








Preview text:
Tuần 1
Chương 1: Tổng quan về ngôn ngữ tiếng Việt
Mục tiêu tuần học:
- SV nắm được lịch sử ra đời của tiếng Việt, đặc điểm trong cơ cấu tổ chức tiếng Việt.
1.1. Lịch sử phát triển của tiếng Việt
* Thời thượng cổ:
Tiếng Việt thời kỳ này đã phát triển, đáp ứng được yêu cầu giao tiếp, tổ chức xã
hội của người Lạc Việt, của nhà nước Văn Lang và nhà nước Âu Lạc.
Theo một số tài liệu nghiên cứu, tiếng Việt ở giai đoạn này chưa có thanh điệu. Hệ
thống âm đầu còn bao gồm một số tổ hợp phụ âm như tl, bl, kl, pl, pr,…; hệ thống
âm cuối có một số âm như -l, -r, -h, -s, -p.
Chưa có cứ liệu để khẳng định tiếng Việt giai đoạn này đã có chữ viết.
* Giai đoạn từ thế kỉ II trước Công nguyên đến trước năm 1858:
Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của tiếng Việt, khi đất nước bị phong kiến
phương Bắc đô hộ từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 938 và sự ra đời của
các nhà nước phong kiến Việt Nam. Tiếp xúc với tiếng Hán gần hai mươi thế kỉ và
đặc biệt trước những chính sách, thủ đoạn đồng hoá của phong kiến phương Bắc,
tiếng Việt không bị thủ tiêu, thui chột, mà trái lại vẫn phát triển và khẳng định sức
sống mãnh liệt của nó. Sự ra đời của chữ Nôm kéo theo sự ra đời của nền văn học
chữ Nôm phong phú với những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Trãi, Lê Thánh
Tông, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm,…đánh dấu một giai
đoạn phát triển mới của tiếng Việt, khẳng định vai trò quan trọng của tiếng Việt
trong đời sống văn hoá dân tộc.
Về cấu trúc, theo một số nhà nghiên cứu, đã xuất hiện ba thanh (ngang, huyền,
sắc) ở thế kỉ VI và đến thế kỉ XII thì hệ thống thanh điệu hoàn chỉnh. Hệ thống âm
đầu biến đổi mạnh, xuất hiện các âm hữu thanh b,d,g; các phụ âm quặt lưỡi xuất 1
hiện, các tổ hợp phụ âm đầu mất dần hoặc chuyển hoá thành các phụ âm khác, bl
thành b hoặc tr… Vốn từ tiếng Việt cũng tiếp nhận một số lượng khá lớn các từ tiếng Hán.
Tóm lại, tiếng Việt ở giai đoạn này đã đạt đến trình độ nhất định, có khả năng biểu
hiện được phong phú, tinh tế của nội tâm con người. Song do chính sách của các
nhà nước phong kiến, tiếng Việt chưa phát huy được vai trò trong các lĩnh vực xã hội khác.
* Giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1945
Sự ra đời của chữ quốc ngữ và phong trào đấu tranh cách mạng mạnh mẽ, sôi nổi
đầu thế kỉ XX đã tạo điều kiện cho tiếng Việt phát triển. Một loại từ mới xuất hiện
như “công hội”, “chủ nghĩa xã hội”, “biểu tình”…Tiếp xúc với tiếng Pháp và một
số ngôn ngữ Ấn, Âu khác, tiếng Việt đã thu nhận và Việt hoá một số từ của các
ngôn ngữ đó. Cách đặt câu ngày càng chặt chẽ, chính xác hơn. Nền văn xuôi quốc
ngữ trẻ trung với các tác phẩm thuộc nhiều phong cách: Hành chính, chính luận,
khoa học, nghệ thuật đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ của tiếng Việt, mở ra
triển vọng phát triển to lớn của nó.
* Giai đoạn từ 1945 đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia chính thức của
nhà nước Việt Nam và được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Về
cấu trúc, sự phát triển của tiếng Việt thể hiện rõ nhất ở hệ thống từ vựng.
1.2. Đặc điểm chính của tiếng Việt a. Tính phân tiết
- Là từ có tính đơn tiết:
+ Âm tiết tiếng Việt có ranh giới rõ ràng, tách bạch.
