1
ĐẠI HC QUC GIA HÀ NI
TRƯỜNG ĐẠ ỘI VÀ NHÂN VĂNI HC KHOA HC XÃ H
BÁO CÁO GIA KÌ MÔN VĂN HÓA DU LỊCH
tài: Nghiên c u ngh thu t hát XĐề m ph c v phát tri n
du lịch trên địa bàn Thành ph N i
Hà N i, 2023
Ging viên ng d n hướ : Ths. Nguyn Hoàng Phương
Nhóm th c hi n : Nhóm 5
Lp hc phn : Văn hóa Du lịch TOU1150
2
LI C ẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm 5 chúng em xin g i l i c chân thành và sâu s c nh t n ảm ơn đế
ging viên Nguyễn Hoàng Phương trong sut hc vừa qua đã tận tình gi ng d y,
truyền đạt nhng ki n th c quý báu và nhi t tình ng d n sinh viên trong kì h c qua. ế hướ
Nh vào nh ng l i nh n xét ch b o c a th y, chúng c nhi u bài em đã lĩnh hội đượ
hc nh ng ki n th c c n thi t em th c hi n t ế ế m sở để t cho bài ti u lu n c a
mình.
Tiếp đến, chúng em xin gi li tri ân ti các th i h c Khoa h c ầy trường Đạ
hội và Nhân văn ờng Đạ ầy cô đã tạ- Trư i hc Quc gia Hà Ni. Th o cho chúng em m t
môi trường h c t p t t, nh ững người đã cùng góp s ền đạ ức đểc truy t kiến th giúp em
có n n t ng t ốt hơn.
Nhóm chúng em nh n th c r ng v i kinh nghi m và v n ki n th c còn ng ức đượ ế
hn h p c a các nhân, s không th tránh kh i nh ng thi u sót sai ph m. Kính ế
mong quý th y cô thông c em ngày càng hoàn thi m và góp ý đ ện hơn.
Chúng em xin chân thành c ảm ơn!
Người th c hi n
3
MC L C
LI CẢM ƠN..................................................................................................... 2
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 5
2.Tình hình nghiên cu ........................................................................................ 6
3. Đối tượng nghiên cu ....................................................................................... 7
4. Câu h i nghiên c u .......................................................................................... 7
5. M c tiêu nghiên c u ......................................................................................... 7
6. Ph m vi nghiên c u .......................................................................................... 7
7. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 8
8. B c c c ủa đề tài .............................................................................................. 8
Chương 1. CƠ SỞLUN CHUNG ............................................................. 8
1.1. Du l ch, s n ph m và tài nguyên du l ch. .................................................... 8
1.2. Khái quát v Hát x m ............................................................................... 10
1.2.1. Sơ lược v Hát xm ............................................................................ 10
1.2.2. Các ngh nhân ................................................................................... 11
1.2.3. Các làn điệu, đặc điểm và nhc c ..................................................... 11
1.2.4. N i dung ca t trong hát x m ............................................................. 14
CHƯƠNG 2: THC TRNG HÁT X M VÀ DU L CH HÁT X ẨM ĐƯƠNG
ĐẠI .......................................................................................................................... 14
2.1. Th c tr ng ho ng bi u di n Hát x m hi ạt độ n nay .................................... 14
2.2. Đánh giá khả năng khai thác du lị ch ca tài nguyên - di sn hát Xm: ...... 16
2.3. L tuy m và s n ph m du lập sơ đồ ến điể ch ............................................... 17
2.3.1. Tour n a ngày tr i nghi m hát x m trên ph i 36 ph đi bộ Nộ
phường” ............................................................................................................. 18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HI U QU PHÁT TRI N NGH
THU IT HÁT X M TRONG DU L CH HÀ N ................................................ 19
3.1. Ho ng nâng cao thanh âm X m - s n ph m du lạt độ ịch văn hóa trong phát
trin du lch Hà Ni ............................................................................................... 19
3.1.1. T ch c Câu l c b , Khóa h o X ọc đào tạ m ...................................... 20
3.1.2. T ch u di n X m th i s hóa ức các chương trình biể ời đạ ................... 22
4
3.2. Các gi i pháp nâng cao hi u qu lo i hình ngh thu t bi u di n truy n th ng
hát X m trong phát tri n du l ch Hà N i ................................................................ 24
3.2.1. Đ xut vi các cp qun lý ............................................................... 24
3.2.2. Đào tạ ững người đam mê vo cho nh i Xm ....................................... 26
3.2.3. Xây d u di n phù hựng các chương trình biể p ................................... 27
3.2.3. Tuyên truy n qu ng bá, g n v i phát tri n du l ch ............................. 27
PHN KT LUN ........................................................................................... 29
TÀI LI U THAM KH O................................................................................ 30
5
1. Lý do ch tài ọn đề
Vit Nam là mt quc gia đang phát trin, trong đó ngành du lch đóng vai trò quan
trng trong nn kinh tế quc dân. Du lch đã đưc coi là mt ngành kinh tế mũi nhn
trong phát trin kinh tế ca đt nưc và đang
hi nhp vi khu vc và trên thế gii. Du lch không ch đem li ngun thu nhp
ln cho nn kinh tế, to nhiu vic làm, phát trin các ngành dch v khác, nâng cao cơ
s h tng mà còn là phương tin thúc đy hòa bình, giao lưu văn hóa và to ra nhng
giá tr vô hình nhưng bn cht.
Nh nhng đóng góp to ln v mt kinh tế, xã hi du lch đã tr thành ngành kinh
tế mũi nhn ca nhiu quc gia trên thế gii.
Hin nay, du lch bao gm rt nhiu hình thc đa dng và phong phú như du lch
văn hóa, du lch sinh thái, du lch khám cha bnh, du lch mo him, ...Đi vi các
nưc đang phát trin, cn đy mnh vic phát trin ngành ngh du lch đ thu hút nhiu
khách du lch trong và ngoài nưc. Vic khai thác các giá tr văn hóa phc v phát trin
du lch đem li s phát trin ln mnh.
Nm vùng đng bng sông Hng, Hà Ni đưc coi là cái nôi văn hoá ca c nưc
nơi tp trung nhiu giá tr văn hoá gm c văn hoá vt cht và văn hoá tinh thn có sc
thu hút lôi cun ngày càng nhiu khách du lch.
Nhng năm qua, du lch Hà Ni đã tp trung khai thác các loi hình du lch văn hóa
phi vt th, trong đó tp trung vào các l hi truyn thng, phát trin du lch làng ngh
đc bit hơn n t bi u di n truy n tha là khai thác các giá tr ngh thu ống như múa
ri nưc, chèo, ca trù hay các giá tr an. Các lovăn hóa dân gi i hình ngh thu t bi u
din truyn thng đưc to dng trên nn t hóa dân tộng văn c vi b dày hàng my
nghìn năm.
Trong đó, có sự ch t l c, t o nên nét tinh túy c a ngh thu t bi u di n truy n th ng.
Chính vì v y, vi ệc khai thác đầy đủh p lý các giá tr văn hóa phi vật th vi các lo i
hình ngh thu t bi u di n truy n th ng s góp ph ần thúc đẩy du l ch Vi t Nam phát tri n
tương x ềm năng sẵn có, đng vi ti ng th i b o t n, duy trì phát tri n b n s ắc văn
hóa dân t c.
Bên c nh các lo i hình ngh thu t bi u di n truy n th c, ca trù, ống như múa rối nướ
chèo, chu văn,... Hà Ni còn có mt loi hình ngh thut biu din truyn thng gn
gũi vi ngưi dân đó là ngh thut hát Xm.
Xm có th nói là loi hình âm nhc k chuyn bám sát văn hc dân gian, ni dung
đ cp đến nhng vn đ ca đi sng nht so vi các loi hình âm nhc dân gian khác
như ca trù, chu văn, chèo... Phn ln phn li ca các bài xm là do các ngh sĩ xm t
chế, là nhng t s v thân phn ca mình, ni kh ca nhng ngưi nghèo khó, cnh
đi ngang trái. Hay có nhng chuyn vui nh nhàng, hóm hnh, mang tính cht châm
biếm các thói hư tt xu, lên án nhng h tc, t cáo ti ác ca k áp bc, thng tr. Có
th coi nhng ngưi hát Xm là nhng ngưi k chuyn rt tài ba.
Tuy nhiên, ngh thut hát Xm chưa đưc khai thác trit đ trong du lch ti Hà Ni
đang có sự mai m t theo th i gian. C n ph i có bi n pháp nh m b o t n và phát tri n
6
nhng giá tr đặc s c c a ngh thu t hát X m, thông qua du l ch qu ng bá nh ng giá tr
văn hoá mà nghệ ẩm đem lạ thut hát X i vừa để ịch văn hoá. phát trin du l
Trên cơ sở tìm hi u th c ti n, th y rõ nh ng giá tr quý báu và ti ềm năng phát triển
du l ch t ngh thu t hát X c s ẩm, đượ giúp đỡ và góp ý ca ging vn , chúngi xin
đưa ra đề tài: "Nghiên c u và báo cáo v ngh thu t hát X m trong du l ch Hà N i" làm
đề tài nghiên cu ca nhóm.
2.Tình hình nghiên c u
Xưa nay đã nhiều nhà nghiên cu các bài viết nghiên c u v hát X m i
chung, v ca t u X ừ, làn điệ m nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cu
sâu sc v hát Xm mà ch đ cp sơ qua, còn ch yếu là nghiên cu v các làn điu
Xm. Tiêu biu như các tác gi: nhc sĩ Thao Giang, tác gi Khương Văn Cưng (ngh
thut hát Xm, xb.2009), tác gi Bùi Trng Hin (Hát Xm, 1000 năm m nhc Thăng
Long - Hà Ni, quyn II nhc c truyn, Nxb m nhc, 2010), Trn Vit Ng ( Hát Xm,
Nxb m nhc Hà Ni, 2002), Bùi Đình Tho (hát Xm, S VHTT Ninh Bình, NB.1995),
là nhng ngh sĩ, tác gi đã dành nhiu tâm huyết vi loi hình ngh thut này.
Hay mt s các bài báo viết đăng trên các báo và tp chí như : Hát Xm - "Ngh
thut ca ci ngun dân gian" (Phương Lan, baomoi.com), "Ngh thut hát Xm"
(Thanh Ngoan, 2009, 12/3/2013), "Ngh thut hát Xm - di sn văn hóa Ninh Bình"
(Trn Hu Bình, ninhbinh. gov. vn, 12/6/2012)... và bài viết "Mt s tương đng và d
bit gia hát Xm và âm nhc nhân thanh truyn thng Huế" (tp chí sáng tác phê bình
nghiên cu văn hc ngh thut - văn hóa, 27/08/2012), đc bit là s ra mt ca album
hát Xm mang phong cách Hà Ni chào đón đi l k nim 1000 năm Thăng Long - Hà
Ni ca 3 NSƯT Thanh Ngoan, Mai Tuyết Hoa và nhc sĩ Nguyn Quang Long.Trong
đó đáng chú ý nhấ nhạc Thăng Long t hai công trình "Hát Xm, 1000 năm m -
Ni" (Nxb m nh c, 2002) c a tác gi h m "Hát X m" (Nxb m Bùi Trng Hin và tác p
nhc, 2002 ) c a tác gi Tr n Vi t Ng m "Ngh thu t hát X m" . Ngoài ra còn có tác ph
(Xb. 2009) c a tác gi Khương Văn Cưng.
Trong cu n "Hát X ẩm, 1000 năm m nhc Thăng Long à N i" tác gi Bùi Tr ng - H
Hiền đã khái quát về cho đế lch s ca hát Xm nói chung (t lch s n ni dung ngh
thut ca t trong hát Xẩm). Ông cũng có s tìm tòi nghiên c u các lo i nh ạc khí độc đáo
đượ c s dng trong lo i hình ngh thu t này.
Vi tác ph m "Hát X m" c a tác gi Tr n Vi t Ng . Ngoài vi c gi i thi u khái quát
v hát X m, tác gi u v nh u X m c , tron còn đi sâu vào nghiên cứ ững làn đi g đó tác
gi sưu tầm, trích dn rt nhiu li c a các bài hát X m thu ộc các làn điệu c theo
các điệu Xm Ba b c, Huê tình, Ph n huê, Th ập ân như: "Dạt nước cánh bèo" (trích bài
Xẩm theo điệu Hà Li u - l i c ổ),"Công cha nghĩa mẹ sinh thành" (bài hát X m theo điệu
Thp ân - l i c ), "Nướ ảy đôi dòng" (bài hát Xẩm theo điệc ch u Huê tình trong Ca trù
- l i c )...Ngoài còn m t s nh ạc sĩ rất ni ti ng v i nhi u l i nhế ận xét, đánh giá có giá
tr v hát Xẩm như nhạc sĩ Thao Giang, nhạc sĩ Quang Long... Trong đó, ngh Quang
Long đượ ết đế ới cái tên "Ngườc bi n v i ca "thế gi i" X m Hà N i". M c dù m i ngoài
30 tuổi nhưng nhạc Nguyễn Quang Long đã một trong nh ng nhà nghiên c u,
7
lun âm nh c tr được nhi i biều ngườ ết đến.Nhiu bài vi t vế âm nhc truy n th ng c a
anh mang thiên hướng lý lu n, nghiên c ứu đã được đăng tài trên tạp chí và được độc gi
đón nhậ ững năm gần đây, anh còn đượn. Nh c bi t t i m t trong nh ng nghế góp
công ph c h i ngh thu t X m và dòng X m Hà N i.
Mt s kiện đáng chú ý nhất trong th i gian g ra m t công chúng b ần đây s
phim "Xm đỏ" - mt b phim tài li u tái d ng l i chân dung ngh nhân Th C u
cùng nh m c a ngh thu t hát X m trong dòng ch y cu c sững thăng trầ ống đương đi
của Đ ễn ơng Đình Dũng. Phim lấo di y bi cnh quay ti Yên (Ninh Bình) vi
nhân vt chính là ngh nhân hát X m Hà Th C ầu cùng cây đàn nhị truân chuyên đã g n
bó với bà hơn 60 năm. Câu chuyện k v cuộc đời long đong của lão ngh nhân được ví
người hát Xm cui cùng ca thế k, "báu vt sng" c a lo i hình di s ản văn hoá
dân gian này, được k li bng nh ng câu hát X m ngân lên theo t ng nh p Sênh, ti ng ế
Phách, xen l i niẫn đó nỗ ềm trăn trở ủa ngườ luyến tiếc c i trong cuc v mt loi
hình ngh thu t truy n th ống đang dần b mai mt.
3. Đối tượng nghiên c u
Đi tưng nghiên cu chính là ngh thut hát Xm phc v phát trin du lch trên
đa bàn Hà Ni
4. Câu hi nghiên cu
- Thc trng sinh hot và biu din ca ngh thut hát Xm hin nay trên đa bàn
Hà Ni din ra như thế nào?
