Tuần 2 – Tuần 3
Mục tiêu:
- Sinh viên nắm được quy định chính tả tiếng Việt.
- Sinh viên biết được những lỗi sai chính tả thường dùng và cách thức để sửa lỗi sai
chính tả.
- Luyện bài tập:
o Bài tập về tìm và sửa lỗi chính tả.
o Viết đoạn văn và soát lỗi chính tả.
Chương 2: Chính tả tiếng Việt
2.1. Khái niệm chính tả và một số khái niệm liên quan
* Khái niệm chính tả
- Chính tả được hiểu như sau “Cách viết được cho là đúng, là chuẩn”;
[Theo từ điển ,H Phê, 163].
“ Chính tả là những qui định có tính chất hành chính về cách viết dựa trên những
thói quen sử dụng ngôn ngữ của một cộng đồng kết hợp với yêu cầu về chuẩn mực
sử dụng”.
[Theo cuốn Thực hành Văn bản Tiếng Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội].
=> Do bị qui định, nên nói đến chính tả người ta phải nói đến qui tắc. Khi thành
qui tắc, nó trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đúng sai, chính xác hay không
chính xác.
Chính tả là việc viết đúng chữ viết theo chuẩn mực: viết đúng các âm, các thanh
trong âm tiết, viết hoa, viết các chữ số, viết các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài
theo đúng chuẩn mực.
[Theo Giáo trình Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Sư phạm Hà
Nội].
2.2. Rèn kĩ năng chính tả tiếng Việt
2.2.1. Một số quy định chính tả tiếng Việt
2.1.1.1. Quy định viết các nguyên âm, phụ âm, bán âm
* k, c, q
- “k” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm: i,ê, e,iê (kính, kể, kẻ, kiến,…)
- “c” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (ca, căn, cân, co, cô,
cơ, cu, cư,…)
- “q” viết trước âm đệm: u (quả, quê, quyết).
* g, gh ng, ngh
- “g, ng” viết trước kí hiệu ghi nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (gà, go, gỗ, gắn, gỡ,
nga, ngăn, ngân,…)
- “gh, ngh” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm : i, ê, e, iê (ghi, ghế, ghe, nghĩ,
nghề, nghiệp,…).
* “i, y” làm âm chính
- “i” đứng ngay sau phụ âm đầu
Ví dụ: hi vọng, kỉ niệm, lí luận, mĩ thuật, bác sĩ, tỉ lệ,…
- “y” viết sau âm đệm: huy, quy, thuỷ,…
* Khi “i” đứng một mình viết “i” với từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ, í ới,…; viết “y” với
các từ gốc Hán: y tá, ý kiến, quân y,…
* “i, y” làm âm cuối
- “i” viết sau các kí hiệu ghi nguyên âm: a,o,ô,ơ, u, ư
Ví dụ: tai, oi, ơi, môi,
- y viết sau các kí hiệu ghi nguyên âm ngắn: a, â (tay, ấy,…).
* Trường hợp âm tiết chứa âm i là tên riêng thì viết theo đúng tên riêng đó.
Ví dụ: bản Vy, Vi Văn Định, Nguyễn Vỹ, Thy Ngọc,
2.1.1.2. Thanh điệu
- Dấu thanh đều phải đánh đúng chữ cái ghi âm chính (ở trên hoặc ở dưới: hoàn,
hoãn, hoản, hoán, hoạn).
- Khi âm chính là nguyên âm đôi thì dấu thanh đánh ở chữ cái thứ nhất, nếu âm tiết
không có âm cuối: mía, lúa, nửa,…, còn nếu có âm cuối thì dấu thanh đánh ở chữ
cái thứ hai: muộn, tuyết, hưởng.
2.1.1.3. Cách viết hoa
¨ Quy tắc viết hoa hiện hành
Mục đích viết hoa
- Ghi tên riêng ca ngưi, đa danh, tên cơ quan, tchc.
- Đánh du chỗ bắt đu ca mt câu, mt li thoi, mt dòng thơ
- Biu hin stôn kính
- Biu hin sc thái tu từ.
* Viết hoa tên riêng
Tên riêng Vit Nam:
- Tên ngưi: Viết hoa chcái đu ca tt ccác âm tiết chhọ, tên, tiếng đm, tên
tự, tưc hiu…
- Tên đa lý: Viết hoa chcái đu ca tt ccác âm tiết, gia các âm tiết không dùng
gạch nối. Nếu tchphương ng hoc các danh tchung kết hp vi tên riêng
một cách cht chthành các đa danh thì viết hoa ch cái đu ca tt câm tiết (Ví
dụ Nam B, HGươm,…).
- Tên quan, đoàn th, tchc Vit Nam: Viết hoa chcái đu tiên ca tên
quan, tchc, đoàn thchcái đu ca tổ hợp giá trkhu bit tên riêng. d:
Trưng Đi hc Sư phm Hà Ni, Hi Liên hip Phnữ Vit Nam, Vin Khoa hc
Vit Nam.