+ Âm tiết tiếng Việt có ranh giới trùng với hình vị.
+ Âm tiết tiếng Việt thường có nghĩa và luôn mang thanh điệu. 2
Ví dụ: Tiếng Việt: sách, sinh viên, viết
Tiếng Anh: books, student, write …(“s ” – số nhiều, đếm được; “ing” thì tiếp
diễn của động từ có quy tắc….)
b.Đặc điểm về từ:
- Không biến đổi hình thái: Từ tiếng Việt, dù thuộc từ loại nào, dù giữ chức vụ ngữ
pháp nào trong câu, cũng luôn có một hình thức ngữ âm ổn định, bất biến. Nói
cách khác, hình thái của từ không thay đổi, cho dù quan hệ, chức vụ ngữ pháp của từ có thay đổi. Ví dụ 1:
(1) Bài hát này rất hay => Bài hát có vai trò là chủ ngữ.
(2) Tôi đã hát bài hát này rồi => Bài hát có vai trò là vị ngữ.
(3) Tác giả của bài hát này là một người quen của tôi => Bài hát có vai trò là định ngữ.
Trong các câu trên, quan hệ và chức vụ ngữ pháp của từ quyển sách có khác nhau. Ví dụ 2:
Vd: Tôi tặng anh ấy một cuốn sách, anh ấy cho tôi một cái bút (I Him He Me)
- Một âm tiết Tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ gồm 3 phần:
Phụ âm đầu – Vần (âm đệm, âm chính, âm cuối) – Thanh điệu
Ví dụ: âm tiết LOAN: Phụ âm đầu L + vần OAN + thanh điệu KHÔNG (Vần OAN
gồm: Âm đệm O + âm chính A + âm cuối N)
c. Các phương thức ngữ pháp chủ yếu
Vì từ tiếng Việt không biến đổi hình thái nên tiếng Việt sử dụng ba phương thức
ngữ pháp chủ yếu là trật tự từ, hư từ và ngữ điệu. o Trật tự từ:
Sự sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị quan
hệ ngữ pháp. Khi trật tự từ thay đổi thì ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ 3
pháp cũng thay đổi. Ví dụ so sánh bài viết (chỉ sự vật) và viết bài (chỉ hành động). o Hư từ:
Phương thức hư từ cũng được sử dụng phổ biến trong tiếng Việt. Hư từ là
những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để gọi tên các đối tượng
trong thực tế khách quan. Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một số loại ý nghĩa
ngữ pháp hoặc ý nghĩa tình thái. Chẳng hạn, các hư từ “đã, đang, sẽ” được
dùng để biểu thị ý nghĩa thời gian. Trong tiếng Việt, việc sử dụng các hư từ
thì ngữ nghĩa trong câu cũng thay đổi khác.
Thành phố này – Những thành phố này
Ăn cơm với tôi – Ăn cơm cùng tôi
Tôi đang ăn cơm - Tôi đã ăn cơm rồi - Tôi vừa ăn cơm xong
Ví dụ: Mẹ và con sẽ đến – Mẹ với con sẽ đến – Mẹ hoặc con sẽ đến (khác
sắc thái: Liệt kê – liên hợp – lựa chọn giữa X và Y). o Ngữ điệu:
Ngữ điệu là sự phát âm mạnh hay yếu, nhanh hay chậm, trầm hay bổng, liên
tục hay ngắt quãng, lên giọng hay xuống giọng đối với các từ ngữ trong câu. Ví dụ 1:
Em đi chơi. (Câu tường thuật, ngữ điệu kết thúc, xuống giọng ở cuối câu).
Em đi chơi? (Câu nghi vấn, ngữ điệu lên giọng ở cuối, biểu thị sự hoài nghi).
Em đi chơi! (Câu cảm thán, ngữ điệu dằn giọng ở cuối câu, biểu thị sự trách móc, bực dọc). Ví dụ 2:
Phương pháp làm việc/ mới là điều quan trọng
Phương pháp làm việc mới/ là điều quan trọng
Học sách này/ không được học sách khác 4
Học sách này không được/ học sách khác
1.3. Thực trạng của việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay
a. Vi phạm chuẩn mực tiếng Việt
Thời gian gần đây, thực trạng ngôn ngữ (cụ thể là tiếng Việt) đang có biểu hiện lộn
xộn, lệch lạc, làm ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt. Theo nhận định của
nhiều nhà ngôn ngữ học, tiếng Việt hiện đang bị sử dụng hết sức tự do, đặc biệt là giới trẻ.