- Gii pháp khai thác và phát trin ngh thut hát Xm trong du lch Hà Ni là gì?
5. Mc tiêu nghiên cu
- Làm rõ các đc đim và giá tr ngh thut ca hát Xm
- Nghiên cu, đánh giá thc trng sinh hot và biu din ca ngh thut hát Xm
hin nay trên đa bàn Hà Ni
- Đ xut gii pháp khai thác và phát trin ngh thut hát Xm trong du lch Hà Ni
6. Phm vi nghiên cu
V ni dung:
Nghiên c u v khía c nh giá tr a ngh thu t bi u di n truy n th ng hát văn hoá củ
Xm, b o t n và phát huy giá tr c a lo i hình ngh thu t hát X m
Nghiên c u và phát tri n nh ng giá tr c s c c a ngh thu t hát X m độc đáo, đặ
trong du l ch Hà N i
8
Nghiên c u nh ng qua l i gi a phát tri n du l ch v i phát tri n, b o t n ững tác độ
gi gìn ngh thu t hát X m t i Hà N i.
V không gian:
Tp trung nghiên cu trong phm vi Hà N g đó chủi, tron yếu là trong khu v c n i
thành và các đim du lch, các đim biu di u t hát X m. n ngh th
V thi gian:
Th n 04/04/2024 i gian nghiên cu ca đ tài t 27/01/2024 đế
7. Phương pháp nghiên cu
Phương pháp thu thp tài liu:
i các ngh thu t truy n th ng c a Tài liu sơ cp: Thu thp các tài liu liên quan t
Vit Nam, các tài liu nghiên c s n hát Xu v di sn, giá tr di ẩm, văn hóa nghệ thut
hát nh b o t n, phát huy giá tr di s n Xm, nhng vn đ v CLB, giáo phưng, quá trì
nhng biến đi có liên quan
Tài liu th cp: Các công trình nghiên c ớc, các chính sách, văn bảu đi trư n pháp
lut có liên quan,
Phương pháp phân tích và tng hp d liu:
n lu n án, s th c hi n Sau khi thu thp các tài liu sơ cp và th c ên quan đếp li
phư t đốơng pháp tng hp tài liu, d liu đã có, đc bi i vi các d liu quan trng,
liên a phân tích cho phù h p. quan trc tiếp đến lun án thì phi va tng hp v
Phương pháp kho sát thc tế, quan sát tham d:
Tp trung ch y u cho công tác kh o sát th c t t i m t s ế ế điểm bi u di n hát X m
nhm ph c v phát tri n thu hút du khách trong ph m vi khu v c Hà N ội, trong đó tập
trung chuyên sâu các CLB, giáo phườ ội đểng hát Xm ti ni thành Hà N có cái nhìn
tng th , có th c nh ế đưa ra đượ ững đối chiếu, so sánh khách quan.
8. B c c c a đềi
Chương 1. CƠ SỞLUN CHUNG
1.1. Du l ch, s n ph m và tài nguyên du l ch.
Du l i góc nhìn lu t pháp, chính sách: Theo Lu t du l ch ịch dướ ịch, 2017: “Du l
các ho t động có liên quan đế ến đi của con người ngoài nơi cư trú thườn chuy ng xuyên
trong thi gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ng nhu c u tham quan, ngh dưỡng,
gii trí, m hi u, khám phá tài nguyên du l ch ho c k t h p v i m p pháp ế ục đích hợ
khác.”
Theo T ch c du l ch th gi i (UNWTO), 2014: Du l ế ịch là “m ện tượt hi ng xã hi,
văn hóa và kinh tế kéo theo s di chuy n c n các qu c gia ho m ủa con người đế ặc địa điể
9
bên ngoài môi trường thông thường ca hmục đích cá nhân, kinh doanh hoặc ngh
nghiệp.”
Du l o: Theo Giáo trình Nh p môn du l ch ịch dưới góc nhìn đào tạ ịch, 2022: “Du l
ho ng (xã h i, kinh t o và nghiên c n s di chuyạt độ ế, đào tạ ứu) liên quan đế ển lưu
trú t m th i c i vào th i gian r nh r i ủa con ngườ ngoài nơi thường xuyên c a h
nhm m c kh e th ch t tinh th n, nâng cao nh n th c t i ch vục đích nâng cao s
thế gi ới xung quanh.”
Du l n cung cịch dưới góc nhìn văn hóa: Du lịch hai phương diệ ầu trong đó
dưới phương diệ ầu, “Du lịn c ch là nh ng chuy n du hành c ế ủa con người ri khỏi nơi cư
trú c a mình t i nh ng không gian khác trong th i gian nh nh, nh ng th c, ất đị ằm thưở
tri nghi m, km phá nh ững điều mi l và khác bi t v t nhiên và văn hóa, nhằm m
phong phú thêm đời sng tâm h n c ủa mình.”. Dưới phương diện cung, “Du lịch là toàn
b ho ng khai thác, s dạt độ ng tài nguyên t m t o ra s n ph m nhiên văn hóa nhằ
du l ch khác bi t m i l , ph c v các nhu c ng th c, tr i nghi m, khám phá ầu thưở
ca du khách trong không gian, th i gian nh ất định”.
Tóm l i, du l ch là ho t n vi c di chuy n và khám phá động/hiện tượng liên quan đế
các s n ph m t m nh nh. Các s n ph nhiên/ văn hóa tại địa điể t đị ẩm này được gi
sn ph m du l ch, chúng s độc đáo, khác biệ ới nơi t so v thường xuyên c a du
khách. S a s n ph m du l ch y do tài nguyên du l ch t n độc đáo củ ạo thành. “Sả
phm du l ch là t p h p các d ch v trên cơ sở khai thác giá tr tài nguyên du l th a ịch để
mãn nhu c u c a khách du l ch.
Tài nguyên du l ch c nh quan thiên nhiên, y u t t nhiên và các giá tr a ế văn
làm cơ sở để hình thành s n ph m du l ch, khu du l m du l ch, nh ng nhu ịch, điể ằm đáp ứ
cu du l ch. Tài nguyên du l ch bao g m tài nguyên du l ch t nhiên và tài nguyên du
lịch văn hóa.”, trích Luật du lch 2017.
Nhóm nghiên c u m t s cách phân loứu đi sâu vào tìm hiể ại đặc điểm ca tài
nguyên du l ch vì di s n Hát x m t i th m nghiên c ời điể ứu đang ở dng tài nguyên/ ti m
năng nhiều hơn sản phm du l ch. G n ph m/ d ch v du l ần như không có sả ịch trên cơ
s khai thác tài nguyên này. Ngoài khái ni m và cách phân lo i tài nguyên du l ịch như
Lut du lch 2017, Bùi Th H i Y n, Ph m H ch ế ồng Long (2007): “Tài nguyên du lị
tt c nh ng gì thu c v t nhiên và các giá tr văn hóa do con người sáng to ra có sc
hp d n du khách, th c b o v đượ , tôn to và s d ng cho ngành Du l ch, mang l i
hiu qu v kinh t - h phân lo i tài nguyên du l ế ội môi trường”. Các tác giả ch
thành hai lo i: tài nguyên t nhiên tài nguyên nhân văn. Trong đó tài nguyên nhân
văn có mộ đặc điểt s m chung c a tài nguyên du l ịch như:
a. ng khai thác c a nhi u ngành kinh t xã h i Là đối tượ ế
b. Mang tính bi i ến đổ
c. Hi u qu khai thác ph thu c vào nhi u y u t ế
d. ng, có nhi u giá tr , có s c h p d n v i du khách; Phong phú, đa dạ
e. Có th tái t c ạo đượ
10
f. Có tính s h u chung
g. Tính di n gi i c m nh n (ngoài gtr t thân c khai thác ủa tài nguyên thì để
tt còn ph thu c vào ch ất lượng hướng d n viên và s ưa thích của khách du lịch). Đây
là m m quan trột đặc điể ọng để đưa ra các khuyế n ngh xu t trong khai thác hát x m ị, đề
cho du l ch.
h. G n ch t v i v a lý, hình thành các s trí đị n ph m du l ch s n ph m tiêu th
ti ch i v i lo i hình ngh thu t âm nh m này ỗ. Tuy nhiên đố ạc như Hát xẩm thì đặc điể
không quá kh t khe, có th th c hi n n t m n lưu diễ ếu đạ c phát trin v cung/c u nh t
định.
Bên c m riêng: ạnh đó tài nguyên nhân văn cũng có các đặc đi
a. Chịu tác động r t l n c ủa con người (ví d các di s ản văn hoá phi vật th mai m t
khi c ng s h u không còn nhu c u th c hành, sinh ho t n a). Do v y, quá trình ộng đồ
khai thác, s d ụng tài nguyên nhân văn phi vậ ần đi đôi vớt th cho du lch c i bo v,
phát tri n tài nguyên trong c ng và tôn tr ng ý ki n c ng. ộng đồ ế ộng đồ
b. Tính ph bi n ế
c. n s i l p nhau. Tính độc đáo, bả ắc riêng. Đặc điểm này và đặc điểm trên không đố
Tính ph bi n ế đây hàm nghĩa các tài nguyên du lịch nhân văn là dạng tài nguyên qu c
gia nào cũng (ẩm th c, l h i, âm nh c truy n th ng v.v) tuy nhiên m i qu c gia
đều có bn sc riêng và cn chú trọng khai thác cái riêng để phát trin.
d. Ít tính mùa v ch t nhiên. hơn tài nguyên du lị
1.2. Khái quát v Hát x m
1.2.1. c v Hát x m lượ
Hát X c coi lo i hình ngh thu t c truy n c a Vi i t r t lâu ẩm đượ ệt Nam ra đờ
đã đượ ản văn hoá phi vậ ần được UNESCO công nhn di s t th quc gia c c bo
tn. Hát X m là m t dòng dân ca c ủa nước ta phát tri n m nh và ph bi n t ng b ng ế ại đồ
Bc B và trung du mi n núi phía B ắc. Ban đầu hát x m là m t hình th a ức mưu sinh củ
những ngườ ợ, đười dân nghèo kh ti các ch ng ph i qua l nơi đông ngườ ại. “Xẩm”
đây dùng để ch người biu din.
Theo quan ni m dân gian thì hát X m g n li n v i nh ng ngh m th nghèo khiế
kh, ph i rong ru i kh a, s d ắp nơi, nay đây mai đó không nhà cử ụng cây đàn
tiếng hát của mình để mưu sinh.
Hát X m trong ti c g i songs of a strolling blind musician t c là bài ếng anh đượ
hát d o c a m t nh ạc mù. Nhưng cái trên này không còn đúng 100% cho đến ngày
nay vì dòng ngh thu c truy n d y và gi gìn v i các ngh ật này đượ không bị khiếm
th. M t t khác trong ti chếng anh để được lo i hình ngh thu t này mà v n gi được
nét đẹp và văn hoá của nó, đó là Xam singing.
Truyn thuy t k r i vua Tr i con trai Tr n ế ằng vào đờ ần Thánh Tông có hai ngườ
Quc Toán và Tr n Qu ốc Đĩnh, vì muốn tranh giành quy n l c nên Tr n Qu ốc Toán đã
11
hãm h i Tr n Qu loà, b l i gi a r ng sâu. bu ốc Đĩnh khiến ông Đĩnh b ồn đau
ông ch bi ết than khóc đế ếp đi và trong mơ đã đượn thi c bt ch cho cách làm ra cây
đàn t dây thng và que na. Tnh dy ông làm theo th t l k khi chi y ếc đàn
th phát ra âm thanh th n k khi n hoa qu ến chim muông mang đế cho ông ăn. Về sau
thì Tr n Qu i khi m th c ốc Đĩnh đi dạy đàn cho những người nghèo, ngườ ế ị, dù ông đượ
cha đưa về cung nhưng vẫ n không quên truy n d y l ại cho người đời. Ông cũng được
coi là ông t c a ngh hát X m.
Tuy nhiên đây chỉ tích truy n vì theo s sách ghi thì hoàn toàn không hai hoàng
t tên như vậy. Theo nghiên cu trên các tài li ếu thì hát X i vào khoẩm ra đờ ng th k
14 15 (nh ữngm 1500 – 1600), ban đầu chúng đượ c g i coi là hát rong, hát do c a
người nghèo, người mù.
Xm là một món ăn tinh thần c a r t nhi ều người trong quá kh , nó không ch ph c
v riêng cho m i nào, bi u di t linh ho t b t cột nhóm ngườ ễn cũng rấ nơi đâu và hơn
c, là c t cách nh ững ngườ sĩ: không ủi ngh vào t t nguy xin b thí mà lo trau d i ền để
li ca ti ng hát c ki m s ng. ế ủa mình để ế
Xm tr thành m t m t xích vô cùng quan tr ng trong vi c tuyên truy n, v ng ận độ
chng Pháp, ch ng M trong cu c kháng chi n c a Vi ế ệt Nam. Nó đã dùng chính sự thân
thuc với ngườ ủa mình để ắm ý chí, đềi dân c gi g cao khát v ng dân t c. Sau cách
mng tháng Tám, hát X m ti p t c chính quy n s d ng trong tuyên truy n phong ế ục đượ
trào bình dân h c v .
1.2.2. Các ngh nhân
Ngh nhân hát X m Hà Th C u
Th C c coi m t trong nh ầu đượ ững người gi phát tri n truy n th ng hát
Xẩm. đã góp ph ệc lưu giữn ln vào vi phát trin ngh thut hát Xm thế k
XX. đã truyn dy nhiu thế h ngh nhân X m cũng đã biểu din ti nhiu s
kin l n trên kh p c nước.
Ngh sĩ nhân dân Thanh Ngoan
NSND Thanh Ngoan m t trong nh t n i ti ng t i nhi u qu c gia ững gương mặ ế
trên th gi c hát X m v i tác ph ng kh ch m ế ới trong lĩnh vự ẩm “Sướ ồng” câu xẩ
Thp ân. Nhng câu X m chan ch a c m xúc n i ni m không ch nh c l i khen ận đượ
t nhi u khán gi c yêu thích b i nhi u khán gi c ngoài t i trong nước còn đượ nướ
châu Âu, châu M .
Ngh sĩ nhân dân Mai Thu
NSND Mai Thu v ốn được biết t i là m t trong nh ng ngh sĩ chèo trụ ct c a nhà
hát chèo Ninh Bình nhưng cô cũngngười đưa hát Xẩm phát triển trong giai đoạn mi,
khi mà nh ng ngh n v ng bóng. nhân cũ dầ
1.2.3. Các làn m và nh c c điệu, đặc điể
12
Điệ u X m Ch
Những i góc ch g n li n v i không gian bi u di n c a X m, v i nh ng b n X m
Ch đơn giản, ngn gọn, đậm ch t k chuy n và mang tính gi i trí, nh m thu hút s chú
ý c a khán gi . Tuy nhiên, trong nh ng bài X m Ch n ày cũng đôi khi chứa đựng nh ng
khonh kh c sâu s c và l ng. ắng đọ
Điệu Thp ân
Xm Th p ân m ột bài hát tôn vinh công ơn sinh thành ng dc ca m cha t
khi con còn nh đến khi trưởng thành, được th hin bng tiếng ca tr tình, c ng ảm độ
ca hát X m. Bài hát không ch g i nh l i nh ững đóng góp củ mà còn tượa cha m ng
trưng cho mộ m gương hiết t u tho.
