)
Khu vực b = 550 triệu USD = (0,10 × 11 tỷ × 0,5)
Khu vực d = 100 triệu USD = (0,10 × 2 tỷ × 0,5) ĐÚNG HAY SAI
VIỆC THUÊ BÊN THỨ 3 MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG
Nếu bạn chỉ đọc các tiêu đề, tương lai của toàn cầu hóa có thể thật đáng sợ.
Việc làm của người Mỹ đã chuyển ra nước ngoài. Khi viễn thông và máy tính
mạnh hơn cho phép các công ty chuyển thêm nhiều việc, khu vực dịch vụ —
chiếm khoảng 85% lực lượng lao động Mỹ — sẽ ngày càng dễ bị cạnh tranh bởi
lao động giá rẻ ở các nước đang phát triển.
Vậy câu hỏi đặt ra: Mỹ có sắp mất hàng loạt việc làm văn phòng không?
Có lẽ không. Mối đe dọa từ thuê ngoài toàn cầu thường bị phóng đại.
Cuộc tranh luận về cạnh tranh việc làm toàn cầu tràn ngập dự báo u ám. Ví dụ, các
trợ lý pháp lý ở New York và Washington có thể bị thay thế bởi sinh viên tốt
nghiệp ở Hyderabad. Các công việc hỗ trợ văn phòng — như nhập dữ liệu, lưu trữ
hồ sơ và bộ phận tính lương — cũng có thể thực hiện từ xa.
“Chúng ta thực sự mới ở giai đoạn đầu và điều này đang tăng tốc nhanh,” Ron
Hira, trợ lý giáo sư chính sách công tại Viện Công nghệ Rochester, nói.
Trong một nghiên cứu công bố năm nay, hai nhà kinh tế tại Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế ở Brussels ước tính rằng 20% việc làm ở các nước phát triển có
thể “bị ảnh hưởng tiềm tàng” bởi thuê ngoài toàn cầu. Nghiên cứu cho biết điều đó
có thể bao gồm tất cả các thủ thư, nhà thống kê, kỹ sư hóa học và kiểm soát viên không lưu của Mỹ.
“Bị ảnh hưởng tiềm tàng” nghĩa là gì?
Ngay cả khi việc thuê ngoài không lấy đi tất cả những công việc này, cạnh tranh
toàn cầu về việc làm — bao gồm người lao động ở các nước đang phát triển có thu
nhập rất thấp so với Mỹ — có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sinh kế của người lao động Mỹ.
“Điều đó sẽ không gây tổn hại về số lượng việc làm,” William J. Baumol, giáo sư
kinh tế tại Đại học New York, người đã nghiên cứu chi phí của toàn cầu hóa, nói.
“Nó sẽ gây tổn hại về mức lương.”
Nhưng ngay cả khi hàng triệu công việc có thể được thực hiện bởi lao động rẻ hơn
ở bên kia địa cầu, các doanh nghiệp sẽ không vội vàng chuyển mọi công việc có
thể đến nơi có chi phí thấp nhất. Thị trường lao động chưa toàn cầu đến mức đó, và
khó có thể như vậy trong thời gian tới.
Trong một loạt báo cáo mới, Viện Toàn cầu McKinsey, một nhóm nghiên cứu được
biết đến với quan điểm ủng hộ toàn cầu hóa, cho rằng 160 triệu công việc dịch vụ
— khoảng 10% tổng số việc làm trên toàn thế giới — có thể được chuyển đến các
địa điểm từ xa vì các công việc này không đòi hỏi tiếp xúc với khách hàng, kiến
thức địa phương hay tương tác phức tạp với phần còn lại của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sau khi khảo sát hàng chục công ty trong tám lĩnh vực, từ các công ty
dược phẩm đến các công ty bảo hiểm, họ kết luận rằng chỉ một phần nhỏ trong số
các công việc này thực sự sẽ được chuyển đi.
Báo cáo ước tính rằng đến năm 2008, các công ty đa quốc gia ở toàn bộ thế giới
phát triển sẽ chỉ đặt 4,1 triệu công việc dịch vụ ở các nước có mức lương thấp, tăng
từ khoảng 1,5 triệu vào năm 2003. Con số này chỉ tương đương 1% tổng số công
việc dịch vụ ở các nước phát triển.