Tên riêng nưc ngoài:
- Tên ngưi, đa lí:
+ Nếu phiên âm trc tiếp ra tiếng Vit thì viết hoa ch cái đu ca các bphn h,
tên, tiếng đm, có đánh du thanh, du mũ theo cách đc âm tiết, và gia các âm tiết
của tng bphn trong tên ngưi, hoc gia âm tiết trong đa danh gch ni.
dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng ghen, Bin Clin-tơn, Na---ông, I-ta-li-a,…
+ Nếu phiên âm qua âm Hán Vit thì tên riêng nưc ngoài viết theo quy tc viết tên
riêng Vit Nam. Ví d: Mao Trch Đông, Bắc Kinh, Hà Lan,…
+ Tên các cơ quan, đoàn th, tchc c ngoài: Phn dch nghĩa viết theo quy tc
viết tên cơ quan, đoàn th, tchc Vit Nam; phn tên riêng ca ngưi, đa danh thì
viết hoa theo cách viết hoa tên ngưi hoc đa danh nưc ngoài. (Ví d: Trưng Đi
học Tng hp Lô---xốp, BNgoi giao Tây Ban Nha,…).
* Viết hoa chcái đng đu câu
- Sau du chấm
d: o đêm trưc ngày khai trưng ca con, mkhông ngđưc. Mt ngày kia,
còn xa lm, ngày đó con sbiết thế nào không ngđưc. Còn bây gigic ng
đến vi con ddàng như ung mt li sa, ăn mt cái ko.(Theo Lí Lan)
- Sau du chm than, du chm hi.
Ví d: Hi ôi, lão Hc! Thì ra đến lúc đưng cùng, lão cũng có th làm liu như ai
hết. Con ngưi đáng kính y bây gicũng theo gót Binh đăn ư? Cuc đi
qutht cứ mi ngày mt thêm đáng bun. (Nam Cao)
- Sau du gch đu dòng bt đu mt li thoi
Ví dụ:
Tí và Su đi qua mt đám rung bí. Tí cht trông thy qubí to, nói rng:
- Chà! Qubí đâu mà to như thế kia !
Sửu có tính hay nói khoác, cưi mà bo:
- Thế đã ly gì làm to. Tôi đã tng thy nhng qubí to hơn nhiu...
(Quc văn giáo khoa thư)
- Viết hoa chcái đng đu mt dòng thơ
(cũng scó nhng TH đc bit như bài thơ “Ánh trăng ca Nguyn Duy)
d: Đất c mình đây/ Hai mươi năm mưa, nng, đêm, ngày/ Hành quân không
mỏi/ Sung ng bao nhiêu: tôi là đng đi/ Ca nhng ngưi đi, vô tn, hôm nay.
(Chính Hu)
* Viết hoa vi dng ý tu t
dụ: Bác ngưi Ông. Bác ngưi Cha. Bác nhà thơ. Bác nhà triết hc.
Hoà bình ta thvẽ Bác buông cn câu trên mt dòng sui thi gian. Nhưng bây
giờ dựng ng Ngưi, ta sdựng tưng HChí Minh. Ngưi du kích HChí Minh.
Vị ng HChí Minh. VTư lnh. Ngưi chhuy... (Chế Lan Viên)
2.1.1.4. Viết tng, thut ngtiếng nưc ngoài
Việc viết các từ ngữ, thuật ngữ tiếng nước ngoài có bốn cách biểu hiện sau đây:
- Cách viết nguyên dạng: được dùng trong các sách báo, tạp chí chuyên môn, tài
liệu khoa học.
Ví dụ: moorpheme, acid,…
- Cách chuyển tự: (chuyển chữ cái tiếng nước ngoài thành chữ cái tiếng Việt)
cũng được dùng trong các tài liệu chuyên môn. Khi chuyển tự, ta viết liền cả từ,
không có gạch nối giữa các âm tiết và cũng không đánh dấu thanh.
Ví dụ: bazơ, axit,…
- Cách phiên âm: được dùng trong các sách báo phổ cập. Khi phiên âm, ta viết rời
từng âm tiết, giữa các âm tiết trong cùng một bộ phận có gạch nối, các âm tiết
không đánh dấu thanh.
Ví dụ: phôn-nem, mooc-phem,…
- Cách dịch nghĩa: được dùng trong các tài liệu, sách, tạp chí chuyên ngành, giáo
trình,… là phương thức dịch sát nghĩa hoặc tạo các thuật ngữ tiếng Việt tương ứng
để biểu thị khái niệm khoa học tương đương.
Ví dụ: “Dụng học (pragmtics): Việc nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ trong
những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục tiêu cụ thể” (Hồ Mỹ Huyền Trúc
Thanh).
2.1.1.5. Cách dùng số và chữ biểu thị số
- Khi viết các số thập phân, sử dụng dấu phẩy để ngăn cách giữa phần nguyên và
phần thập phân.
Ví dụ: 3,8; 5,21; 10; 43;
- Khi viết số có nhiều chữ số, viết theo nguyên tắc tách lớp từ phải qua trái, mỗi
lớp gồm ba chữ số, được phân cách ra bằng khoảng cách viết một chữ số.