Điệu Phn Huê
Ngh nhân hát Xẩm thông qua làn điệu Xm Phn Huê truyn ti m p ột thông điệ
đồng cm sâu sc ti những người ph n trong thi k phong ki n. Ca t c a bài hát ế
Xm Ph n Huê th hi n n a ph n th ng th i bóng i đau khổ, khó khăn c ời đó đồ
gió châm bi m, ch x u c a chế trích thái độ ồng, gia đình và xã hi.
Điệu Rim Huê
Xm Ri c bi n v i tên g i X u vui ềm Huê, hay còn đượ ết đế ẩm Huê Tình, có giai đi
tươi, phấn kh i, cùng v i âm nh c c a tr ống cơm đặc trưng, đã giúp các nghệ nhân xm
truyn t i r t nhi u n ng: t ội dung đa dạ tình yêu đôi lứa đến s châm biếm nhng thói
hư tật xu, cm thông cho s ph n b a ph n . ạc đàn củ
Điệu Chênh Bong
Làn điệu Chênh bông đặc trưng c tình, duyên dáng nhưng cũng a tình yêu tr
đầy nim vui, s nhi t huy t c a các c tu i mu ế ặp đôi trẻ ốn trao đổi nhng li ng t ngào
vi nhau.
Điệu Hò bn mùa
Điệu b n mùa, hay còn g ọi là Khoan, được bi u di n b i t p th thường
đượ c s d ng trong công vic làm nông. Ti Ni các thành ph khác, các ngh
nhân thườ ấu điệu này để ới môi trườ ống địa phương.ng biến t phù hp v ng s
Điệu Chênh Bong
Làn điệu Chênh bông đặc trưng c tình, duyên dáng nhưng cũng a tình yêu tr
đầy nim vui, s nhi t huy t c a các c tu i mu ế ặp đôi trẻ ốn trao đổi nhng li ng t ngào
vi nhau.
Điệu Hò bn mùa
Điệu b n mùa, hay còn g ọi là Khoan, được bi u di n b i t p th thường
đượ c s d ng trong công vic làm nông. Ti Ni các thành ph khác, các ngh
nhân thườ ấu điệu này để ới môi trườ ống địa phương.ng biến t phù hp v ng s
Điệ u Ba b c
13
Điệu Ba bc là m u X a ngh thu t Hát X m, thiên v tính tột điệ ẩm độc đáo c s
tình yêu đôi lứa. Điệu này thường th hi n tâm tr ng c a m t chàng trai tương tư mt
gái. X m Ba B ậc ng được khai thác trong các th lo ại khác như Xẩm Nhà , Xẩm
Nhà Trò và X ng mang tính bác h ng tri th c. ẩm Cô Đầu, thườ ọc và dành cho đối tượ
Xm Hà Li u
Xm Li c gễu, còn đượ i N Oán ho tính ch t than th ặc Nhân Tư, mang v
ni kh đau và nỗ ủa con người. Điệ ịp đii oán trách c u này có nh u chm rãi và da diết,
thường bao g m nh n hát ng n tuy nhiên bài hát l i có th ững đoạ kéo dài đến 10 kh
li. M t bài tiêu bi u cho X m Hà Li ễu là bài “Dạt Nước Cánh a cBèo” củ ngh nhân.
Xẩm tàu điện
Xẩm tàu điệ ện vào đần loi Xm xut hi u thế k XX trong môi trường đô thị
Ni, khi nh ng chuy thành m ng ngh m ến tàu điện đã trở ột ‘sân khấu’ cho nhữ Xẩ
biu di n b ằng cách đi qua các toa tàu.
Đặc điểm ca hát Xm.
Hát X m g n li n v i các hình nh c a nh ững người dân ngo khổ, người khi m ế
th ôm cây đàn hát đ đổi ly chút tin go.
Ni dung c a các bài X ẩm thường ph n ánh hi n th c xã h i qua trong t ng th i
k c th .
Để th biu di c mễn đượ t bài X i ngh nhân ph i thành thẩm đòi hỏ ục chơi
nhc c, va hát vừa chơi nhạc sao cho ăn khớp và hoà quyn vi nhau nht.
Hát X m yêu c u cao v bi t c m xúc, ngh nhân ph i b c l ểu đạ rõ được tâm
tư, tình cảm ca mình (nhân vt) trong tng l i ca, ti ng hát cách ch c ế ơi nhạ
c.
Xẩm thường mang y u t i nhi c di a ế thơ ca vớ ều bài thơ đượ ễn ca như thơ c
Nguyn Khuy n, T n Bính. ế ản Đà, Nguyễ
Ngh thu t hát X c li t vào trung ca t ẩm đượ c nhng bài hát nh c v trung hi u ế
l nghĩa.
Nhc c
Ban đầu bi u di n hát X m ch s d ng duy nh t m t chiếc đàn nhị để độc t u, ngh
nhân s v a đánh đàn vừa hát. Tuy nhiên theo thời gian cũng như yêu cầu v s lượng
ngh sĩ biểu din cùng lúc, nhc c s d ng trong X c phát tri n phong phú ẩm cũng đượ
hơn bao gm.B nhc c đơn giả ất đển nh hát X m ch g m đàn nhị và Sênh ti n, nhóm
hát Xẩm đông người có th dùng thêm đàn bầu, trng mảnh phách bàn. Ngoài ra, đàn
đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hin din trong hát Xm.
Đàn nhị: Ban đầu biu di n hát X m ch s d ng duy nh t m t chi ếc đàn nhị để
độc tu, ngh nhân s v t nhừa đánh đàn và vừa hát. Đây mộ c c quan trng,
đóng vai trò chủ đạo không th thiếu trong ngh thut hát Xm là linh h n c a
mt bài X m.
Sênh: Sênh dùng đệm nh p cho hát X m có th là sênh s a ho c sênh ti n.
14
1.2.4. N i dung ca t trong hát x m
Ni dung c a các bài hát X m r ng, v i kho ng 400 bài hát và h u h t trong ất đa dạ ế
s đó được lưu gi thông qua vi c truy n mi ng, không có tên tác gi c th . Nh ng bài
hát này đã phần nào th hi ện được tâm tư, khát vng c a t ng l ng, nông dân và ớp lao độ
th dân trong quá kh ng th i v i h i ứ, đồ ời cũng phản ánh suy nghĩ của nhân dân đố
trong th i k bi ng. ến độ
Người hát X m s d ng gi ng hát, ti ếng đàn và lời ca để lên án, phản đối nhng b t
công, cườ ức thói tậ ải thông điệng quyn, áp b t xu ca hi. S truyn t p này
đôi khi còn được th hin qua nhng tiếng hát c ng v s ph n cu c s ng c a ảm độ
họ, đặc bi t t cái nhìn c a t ng l p nghèo ho ặc người ph n.
Tính nhân văn và lạ ẫn được quan ca hát Xm v c th hin qua cách cm thông
bênh v c cho nh ững khó khăn, đau đớn c a t ng l p nghèo và ni m tin vào cu c s ng
con ngườ ững ước mơ lãng mại, nh n bay xa.
Ngoài ra, các bài hát X m còn n i dung khích l tinh th ng lòng ần yêu nước, đồ
với Đả ời điểm đất nước đang trảng trong nhng th i qua nhng th thách và khó khăn.
Tuy nhiên, l i ca trong nh ng bài X m v n gi m i liên h sâu s c và c n thi t v i ế
các t c ng , dân dao, dân ca, dân nh c c a các vùng châu th s ng H ng, bao g m
vùng trung châu đồ ắc, do đó chúng thường mang đặc trưng của văn ng bng phía B
hoá dân gian.
CHƯƠNG 2: TH ẨM ĐƯƠNG C TRNG HÁT XM DU LCH HÁT X
ĐẠI
2.1. Thc trng hoạt đng biu di n Hát x m hi n nay
Từng có giai đoạn phát trin c c th ịnh, song cũng như nhiều loi hình âm nhc dân
tc khác, hát Xẩm đang phải đố ều khó khăn, thách thức khi đất nước bưới mt vi nhi c
vào th i k đẩ y mnh công nghi p hóa, hi ện đại hóa và h i nh p qu c t . Ð ế i sng kinh
tế đi lên, môi trườ ễn xướng di ng dân gian truyn thng ngày càng b thu hp, cùng vi
đó là sự c nh tranh c a các lo i hình ngh thu t hi ện đại kéo theo xu hướng th hi u c a ế
công chúng thay đổ người theo đu ẩm ngày càng ít. Năm i khiến s i, sng bng hát X
2013, khi Ngh Ưu Th C u (v út c a c u, trùm X m t Chánh Trương Mậ đấ
Ninh Bình), người được mnh danh "báu vật nhân văn sống", "người gi hn Xm"
qua đời, thì đội ngũ nghệ nhân hát Xm càng khan hiếm. Vic truyn dy hát Xm lâu
nay ch y u truy n kh n ch . Nh ế ẩu nên khâu tư liệu hóa cũng hạ ế ững điều này khiến
hát X m ph i m t truy n. Th i gian g ng tìm v ải đố ặt nguy thấ ần đây, trước xu hướ
vi các giá tr n th ng, hát X m d c ph c h i ho ng thông qua văn hóa truyề ần đượ ạt độ
s thành l p c a các chi u X m, câu l c b X ế m. X m tr thành ch t li u sáng tác c a
mt s tác ph m âm nh c hi ện đại đượ chương trình c "sân khu hóa" trong mt s
biu di n.
Hin nay, x m v n còn t n t c duy trì t i m t s ại đượ địa phương Vit Nam
như Nộ An, Tĩnh và Thanh Hóa. Tuy nhiên, hoạt đội, Hi Phòng, Ngh ng xm
đang gặ ều khó khăn do s thay đổp nhi i ca hi, s lãng quên c a gi i tr c s
15
cnh tranh t nh ng hình th c gi i trí khác. Nhi u ngh nhân x m truy n thống đã già
đi và không có đ người kế tha, góp phn làm gim s phát trin ca xm. Tuy nhiên,
vn có m t s ngh nhân tr đang nỗ l c tìm hi u, h c t p phát huy truy n th ng x m
để duy trì phát trin hình th c ngh thu ật này. Ngoài ra, cũng những n l c c a
các nhà ho tìm hi u, b o t n và phát tri n xạt động văn hóa, nhà nghiên cứu để ẩm như
mt di s n a Vi t Nam. văn hóa củ
Sau bao thăng trầmít nhi u b mai m t, th t truy n, hát X ẩm đang dần được khôi
phc b i nh ng t m lòng nhi t huy i ngh thu t truy n th ng. ết và đam mê vớ
Các t nh phía B c thành l p nhi u câu l c b , nhóm X m như chiếu Xm Thành,
chiếu X m H i Phòng, các Câu l c b hát X m t nh Qu ảng Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc,
Thái Bình... đã tạo nên s c s ng m i cho lo i hình ngh thu t hát X m.
Ni dung các bài hát Xẩm đã phong phú hơn, ngoài ngợi ca tình yêu quê hương đất
nước, nghĩa mẹ, tình cha thì nhng v h phù h p v i ấn đề ội đã được đưa vào Xẩm để
cuc sống đương đại.
T nh ng n l c c a nh ng ngh s n ng lòng v i ngh thu ật dân gian như Thao
Giang, Văn Ty, Xuân Hoạch, Thúy Ngn, Thanh Bình, Mai Tuyết Hoa... ngh thu t hát
Xm d c h i sinh. ần đượ
T mt loi hình di ng dân gian ph biễn xướ ến nơi đông ngườ ại như bếi qua l n
sông, đường, góc chợ… phương tiện cho không ít ngườ mưu sinh, i khiếm th
Xẩm đã lên sân khấu trong các chương trình nghệ thut, phc v khách du l ch.
S chào ng nhi t c a khán gi Th i v i X gi m k t đón nồ đô đ ẩm chưa bao giờ
năm 2005 ần đầ ệm đưa Xẩ- khi nhc s Thao Giang l u tiên th nghi m lên sân khu ti
khu vực ngã năm Hàng Đào.
Năm 2006, mộ ội đã ra đt CD v Xm Hà N im t chi u X m h ế ằng đêm vào tối
th b y v n duy trì khu vc ch ng Xuân. nh đêm Đồ ững đêm diễn, hàng trăm
người đứng xem.
Cũng đó, nhiề u nhân s , trí th ức đã đến thưởng thc mt không gian riêng c a
Xẩm như Giáo Trần Văn Khê, Giáo Nguyễ ết Phong, nhà thơ Nguyễn Thuy n
Duy… những đốm lửa đã được nhóm X m Hà Thành nh ững người th y mi t mài,
bn b th X ắp lên như thế, để m đi vào đờ ng ngườ ắt đầi s i dân Ni b u biết v
Xm.
Năm 2018, nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11, Chiếu Xm Hi Phòng
Nhóm Đình làng Vit phi hp vi Ban Qun lý Di tích Ph c Hà N i t ch ức chương
trình Tọa đàm và biểu din "Ngh thut hát Xm - T n sân kh u." hè đường đế
Ngay trong chương trình biểu din va qua, khán gi không ch ng c nhiên, vui
mừng đượ ng làn điệu tưởng như đã mac nghe nh i mt do các ngh nhân dân gian
các ngh s hát X m trình di n trong m t không gian sân kh u hoàn toàn khác l ,
còn được gp gỡ, giao lưu vớ ết lưu giữi các thế h tâm huy , duy trì hát Xm.
Tiêu bi u ngh s nhân dân Xuân Ho ạch, người được xem ởng lão” củtrư a
làng X m Vi ệt Nam đương đại vi nhiều năm nghiên cứu, kế th a và phát tri n tinh hoa
16
ca các thế h ng th i có công ph c ch nhi u lo i nh c c dân t c đi trước, đồ ời là ngườ ế
như đàn bầu, đàn nhị, đàn đáy, đàn nguyệt
Bên c nhân ạnh đó, có ngh dân gian Lê Minh Sen đế ột “cây đa, n t Thanh Hóa, m
cây đề” trong làng X ừng ôm cây đàn nhịm, t ra mt trn trong nh n ững năm tháng chiế
tranh ch ng M , cứu nước, mang l i ca hóm h nh, tiếng cườ ảng khoái đi s ng viên tinh
thn các chi n s , thôi thúc ý chí quy t tâm chi u cế ế ến đấ a quân và dân Thanh Hóa.