Một số lĩnh vực, như bán lẻ và chăm sóc sức khỏe, có khả năng sẽ chuyển rất ít
công việc đến các nước nghèo. McKinsey ước tính rằng ít hơn 0,07% công việc
chăm sóc sức khỏe vào năm 2008 sẽ được thuê ngoài đến các nước có mức lương thấp.
Nhưng ngay cả các nhà thiết kế phần mềm đóng gói, những người có công việc dễ
dàng được thực hiện ở nước ngoài, cũng sẽ chỉ thuê ngoài 18% công việc của họ, báo cáo cho biết.
Việc chuyển các nhiệm vụ đến những nơi xa xôi không hề đơn giản. Theo nghiên
cứu của McKinsey, nhiều quy trình kinh doanh khó tách thành các phần riêng biệt
có thể gửi đi. Nhiều công ty bảo hiểm sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin
được lắp ghép qua thời gian và sẽ khó quản lý từ xa. Các nhà quản lý có thể không
sẵn sàng hoặc không chuẩn bị để làm việc ở nước ngoài. Và đôi khi những nhiệm
vụ có thể gửi đi lại quá nhỏ để việc chuyển giao trở nên đáng giá.
Hơn nữa, không có quá nhiều lao động rẻ phù hợp sẵn có. Các giám đốc nhân sự
được phỏng vấn trong nghiên cứu của McKinsey cho biết vì những lý do như kỹ
năng ngôn ngữ kém hoặc hệ thống giáo dục kém chất lượng, chỉ khoảng 13% sinh
viên trẻ có trình độ đại học ở các nước đang phát triển lớn đủ điều kiện làm việc
cho các tập đoàn đa quốc gia. Và sự cạnh tranh từ các công ty trong nước làm giảm
thêm nguồn lao động này.
Dĩ nhiên, Ấn Độ có hàng tỷ người, nhưng chỉ một tỷ lệ rất nhỏ lực lượng lao động
Ấn Độ có trình độ phù hợp. “Chỉ một phần nhỏ được học bằng tiếng Anh, và chỉ
một phần trong số đó nói tiếng Anh mà bạn hoặc tôi có thể hiểu được,” Jagdish N.
Bhagwati, giáo sư kinh tế tại Đại học Columbia, nói.
Tất nhiên, nhiều trở ngại này có thể được khắc phục theo thời gian. Nguồn lao
động đủ năng lực ở các nước nghèo sẽ tăng lên, và các công ty cuối cùng sẽ giải
quyết được nhiều vấn đề hậu cần. Nhưng điều đó có thể sẽ mất một thời gian.
outsourcing to India Can Net Large Savings 7 6 5 4 3 2 1 0 Category 1 Category 2 wave network overhead tax profit A Variety of Jobs Being outsourced ofÏce computer business legal art design Architecture
Mua hàng Mỹ. Công việc bạn cứu có thể là của chính bạn.
Một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng người Mỹ nên tiêu tiền trong nước thì tốt
hơn là tiêu ở nước ngoài.
Cách tốt nhất để vạch ra sự ngụy biện trong lập luận này là đưa nó đến giới hạn logic của nó.
Nếu tiêu tiền ở trong nước tốt hơn là ở nước ngoài, thì sẽ còn tốt hơn nữa nếu tôi
mua ở Texas thay vì ở New York, tốt hơn nữa nếu mua ở Dallas thay vì ở
Houston… trong chính khu phố của tôi… trong chính gia đình tôi… và cuối cùng
là chỉ tiêu dùng những gì tôi tự sản xuất được. Cô độc và nghèo khó.
Không có lợi thế so sánh.
Lợi ích từ thương mại xét theo sản lượng toàn cầu bị loại bỏ hoặc giảm bớt do
những khoản trợ cấp như vậy.
Do đó, các khoản trợ cấp — thường được biện minh là nhằm tăng xuất khẩu và cải
thiện vị thế tài chính quốc tế của một quốc gia — thường có giá trị đáng ngờ đối
với nền kinh tế thế giới và thậm chí cả đối với chính nền kinh tế đang thực hiện trợ cấp.