Ví dụ: 1 000; 34 456; 3 809 008;…
2.1.1.6. Viết tắt
- Cách viết tắt ngày, tháng, năm
o Trường hợp viết ngày, tháng, năm mà không sử dụng các từ tháng, năm thì
thay từ tháng, năm bằng dấu gạch nối và viết dấu này liền với chữ số (Ví dụ:
ngày 20-11-2017). Trong bài viết và tài liệu tham khảo, có thể thay các từ
tháng năm bằng dấu gạch xiên và viết các dấu này liền với chữ số (Ví dụ
ngày 20/11/2017), nhưng mỗi bài viết và tài liệu phải sử dụng một cách viết
thống nhất.
o Viết tắt chữ: dùng trong văn bản viết ở công văn, giấy tờ, pháp lệnh, báo chí,
tin tức, sách, thông báo,…
Ø Các từ ngữ quen thuộc thường là tên các tổ chức, cơ quan, đơn vị,
chức danh trong và ngoài nước được dùng viết tắt dựa trên những chữ
cái đầu mỗi âm tiết.
Ví dụ: Bên cạnh những tín hiệu tích cực thì hiện tại hợp tác xã (HTX)
cũng gặp không ít khó khăn. Với nhu cầu thu mua 80 tấn/tháng,
khoảng trên 1000 tấn/năm, thì khả năng sản xuất của HTX chỉ đáp
ứng vừa đủ. Tuy nhiên, trường hợp mùa vụ gặp khó khăn do thời tiết
thì khả năng cung cấp của HTX sẽ gặp trở ngại.
o Viết tắt từ vựng: dạng tắt từ vựng thuộc phạm trù cấu tạo từ, xem như những
đơn vị từ ngữ mớitừ ngữ đặc thù có vai trò định danh.
Ví dụ:
Ø ATK Atêca (an toàn khu)
Ø SAM (Tên lửa đất đối không có điều khiển đọc là sam)
Ø UNESCO (u-nes-co)
Ø Tuyên huấnTuyên truyền và huấn luyện
Ø Trang thiết bị - Trang bị và thiết bị
Ø Giao liên Giao thông và liên lạc
Một số lưu ý khi sử dụng viết tắt:
+ Trong các văn bản viết, đặc biệt trên sách báo, trên các phương tiện truyền thông
đại chúng, trong các văn bản chính thống Nhà nước… các dạng tắt chỉ xuất hiện
khi trước đó đã có dạng nguyên hoàn chỉnh. Trên văn bản nếu có dạng tắt, thì lần
đầu dạng tắt được viết cùng với dạng nguyên được viết trong ngoặc đơn. Các lần
sau không cần phải có dạng nguyên trong ngoặc nữa.
+ Nếu dạng tắt nào đã xuất hiện rất nhiều lần và thường đặt ở chỗ nhất định trong
cấu trúc văn bản, dễ nhận biết, dễ đoán, thì không cần có dạng hoàn chỉnh.
Ví dụ: QĐ/số… (Không cần dạng hoàn chỉnh)
+ Nếu dạng tắt chỉ gồm một hoặc hai chữ tiếng Việt đi liền với các từ khác, các từ
này đã gợi ra ý nghĩa để giải mã dạng tắt đó, thì không cần viết dưới dạng hoàn
chỉnh.
Ví dụ: TP Hà Nội; Uỷ viên BCH TW Đảng CSVN; Hội LHPNVN;…
+ Các dạng tắt nước ngoài (Của Liên hợp quốc hoặc của các nước) thường hay
xuất hiện và hay gặp trên báo chí, sách vở tiếng Việt, cần phải để nguyên dạng chữ
tắt và đọc, viết như một tên riêng. Nếu cần chú thích cho hiểu nghĩa thì chỉ cần một
lần trong ngoặc đơn, không cần viết dạng chữ từ các âm tiết được dịch sang tiếng
Việt.
Ví dụ: ASEAN: Hội các nước Đông Nam Á
Không dịch để viết tắt ASEAN = HCNĐNA thay thế.
2.1.2. Một số mẹo khắc phục lỗi chính tả thường gặp
2.2.2.1. Nguyên tắc chung
Trước hết, chúng ta cần tuân thủ các quy tắc chung được trình bày trong các Từ
điển Tiếng Việt và Từ điển Chính tả Phổ thông. Tuy nhiên, ngay cả trong các từ
điển, có một số từ đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách viết.
Ví dụ:
- Các cặp y-i: vật lý vật lí; mỹ học mĩ học, chiến s- chiến sĩ; bác sỹ - bác
sĩ.
- Các cặp a â: thày giáo thầy giáo; đày đoạ - đầy đoạ; dày dặn dầy dặn.
- Các cặp o ô: nhỏm dậy nhổm dậy
- Các cặp gi-d; d-r:
Trước đây
hiện nay (đơn giản hoá)
già giặn
già dặn
giây vào
dây vào
giềnh giàng
dềnh dàng
(mái) giầm
mái dầm
Dun dủi, dun giủi, dun rủi, run rủi
2.2.2.2. Một số mẹo khắc phục lỗi chính tả
Phân biệt các phụ âm: tr/ ch; d/ gi/ r; s/ x; l/ n
* Tr/ch
- “Tr” không kết hợp với những vần bắt đầu bằng oa, oă, oe: choang choang,
loắt choắt, choe choé…
- Từ láy phụ âm đầu phần lớn là “ch” (những từ láy phụ âm đầu là “tr” rất ít,
có nghĩa là trơ: trơ trọi, trống trải, trùng trục, trơ trẽn, trâng tráo, trơ tráo,
trưng trộ; hay có nghĩa là chậm trễ: trễ tràng, trì trệ, trù trừ, trúc trắc, trục
trặc…)
- Từ láy bộ phận vần thường có âm tiết chứa ch: chênh vênh, chồm hỗm,
cheo leo, lã chã, loai choai.