Đặc bit là ngh nhân dân gian Đào Bạch Linh, h c trò c a ngh nhân Hà Th C u,
mt trong nh ng ngh nhân hát X m ít i c a Vi t Nam, Ch nhi m Câu l c b Chi u ế
Xm H i Thành c a H i Phòng, m i tr luôn i trách nhi m ph i gìn ột ngườ đau đáu vớ
gi lo i hình ngh thu t truy n th ng này.
Nguy n Th M n, con gái ngh nhân hát X m Th C ng chia s : ầu, xúc độ
“Trải qua bao thăng trầm, tôi không ng có ngày nh ững làn điệu Xm l c vang n ại đượ
trên sân kh u, không còn hè đường như trước đây. Xẩm bây gi được truy n d y, bi u
din kh ắp nơi và nhận được s yêu mến t công chúng."
Ti Ninh Bình, sau nhi u n l c, Liên hoan các Câu l c b hát X m khu v c mi n
Bc l c tần đầu tiên đã đượ ỉnh đăng cai tổ ch c. Ninh Bì c coi là m t trong nh ng nh đượ
cái nôi s n sinh ra b môn ngh thu t hát X ẩm quê hương của c ngh nhân hát
Xm n i ti ng Hà Th C u ế “báu vật nhân văn sống” quốc gia.
Hin, Ninh Bình có nhi u câu l c b hát X ẩm đang hoạt động, trong đó tập trung
huyn Yên Mô v i s tham gia h c hát c a nhi i các l a tu i. ều ngườ
Ông Nguy n M ạnh Cường, Giám đ Văn hóac S -Th thao tnh Ninh Bình, cho
biết tnh s cùng các t nh khu vc phía B c chu n b l p h sơ đề ngh B Văn hóa Thể
thao và Du l ch trình Th ng Chính ph công nh n hát X m là di s tướ ản văn hóa phi vt
th c p qu c gia.
Sau đó, ban t chc kế hoch xây dng những điề ện để đều ki làm h ngh
UNESCO công nh n là di s ản văn hóa phi vt th ca nhân loi.
Đây có th coi là ngu ng l c l nh i ngh nhân hát Xồn độ ớn để ững ngườ ẩm và ngưi
yêu lo i hình âm nh c dân t c này ti p t c c g ng b o t n, phát tri ế ển đào tạo, để
trong m t ngày không xa ngh thu t hát X m s c ghi nh n m n, đượ ột cách đúng đ
v trí xứng đáng trong công chúng trong nưc và bn bè quc tế.
2.2. Đánh giá kh ng khai thác du lị ch ca tài nguyên - di sn hát Xm:
Hát xẩm đóng mt vai trò quan tr ng trong vi c phát tri n du l ịch văn hóa ở Hà N i.
Hát x m m t lo i hình ngh thu t truy n th ng c a Vi c bi t N i. ệt Nam, đ
Khi bi u di n hát x m, ngh k l i câu chuy n v l ch s i s ng có thể ử, văn hóa và đờ
của người dân địa phương, giớ ệu đến du khách văn hóa đặc trưng củi thi a thành ph.
To ra tr i nghi m độc đáo, mang lạ ống và đặi tri nghim âm nhc truyn th c sc cho
du khách, thúc đẩy s tương tác văn hóa. Ngoài ra, hát xm có th tr thành m m ột điể
thu hút du l c bi t cho nh n ngh thu n ịch đặ ững người quan tâm đế ật văn hóa truyề
thng. Vi c qu ng hát x n truy n thông s ẩm thông qua các phương ti ki n du
17
lch s thu hút s chú ý c a du khách và khuy n khích h ế đến tham quan tr i nghi m..
Việc đầu vào việc đào tạ hát xẩ ạt độo ngh m tr h tr các ho ng ngh thu t
truyn th ng s gi cho ngh thu t này s ng mãi và phát tri m ển trong tương lai. Hát xẩ
không ch m ột nét đặc trưng của văn hóa Hà Nội còn m t ngu n l i th quan ế
trọng để ịch văn hóa, đem lạ văn hóa cho thành phố phát trin du l i li ích kinh tế
cộng đồng địa phương.
Vic khai thác du l ch c a tài nguyên di s n - hát X i s k t h p gi a b o ẩm đòi hỏ ế
tồn văn hóa và phát triển du lch bn vng. Quan tr ng nh t là ph i tôn tr ng giá tr văn
hóa c a hát X m b o r ng vi c khai thác du l ch không gây ra h i cho nó. Hát ẩm đả
xm có th c khai thác cho m đượ ục đích du lịch ti Hà Ni theo nhiu cách khác nhau:
Biu di n tr c ti p cho du khách: Các bu i bi u di n hát x m thế đượ c t ch c
tại các địa điểm du l ch quan tr c m tham quan l ch s ọng như khu phố ổ, các điể văn
hóa, nhà hát, ho c các quán cà phê truy n th ng. Du khách có th tham d các bu i bi u
diễn này đ tri nghim âm nh c truy n th ng và hi ngh thu t hát x m. ểu rõ hơn về
Hướng dẫn tham quan văn hóa: Các hướng d n viên du l ch có th s d ng hát x m
để gii thi ch sệu văn hóa và lị ca Hà N i cho du khách trong các tour tham quan. H
th di n gi i v ý nghĩa và l ẩm, cũng như giớch s ca các bài hát x i thiu v các
ngh sĩ hát xẩm ni tiếng và nh m liên quan. ững địa điể
Tri nghi m tham gia: Ngoài vi c ch nghe thưở ức, du khách cũng thng th
tham gia vào các ho t n hát x động liên quan đế ẩm như họ ẩm, chơi các nhạc cách hát x c
c truyn th ng, ho c tham gia các bu i bi u di n nh .
To ra các s n ph m du l ch liên quan: Hát x m có th tr thành m t ph n c a các
sn ph m du l ịch như album nhạc, video truyn hình, ho c sách v văn hóa Hà Nội. Các
sn ph m này th được bán t i các c m ho c tr c tuy du khách ửa hàng lưu niệ ến để
có th mang v nh ng k ni c bim đặ t t chuy a mình. ến đi củ
T ch c s ki n và festival: Hát x m th được tích h p vào các s ki n festival
văn hóa để to ra nhng tr i nghi c bi t cho du khách. Các bu i bi u di n hát x m ệm đặ
có th m t ph n c ủa chương trình ngh thut c a các s ki n này, thu hút s quan tâm
của đông đảo du khách và người dân địa phương.
Như vy, hát x m không ch là m t ph n quan tr ng c ủa văn hóa Hà Nội mà còn có
tiềm năng lớn đ được khai thác trong ngành du l i l i ích kinh tịch, đem lạ ế và văn hóa
cho c thành ph và du khách.
2.3. Lậpđồ tuy m và s n ph m du l ch ến điể
Nhóm thi t k m t s tuy m du l ch có ho ng hát Xế ế ến điể ạt độ m và đưa vào một s
sn ph m du l u, tr ịch đặc thù như: đàn bầ ng x m, áo dài, nón lá, hoa sen, vòng tai
hoa,..., và các s n ph ẩm lưu niệm như:Album nhạc, sách v hát Xm; qu t, áo thun, ng
đựng bút, h ng ghi chú,... vộp đự i các ha tiết liê n hát Xn quan đế m. Có rt nhi a ều đị
điểm trong thành ph cũng như các câu lạc b, nhóm hát Xm mang nhi u màu s c
riêng, đa dang. Tuy nhiên, do thời lượng tiu lun có hn nên chúng tôi ch t s đưa mộ
18
tuyến tour đặc trưng. Chương trình biu din hát Xm trong các tuy u ph i ến tour đề
gii thi u trình t chương trình, ý nghĩa lời thơ đến du khách.
2.3.1. Tour n a ngày tr i nghi m hát x m trên ph i 36 ph đi bộ Nộ
phường”
Gii thi u:
K t t i 31.3.2006, ph đi bộ ch đêm Hàng Đào - Đồng Xuân (Hà N i) vào m i
ti th b y l i có thêm m m - "Hà N i 36 ph ng", ột chương trình độc đáo: hát xẩ phườ
thu hút r t nhi u du khách d ng chân l c bi c ắng nghe, đặ ệt các du khách người nướ
ngoài. Hát x m m t th lo i k khan xu t hi n Hà N i vào nh i th k ững năm cu ế
19, đ ững làn điệ ẩm tàu điện…u thế k 20 vi nh u: xm ch, xm thp âm, x
Thông thườ đi bộng, các bui biu din hát xm trên Ph "Hà Ni 36 ph phường"
th được t ch c vào bu i t i, khi mà không gian tr nên sôi động hơn với ánh đèn
và ho ng nhi phía cạt độ ều hơn từ du khách và người dân địa phương. Thi gian c th
ca các bu i bi u di n có th thay đổi tùy thuc vào l ch trình s s p x p c a các t ế
chc ho c nhóm ngh sĩ.
Thời lượng c a các bu i bi u di n hát x m trên Ph đi bộ "Hà N i 36 ph ng" phườ
th i tùy thu c vào t ng s ki n c th cách t ch c c a các nhà s n xu t thay đổ
hoc nhóm ngh ng, m sĩ. Thông thườ i bui bi u din s kéo dài t n 1 gi , 30 phút đế
nhưng cũng có th ắn n hoặc dài hơn tùy thuộ vào chương các bui biu din ng c
trình c th và s s p x p c a các ngh ch c. ế sĩ và tổ
Bên c nh ti t m ế c c a các ngh sĩ đã thành danh, màn trình diễn ca các b n tr đến
t Trung tâm tri n m ngh thu t âm nh ạc VN cũng được đón nhận nng nhi t. T ại đây,
các ngh nhân tr bi u di n các lo i hình âm nh c dân t m, quan h , hát ộc như hát x
văn, hát trống quân, chơi đàn nhị, sáo, đàn tỳ bà, đàn T’rưng, đàn P’rông... V i mc
đích thu hút người dân đế ới văn hóa dân gian, đây mộn v t trong nhng ho ng ạt độ
nhm b o t n âm nh c dân t c.
V vào xem trình di n x m "Hà N i 36 ph ng", thông tin v vi c này s phườ
ph thu m c th . M t s trình di n x m có th yêu c u vé và m t ộc vào nơi và thời điể
s không. Đối vi nh ng s ki n có tính ch ất thương mi hoc t ch c trong không gian
đặc bit, th s yêu cu giá c th. Tuy nhiên, nhiu ln các bui biu
din x m các khu v c các s ực dân hoặ ki ng th mi n phí ện văn hóa công cộ
hoc yêu cầu đóng góp tự nguyn.
Lch trình tour:
14:00: Lái xe đón khách tại Nhà th ln Ni (s 40 ph Nhà Chung - Hàng
Trng - Hoàn Ki m - Hà Nế i)
14:15 - 15:15: Quý khách di chuyển đến và tham quan địa điểm đầu tiên Bo tàng
Lch s Qu c gia. B o tàng L ch s Qu ng m ốc gia thườ c p du ửa hàng ngày để đón tiế
khách và ngườ và văn hóa c ệt Nam. Đối dân tham quan và hc hi v lch s a Vi i vi
19
du khách nước ngoài, thông thường h s phi mua vé vào c tham quan b o tàng, ửa đ
và giá vé thường được quy đị ởi cơ quan quảnh b n lý bo tàng.
15:30- 17:00: Quy khách tham quan và mua s m t i Tired City - Local Art & Gifts
(97 Hàng Gai, Hoàn Ki m, Hà N i). Tế ại đây, du khách có thể tìm thy mt lot các sn
phm ngh thu c s n xu t và thi t k b i các ngh ật quà lưu niệm đượ ế ế thương
hiệu địa phương như: các bức tranh, hình in, tác phm ngh thu c t o ra ật khác đượ
bi các ngh m: C a hàng có th cung c m sĩ địa phương. Quà lưu ni ấp các quà lưu niệ
độc đáo và đặc trưng củ ực, như áo thun in hình, khẩu trang, đồa khu v trang trí nhà c a,
nhi u s n ph m khác; S n ph m th công: Du khách th mua s m các s n ph m
th công độc đáo như gốm s gứ, đồ ỗ, đồ công khác đượ da, và các sn phm th c làm
bng tay b i các ngh m nhân địa phương. Bên cạnh đó còn sách văn phòng ph
địa phương; đồ handmade và vintage;....
17:15 - 18:30: Di chuy n dùng b a t i Ch Thăng Long (6b Nguyễn Thái
Hc). Ch Thăng Long một món ăn ni tiếng c a Vi t Nam, ngu n g c t
Nội, đặ ếm. Đây là một món ăn truyề ống và được bit là t qun Hoàn Ki n th c rt nhi u
người dân và du khách yêu thích. Món ch Thăng ững món ăn Long là mt trong nh
ni ti c khuy n khích thếng và đượ ế khi đến Hà Ni.
18:45 - 19:00: xe đưa đoàn du khách di chuy đi bộn ra ph Hoàn Kiếm - Hà Ni.
19:00 - 21:00: Du khách tr i nghi m t i ph đi bộ, ăn kem, giao lưu âm nhạc và
tham gia nghe hát Xẩm “ Hà Nội 36 ph phường”. Ngoài ra, du khách có thể tham quan
đượ c Tháp Rùa-H Hoàn Kiếm, C u Thê Húc - n Ng Đề ọc Sơn - Bút Tháp;...
21:15 - 21:30: Di chuy n và tr khách t i Nhà Th L n Hà N i. Chào t m bi t
chia tay quý khách.
Báo giá tour: 499.000 vnđ chưa VAT/ người ln.
CHƯƠNG 3: GII PHÁP NÂNG CAO HI U QU PHÁT TRI N NGH
THUT HÁT X M TRONG DU L CH HÀ N I
3.1. Hoạt động nâng cao thanh âm X m - s n ph m du l ịch văn hóa trong phát
trin du lch Hà Ni
Xm trong quá kh ng phát tri nh n m đã t ển đỉ cao đế ức, đi đâu người ta cũng có
th nghe th u X m ngân nga. tấy vài ba điệ ch Đồng Xuân hay ghe qua B H , nông
thôn hay thành th , X u r ẩm đề ất được ưa thích. Giá trị nhân văn, thẩ m m giáo dc
trong từng làn điệu làm X m b ng sáng tr thành lo i hình ngh thu ật dân gian độc đáo.
Cùng vi s ra đờ ủa tàu điệi c n, lo i hình này ngày càng tr nên th nh hành và tr thành
“đc s t kinh k . ản” của đấ
Đến thi hiện đạ ẩm tưởi, X ng ch ng không k ịpthích ứng”, khi các nghệ sĩ kỳ cu
dn khu t i, cùng v i s hóa nhanh chóng, các hình th c gi i trí m đô thị ới ra đời
khiến X m d n tr nên xa l v i th h ế trẻ. Nhưng không! Dù có lúcởng như đối m t
vi s mai m t, X m v n ch ứng minh đượ ống kiên cườc sc s ng và giá tr văn hóa bn
20
vng c a mình. Nh i yêu X m N i hình âm nh ững ngườ ội đã đưa lo ạc này “sống”
gần hơn vớ đô nói riêng và cải nhân dân Th nước nói chung.