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thương mại
toàn cầu đã được hưởng lợi to lớn từ mức độ mở cửa thương mại cao hơn kể từ năm 1950.
Thuế quan đối với hàng hóa đã giảm từ mức trung bình toàn cầu 26% xuống còn dưới 9% hiện nay.
Trung bình, tốc độ tăng trưởng thương mại nhanh hơn hơn gấp đôi tốc độ tăng
trưởng sản lượng toàn cầu. SECTION CHECK
1. Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
2. Thuế quan làm tăng giá và doanh thu cho các nhà sản xuất trong nước, đồng
thời làm giảm doanh thu và lượng bán của các nhà sản xuất nước ngoài.
Thuế quan dẫn đến giá cả cao hơn và làm giảm thặng dư tiêu dùng của
người tiêu dùng trong nước. Thuế quan gây ra tổn thất phúc lợi ròng vì mức
giảm thặng dư tiêu dùng lớn hơn mức tăng của nhà sản xuất và chính phủ.
3. Các lý lẽ ủng hộ việc áp dụng thuế quan bao gồm: thuế quan giúp các ngành
công nghiệp non trẻ phát triển; thuế quan có thể giảm thất nghiệp trong
nước; thuế quan mới có thể giúp tài trợ cho thương mại quốc tế; và thuế
quan là cần thiết vì lý do an ninh quốc gia.
4. Giống như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu hạn chế nhập khẩu, làm giảm
thặng dư tiêu dùng và ngăn các quốc gia tận dụng đầy đủ lợi thế so sánh của
mình. Tổn thất phúc lợi ròng do hạn ngạch gây ra tỷ lệ lớn hơn so với thuế
quan vì nó không mang lại nguồn thu cho chính phủ.
5. Đôi khi, chính phủ cố gắng khuyến khích sản xuất một loại hàng hóa nhất
định bằng cách trợ cấp sản xuất từ tiền thuế của người dân. Vì trợ cấp kích
thích xuất khẩu, nên chúng không phải là rào cản thương mại như thuế quan
hay hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, chúng làm méo mó mô hình thương
mại và gây ra sự kém hiệu quả tổng thể. Câu hỏi:
1. Tại sao thuế quan làm tăng thặng dư của nhà sản xuất trong nước nhưng làm
giảm thặng dư của người tiêu dùng trong nước?
2. Thuế nhập khẩu làm tăng việc làm trong các ngành được “bảo vệ” như thế
nào, nhưng lại có khả năng làm giảm việc làm chung?
3. Tại sao lập luận về an ninh quốc gia để biện minh cho thuế quan là đáng nghi vấn?
4. Tại sao lập luận trong nước ủng hộ hạn ngạch nhập khẩu lại yếu hơn so với
lập luận ủng hộ thuế quan?
5. Tại sao các nhà sản xuất nước ngoài lại thích hạn ngạch nhập khẩu hơn thuế
quan, ngay cả khi cả hai đều dẫn đến mức giảm nhập khẩu như nhau?
6. Tại sao việc trợ cấp xuất khẩu cho các ngành không có lợi thế so sánh lại có
xu hướng gây hại cho nền kinh tế trong nước nói chung?
TÓM TẮT CHƯƠNG
1.Trong một năm điển hình, khoảng ___________ phần trăm sản lượng của thế
giới được giao dịch trên các thị trường quốc tế.
2.Trong nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của một quốc gia là ___________ của một quốc gia khác.
3.___________ thương mại ngụ ý rằng cả hai bên tham gia trao đổi hàng hóa và
dịch vụ đều mong đợi cải thiện phúc lợi kinh tế của họ.
4.Lý thuyết giải thích cách mà thương mại có thể mang lại lợi ích cho cả hai bên
tập trung vào khái niệm ___________.
5.Một cá nhân, khu vực hoặc quốc gia có lợi thế so sánh hơn cá nhân, khu vực
hoặc quốc gia khác trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định nếu
họ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ đó với ___________ thấp hơn.