- Các từ Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với “tr: trịnh
trọng, giá trị, truỵ lạc, vũ trụ, trạm xá, hỗ trợ, truyền thống, trường hợp,
trừng trị, triệu phú,…
- Về ý nghĩa, những từ chỉ quan hệ gia đình viết bằng “ch”: cha, chú, cháu,
chồng, chị, chắt,…; những từ chỉ đồ dùng trong nhà viết bằng ch: chạn,
chum, chĩnh, chén, chổi, chày,…; những từ chỉ vị trí viết là tr: trên, trong,
trước, trái,…
- Cặp truyện - chuyện:
+ Khi danh từ chỉ các tác phẩm, viết “tr”: truyện dài, truyện ngắn, phim truyện,
truyện cổ tích, viết tự truyện…
+ Khi chỉ hành động hoặc trạng thái của hành động, sự diễn ra của hành động,
viết “ch”: chuyện làm ăn, chuyện ngày xưa, sinh chuyện, làm nên (công)
chuyện, có chuyện rắc rối, chuyện đùa, nói chuyện, về chuyện,…
- Cặp chuyền - truyền:
+ Khi hành động, trạng thái hành động diễn ra có thể nhìn thấy vật thể chuyển
động, hoặc là danh từ thì viết “ch”: chuyền bóng, dây chuyền sản xuất, dây
chuyền vàng,…
+ Khi hành động, trạng thái hành động diễn ra không nhìn thấy vật thể chuyển
động hoặc là sự thay đổi, chuyển động trừu tượng, viết “tr”: truyền máu, truyền
nhiệt, truyền sức mạnh, truyền nghề, truyền thống, truyền kiếp,
* R, gi, d
- “R” và “gikhông kết hợp với những vần bắt đầu bằng oa, oă, âu, oe, uê, uy (trừ
roa trong cu roa): doạ nạt, doanh trại,…
- Xét về nguồn gốc: không có từ Hán Việt đi với r; trong các từ Hán Việt: “d” đi
với dấu ngã và nặng; “gi” đi với hỏi và sắc.
- Trong láy phụ âm đầu, các âm đầu giống nhau nên chỉ cần biết một tiếng viết
bằng chữ nào.
- Trong từ láy bộ phận vần: “r” láy với “b” và “c” (k) còn “gi” và “d” không láy:
bứt rứt, bủn rủn, co ro, cập rập,…; “r” và “d” láy với “l”, còn “gi” không láy: liu
riu, lim dim, lào rào,…
- Đối với cặp d-r:
+ Các động từ, tính từ hoặc từ kèm bổ nghĩa cho động từ, tính từ viết “r”: rọc giấy,
rọc phách, róc mía, róc xương, rầu rĩ, rụng rời,…
+ Các danh từ hoặc từ đi kèm bổ nghĩa cho danh từ viết “d”: dòng sông, hàng dọc,
dọc đường, ngành dọc, dọc mùng, dừa, dấu ấn,…
- Cặp d-gi:
+ Hành động mạnh mẽ muốn đoạt lấy về mình viết “gi: giạn giật, tranh giành,
giành độc lập,…
+ Hành động nhẹ nhàng hoặc trao cho người khác viết “d”: dành cho, dành riêng,
để dành, dành dụm, dỗ dành,…
* S, x
- “S” không kết hợp với các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uê: xuề xoà, loăn
xoăn, xoen xoét,…
- Từ láy phụ âm đầu có tất cả các tiếng đều là “s” hoặc “x”: xoay xở, sung
sướng, xum xuê, say sưa,…
- Trong từ láy vần, chỉ có âm đầu “x”, không có “s”: loà xoà, loăn xoăn, bờm
xờm, liêu xiêu, xì xào, lao xao, lộn xộn,…
- Về nghĩa: Tên thức ăn thường viết với “x”: xôi, xúc xích, lạp xường, phở
xào, xiên thịt,; những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn đi với “s”: sắp, sẽ,
sao, song,…
* L, n
- L thđứng trưc âm đm (oa, oă, , oe, uê, uy), còn n thì không, tr“noãn”:
loà xoà, lot chot,…
- Trong từ láy phụ âm đầu chỉ cần biết một âm tiết bắt đầu bằng “l” hay “n” là suy
ra được âm tiết kia: lạnh lùng, lặn lội, lăm le, no lê, nặng nề,…
- Trong từ láy bộ phận vần (không láy phụ âm đầu) không có chữ có “n” đứng ở
đầu âm tiết đầu: lệt bệt, lò cò, lộp độp, lò dò, lăng xăng,…
- Trong từ láy bộ phận vần: phụ âm đầu của âm tiết thứ nhất không phải “gi” (hoặc
không phải âm tiết thiếu phụ âm đầu) thì phụ âm đầu của âm tiết thứ hai không thể
là “n” (trừ khúm núm, khệ nệ): khéo léo, khoác lác, cheo leo,…; gian nan, gieo
neo, ảo não, áy náy,…
- Những từ đồng nghĩa bắt đầu là “nh”, từ đó viết bằng “l”; những từ có từ gần
nghĩa bắt đầu là “đ” (hoặc c/k), từ đó viết bằng “n”: lài (nhài), lỡ (nhỡ), lố lăng
(nhố nhăng), lấp láy (nhấp nháy); này, nó (đây, đó)…
Bài tập luyện chữa lỗi chính tả

Preview text:

Tuần 2 – Tuần 3 Mục tiêu:
- Sinh viên nắm được quy định chính tả tiếng Việt.