3.1.1. T ch c Câu l c b , Khóa h o X m ọc đào tạ
Nhóm X m thành thành l ập m 2009, bở hát xẩi ngh m Mai Tuyết Hoa
ngườ i hc trò xut sc ca ngh nhân Th Cu nhà nghiên c u lun âm nhc
Nguyn Quang Long. Nhóm ho ng v i m l X m sạt độ ục đích "Nỗ ực để ống trong đời
sống đương đại", đã làm sng l i nhi u bài X m truy n th ống, cũng như phục d ng dòng
Xm Hà N c bi t Xội, đặ ẩm tàu điện. H chú trng vào vi c k t h p X m v ế i yếu t
đương đại, như trong “Xẩm trà đá” (phản ánh v xã h i hiấn đề ện đại) và “Xẩm b n mùa
hoa Hà N i ca v i). ội” (ngợ đẹp văn hóa Hà N
Lần đầu tiên mt khóa hc nâng cao v hát Xm dành cho các câu lc b, nhóm,
các cá nhân, góp ph n gìn gi và lan t a lo i hình ngh thu c t ch c. Khóa ật này đượ
hc có s tham gia c a g n 40 h c viên thu c các l a tu ổi khác nhau đến t gn 20 Câu
lc b , nhóm X m trên toàn qu ốc. Khóa Đào tạo hát X m nâng cao v ừa được khai gi ng
sáng 18/8 t i H ội trường Nhà khách Qu c h i (27A Tr ần Hưng Đạo, Hà N i). Khóa h c
do Trung tâm Nghiên c u B o t n phát huy âm nh c dân t c và Qu Thi n Tâm t
chc, di n ra trong 4 ngày, k t thúc vào ngày 21/8/2022. ế
Hình 1. NSND Xuân Ho ch phát bi u t i L khai gi ng khóa đào
to hát X m ng cao.
Ảnh: Thư Hoàng
Tham gia đào tạo trong khóa h c nh ng ngh u âm nh c hàng sĩ, nhà nghiên cứ
đầu g n li n vi ngh thu t ca hát dân gian và hát X ẩm như NSND Xuân Hoạch, NSND

Preview text:


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HC KHOA HC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO GIỮA KÌ MÔN VĂN HÓA DU LỊCH
Đề tài: Nghiên cu ngh thut hát Xm phc v phát trin
du lịch trên địa bàn Thành ph Hà Ni Giảng viên hướng dẫn : Ths. Nguyễn Hoàng Phương Nhóm thực hiện : Nhóm 5 Lớp học phần : Văn hóa Du lịch TOU1150 Hà Ni, 2023 1
LI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm 5 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
giảng viên Nguyễn Hoàng Phương trong suốt kì học vừa qua đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức quý báu và nhiệt tình hướng dẫn sinh viên trong kì học qua.
Nhờ vào những lời nhận xét và chỉ bảo của thầy, chúng em đã lĩnh hội được nhiều bài
học và những kiến thức cần thiết làm cơ sở để em thực hiện tốt cho bài tiểu luận của mình.
Tiếp đến, chúng em xin gửi lời tri ân tới các thầy cô trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Thầy cô đã tạo cho chúng em một
môi trường học tập tốt, những người đã cùng góp sức truyền đạt kiến thức để giúp em có nền tảng tốt hơn.
Nhóm chúng em cũng nhận thức được rằng với kinh nghiệm và vốn kiến thức còn
hạn hẹp của các cá nhân, sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và sai phạm. Kính
mong quý thầy cô thông cảm và góp ý để em ngày càng hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Người thc hin 2 MC LC
L
I CẢM ƠN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2.Tình hình nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
3. Đối tượng nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
4. Câu hỏi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
5. Mục tiêu nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
6. Phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
7. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
8. Bố cục của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUN CHUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.1. Du lịch, sản phẩm và tài nguyên du lịch. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.2. Khái quát về Hát xẩm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.1. Sơ lược về Hát xẩm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.2. Các nghệ nhân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.2.3. Các làn điệu, đặc điểm và nhạc cụ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.2.4. Nội dung ca từ trong hát xẩm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRNG HÁT XM VÀ DU LCH HÁT XẨM ĐƯƠNG
ĐẠI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.1. Thực trạng hoạt động biểu diễn Hát xẩm hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2. Đánh giá khả năng khai thác du lịch của tài nguyên - di sản hát Xẩm: . . . 16
2.3. Lập sơ đồ tuyến điểm và sản phẩm du lịch . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.3.1. Tour nửa ngày trải nghiệm hát xẩm trên phố đi bộ “ Hà Nội 36 phố
phường” . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIU QU PHÁT TRIN NGH
THUT HÁT XM TRONG DU LCH HÀ NI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.1. Hoạt động nâng cao thanh âm Xẩm - sản phẩm du lịch văn hóa trong phát
triển du lịch Hà Nội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.1.1. Tổ chức Câu lạc bộ, Khóa học đào tạo Xẩm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
3.1.2. Tổ chức các chương trình biểu diễn Xẩm thời đại số hóa . . . . . . . . . . 22 3
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống
hát Xẩm trong phát triển du lịch Hà Nội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.1. Đề xuất với các cấp quản lý . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.2. Đào tạo cho những người đam mê với Xẩm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
3.2.3. Xây dựng các chương trình biểu diễn phù hợp . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27
3.2.3. Tuyên truyền quảng bá, gắn với phát triển du lịch . . . . . . . . . . . . . . . 27
PHN KT LUN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
TÀI LIU THAM KHO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30 4
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trong đó ngành du lịch đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Du lịch đã được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn
trong phát triển kinh tế của đất nước và đang
hội nhập với khu vực và trên thế giới. Du lịch không chỉ đem lại nguồn thu nhập
lớn cho nền kinh tế, tạo nhiều việc làm, phát triển các ngành dịch vụ khác, nâng cao cơ
sở hạ tầng mà còn là phương tiện thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hóa và tạo ra những
giá trị vô hình nhưng bền chặt.
Nhờ những đóng góp to lớn về mặt kinh tế, xã hội du lịch đã trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, du lịch bao gồm rất nhiều hình thức đa dạng và phong phú như du lịch
văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, ...Đối với các
nước đang phát triển, cần đẩy mạnh việc phát triển ngành nghề du lịch để thu hút nhiều
khách du lịch trong và ngoài nước. Việc khai thác các giá trị văn hóa phục vụ phát triển
du lịch đem lại sự phát triển lớn mạnh.
Nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội được coi là cái nôi văn hoá của cả nước
nơi tập trung nhiều giá trị văn hoá gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần có sức
thu hút lôi cuốn ngày càng nhiều khách du lịch.
Những năm qua, du lịch Hà Nội đã tập trung khai thác các loại hình du lịch văn hóa
phi vật thể, trong đó tập trung vào các lễ hội truyền thống, phát triển du lịch làng nghề
và đặc biệt hơn nữa là khai thác các giá trị nghệ thuật biểu diễn truyền thống như múa
rối nước, chèo, ca trù hay các giá trị văn hóa dân gian. Các loại hình nghệ thuật biểu
diễn truyền thống được tạo dựng trên nền tảng văn hóa dân tộc với bề dày hàng mấy nghìn năm.
Trong đó, có sự chắt lọc, tạo nên nét tinh túy của nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Chính vì vậy, việc khai thác đầy đủ và hợp lý các giá trị văn hóa phi vật thể với các loại
hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống sẽ góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển
tương xứng với tiềm năng sẵn có, đồng thời bảo tồn, duy trì và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.
Bên cạnh các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống như múa rối nước, ca trù,
chèo, chầu văn,... Hà Nội còn có một loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống gần
gũi với người dân đó là nghệ thuật hát Xẩm.
Xẩm có thể nói là loại hình âm nhạc kể chuyện bám sát văn học dân gian, nội dung
đề cập đến những vấn đề của đời sống nhất so với các loại hình âm nhạc dân gian khác
như ca trù, chầu văn, chèo. . Phần lớn phần lời của các bài xẩm là do các nghệ sĩ xẩm tự
chế, là những tự sự về thân phận của mình, nỗi khổ của những người nghèo khó, cảnh
đời ngang trái. Hay có những chuyện vui nhẹ nhàng, hóm hỉnh, mang tính chất châm
biếm các thói hư tật xấu, lên án những hủ tục, tố cáo tội ác của kẻ áp bức, thống trị. Có
thể coi những người hát Xẩm là những người kể chuyện rất tài ba.
Tuy nhiên, nghệ thuật hát Xẩm chưa được khai thác triệt để trong du lịch tại Hà Nội
và đang có sự mai một theo thời gian. Cần phải có biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển 5
những giá trị đặc sắc của nghệ thuật hát Xẩm, thông qua du lịch quảng bá những giá trị
văn hoá mà nghệ thuật hát Xẩm đem lại vừa để phát triển du lịch văn hoá.
Trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn, thấy rõ những giá trị quý báu và tiềm năng phát triển
du lịch từ nghệ thuật hát Xẩm, được sự giúp đỡ và góp ý của giảng viên , chúng tôi xin
đưa ra đề tài: "Nghiên cứu và báo cáo về nghệ thuật hát Xẩm trong du lịch Hà Nội" làm
đề tài nghiên cứu của nhóm.
2.Tình hình nghiên cu
Xưa nay đã có nhiều nhà nghiên cứu có các bài viết nghiên cứu về hát Xẩm nói
chung, về ca từ, làn điệu Xẩm nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
sâu sắc về hát Xẩm mà chỉ đề cập sơ qua, còn chủ yếu là nghiên cứu về các làn điệu
Xẩm. Tiêu biểu như các tác giả: nhạc sĩ Thao Giang, tác giả Khương Văn Cường (nghệ
thuật hát Xẩm, xb.2009), tác giả Bùi Trọng Hiền (Hát Xẩm, 1000 năm m nhạc Thăng
Long - Hà Nội, quyển II nhạc cổ truyền, Nxb m nhạc, 2010), Trần Việt Ngữ ( Hát Xẩm,
Nxb m nhạc Hà Nội, 2002), Bùi Đình Thảo (hát Xẩm, Sở VHTT Ninh Bình, NB.1995),
là những nghệ sĩ, tác giả đã dành nhiều tâm huyết với loại hình nghệ thuật này.
Hay một số các bài báo viết đăng trên các báo và tạp chí như : Hát Xẩm - "Nghệ
thuật của cội nguồn dân gian" (Phương Lan, baomoi.com), "Nghệ thuật hát Xẩm"
(Thanh Ngoan, 2009, 12/3/2013), "Nghệ thuật hát Xẩm - di sản văn hóa Ninh Bình"
(Trần Hữu Bình, ninhbinh. gov. vn, 12/6/2012). . và bài viết "Một số tương đồng và dị
biệt giữa hát Xẩm và âm nhạc nhân thanh truyền thống Huế" (tạp chí sáng tác phê bình
nghiên cứu văn học nghệ thuật - văn hóa, 27/08/2012), đặc biệt là sự ra mắt của album
hát Xẩm mang phong cách Hà Nội chào đón đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà
Nội của 3 NSƯT Thanh Ngoan, Mai Tuyết Hoa và nhạc sĩ Nguyễn Quang Long.Trong
đó đáng chú ý nhất là hai công trình "Hát Xẩm, 1000 năm m nhạc Thăng Long - Hà
Nội" (Nxb m nhạc, 2002) của tác giả Bùi Trọng Hiền và tác phẩm "Hát Xẩm" (Nxb m
nhạc, 2002 ) của tác giả Trần Việt Ngữ. Ngoài ra còn có tác phẩm "Nghệ thuật hát Xẩm"
(Xb. 2009) của tác giả Khương Văn Cường.
Trong cuốn "Hát Xẩm, 1000 năm m nhạc Thăng Long - Hà Nội" tác giả Bùi Trọng
Hiền đã khái quát về lịch sử của hát Xẩm nói chung (từ lịch sử cho đến nội dung nghệ
thuật ca từ trong hát Xẩm). Ông cũng có sự tìm tòi nghiên cứu các loại nhạc khí độc đáo
được sử dụng trong loại hình nghệ thuật này.
Với tác phẩm "Hát Xẩm" của tác giả Trần Việt Ngữ. Ngoài việc giới thiệu khái quát
về hát Xẩm, tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu về những làn điệu Xẩm cổ, trong đó tác
giả có sưu tầm, trích dẫn rất nhiều lời của các bài hát Xẩm thuộc các làn điệu cổ theo
các điệu Xẩm Ba bậc, Huê tình, Phồn huê, Thập ân như: "Dạt nước cánh bèo" (trích bài
Xẩm theo điệu Hà Liễu - lời cổ),"Công cha nghĩa mẹ sinh thành" (bài hát Xẩm theo điệu
Thập ân - lời cổ ), "Nước chảy đôi dòng" (bài hát Xẩm theo điệu Huê tình trong Ca trù
- lời cổ ). .Ngoài còn một số nhạc sĩ rất nổi tiếng với nhiều lời nhận xét, đánh giá có giá
trị về hát Xẩm như nhạc sĩ Thao Giang, nhạc sĩ Quang Long... Trong đó, nghệ sĩ Quang
Long được biết đến với cái tên "Người của "thế giới" Xẩm Hà Nội". Mặc dù mới ngoài
30 tuổi nhưng nhạc sĩ Nguyễn Quang Long đã là một trong những nhà nghiên cứu, lý 6
luận âm nhạc trẻ được nhiều người biết đến.Nhiều bài viết về âm nhạc truyền thống của
anh mang thiên hướng lý luận, nghiên cứu đã được đăng tài trên tạp chí và được độc giả
đón nhận. Những năm gần đây, anh còn được biết tới là một trong những nghệ sĩ góp
công phục hồi nghệ thuật Xẩm và dòng Xẩm Hà Nội.
Một sự kiện đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây là sự ra mắt công chúng bộ
phim "Xẩm đỏ" - một bộ phim tài liệu tái dựng lại chân dung nghệ nhân Hà Thị Cầu
cùng những thăng trầm của nghệ thuật hát Xẩm trong dòng chảy cuộc sống đương đại
của Đạo diễn Lương Đình Dũng. Phim lấy bối cảnh quay tại Yên Mô (Ninh Bình) với
nhân vật chính là nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu cùng cây đàn nhị truân chuyên đã gắn
bó với bà hơn 60 năm. Câu chuyện kể về cuộc đời long đong của lão nghệ nhân được ví
là người hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ, là "báu vật sống" của loại hình di sản văn hoá
dân gian này, được kể lại bằng những câu hát Xẩm ngân lên theo từng nhịp Sênh, tiếng
Phách, xen lẫn đó là nỗi niềm trăn trở và luyến tiếc của người trong cuộc về một loại
hình nghệ thuật truyền thống đang dần bị mai một.