- Những biểu hiện của sự lệch lạc trong tiếng Việt hiện nay thể hiện trong cả cách
nói và cách viết, người nói hoặc viết cố tình làm biến dạng vỏ từ ngữ hay cố tình
viết sai chính tả. Trong một số trường hợp, tiếng Việt được viết không dấu – những
kiểu viết không có dấu thanh. Ví dụ 1: o Buồn => bùn o Yêu => Iu o Rồi => rùi
o Xinh => xưn, xuynh
o Đẹp trai => đẹp zai
o Vợ, chồng => vk, ck Ví dụ 2:
+ Ông bố đi công tác xa lâu ngày nhận được tin nhắn của con:"Bo ve ngay, me dang
om 1 thang nam tren giuong!"
Không kịp nhắn tin lại, ông bố bắt xe tức tốc về sau khi nhận tin nhắn. Về đến nhà
ông hầm hầm bước vào và hỏi thằng con.
- Đâu thằng nào, có thật không? - ????? 5
Hoá ra con nhắn tin cho bố: Mẹ ốm 1 tháng nằm trên giường, bố về ngay.
+ Hai vợ chồng giận nhau cả ngày không nói với nhau câu nào, tối vợ làm cơm xong
nhắn tin cho chồng "Co ve an com khong con cho?"
Chồng đọc tin nhắn xong tức quá nghĩ đang giận nhau nên chửi mình, chờ hết việc
về nhà mặt hầm hầm gọi vợ lên phòng hỏi:
- Cô nhắn tin gì cho tôi! Cô vợ thanh minh:
- Thì em hỏi anh xem có về ăn cơm không còn chờ.
- Không chỉ lệch chuẩn về mặt từ ngữ, tiếng Việt còn bị dùng sai ngữ pháp một cách phổ biến.
§ Câu sai về cấu trúc:
Những sinh viên báo chí.
=> Câu đúng: Những sinh viên báo chí đang đi thực tập
Trong khi lúng túng cho nên tôi không biết xử trí ra sao.
=> Câu đúng: Tôi lúng túng không biết xử trí ra sao. § Câu sai về logic:
Anh lính bị hai vết thương, một ở đùi và một ở Sài Gòn.
=> Anh lính bị hai vết thương, một ở đùi và một ở ngực.
=> Anh lính bị hai vết thương, một ở Sài Gòn và một ở Hà Nội. § Câu sai quy chiếu:
Sau khi thi đỗ, mẹ cho tôi cái đồng hồ.
=> Sau khi tôi thi đỗ, mẹ cho tôi cái đồng hồ. § Câu sai phong cách
Ban lãnh đạo có rảnh về quê tôi chơi
=> Tôi mong có cơ hội thuận tiện để được đón tiếp ban lãnh đạo tại quê nhà. 6
- Những lối ví von kiểu mới được nhiều người ưa dùng thoạt nhìn có dáng dấp như
thành ngữ, tục ngữ nhưng thực chất đều là những đơn vị mới được giới trẻ cấu tạo
và sử dụng như ngôn từ hằng ngày. Ða số đơn vị ngôn từ như thế chỉ liên kết về
mặt hiệp vần cho vui tai chứ không có liên hệ về mặt ngữ nghĩa như các câu thành
ngữ, tục ngữ cổ truyền, mẫu mực.
o Chán như con gián,
o Hổ báo trường mẫu giáo,
o Dân chơi không sợ mưa rơi
b. Sử dụng tiếng Việt theo các chuẩn mực và sáng tạo
- Chuẩn mực về ngữ âm và chữ viết: Khi nói cần theo chuẩn mực về ngữ âm (âm
thanh và ngữ điệu), khi viết cần viết theo đúng các chuẩn mực hiện hành về chữ
viết (dạng chữ, kiểu chữ, chính tả, viết hoa, các dấu câu, các kí hiệu chữ viết, các
cách phiên âm hoặc chuyển từ tiếng nước ngoài…).