- Sinh viên biết được những lỗi sai chính tả thường dùng và cách thức để sửa lỗi sai chính tả. - Luyện bài tập:
o Bài tập về tìm và sửa lỗi chính tả.
o Viết đoạn văn và soát lỗi chính tả.
Chương 2: Chính tả tiếng Việt
2.1. Khái niệm chính tả và một số khái niệm liên quan
* Khái niệm chính tả
- Chính tả được hiểu như sau “Cách viết được cho là đúng, là chuẩn”;
[Theo từ điển ,H Phê, 163].
“ Chính tả là những qui định có tính chất hành chính về cách viết dựa trên những
thói quen sử dụng ngôn ngữ của một cộng đồng kết hợp với yêu cầu về chuẩn mực sử dụng”.
[Theo cuốn Thực hành Văn bản Tiếng Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội].
=> Do bị qui định, nên nói đến chính tả người ta phải nói đến qui tắc. Khi thành
qui tắc, nó trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đúng sai, chính xác hay không chính xác.
“Chính tả là việc viết đúng chữ viết theo chuẩn mực: viết đúng các âm, các thanh
trong âm tiết, viết hoa, viết các chữ số, viết các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài theo đúng chuẩn mực.”
[Theo Giáo trình Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội].
2.2. Rèn kĩ năng chính tả tiếng Việt
2.2.1. Một số quy định chính tả tiếng Việt
2.1.1.1. Quy định viết các nguyên âm, phụ âm, bán âm
* k, c, q
- “k” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm: i,ê, e,iê (kính, kể, kẻ, kiến,…)
- “c” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (ca, căn, cân, co, cô, cơ, cu, cư,…)
- “q” viết trước âm đệm: u (quả, quê, quyết). * g, gh – ng, ngh
- “g, ng” viết trước kí hiệu ghi nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (gà, go, gỗ, gắn, gỡ, nga, ngăn, ngân,…)
- “gh, ngh” viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm : i, ê, e, iê (ghi, ghế, ghe, nghĩ, nghề, nghiệp,…). * “i, y” làm âm chính
- “i” đứng ngay sau phụ âm đầu
Ví dụ: hi vọng, kỉ niệm, lí luận, mĩ thuật, bác sĩ, tỉ lệ,…
- “y” viết sau âm đệm: huy, quy, thuỷ,…
* Khi “i” đứng một mình viết “i” với từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ, í ới,…; viết “y” với
các từ gốc Hán: y tá, ý kiến, quân y,… * “i, y” làm âm cuối
- “i” viết sau các kí hiệu ghi nguyên âm: a,o,ô,ơ, u, ư
Ví dụ: tai, oi, ơi, môi,…
- y viết sau các kí hiệu ghi nguyên âm ngắn: a, â (tay, ấy,…).
* Trường hợp âm tiết chứa âm i là tên riêng thì viết theo đúng tên riêng đó.
Ví dụ: bản Vy, Vi Văn Định, Nguyễn Vỹ, Thy Ngọc,… 2.1.1.2. Thanh điệu
- Dấu thanh đều phải đánh đúng chữ cái ghi âm chính (ở trên hoặc ở dưới: hoàn,
hoãn, hoản, hoán, hoạn).
- Khi âm chính là nguyên âm đôi thì dấu thanh đánh ở chữ cái thứ nhất, nếu âm tiết
không có âm cuối: mía, lúa, nửa,…, còn nếu có âm cuối thì dấu thanh đánh ở chữ
cái thứ hai: muộn, tuyết, hưởng.
2.1.1.3. Cách viết hoa
¨ Quy tắc viết hoa hiện hành Mục đích viết hoa
- Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức.
- Đánh dấu chỗ bắt đầu của một câu, một lời thoại, một dòng thơ
- Biểu hiện sự tôn kính
- Biểu hiện sắc thái tu từ.
* Viết hoa tên riêng
Tên riêng Việt Nam:
- Tên người: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết chỉ họ, tên, tiếng đệm, tên tự, tước hiệu…
- Tên địa lý: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết, giữa các âm tiết không dùng
gạch nối. Nếu từ chỉ phương hướng hoặc các danh từ chung kết hợp với tên riêng
một cách chặt chẽ thành các địa danh thì viết hoa chữ cái đầu của tất cả âm tiết (Ví
dụ Nam Bộ, Hồ Gươm,…).
- Tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức Việt Nam: Viết hoa chữ cái đầu tiên của tên cơ
quan, tổ chức, đoàn thể và chữ cái đầu của tổ hợp có giá trị khu biệt tên riêng. Ví dụ:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Viện Khoa học Việt Nam.