3. Đối tượng nghiên cu
Đối tượng nghiên cứu chính là nghệ thuật hát Xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội
4. Câu hi nghiên cu
- Thực trạng sinh hoạt và biểu diễn của nghệ thuật hát Xẩm hiện nay trên địa bàn
Hà Nội diễn ra như thế nào?
- Giải pháp khai thác và phát triển nghệ thuật hát Xẩm trong du lịch Hà Nội là gì?
5. Mc tiêu nghiên cu
- Làm rõ các đặc điểm và giá trị nghệ thuật của hát Xẩm
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng sinh hoạt và biểu diễn của nghệ thuật hát Xẩm
hiện nay trên địa bàn Hà Nội
- Đề xuất giải pháp khai thác và phát triển nghệ thuật hát Xẩm trong du lịch Hà Nội
6. Phm vi nghiên cu Về nội dung:
Nghiên cứu về khía cạnh giá trị văn hoá của nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát
Xẩm, bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật hát Xẩm
Nghiên cứu và phát triển những giá trị độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật hát Xẩm trong du lịch Hà Nội 7
Nghiên cứu những tác động qua lại giữa phát triển du lịch với phát triển, bảo tồn
giữ gìn nghệ thuật hát Xẩm tại Hà Nội. Về không gian:
Tập trung nghiên cứu trong phạm vi Hà Nội, trong đó chủ yếu là trong khu vực nội
thành và các điểm du lịch, các điểm biểu diễn nghệ thuật hát Xẩm. Về thời gian:
Thời gian nghiên cứu của đề tài từ 27/01/2024 đến 04/04/2024
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu:
Tài liệu sơ cấp: Thu thập các tài liệu liên quan tới các nghệ thuật truyền thống của
Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về di sản, giá trị di sản hát Xẩm, văn hóa nghệ thuật
hát Xẩm, những vấn đề về CLB, giáo phường, quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản
và những biến đổi có liên quan…
Tài liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu đi trước, các chính sách, văn bản pháp luật có liên quan,…
Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu:
Sau khi thu thập các tài liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến luận án, sẽ thực hiện
phương pháp tổng hợp tài liệu, dữ liệu đã có, đặc biệt đối với các dữ liệu quan trọng,
liên quan trực tiếp đến luận án thì phải vừa tổng hợp vừa phân tích cho phù hợp.
Phương pháp khảo sát thực tế, quan sát tham dự:
Tập trung chủ yếu cho công tác khảo sát thực tế tại một số điểm biểu diễn hát Xẩm
nhằm phục vụ phát triển thu hút du khách trong phạm vi khu vực Hà Nội, trong đó tập
trung chuyên sâu ở các CLB, giáo phường hát Xẩm tại nội thành Hà Nội để có cái nhìn
tổng thể, có thế đưa ra được những đối chiếu, so sánh khách quan.
8. B cc của đề tài
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUN CHUNG
1.1. Du l
ch, sn phm và tài nguyên du lch.
Du lịch dưới góc nhìn luật pháp, chính sách: Theo Luật du lịch, 2017: “Du lịch là
các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng,
giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.”
Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), 2014: Du lịch là “một hiện tượng xã hội,
văn hóa và kinh tế kéo theo sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa điểm 8
bên ngoài môi trường thông thường của họ vì mục đích cá nhân, kinh doanh hoặc nghề nghiệp.”
Du lịch dưới góc nhìn đào tạo: Theo Giáo trình Nhập môn du lịch, 2022: “Du lịch
là hoạt động (xã hội, kinh tế, đào tạo và nghiên cứu) liên quan đến sự di chuyển và lưu
trú tạm thời của con người vào thời gian rảnh rỗi ở ngoài nơi ở thường xuyên của họ
nhằm mục đích nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.”
Du lịch dưới góc nhìn văn hóa: Du lịch có hai phương diện cung – cầu trong đó
dưới phương diện cầu, “Du lịch là những chuyến du hành của con người rời khỏi nơi cư
trú của mình tới những không gian khác trong thời gian nhất định, nhằm thưởng thức,
trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về tự nhiên và văn hóa, nhằm làm
phong phú thêm đời sống tâm hồn của mình.”. Dưới phương diện cung, “Du lịch là toàn
bộ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên tự nhiên và văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm
du lịch khác biệt và mới lạ, phục vụ các nhu cầu thưởng thức, trải nghiệm, khám phá
của du khách trong không gian, thời gian nhất định”.
Tóm lại, du lịch là hoạt động/hiện tượng liên quan đến việc di chuyển và khám phá
các sản phẩm tự nhiên/ văn hóa tại địa điểm nhất định. Các sản phẩm này được gọi là
sản phẩm du lịch, chúng có sự độc đáo, khác biệt so với nơi ở thường xuyên của du
khách. Sự độc đáo của sản phẩm du lịch ấy là do tài nguyên du lịch tạo thành. “Sản
phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa
mãn nhu cầu của khách du lịch.
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa
làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu
cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch văn hóa.”, trích Luật du lịch 2017.
Nhóm nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu một số cách phân loại và đặc điểm của tài
nguyên du lịch vì di sản Hát xẩm tại thời điểm nghiên cứu đang ở dạng tài nguyên/ tiềm
năng nhiều hơn sản phẩm du lịch. Gần như không có sản phẩm/ dịch vụ du lịch trên cơ
sở khai thác tài nguyên này. Ngoài khái niệm và cách phân loại tài nguyên du lịch như
Luật du lịch 2017, Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long (2007): “Tài nguyên du lịch là
tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức
hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch, mang lại
hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”. Các tác giả phân loại tài nguyên du lịch
thành hai loại: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Trong đó tài nguyên nhân
văn có một số đặc điểm chung của tài nguyên du lịch như:
a. Là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế xã hội b. Mang tính biến đổi
c. Hiệu quả khai thác phụ thuộc vào nhiều yếu tố
d. Phong phú, đa dạng, có nhiều giá trị, có sức hấp dẫn với du khách;
e. Có thể tái tạo được 9 f. Có tính sở hữu chung
g. Tính diễn giải và cảm nhận (ngoài giá trị tự thân của tài nguyên thì để khai thác
tốt còn phụ thuộc vào chất lượng hướng dẫn viên và sự ưa thích của khách du lịch). Đây
là một đặc điểm quan trọng để đưa ra các khuyến nghị, đề xuất trong khai thác hát xẩm cho du lịch.
h. Gắn chặt với vị trí địa lý, hình thành các sản phẩm du lịch là sản phẩm tiêu thụ
tại chỗ. Tuy nhiên đối với loại hình nghệ thuật âm nhạc như Hát xẩm thì đặc điểm này
không quá khắt khe, có thể thực hiện lưu diễn nếu đạt mức phát triển về cung/cầu nhất định.
Bên cạnh đó tài nguyên nhân văn cũng có các đặc điểm riêng:
a. Chịu tác động rất lớn của con người (ví dụ các di sản văn hoá phi vật thể mai một
khi cộng đồng sở hữu không còn nhu cầu thực hành, sinh hoạt nữa). Do vậy, quá trình
khai thác, sử dụng tài nguyên nhân văn phi vật thể cho du lịch cần đi đôi với bảo vệ,
phát triển tài nguyên trong cộng đồng và tôn trọng ý kiến cộng đồng. b. Tính phổ biến
c. Tính độc đáo, bản sắc riêng. Đặc điểm này và đặc điểm trên không đối lập nhau.
Tính phổ biến ở đây hàm nghĩa các tài nguyên du lịch nhân văn là dạng tài nguyên quốc
gia nào cũng có (ẩm thực, lễ hội, âm nhạc truyền thống v.v) tuy nhiên ở mỗi quốc gia
đều có bản sắc riêng và cần chú trọng khai thác cái riêng để phát triển.
d. Ít tính mùa vụ hơn tài nguyên du lịch tự nhiên.
1.2. Khái quát v Hát xm
1.2.1.
Sơ lược v Hát xm
Hát Xẩm được coi là loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam ra đời từ rất lâu
và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia cần được bảo
tồn. Hát Xẩm là một dòng dân ca của nước ta phát triển mạnh và phổ biến tại đồng bằng
Bắc Bộ và trung du miền núi phía Bắc. Ban đầu hát xẩm là một hình thức mưu sinh của
những người dân nghèo khổ tại các chợ, đường phố và nơi đông người qua lại. “Xẩm”
ở đây dùng để chỉ người biểu diễn.
Theo quan niệm dân gian thì hát Xẩm gắn liền với những nghệ sĩ khiếm thị nghèo
khổ, phải rong ruổi khắp nơi, nay đây mai đó không có nhà cửa, sử dụng cây đàn và
tiếng hát của mình để mưu sinh.
Hát Xẩm trong tiếng anh được gọi là songs of a strol ing blind musician tức là bài
hát dạo của một nhạc sĩ mù. Nhưng cái trên này không còn đúng 100% cho đến ngày
nay vì dòng nghệ thuật này được truyền dạy và giữ gìn với các nghệ sĩ không bị khiếm
thị. Một từ khác trong tiếng anh để chỉ được loại hình nghệ thuật này mà vẫn giữ được
nét đẹp và văn hoá của nó, đó là Xam singing.
Truyền thuyết kể rằng vào đời vua Trần Thánh Tông có hai người con trai là Trần
Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh, vì muốn tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Toán đã 10
hãm hại Trần Quốc Đĩnh khiến ông Đĩnh bị mù loà, bỏ lại giữa rừng sâu. Vì buồn đau
mà ông chỉ biết than khóc đến thiếp đi và trong mơ đã được bụt chỉ cho cách làm ra cây
đàn từ dây thừng và que nửa. Tỉnh dậy ông làm theo và thật lạ kỳ khi chiếc đàn ấy có
thể phát ra âm thanh thần kỳ khiến chim muông mang đến hoa quả cho ông ăn. Về sau
thì Trần Quốc Đĩnh đi dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị, dù ông được
cha đưa về cung nhưng vẫn không quên truyền dạy lại cho người đời. Ông cũng được
coi là ông tổ của nghề hát Xẩm.
Tuy nhiên đây chỉ là tích truyện vì theo sử sách ghi thì hoàn toàn không có hai hoàng
tử tên như vậy. Theo nghiên cứu trên các tài liệu thì hát Xẩm ra đời vào khoảng thế kỷ
14 – 15 (những năm 1500 – 1600), ban đầu chúng được gọi coi là hát rong, hát dạo của
người nghèo, người mù.
Xẩm là một món ăn tinh thần của rất nhiều người trong quá khứ, nó không chỉ phục
vụ riêng cho một nhóm người nào, biểu diễn cũng rất linh hoạt ở bất cứ nơi đâu và hơn
cả, là cốt cách những người nghệ sĩ: không ủ vào tật nguyền để xin bố thí mà lo trau dồi
lời ca tiếng hát của mình để kiếm sống.
Xẩm trở thành một mắt xích vô cùng quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động
chống Pháp, chống Mỹ trong cuộc kháng chiến của Việt Nam. Nó đã dùng chính sự thân
thuộc với người dân của mình để gửi gắm ý chí, đề cao khát vọng dân tộc. Sau cách
mạng tháng Tám, hát Xẩm tiếp tục được chính quyền sử dụng trong tuyên truyền phong trào bình dân học vụ.
1.2.2. Các ngh nhân
Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu
Hà Thị Cầu được coi là một trong những người giữ và phát triển truyền thống hát
Xẩm. Bà đã góp phần lớn vào việc lưu giữ và phát triển nghệ thuật hát Xẩm ở thế kỷ
XX. Bà đã truyền dạy nhiều thế hệ nghệ nhân Xẩm và cũng đã biểu diễn tại nhiều sự
kiện lớn trên khắp cả nước.
Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan
NSND Thanh Ngoan là một trong những gương mặt nổi tiếng tại nhiều quốc gia
trên thế giới trong lĩnh vực hát Xẩm với tác phẩm “Sướng khổ vì chồng” và câu xẩm
Thập ân. Những câu Xẩm chan chứa cảm xúc nỗi niềm không chỉ nhận được lời khen
từ nhiều khán giả trong nước mà còn được yêu thích bởi nhiều khán giả nước ngoài tại châu Âu, châu Mỹ.
Nghệ sĩ nhân dân Mai Thuỷ
NSND Mai Thuỷ vốn được biết tới là một trong những nghệ sĩ chèo trụ cột của nhà
hát chèo Ninh Bình nhưng cô cũng là người đưa hát Xẩm phát triển trong giai đoạn mới,
khi mà những nghệ nhân cũ dần vắng bóng.