6.Điều quan trọng đối với chuyên môn hóa và thương mại cùng có lợi là lợi thế
___________, chứ không phải lợi thế ___________.
7.Thương mại đã phát triển phần lớn vì các khu vực địa lý khác nhau có
___________ tài nguyên và do đó ___________ khả năng sản xuất.
8.Nếu Techland có thể sản xuất nhiều hơn cả ngũ cốc và máy tính so với
Grainsville, Techland có ___________ lợi thế trong cả hai sản phẩm.
9.Sự chênh lệch giữa mức giá tối đa mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một
lượng hàng hóa và mức giá thực tế mà người tiêu dùng phải trả được gọi là thặng dư ___________.
10.Chúng ta có thể phân tích tốt hơn tác động của thương mại bằng các công cụ
của thặng dư ___________ và ___________.
11.Khi sản lượng cân bằng đạt được tại mức giá cân bằng, tổng của thặng dư
___________ và ___________ được tối đa hóa.
12.Khi nền kinh tế trong nước có lợi thế so sánh trong một hàng hóa vì có thể sản
xuất nó với giá tương đối thấp hơn phần còn lại của thế giới, thương mại quốc tế sẽ
___________ giá thị trường trong nước đến mức giá thế giới, mang lại lợi ích cho
___________ trong nước nhưng gây thiệt hại cho ___________ trong nước.
13.Khi nền kinh tế trong nước có lợi thế so sánh trong một hàng hóa, việc cho phép
thương mại quốc tế sẽ phân phối lại thu nhập từ ___________ trong nước sang
___________ trong nước, nhưng thặng dư ___________ tăng nhiều hơn mức giảm của thặng dư ___________.
14.Khi một quốc gia không sản xuất một hàng hóa tương đối tốt bằng các quốc gia
khác, thương mại quốc tế sẽ ___________ giá trong nước xuống mức giá thế giới,
với phần chênh lệch giữa lượng cung và lượng cầu trong nước được bù đắp bằng ___________.
15.Khi một quốc gia không sản xuất một hàng hóa tương đối tốt bằng các quốc gia
khác, thương mại quốc tế sẽ phân phối lại thu nhập từ ___________ trong nước
sang ___________ trong nước và gây ra ___________ tài sản trong nước.
16.___________ là một loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
17.Thuế quan mang lại giá ___________ và doanh thu cho các nhà sản xuất trong
nước, doanh thu và lượng bán ___________ cho các nhà sản xuất nước ngoài, và
giá ___________ cho người tiêu dùng trong nước.
18.Với thuế nhập khẩu, giá hàng hóa trong nước ___________ so với giá thế giới.
19.Nếu thuế nhập khẩu được áp dụng, tại mức giá mới, lượng cầu trong nước
___________, và lượng cung trong nước ___________, ___________ lượng hàng hóa nhập khẩu.
20.Thuế nhập khẩu mang lại lợi ích cho ___________ và ___________ trong nước
nhưng gây thiệt hại cho ___________ trong nước.
21.Một lập luận ủng hộ thuế quan là sự bảo hộ thuế quan là cần thiết ___________
để cho phép một ngành công nghiệp mới nhanh chóng đạt đến quy mô hoạt động
mà tại đó hiệu quả kinh tế theo quy mô có thể đạt được.
22.Thuế quan dẫn đến sản lượng và việc làm ___________ và giảm thất nghiệp
trong các ngành công nghiệp trong nước nơi thuế quan được áp dụng.
23.Nếu thuế quan mới dẫn đến hạn chế nhập khẩu, sẽ có ít ___________ đô la
chảy ra nước ngoài để thanh toán cho hàng nhập khẩu hơn, điều này có nghĩa là
người nước ngoài sẽ có ___________ đô la để mua hàng xuất khẩu của Mỹ.
24.Nếu tài nguyên của một quốc gia có thể cạn kiệt, việc dựa vào nguồn cung trong
nước do thuế quan áp đặt sẽ ___________ sự cạn kiệt dự trữ trong nước.
25.Một ___________ nhập khẩu cung cấp cho các nhà sản xuất từ quốc gia khác số
lượng tối đa đơn vị hàng hóa có thể được nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định.
26.Lập luận ủng hộ hạn ngạch nhập khẩu ___________ hơn so với lập luận ủng hộ thuế quan.