Tên riêng nước ngoài: - Tên người, địa lí:
+ Nếu phiên âm trực tiếp ra tiếng Việt thì viết hoa chữ cái đầu của các bộ phận họ,
tên, tiếng đệm, có đánh dấu thanh, dấu mũ theo cách đọc âm tiết, và giữa các âm tiết
của từng bộ phận trong tên người, hoặc giữa âm tiết trong địa danh có gạch nối. Ví
dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng ghen, Bin Clin-tơn, Na-pô-lê-ông, I-ta-li-a,…
+ Nếu phiên âm qua âm Hán Việt thì tên riêng nước ngoài viết theo quy tắc viết tên
riêng Việt Nam. Ví dụ: Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, Hà Lan,…
+ Tên các cơ quan, đoàn thể, tổ chức nước ngoài: Phần dịch nghĩa viết theo quy tắc
viết tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức Việt Nam; phần tên riêng của người, địa danh thì
viết hoa theo cách viết hoa tên người hoặc địa danh nước ngoài. (Ví dụ: Trường Đại
học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp, Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha,…).
* Viết hoa chữ cái đứng đầu câu
- Sau dấu chấm
Ví dụ: Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Một ngày kia,
còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là không ngủ được. Còn bây giờ giấc ngủ
đến với con dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo.(Theo Lí Lan)
- Sau dấu chấm than, dấu chấm hỏi.
Ví dụ: Hỡi ôi, lão Hạc! Thì ra đến lúc đường cùng, lão cũng có thể làm liều như ai
hết. Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời
quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. (Nam Cao)
- Sau dấu gạch đầu dòng bắt đầu một lời thoại Ví dụ:
Tí và Sửu đi qua một đám ruộng bí. Tí chợt trông thấy quả bí to, nói rằng:
- Chà! Quả bí đâu mà to như thế kia !
Sửu có tính hay nói khoác, cười mà bảo:
- Thế đã lấy gì làm to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều... (Quốc văn giáo khoa thư)
- Viết hoa chữ cái đứng đầu một dòng thơ
(cũng sẽ có những TH đặc biệt như bài thơ “Ánh trăng của Nguyễn Duy)
Ví dụ: Đất nước mình đây/ Hai mươi năm mưa, nắng, đêm, ngày/ Hành quân không
mỏi/ Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội/ Của những người đi, vô tận, hôm nay. (Chính Hữu)
* Viết hoa với dụng ý tu từ
Ví dụ: Bác là người Ông. Bác là người Cha. Bác là nhà thơ. Bác là nhà triết học.
Hoà bình ta có thể vẽ Bác buông cần câu trên một dòng suối thời gian. Nhưng bây
giờ dựng tượng Người, ta sẽ dựng tượng Hồ Chí Minh. Người du kích Hồ Chí Minh.
Vị tướng Hồ Chí Minh. Vị Tư lệnh. Người chỉ huy... (Chế Lan Viên)
2.1.1.4. Viết từ ngữ, thuật ngữ tiếng nước ngoài
Việc viết các từ ngữ, thuật ngữ tiếng nước ngoài có bốn cách biểu hiện sau đây:
- Cách viết nguyên dạng: được dùng trong các sách báo, tạp chí chuyên môn, tài liệu khoa học.
Ví dụ: moorpheme, acid,…
- Cách chuyển tự: (chuyển chữ cái tiếng nước ngoài thành chữ cái tiếng Việt)
cũng được dùng trong các tài liệu chuyên môn. Khi chuyển tự, ta viết liền cả từ,
không có gạch nối giữa các âm tiết và cũng không đánh dấu thanh. Ví dụ: bazơ, axit,…
- Cách phiên âm: được dùng trong các sách báo phổ cập. Khi phiên âm, ta viết rời
từng âm tiết, giữa các âm tiết trong cùng một bộ phận có gạch nối, các âm tiết không đánh dấu thanh.
Ví dụ: phôn-nem, mooc-phem,…
- Cách dịch nghĩa: được dùng trong các tài liệu, sách, tạp chí chuyên ngành, giáo
trình,… là phương thức dịch sát nghĩa hoặc tạo các thuật ngữ tiếng Việt tương ứng
để biểu thị khái niệm khoa học tương đương.
Ví dụ: “Dụng học (pragmtics): Việc nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ trong
những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục tiêu cụ thể” (Hồ Mỹ Huyền – Trúc Thanh).
2.1.1.5. Cách dùng số và chữ biểu thị số
- Khi viết các số thập phân, sử dụng dấu phẩy để ngăn cách giữa phần nguyên và phần thập phân.
Ví dụ: 3,8; 5,21; 10; 43;…
- Khi viết số có nhiều chữ số, viết theo nguyên tắc tách lớp từ phải qua trái, mỗi
lớp gồm ba chữ số, được phân cách ra bằng khoảng cách viết một chữ số.
Ví dụ: 1 000; 34 456; 3 809 008;… 2.1.1.6. Viết tắt
- Cách viết tắt ngày, tháng, năm
o Trường hợp viết ngày, tháng, năm mà không sử dụng các từ tháng, năm thì
thay từ tháng, năm bằng dấu gạch nối và viết dấu này liền với chữ số (Ví dụ:
ngày 20-11-2017).