1.2.3. Các làn điệu, đặc điểm và nhc c 11 Điệu Xẩm Chợ
Những nơi góc chợ gắn liền với không gian biểu diễn của Xẩm, với những bản Xẩm
Chợ đơn giản, ngắn gọn, đậm chất kể chuyện và mang tính giải trí, nhằm thu hút sự chú
ý của khán giả. Tuy nhiên, trong những bài Xẩm Chợ này cũng đôi khi chứa đựng những
khoảnh khắc sâu sắc và lắng đọng. Điệu Thập ân
Xẩm Thập ân là một bài hát tôn vinh công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha từ
khi con còn nhỏ đến khi trưởng thành, được thể hiện bằng tiếng ca trữ tình, cảm động
của hát Xẩm. Bài hát không chỉ gợi nhớ lại những đóng góp của cha mẹ mà còn tượng
trưng cho một tấm gương hiếu thảo. Điệu Phồn Huê
Nghệ nhân hát Xẩm thông qua làn điệu Xẩm Phồn Huê truyền tải một thông điệp
đồng cảm sâu sắc tới những người phụ nữ trong thời kỳ phong kiến. Ca từ của bài hát
Xẩm Phồn Huê thể hiện nỗi đau khổ, khó khăn của phụ nữ thời đó và đồng thời bóng
gió châm biếm, chỉ trích thái độ xấu của chồng, gia đình và xã hội. Điệu Riềm Huê
Xẩm Riềm Huê, hay còn được biết đến với tên gọi Xẩm Huê Tình, có giai điệu vui
tươi, phấn khởi, cùng với âm nhạc của trống cơm đặc trưng, đã giúp các nghệ nhân xẩm
truyền tải rất nhiều nội dung đa dạng: từ tình yêu đôi lứa đến sự châm biếm những thói
hư tật xấu, cảm thông cho số phận bạc đàn của phụ nữ. Điệu Chênh Bong
Làn điệu Chênh bông có đặc trưng của tình yêu trữ tình, duyên dáng nhưng cũng
đầy niềm vui, sự nhiệt huyết của các cặp đôi trẻ tuổi muốn trao đổi những lời ngọt ngào với nhau. Điệu Hò bốn mùa
Điệu Hò bốn mùa, hay còn gọi là Hò Khoan, được biểu diễn bởi tập thể vì nó thường
được sử dụng trong công việc làm nông. Tại Hà Nội và các thành phố khác, các nghệ
nhân thường biến tấu điệu này để phù hợp với môi trường sống địa phương. Điệu Chênh Bong
Làn điệu Chênh bông có đặc trưng của tình yêu trữ tình, duyên dáng nhưng cũng
đầy niềm vui, sự nhiệt huyết của các cặp đôi trẻ tuổi muốn trao đổi những lời ngọt ngào với nhau. Điệu Hò bốn mùa
Điệu Hò bốn mùa, hay còn gọi là Hò Khoan, được biểu diễn bởi tập thể vì nó thường
được sử dụng trong công việc làm nông. Tại Hà Nội và các thành phố khác, các nghệ
nhân thường biến tấu điệu này để phù hợp với môi trường sống địa phương. Điệu Ba bậc 12
Điệu Ba bậc là một điệu Xẩm độc đáo của nghệ thuật Hát Xẩm, thiên về tính tự sự
và tình yêu đôi lứa. Điệu này thường thể hiện tâm trạng của một chàng trai tương tư một
cô gái. Xẩm Ba Bậc cũng được khai thác trong các thể loại khác như Xẩm Nhà Tơ, Xẩm
Nhà Trò và Xẩm Cô Đầu, thường mang tính bác học và dành cho đối tượng tri thức. Xẩm Hà Liễu
Xẩm Hà Liễu, còn được gọi là Nữ Oán hoặc Nhân Tư, mang tính chất than thở về
nỗi khổ đau và nỗi oán trách của con người. Điệu này có nhịp điệu chậm rãi và da diết,
và thường bao gồm những đoạn hát ngắn tuy nhiên bài hát lại có thể kéo dài đến 10 khổ
lời. Một bài tiêu biểu cho Xẩm Hà Liễu là bài “Dạt Nước Cánh Bèo” của cố nghệ nhân. Xẩm tàu điện
Xẩm tàu điện là loại Xẩm xuất hiện vào đầu thế kỉ XX trong môi trường đô thị Hà
Nội, khi những chuyến tàu điện đã trở thành một ‘sân khấu’ cho những nghệ sĩ Xẩm
biểu diễn bằng cách đi qua các toa tàu.
Đặc điểm của hát Xẩm.
 Hát Xẩm gắn liền với các hình ảnh của những người dân nghèo khổ, người khiếm
thị ôm cây đàn hát để đổi lấy chút tiền gạo.
 Nội dung của các bài Xẩm thường phản ánh hiện thực xã hội qua trong từng thời kỳ cụ thể.
 Để có thể biểu diễn được một bài Xẩm đòi hỏi nghệ nhân phải thành thục chơi
nhạc cụ, vừa hát vừa chơi nhạc sao cho ăn khớp và hoà quyện với nhau nhất.
 Hát Xẩm yêu cầu cao về biểu đạt cảm xúc, nghệ nhân phải bộc lộ rõ được tâm
tư, tình cảm của mình (nhân vật) trong từng lời ca, tiếng hát và cách chơi nhạc cụ.
 Xẩm thường mang yếu tố thơ ca với nhiều bài thơ được diễn ca như thơ của
Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính.
 Nghệ thuật hát Xẩm được liệt vào trung ca tức những bài hát nhạc về trung hiếu lễ nghĩa. Nhạc cụ
Ban đầu biểu diễn hát Xẩm chỉ sử dụng duy nhất một chiếc đàn nhị để độc tấu, nghệ
nhân sẽ vừa đánh đàn và vừa hát. Tuy nhiên theo thời gian cũng như yêu cầu về số lượng
nghệ sĩ biểu diễn cùng lúc, nhạc cụ sử dụng trong Xẩm cũng được phát triển phong phú
hơn bao gồm.Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và Sênh tiền, nhóm
hát Xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Ngoài ra, đàn
đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát Xẩm.
 Đàn nhị: Ban đầu biểu diễn hát Xẩm chỉ sử dụng duy nhất một chiếc đàn nhị để
độc tấu, nghệ nhân sẽ vừa đánh đàn và vừa hát. Đây là một nhạc cụ quan trọng,
đóng vai trò chủ đạo không thể thiếu trong nghệ thuật hát Xẩm – là linh hồn của một bài Xẩm.
 Sênh: Sênh dùng đệm nhịp cho hát Xẩm có thể là sênh sứa hoặc sênh tiền. 13
1.2.4. Ni dung ca t trong hát xm
Nội dung của các bài hát Xẩm rất đa dạng, với khoảng 400 bài hát và hầu hết trong
số đó được lưu giữ thông qua việc truyền miệng, không có tên tác giả cụ thể. Những bài
hát này đã phần nào thể hiện được tâm tư, khát vọng của tầng lớp lao động, nông dân và
thị dân trong quá khứ, đồng thời cũng phản ánh suy nghĩ của nhân dân đối với xã hội
trong thời kỳ biến động.
Người hát Xẩm sử dụng giọng hát, tiếng đàn và lời ca để lên án, phản đối những bất
công, cường quyền, áp bức và thói hư tật xấu của xã hội. Sự truyền tải thông điệp này
đôi khi còn được thể hiện qua những tiếng hát cảm động về số phận và cuộc sống của
họ, đặc biệt từ cái nhìn của tầng lớp nghèo hoặc người phụ nữ.
Tính nhân văn và lạc quan của hát Xẩm vẫn được thể hiện rõ qua cách cảm thông
và bênh vực cho những khó khăn, đau đớn của tầng lớp nghèo và niềm tin vào cuộc sống
con người, những ước mơ lãng mạn bay xa.
Ngoài ra, các bài hát Xẩm còn có nội dung khích lệ tinh thần yêu nước, đồng lòng
với Đảng trong những thời điểm đất nước đang trải qua những thử thách và khó khăn.
Tuy nhiên, lời ca trong những bài Xẩm vẫn giữ mối liên hệ sâu sắc và cần thiết với
các tục ngữ, dân dao, dân ca, và dân nhạc của các vùng châu thổ sống Hồng, bao gồm
vùng trung châu và đồng bằng phía Bắc, do đó chúng thường mang đặc trưng của văn hoá dân gian.
CHƯƠNG 2: THỰC TRNG HÁT XM VÀ DU LCH HÁT XẨM ĐƯƠNG ĐẠI
2.1. Thc trng hoạt động biu din Hát xm hin nay
Từng có giai đoạn phát triển cực thịnh, song cũng như nhiều loại hình âm nhạc dân
tộc khác, hát Xẩm đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi đất nước bước
vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ðời sống kinh
tế đi lên, môi trường diễn xướng dân gian truyền thống ngày càng bị thu hẹp, cùng với
đó là sự cạnh tranh của các loại hình nghệ thuật hiện đại kéo theo xu hướng thị hiếu của
công chúng thay đổi khiến số người theo đuổi, sống bằng hát Xẩm ngày càng ít. Năm
2013, khi Nghệ sĩ Ưu tú Hà Thị Cầu (vợ út của cụ Chánh Trương Mậu, trùm Xẩm đất
Ninh Bình), người được mệnh danh là "báu vật nhân văn sống", "người giữ hồn Xẩm"
qua đời, thì đội ngũ nghệ nhân hát Xẩm càng khan hiếm. Việc truyền dạy hát Xẩm lâu
nay chủ yếu là truyền khẩu nên khâu tư liệu hóa cũng hạn chế. Những điều này khiến
hát Xẩm phải đối mặt nguy cơ thất truyền. Thời gian gần đây, trước xu hướng tìm về
với các giá trị văn hóa truyền thống, hát Xẩm dần được phục hồi hoạt động thông qua
sự thành lập của các chiếu Xẩm, câu lạc bộ Xẩm. Xẩm trở thành chất liệu sáng tác của
một số tác phẩm âm nhạc hiện đại và được "sân khấu hóa" trong một số chương trình biểu diễn.
Hiện nay, xẩm vẫn còn tồn tại và được duy trì tại một số địa phương ở Việt Nam
như Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa. Tuy nhiên, hoạt động xẩm
đang gặp nhiều khó khăn do sự thay đổi của xã hội, sự lãng quên của giới trẻ và cả sự 14
cạnh tranh từ những hình thức giải trí khác. Nhiều nghệ nhân xẩm truyền thống đã già
đi và không có đủ người kế thừa, góp phần làm giảm sự phát triển của xẩm. Tuy nhiên,
vẫn có một số nghệ nhân trẻ đang nỗ lực tìm hiểu, học tập và phát huy truyền thống xẩm
để duy trì và phát triển hình thức nghệ thuật này. Ngoài ra, cũng có những nỗ lực của
các nhà hoạt động văn hóa, nhà nghiên cứu để tìm hiểu, bảo tồn và phát triển xẩm như
một di sản văn hóa của Việt Nam.
Sau bao thăng trầm và ít nhiều bị mai một, thất truyền, hát Xẩm đang dần được khôi
phục bởi những tấm lòng nhiệt huyết và đam mê với nghệ thuật truyền thống.
Các tỉnh phía Bắc thành lập nhiều câu lạc bộ, nhóm Xẩm như chiếu Xẩm Hà Thành,
chiếu Xẩm Hải Phòng, các Câu lạc bộ hát Xẩm tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc,
Thái Bình... đã tạo nên sức sống mới cho loại hình nghệ thuật hát Xẩm.
Nội dung các bài hát Xẩm đã phong phú hơn, ngoài ngợi ca tình yêu quê hương đất
nước, nghĩa mẹ, tình cha thì những vấn đề xã hội đã được đưa vào Xẩm để phù hợp với
cuộc sống đương đại.
Từ những nỗ lực của những nghệ sỹ nặng lòng với nghệ thuật dân gian như Thao
Giang, Văn Ty, Xuân Hoạch, Thúy Ngần, Thanh Bình, Mai Tuyết Hoa. . nghệ thuật hát
Xẩm dần được hồi sinh.
Từ một loại hình diễn xướng dân gian phổ biến nơi đông người qua lại như bến
sông, hè đường, góc chợ… và là phương tiện cho không ít người khiếm thị mưu sinh,
Xẩm đã lên sân khấu trong các chương trình nghệ thuật, phục vụ khách du lịch.
Sự chào đón nồng nhiệt của khán giả Thủ đô đối với Xẩm chưa bao giờ giảm kể từ
năm 2005 - khi nhạc sỹ Thao Giang lần đầu tiên thử nghiệm đưa Xẩm lên sân khấu tại
khu vực ngã năm Hàng Đào.
Năm 2006, một CD về Xẩm Hà Nội đã ra đời và một chiếu Xẩm hằng đêm vào tối
thứ bảy vẫn duy trì ở khu vực chợ đêm Đồng Xuân. Có những đêm diễn, hàng trăm người đứng xem.
Cũng ở đó, nhiều nhân sỹ, trí thức đã đến thưởng thức một không gian riêng của
Xẩm như Giáo sư Trần Văn Khê, Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong, nhà thơ Nguyễn
Duy… Và những đốm lửa đã được nhóm Xẩm Hà Thành và những người thầy miệt mài,
bền bỉ thắp lên như thế, để Xẩm đi vào đời sống và người dân Hà Nội bắt đầu biết về Xẩm.
Năm 2018, nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11, Chiếu Xẩm Hải Phòng và
Nhóm Đình làng Việt phối hợp với Ban Quản lý Di tích Phố cổ Hà Nội tổ chức chương
trình Tọa đàm và biểu diễn "Nghệ thuật hát Xẩm - Từ hè đường đến sân khấu."
Ngay trong chương trình biểu diễn vừa qua, khán giả không chỉ ngạc nhiên, vui
mừng được nghe những làn điệu tưởng như đã mai một do các nghệ nhân dân gian và
các nghệ sỹ hát Xẩm trình diễn trong một không gian sân khấu hoàn toàn khác lạ, mà
còn được gặp gỡ, giao lưu với các thế hệ tâm huyết lưu giữ, duy trì hát Xẩm.
Tiêu biểu là nghệ sỹ nhân dân Xuân Hoạch, người được xem là “trưởng lão” của
làng Xẩm Việt Nam đương đại với nhiều năm nghiên cứu, kế thừa và phát triển tinh hoa 15
của các thế hệ đi trước, đồng thời là người có công phục chế nhiều loại nhạc cụ dân tộc
như đàn bầu, đàn nhị, đàn đáy, đàn nguyệt
Bên cạnh đó, có nghệ nhân dân gian Lê Minh Sen đến từ Thanh Hóa, một “cây đa,
cây đề” trong làng Xẩm, từng ôm cây đàn nhị ra mặt trận trong những năm tháng chiến
tranh chống Mỹ, cứu nước, mang lời ca hóm hỉnh, tiếng cười sảng khoái động viên tinh
thần các chiến sỹ, thôi thúc ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân Thanh Hóa.
Đặc biệt là nghệ nhân dân gian Đào Bạch Linh, học trò của nghệ nhân Hà Thị Cầu,
một trong những nghệ nhân hát Xẩm ít ỏi của Việt Nam, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chiếu
Xẩm Hải Thành của Hải Phòng, một người trẻ luôn đau đáu với trách nhiệm phải gìn
giữ loại hình nghệ thuật truyền thống này.
Bà Nguyễn Thị Mận, con gái nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu, xúc động chia sẻ:
“Trải qua bao thăng trầm, tôi không ngờ có ngày những làn điệu Xẩm lại được vang lên
trên sân khấu, không còn ở hè đường như trước đây. Xẩm bây giờ được truyền dạy, biểu
diễn ở khắp nơi và nhận được sự yêu mến từ công chúng."
Tại Ninh Bình, sau nhiều nỗ lực, Liên hoan các Câu lạc bộ hát Xẩm khu vực miền
Bắc lần đầu tiên đã được tỉnh đăng cai tổ chức. Ninh Bình được coi là một trong những
cái nôi sản sinh ra bộ môn nghệ thuật hát Xẩm và là quê hương của cố nghệ nhân hát
Xẩm nổi tiếng Hà Thị Cầu – “báu vật nhân văn sống” quốc gia.
Hiện, Ninh Bình có nhiều câu lạc bộ hát Xẩm đang hoạt động, trong đó tập trung ở
huyện Yên Mô với sự tham gia học hát của nhiều người ở các lứa tuổi.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao tỉnh Ninh Bình, cho
biết tỉnh sẽ cùng các tỉnh khu vực phía Bắc chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ công nhận hát Xẩm là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Sau đó, ban tổ chức có kế hoạch xây dựng những điều kiện để làm hồ sơ đề nghị
UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Đây có thể coi là nguồn động lực lớn để những người nghệ nhân hát Xẩm và người
yêu loại hình âm nhạc dân tộc này tiếp tục cố gắng bảo tồn, phát triển và đào tạo, để
trong một ngày không xa nghệ thuật hát Xẩm sẽ được ghi nhận một cách đúng đắn, có
vị trí xứng đáng trong công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.