- Chuẩn mực về từ ngữ: việc sử dụng và lĩnh hội từ phải đạt được những yêu cầu
về các phương diện: âm thanh, hình thức cấu tạo, kết hợp ngữ pháp, nội dung ngữ
nghĩa, màu sắc phong cách,… Khi sử dụng tiếng Việt, tránh lạm dụng từ nước
ngoài một cách tuỳ tiện, không cần thiết, tránh phiên âm tiếng nước ngoài một cách
thiếu nhất quán, thiếu thống nhất.
- Chuẩn mực về ngữ pháp: những chuẩn mực này biểu hiện ở việc cấu tạo các từ,
ở việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, ở việc cấu tạo và sử dụng các kiểu câu.
Các chuẩn mực này được đúc kết thành quy tắc ngữ pháp và quy tắc sử dụng.
- Chuẩn mực về phong cách: những chuẩn mực này xác định những đặc điểm tất
yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao
tiếp khác nhau của cuộc sống xã hội. Mỗi lĩnh vực và mỗi tình huống như vậy có
những nhiệm vụ và mục đích giao tiếp nhất định, do đó cũng đòi hỏi những nhân tố 7
và những phương tiện ngôn ngữ đặc thù. Có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ nói,
có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ viết, có những chuẩn mực thuộc phong cách
sinh hoạt hàng ngày, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học, phong cách
nghị luận, phong cách hành chính và phong cách báo chí.
Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng Việt theo chuẩn mực không phủ nhận và thủ tiêu
những sự sáng tạo trong sử dụng, những cách dùng độc đáo, những đóng góp mới
mẻ và sự uyển chuyển, linh hoạt trong sử dụng. Nhưng những đóng góp đó phải
dựa trên những quy luật, những sự uyển chuyển, linh hoạt đó phải được thực hiện
trong những điều kiện nhất định.
c. Tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố ngôn ngữ bên ngoài
* Tiếp nhận có chọn lọc
- Chỉ tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ cần thiết khi tiếng Việt còn thiếu để làm giàu
có, phong phú thêm tiếng Việt.
* Việt hóa ngôn ngữ tiếp nhận
Những yếu tố tiếp nhận từ ngôn ngữ bên ngoài phải được Việt hóa (về hình thức,
ngữ nghĩa, sắc thái phong cách…) để trở thành yếu tố của hệ thống tiếng Việt.
VD: Tiếp biến ngôn ngữ Chăm - Việt ở Quảng Nam
- Các từ được phương ngữ Quảng Nam vay mượn ở tiếng Chăm như ni, tê, vằng,
trã, trách...; một nhóm gồm các từ được ghép với một từ đồng nghĩa tiếng Việt,
trong đó yếu tố ngữ nghĩa của từ gốc Chăm lu mờ dần, trở thành một yếu tố bổ sung
một nét nghĩa cho từ chính tiếng Việt, thường mang ý nghĩa nhấn mạnh, tăng cường,
ví dụ: sạch bách (sạch sành sanh), trắng bong (rất trắng), cũ rích (rất cũ)...
- Về sự chuyển hóa từ âm “d/y” thành “đ” trong tiếng Quảng Nam và tiếng Việt nói
chung là điều có thể xảy ra và có nhiều ví dụ, như cây da/cây đa; cái đĩa/cái dĩa; con dao/con đao Bài tập trên lớp 8
o Mục tiêu: Bài tập giúp sinh viên thấy rõ vai trò của các phương thức ngữ
pháp trật tự từ, hư từ, ngữ điệu trong tiếng Việt.
o Nội dung bài tập: Phân tích và so sánh các ví dụ sau đây:
(1) Mẹ yêu con. (1’) Con yêu mẹ.
(2) Tôi mua sách của anh. (2’) Tôi mua sách cho anh
(3) Sau lưng thềm nắng, lá rơi đầy. (3’) Sau lưng thềm, nắng lá rơi đầy. Bài tập về nhà:
o Yêu cầu: Sinh viên làm bài tập cá nhân và hoàn thành trước tiết học kế tiếp.
o Nội dung: Sinh viên đọc, phân tích và so sánh các tác phẩm báo chí, ghi lại
nhận xét của cá nhân về những nội dung đó. 9