Trong bài viết và tài liệu tham khảo, có thể thay các từ
tháng năm bằng dấu gạch xiên và viết các dấu này liền với chữ số (Ví dụ
ngày 20/11/2017),
nhưng mỗi bài viết và tài liệu phải sử dụng một cách viết thống nhất.
o Viết tắt chữ: dùng trong văn bản viết ở công văn, giấy tờ, pháp lệnh, báo chí,
tin tức, sách, thông báo,…
Ø Các từ ngữ quen thuộc thường là tên các tổ chức, cơ quan, đơn vị,
chức danh trong và ngoài nước được dùng viết tắt dựa trên những chữ cái đầu mỗi âm tiết.
Ví dụ: Bên cạnh những tín hiệu tích cực thì hiện tại hợp tác xã (HTX)
cũng gặp không ít khó khăn. Với nhu cầu thu mua 80 tấn/tháng,
khoảng trên 1000 tấn/năm, thì khả năng sản xuất của HTX chỉ đáp

ứng vừa đủ. Tuy nhiên, trường hợp mùa vụ gặp khó khăn do thời tiết
thì khả năng cung cấp của HTX sẽ gặp trở ngại.

o Viết tắt từ vựng: dạng tắt từ vựng thuộc phạm trù cấu tạo từ, xem như những
đơn vị từ ngữ mới – từ ngữ đặc thù có vai trò định danh. Ví dụ:
Ø ATK – Atêca (an toàn khu)
Ø SAM (Tên lửa đất đối không có điều khiển đọc là sam) Ø UNESCO (u-nes-co)
Ø Tuyên huấn – Tuyên truyền và huấn luyện
Ø Trang thiết bị - Trang bị và thiết bị
Ø Giao liên – Giao thông và liên lạc
Một số lưu ý khi sử dụng viết tắt:
+ Trong các văn bản viết, đặc biệt trên sách báo, trên các phương tiện truyền thông
đại chúng, trong các văn bản chính thống Nhà nước… các dạng tắt chỉ xuất hiện
khi trước đó đã có dạng nguyên hoàn chỉnh. Trên văn bản nếu có dạng tắt, thì lần
đầu dạng tắt được viết cùng với dạng nguyên được viết trong ngoặc đơn. Các lần
sau không cần phải có dạng nguyên trong ngoặc nữa.
+ Nếu dạng tắt nào đã xuất hiện rất nhiều lần và thường đặt ở chỗ nhất định trong
cấu trúc văn bản, dễ nhận biết, dễ đoán, thì không cần có dạng hoàn chỉnh.
Ví dụ: QĐ/số… (Không cần dạng hoàn chỉnh)
+ Nếu dạng tắt chỉ gồm một hoặc hai chữ tiếng Việt đi liền với các từ khác, các từ
này đã gợi ra ý nghĩa để giải mã dạng tắt đó, thì không cần viết dưới dạng hoàn chỉnh.
Ví dụ: TP Hà Nội; Uỷ viên BCH TW Đảng CSVN; Hội LHPNVN;…
+ Các dạng tắt nước ngoài (Của Liên hợp quốc hoặc của các nước) thường hay
xuất hiện và hay gặp trên báo chí, sách vở tiếng Việt, cần phải để nguyên dạng chữ
tắt và đọc, viết như một tên riêng. Nếu cần chú thích cho hiểu nghĩa thì chỉ cần một
lần trong ngoặc đơn, không cần viết dạng chữ từ các âm tiết được dịch sang tiếng Việt.
Ví dụ: ASEAN: Hội các nước Đông Nam Á
Không dịch để viết tắt ASEAN = HCNĐNA thay thế.
2.1.2. Một số mẹo khắc phục lỗi chính tả thường gặp
2.2.2.1. Nguyên tắc chung

Trước hết, chúng ta cần tuân thủ các quy tắc chung được trình bày trong các Từ
điển Tiếng Việt và Từ điển Chính tả Phổ thông. Tuy nhiên, ngay cả trong các từ
điển, có một số từ đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách viết. Ví dụ:
- Các cặp y-i: vật lý – vật lí; mỹ học – mĩ học, chiến sỹ - chiến sĩ; bác sỹ - bác sĩ.
- Các cặp a – â: thày giáo – thầy giáo; đày đoạ - đầy đoạ; dày dặn – dầy dặn.
- Các cặp o – ô: nhỏm dậy – nhổm dậy - Các cặp gi-d; d-r: Trước đây
hiện nay (đơn giản hoá) già giặn già dặn giây vào dây vào giềnh giàng dềnh dàng (mái) giầm mái dầm
Dun dủi, dun giủi, dun rủi, run rủi
2.2.2.2. Một số mẹo khắc phục lỗi chính tả
Phân biệt các phụ âm: tr/ ch; d/ gi/ r; s/ x; l/ n * Tr/ch

- “Tr” không kết hợp với những vần bắt đầu bằng oa, oă, oe: choang choang,
loắt choắt, choe choé…
- Từ láy phụ âm đầu phần lớn là “ch” (những từ láy phụ âm đầu là “tr” rất ít,
có nghĩa là trơ: trơ trọi, trống trải, trùng trục, trơ trẽn, trâng tráo, trơ tráo,
trưng trộ; hay có nghĩa là chậm trễ: trễ tràng, trì trệ, trù trừ, trúc trắc, trục trặc…)
- Từ láy bộ phận vần thường có âm tiết chứa “ch”: chênh vênh, chồm hỗm,
cheo leo, lã chã, loai choai.