2.2. Đánh giá khả năng khai thác du lịch ca tài nguyên - di sn hát Xm:
Hát xẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch văn hóa ở Hà Nội.
Hát xẩm là một loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội.
Khi biểu diễn hát xẩm, nghệ sĩ có thể kể lại câu chuyện về lịch sử, văn hóa và đời sống
của người dân địa phương, giới thiệu đến du khách văn hóa đặc trưng của thành phố.
Tạo ra trải nghiệm độc đáo, mang lại trải nghiệm âm nhạc truyền thống và đặc sắc cho
du khách, thúc đẩy sự tương tác văn hóa. Ngoài ra, hát xẩm có thể trở thành một điểm
thu hút du lịch đặc biệt cho những người quan tâm đến nghệ thuật và văn hóa truyền
thống. Việc quảng bá hát xẩm thông qua các phương tiện truyền thông và sự kiện du 16
lịch sẽ thu hút sự chú ý của du khách và khuyến khích họ đến tham quan và trải nghiệm.
Việc đầu tư vào việc đào tạo nghệ sĩ hát xẩm trẻ và hỗ trợ các hoạt động nghệ thuật
truyền thống sẽ giữ cho nghệ thuật này sống mãi và phát triển trong tương lai. Hát xẩm
không chỉ là một nét đặc trưng của văn hóa Hà Nội mà còn là một nguồn lợi thế quan
trọng để phát triển du lịch văn hóa, đem lại lợi ích kinh tế và văn hóa cho thành phố và
cộng đồng địa phương.
Việc khai thác du lịch của tài nguyên di sản - hát Xẩm đòi hỏi sự kết hợp giữa bảo
tồn văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Quan trọng nhất là phải tôn trọng giá trị văn
hóa của hát Xẩm và đảm bảo rằng việc khai thác du lịch không gây ra hại cho nó. Hát
xẩm có thể được khai thác cho mục đích du lịch tại Hà Nội theo nhiều cách khác nhau:
Biểu diễn trực tiếp cho du khách: Các buổi biểu diễn hát xẩm có thể được tổ chức
tại các địa điểm du lịch quan trọng như khu phố cổ, các điểm tham quan lịch sử và văn
hóa, nhà hát, hoặc các quán cà phê truyền thống. Du khách có thể tham dự các buổi biểu
diễn này để trải nghiệm âm nhạc truyền thống và hiểu rõ hơn về nghệ thuật hát xẩm.
Hướng dẫn tham quan văn hóa: Các hướng dẫn viên du lịch có thể sử dụng hát xẩm
để giới thiệu văn hóa và lịch sử của Hà Nội cho du khách trong các tour tham quan. Họ
có thể diễn giải về ý nghĩa và lịch sử của các bài hát xẩm, cũng như giới thiệu về các
nghệ sĩ hát xẩm nổi tiếng và những địa điểm liên quan.
Trải nghiệm tham gia: Ngoài việc chỉ nghe và thưởng thức, du khách cũng có thể
tham gia vào các hoạt động liên quan đến hát xẩm như học cách hát xẩm, chơi các nhạc
cụ truyền thống, hoặc tham gia các buổi biểu diễn nhỏ.
Tạo ra các sản phẩm du lịch liên quan: Hát xẩm có thể trở thành một phần của các
sản phẩm du lịch như album nhạc, video truyền hình, hoặc sách về văn hóa Hà Nội. Các
sản phẩm này có thể được bán tại các cửa hàng lưu niệm hoặc trực tuyến để du khách
có thể mang về những kỷ niệm đặc biệt từ chuyến đi của mình.
Tổ chức sự kiện và festival: Hát xẩm có thể được tích hợp vào các sự kiện và festival
văn hóa để tạo ra những trải nghiệm đặc biệt cho du khách. Các buổi biểu diễn hát xẩm
có thể là một phần của chương trình nghệ thuật của các sự kiện này, thu hút sự quan tâm
của đông đảo du khách và người dân địa phương.
Như vậy, hát xẩm không chỉ là một phần quan trọng của văn hóa Hà Nội mà còn có
tiềm năng lớn để được khai thác trong ngành du lịch, đem lại lợi ích kinh tế và văn hóa
cho cả thành phố và du khách.
2.3. Lập sơ đồ tuyến điểm và sn phm du lch
Nhóm thiết kế một số tuyến điểm du lịch có hoạt động hát Xẩm và đưa vào một số
sản phẩm du lịch đặc thù như: đàn bầu, trống xẩm, áo dài, nón lá, hoa sen, vòng tai
hoa,. ., và các sản phẩm lưu niệm như:Album nhạc, sách vẽ hát Xẩm; quạt, áo thun, ống
đựng bút, hộp đựng ghi chú,. . với các họa tiết liên quan đến hát Xẩm. Có rất nhiều địa
điểm trong thành phố cũng như các câu lạc bộ, nhóm hát Xẩm mang nhiều màu sắc
riêng, đa dang. Tuy nhiên, do thời lượng tiểu luận có hạn nên chúng tôi chỉ đưa một số 17
tuyến tour đặc trưng. Chương trình biểu diễn hát Xẩm trong các tuyến tour đều phải có
giới thiệu trình tự chương trình, ý nghĩa lời thơ đến du khách.
2.3.1. Tour na ngày tri nghim hát xm trên ph đi bộ “ Hà Nội 36 ph phường” Giới thiệu:
Kể từ tối 31.3.2006, ở phố đi bộ chợ đêm Hàng Đào - Đồng Xuân (Hà Nội) vào mỗi
tối thứ bảy lại có thêm một chương trình độc đáo: hát xẩm - "Hà Nội 36 phố phường",
thu hút rất nhiều du khách dừng chân lắng nghe, đặc biệt là các du khách người nước
ngoài. Hát xẩm là một thể loại kể khan xuất hiện ở Hà Nội vào những năm cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20 với những làn điệu: xẩm chợ, xẩm thập âm, xẩm tàu điện…
Thông thường, các buổi biểu diễn hát xẩm trên Phố đi bộ "Hà Nội 36 phố phường"
có thể được tổ chức vào buổi tối, khi mà không gian trở nên sôi động hơn với ánh đèn
và hoạt động nhiều hơn từ phía cả du khách và người dân địa phương. Thời gian cụ thể
của các buổi biểu diễn có thể thay đổi tùy thuộc vào lịch trình và sự sắp xếp của các tổ
chức hoặc nhóm nghệ sĩ.
Thời lượng của các buổi biểu diễn hát xẩm trên Phố đi bộ "Hà Nội 36 phố phường"
có thể thay đổi tùy thuộc vào từng sự kiện cụ thể và cách tổ chức của các nhà sản xuất
hoặc nhóm nghệ sĩ. Thông thường, mỗi buổi biểu diễn sẽ kéo dài từ 30 phút đến 1 giờ,
nhưng cũng có thể có các buổi biểu diễn ngắn hơn hoặc dài hơn tùy thuộc vào chương
trình cụ thể và sự sắp xếp của các nghệ sĩ và tổ chức.
Bên cạnh tiết mục của các nghệ sĩ đã thành danh, màn trình diễn của các bạn trẻ đến
từ Trung tâm triển lãm nghệ thuật âm nhạc VN cũng được đón nhận nồng nhiệt. Tại đây,
các nghệ nhân trẻ biểu diễn các loại hình âm nhạc dân tộc như hát xẩm, quan họ, hát
văn, hát trống quân, chơi đàn nhị, sáo, đàn tỳ bà, đàn T’rưng, đàn P’rông... Với mục
đích thu hút người dân đến với văn hóa dân gian, đây là một trong những hoạt động
nhằm bảo tồn âm nhạc dân tộc.
Về vé vào xem trình diễn xẩm "Hà Nội 36 phố phường", thông tin về việc này sẽ
phụ thuộc vào nơi và thời điểm cụ thể. Một số trình diễn xẩm có thể yêu cầu vé và một
số không. Đối với những sự kiện có tính chất thương mại hoặc tổ chức trong không gian
đặc biệt, có thể sẽ có yêu cầu vé và giá vé cụ thể. Tuy nhiên, nhiều lần các buổi biểu
diễn xẩm ở các khu vực dân cư hoặc các sự kiện văn hóa công cộng có thể miễn phí
hoặc yêu cầu đóng góp tự nguyện. Lch trình tour:
14:00:
Lái xe đón khách tại Nhà thờ lớn Hà Nội (số 40 phố Nhà Chung - Hàng
Trống - Hoàn Kiếm - Hà Nội)
14:15 - 15:15: Quý khách di chuyển đến và tham quan địa điểm đầu tiên Bảo tàng
Lịch sử Quốc gia. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia thường mở cửa hàng ngày để đón tiếp du
khách và người dân tham quan và học hỏi về lịch sử và văn hóa của Việt Nam. Đối với 18
du khách nước ngoài, thông thường họ sẽ phải mua vé vào cửa để tham quan bảo tàng,
và giá vé thường được quy định bởi cơ quan quản lý bảo tàng.
15:30- 17:00: Quy khách tham quan và mua sắm tại Tired City - Local Art & Gifts
(97 Hàng Gai, Hoàn Kiếm, Hà Nội). Tại đây, du khách có thể tìm thấy một loạt các sản
phẩm nghệ thuật và quà lưu niệm được sản xuất và thiết kế bởi các nghệ sĩ và thương
hiệu địa phương như: các bức tranh, hình in, và tác phẩm nghệ thuật khác được tạo ra
bởi các nghệ sĩ địa phương. Quà lưu niệm: Cửa hàng có thể cung cấp các quà lưu niệm
độc đáo và đặc trưng của khu vực, như áo thun in hình, khẩu trang, đồ trang trí nhà cửa,
và nhiều sản phẩm khác; Sản phẩm thủ công: Du khách có thể mua sắm các sản phẩm
thủ công độc đáo như gốm sứ, đồ gỗ, đồ da, và các sản phẩm thủ công khác được làm
bằng tay bởi các nghệ nhân địa phương. Bên cạnh đó còn có sách và văn phòng phẩm
địa phương; đồ handmade và vintage;. .
17:15 - 18:30: Di chuyển và dùng bữa tại Chả cá Thăng Long (6b Nguyễn Thái
Học). Chả cá Thăng Long là một món ăn nổi tiếng của Việt Nam, có nguồn gốc từ Hà
Nội, đặc biệt là từ quận Hoàn Kiếm. Đây là một món ăn truyền thống và được rất nhiều
người dân và du khách yêu thích. Món chả cá Thăng Long là một trong những món ăn
nổi tiếng và được khuyến khích thử khi đến Hà Nội.
18:45 - 19:00: xe đưa đoàn du khách di chuyển ra phố đi bộ Hoàn Kiếm - Hà Nội.
19:00 - 21:00: Du khách trải nghiệm tại phố đi bộ, ăn kem, giao lưu âm nhạc và
tham gia nghe hát Xẩm “ Hà Nội 36 phố phường”. Ngoài ra, du khách có thể tham quan
được Tháp Rùa-Hồ Hoàn Kiếm, Cầu Thê Húc - Đền Ngọc Sơn - Bút Tháp;. .
21:15 - 21:30: Di chuyển và trả khách tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Chào tạm biệt và chia tay quý khách.
Báo giá tour: 499.000 vnđ chưa VAT/ người lớn.
CHƯƠNG 3: GII PHÁP NÂNG CAO HIU QU PHÁT TRIN NGH
THUT HÁT XM TRONG DU LCH HÀ NI
3.1. Hoạt động nâng cao thanh âm Xm - sn phm du lịch văn hóa trong phát
trin du lch Hà Ni
Xẩm trong quá khứ đã từng phát triển đỉnh cao đến mức, đi đâu người ta cũng có
thể nghe thấy vài ba điệu Xẩm ngân nga. từ chợ Đồng Xuân hay ghe qua Bờ Hồ, nông
thôn hay thành thị, Xẩm đều rất được ưa thích. Giá trị nhân văn, thẩm mỹ và giáo dục
trong từng làn điệu làm Xẩm bừng sáng trở thành loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo.
Cùng với sự ra đời của tàu điện, loại hình này ngày càng trở nên thịnh hành và trở thành
“đặc sản” của đất kinh kỳ.
Đến thời hiện đại, Xẩm tưởng chừng không kịp “thích ứng”, khi các nghệ sĩ kỳ cựu
dần khuất núi, cùng với sự đô thị hóa nhanh chóng, các hình thức giải trí mới ra đời
khiến Xẩm dần trở nên xa lạ với thế hệ trẻ. Nhưng không! Dù có lúc tưởng như đối mặt
với sự mai một, Xẩm vẫn chứng minh được sức sống kiên cường và giá trị văn hóa bền 19
vững của mình. Những người yêu Xẩm Hà Nội đã đưa loại hình âm nhạc này “sống”
gần hơn với nhân dân Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung.
3.1.1. T chc Câu lc b, Khóa học đào tạo Xm
Nhóm Xẩm Hà thành thành lập năm 2009, bởi nghệ sĩ hát xẩm Mai Tuyết Hoa –
người học trò xuất sắc của nghệ nhân Hà Thị Cầu và nhà nghiên cứu lý luận âm nhạc
Nguyễn Quang Long. Nhóm hoạt động với mục đích "Nỗ lực để Xẩm sống trong đời
sống đương đại", đã làm sống lại nhiều bài Xẩm truyền thống, cũng như phục dựng dòng
Xẩm Hà Nội, đặc biệt là Xẩm tàu điện. Họ chú trọng vào việc kết hợp Xẩm với yếu tố
đương đại, như trong “Xẩm trà đá” (phản ánh vấn đề xã hội hiện đại) và “Xẩm bốn mùa
hoa Hà Nội” (ngợi ca vẻ đẹp văn hóa Hà Nội).
Lần đầu tiên một khóa học nâng cao về hát Xẩm dành cho các câu lạc bộ, nhóm,
các cá nhân, góp phần gìn giữ và lan tỏa loại hình nghệ thuật này được tổ chức. Khóa
học có sự tham gia của gần 40 học viên thuộc các lứa tuổi khác nhau đến từ gần 20 Câu
lạc bộ, nhóm Xẩm trên toàn quốc. Khóa Đào tạo hát Xẩm nâng cao vừa được khai giảng
sáng 18/8 tại Hội trường Nhà khách Quốc hội (27A Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Khóa học
do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc và Quỹ Thiện Tâm tổ
chức, diễn ra trong 4 ngày, kết thúc vào ngày 21/8/2022.
Hình 1. NSND Xuân Hoch phát biu ti L khai giảng khóa đào
to hát Xm nâng cao. Ảnh: Thư Hoàng
Tham gia đào tạo trong khóa học là những nghệ sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc hàng
đầu gắn liền với nghệ thuật ca hát dân gian và hát Xẩm như NSND Xuân Hoạch, NSND 20