- Các từ Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với “tr”: trịnh
trọng, giá trị, truỵ lạc, vũ trụ, trạm xá, hỗ trợ, truyền thống, trường hợp,
trừng trị, triệu phú,…
- Về ý nghĩa, những từ chỉ quan hệ gia đình viết bằng “ch”: cha, chú, cháu,
chồng, chị, chắt,…; những từ chỉ đồ dùng trong nhà viết bằng ch: chạn,
chum, chĩnh, chén, chổi, chày,…; những từ chỉ vị trí viết là tr: trên, trong, trước, trái,… - Cặp truyện - chuyện:
+ Khi danh từ chỉ các tác phẩm, viết “tr”: truyện dài, truyện ngắn, phim truyện,
truyện cổ tích, viết tự truyện…
+ Khi chỉ hành động hoặc trạng thái của hành động, sự diễn ra của hành động,
viết “ch”: chuyện làm ăn, chuyện ngày xưa, sinh chuyện, làm nên (công)
chuyện, có chuyện rắc rối, chuyện đùa, nói chuyện, về chuyện,… - Cặp chuyền - truyền:
+ Khi hành động, trạng thái hành động diễn ra có thể nhìn thấy vật thể chuyển
động, hoặc là danh từ thì viết “ch”: chuyền bóng, dây chuyền sản xuất, dây chuyền vàng,…
+ Khi hành động, trạng thái hành động diễn ra không nhìn thấy vật thể chuyển
động hoặc là sự thay đổi, chuyển động trừu tượng, viết “tr”: truyền máu, truyền
nhiệt, truyền sức mạnh, truyền nghề, truyền thống, truyền kiếp,… * R, gi, d
-
“R” và “gi” không kết hợp với những vần bắt đầu bằng oa, oă, âu, oe, uê, uy (trừ
roa trong cu roa): doạ nạt, doanh trại,…
- Xét về nguồn gốc: không có từ Hán Việt đi với r; trong các từ Hán Việt: “d” đi
với dấu ngã và nặng; “gi” đi với hỏi và sắc.
- Trong láy phụ âm đầu, các âm đầu giống nhau nên chỉ cần biết một tiếng viết bằng chữ nào.
- Trong từ láy bộ phận vần: “r” láy với “b” và “c” (k) còn “gi” và “d” không láy:
bứt rứt, bủn rủn, co ro, cập rập,…; “r” và “d” láy với “l”, còn “gi” không láy: liu riu, lim dim, lào rào,… - Đối với cặp d-r:
+ Các động từ, tính từ hoặc từ kèm bổ nghĩa cho động từ, tính từ viết “r”: rọc giấy,
rọc phách, róc mía, róc xương, rầu rĩ, rụng rời,…
+ Các danh từ hoặc từ đi kèm bổ nghĩa cho danh từ viết “d”: dòng sông, hàng dọc,
dọc đường, ngành dọc, dọc mùng, dừa, dấu ấn,… - Cặp d-gi:
+ Hành động mạnh mẽ muốn đoạt lấy về mình viết “gi”: giạn giật, tranh giành, giành độc lập,…
+ Hành động nhẹ nhàng hoặc trao cho người khác viết “d”: dành cho, dành riêng,
để dành, dành dụm, dỗ dành,… * S, x
- “S” không kết hợp với các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uê: xuề xoà, loăn xoăn, xoen xoét,…
- Từ láy phụ âm đầu có tất cả các tiếng đều là “s” hoặc “x”: xoay xở, sung
sướng, xum xuê, say sưa,…
- Trong từ láy vần, chỉ có âm đầu “x”, không có “s”: loà xoà, loăn xoăn, bờm
xờm, liêu xiêu, xì xào, lao xao, lộn xộn,…
- Về nghĩa: Tên thức ăn thường viết với “x”: xôi, xúc xích, lạp xường, phở
xào, xiên thịt,…; những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn đi với “s”: sắp, sẽ, sao, song,… * L, n
- L có thể đứng trước âm đệm (oa, oă, uâ, oe, uê, uy), còn n thì không, trừ “noãn”: loà xoà, loắt choắt,…
- Trong từ láy phụ âm đầu chỉ cần biết một âm tiết bắt đầu bằng “l” hay “n” là suy
ra được âm tiết kia: lạnh lùng, lặn lội, lăm le, no lê, nặng nề,…
- Trong từ láy bộ phận vần (không láy phụ âm đầu) không có chữ có “n” đứng ở
đầu âm tiết đầu: lệt bệt, lò cò, lộp độp, lò dò, lăng xăng,…
- Trong từ láy bộ phận vần: phụ âm đầu của âm tiết thứ nhất không phải “gi” (hoặc
không phải âm tiết thiếu phụ âm đầu) thì phụ âm đầu của âm tiết thứ hai không thể
là “n” (trừ khúm núm, khệ nệ): khéo léo, khoác lác, cheo leo,…; gian nan, gieo neo, ảo não, áy náy,…
- Những từ đồng nghĩa bắt đầu là “nh”, từ đó viết bằng “l”; những từ có từ gần
nghĩa bắt đầu là “đ” (hoặc c/k), từ đó viết bằng “n”: lài (nhài), lỡ (nhỡ), lố lăng
(nhố nhăng), lấp láy (nhấp nháy); này, nó (đây, đó)…
Bài tập luyện chữa lỗi chính tả